top of page

PHỤC-TRUYỀN LUẬT-LỆ KÝ (2)

KINH THÁNH

CỰU-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Luật-Pháp (Môi-se) (5)



Trong...

...ICôr 5:8 Phao-lô ví sánh đời sống của Hội thánh địa phương như việc “giữ lễ” Vượt Qua. Hội thánh không “giữ lễ” theo nghĩa đen vì nó đã được trọn trong Đấng Christ là Chiên Con của lễ Vượt Qua đã bị giết vì chúng ta (c.7). Nhưng như dân Do-thái vào đêm lễ Vượt Qua ở Ai-cập, chúng ta là một dân hành hương, sẵn sàng để được gọi ra đi, và chúng ta không nên bị tội lỗi vấn vương. Dân Do-thái ăn tiệc lễ Vượt Qua với tư cách gia đình, và mỗi Hội thánh địa phương là một gia đình của Đức Chúa Trời, dự tiệc Chúa Giê-xu qua Lời Chúa và chờ đợi Ngài gọi dân Ngài ra khỏi thế gian này. Giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, chúng ta phải nhắc nhở mình rằng chúng ta từng là nô lệ của tội lỗi, trong xiềng xích của thế gian (Eph 2:1-3) và Đức Chúa Trời đã giải cứu chúng ta bằng cách sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta. Khi dự tiệc thánh, chúng ta nhờ sự chết của Ngài và trông đợi sự tái lâm của Ngài (3).


Lễ Ngũ Tuần (Phuc 16:9-12; Le 23:15-22).

Từ “Ngũ Tuần” nghĩa là “thứ 50” và truy nguyên từ bản dịch Cựu-ước tiếng Hy-lạp, bản 70 lễ này được kỷ niệm 50 ngày sau lễ Quả đầu mùa, nghĩa là nó cũng xảy ra vào ngày đầu tuần. Đối với dân Do-thái, đây là thời gian vui vẻ mừng mùa gặt lúa mì, nhưng đối với Cơ-đốc nhân, nó kỷ niệm sự ngự đến của Đức Thánh Linh và “ngày sinh của Hội thánh” (Cong 2:1-47). Chúa Giê-xu đã hứa rằng Ngài và Cha sẽ ban Thánh Linh cho người tin nhận (Gi 14:16-17), nhưng Thánh Linh không thể đến cho tới lúc Đấng Christ chịu chết,được sống lại từ cõi chết và được vinh hiển trên trời (Gi 7:37-38).


Khởi đầu sự sáng tạo (Sa 1:1-2),

Đức Thánh Linh được thấy hành động suốt Kinh Thánh Cựu-ước, thường ban quyền năng cho con người nam nữ để làm những công việc quyền năng để qui vinh hiển Đức Chúa Trời. Suốt những thời Cựu-ước, Thánh Linh là một vị khách tạm thời giáng trên con người, nhưng từ sự ngự đến của Ngài trong Cong 2:1-42), Thánh Linh mãi mãi ngự trong bất cứ ai thuộc về Đấng Christ (Gi 14:16-17) Ngài ban những món quà thuộc linh cho Hội thánh (ICôr 12:1-31) và ban quyền năng cho dân sự Đức Chúa Trời để làm chứng về Chúa Giê-xu (Công 1:8). Không có chức vụ và quyền năng của Đức Thánh Linh, tín hữu không thể sống cho Đức Chúa Trời hoặc hầu việc Ngài có hiệu quả.


Vào ngày lễ Quả đầu mùa, thầy tế lễ vẫy bó lúa, nhưng vào lễ Ngũ Tuần, ông dâng hai ổ bánh hấp có men (Le 23:17,20). Khi Thánh Linh ngự đến vào lễ Ngũ Tuần, Ngài làm báp-tem cho mọi người tin nơi Đấng Christ (Công 1:4-5; ICôr 12:13). Vì vậy chúng ta không còn là những ổ bánh lúa đơn lẻ nhưng là ngũ cốc được hoà vào bột tạo thành những ổ bánh. Bột được làm từ “những bó lúa đầu mùa” của mùa gặt lúa mì. Sự hiện diện của men trong các ổ bánh cho thấy Hội thánh trên đất chỉ phải là một Hội thánh tinh sạch và không bao giờ tinh sạch cho đến khi Đấng Christ đem Hội thánh lên trời.


Lễ Ngũ Tuần báo hiệu mùa gặt (Le 23:22) và dân Do-thái được lệnh chia sẻ những gì họ có và vui mừng dự tiệc trước mặt (Phu 16:11). Khi Thánh Linh giáng trên các tín hữu vào lễ Ngũ Tuần, đó là khởi đầu của một mùa gặt lớn đối với Hội thánh.

Sứ điệp của Phi-e-rơ vào lễ Ngũ Tuần đã đem 3.000 người đến Đấng Christ (Cong 2:41), và chẳng bao lâu sau đó, chức vụ của ông đã thêm vào 2000 người nữa (Cong 4:4). Sách Công-vụ là sự ghi chép về sự tăng trưởng của Hội thánh. Khi Đức Thánh Linh ban quyền năng cho những chứng nhân để rao Phúc-Âm trong cánh đồng mùa gặt bất cứ nơi đâu Chúa sai họ.


Tiến sĩ A.W.Tozer có lần đã nói: “Nếu Đức Chúa Trời phải cất Thánh Linh ra khỏi thế gian này, nhiều việc Hội Thánh đang làm sẽ tiêu tan ngay, và không ai sẽ biết sự khác biệt”. Thật là một bản cáo trạng mà các Hội thánh của chúng ta lệ thuộc vào mọi sự ngoại trừ quyền năng của Đức Thánh Linh! Hội thánh đầu tiên đã không có những thứ mà chúng ta cho là cần thiết ngân quỹ,những kiến trúc, học vị và thậm chí “những quan hệ” chính trị nhưng họ thật sự có quyền năng của Thánh Linh và nhìn thấy vô số người trở về với Đấng Christ.


 Lễ Lều tạm (Phuc 16:13-15).

Giống như lễ Bánh không men, lễ Lều tạm cũng kéo dài 7 ngày. Nó xảy ra vào mùa thu (tháng 9 tháng 10 của chúng ta) và cũng được gọi là lễ Các tuần, lễ Trại và lễ Nhóm họp. Nó kỷ niệm sự hoàn tất mùa gặt mà bắt đầu bằng mùa gặt lúa mì tại lễ Ngũ Tuần, và giờ đây là mùa gặt hoa quả, nho và và ô-liu. Sau mùa gặt, người nông dân sẽ cày ruộng và gieo hạt lúa, rồi những cơn mưa mùa đông sẽ bắt đầu. Suốt kỳ lễ này, dân Do-thái sống trong những lều làm bằng nhánh cây, một sự nhắc nhở về những năm tháng tổ phụ họ đã sống tạm bợ khi họ lang thang trong đồng vắng. Đó là một tuần dự lễ vui vẻ bắt đầu bằng một sự nhóm hiệp thánh và kết thúc bằng một cuộc triệu tập quan trọng (Le 23:33-44).


Chắc chắn Đức Chúa Trời muốn dân Ngài biết ơn và vui mừng về những sự ban cho tốt lành Ngài đổ xuống trên chúng ta. Sau khi Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa, Ngài muốn họ nhớ rằng đời sống không phải luôn dễ dàng, rằng tổ phụ họ đã sống trong các lều rạp. Sau khi họ tới Ai-cập. Tất cả chúng ta biết rằng không thế hệ sau nào muốn nghe “người già” nói về những khó khăn của “ngày xưa” nhưng Chúa đã viết kỷ niệm quá khứ của Y-sơ-ra-ên trong lễ Vượt Qua và lễ Lều Tạm, hai kỳ lễ đầu và cuối cùng trong năm. Mặc dù Hội thánh không nên sống trong quá khứ, nhưng Hội thánh không nên quên quá khứ và điều Chúa đã làm cho dân sự Ngài qua các thời đại, chúng ta có khuynh hướng xem nhẹ những ơn phước của mình và quên sự thành tín của Chúa.


Hai trong số các Hội thánh tôi làm mục sư đã giữ những lễ kỷ niệm quan trọng trong lúc tôi hầu việc họ, và suốt những năm đặc biệt đó, chúng tôi để thời gian trong các lễ thờ phượng để nhờ sự nhân từ của Chúa và cảm tạ Ngài vì mọi điều Ngài đã làm. Thật ích lợi cho những thành viên nhỏ tuổi biết về những của lễ dân sự đã làm trong quá khứ, và ích lợi cho những thành viên lớn tuổi hơn tiếp nhận một thử thách mới cho tương lai. Xét cho cùng, hội thánh không phải là một bãi đậu xe, đó là một bệ phóng!


Là dân Đức Chúa Trời, chúng ta có nhiều lý do để kỷ niệm sự cao cả và nhân từ của Chúa. Chúng ta đã được cứu chuộc bởi huyết Đấng Christ (lễ Vượt Qua), chúng ta được Thánh Linh ngự cùng và ban quyền năng (lễ Ngũ Tuần), và chúng ta được Chúa giúp đỡ trong hành trình hành hương của chúng ta (lễ Lều Tạm). Thời gian chúng ta ở đây trên đất là ngắn ngủi và tạm bợ, nhưng ngày nào đó chúng ta sẽ bước vào thiên đàng nơi Chúa Giê-xu giờ đây dọn chỗ cho chúng ta.

“Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh Ngài” (Thi 34:3).

-Phuc 15:19-23; xem giải nghĩa Phuc 15:1-18.

-Phuc 16:1-17; xem giải nghĩa Phuc 14:1-21.





7. QUAN XÉT, VUA, THẦY TẾ LỄ VÀ THƯỜNG DÂN (Phuc 16:18-18:8; Phuc 26:1-19)


Khi Môi-se tiếp tục chuẩn bị cho thế hệ mới đời sống trong Đất Hứa, ông không chỉ dạy họ về lịch sử quá khứ và những bổn phận của họ trong sự thờ phượng, ông còn giải thích cho họ loại chính thể Đức Chúa Trời muốn họ tổ chức. Khi tổ phụ họ ở Ai-cập, dân Do-thái có tổ chức nhỏ chỉ bao gồm các trưởng lão (Xu 3:18; Xu 4:29-31), và suốt hành trình trong đồng vắng, Môi-se có những cộng sự chi phái giúp ông trong việc giải quyết các vấn đề dân sự đem đến cho họ (Phi 18:13). Mỗi chi phái trong Y-sơ-ra-ên cũng có một quan trưởng (Dân 1:15-16; Dân 7:10-83), và có 70 trưởng lão giúp Môi-se trong việc giám sát thuộc linh của dân tộc (Dân 11:10).


Tổ chức cơ bản này thích hợp để cai trị một dân tộc đi vào Đất Hứa. Trên hết, Môi-se sẽ không còn ở cùng họ để cho họ những sứ điệp trực tiếp từ miệng Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mỗi chi phái trong số 12 chi phái sẽ sống trong địa phận được ấn định riêng cho nó, và Ru-bên, Gát cùng Ma-na-se sẽ định vị ở bên kia sông Giô-đanh. Họ sẽ đối phó ra sao với sự đổi thay của chi phái? Ai sẽ bảo vệ dân sự và thi hành những luật lệ của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời trong ân điển Ngài đã ban cho họ loại chính thể sẽ đáp ứng những nhu cầu của họ.


Cơ-đốc nhân rất thường đánh giá thấp tầm quan trọng của chính thể đối với sự hòa bình, an ninh và tiến bộ của xã hội không có chính thể loài người, thậm chí với tất cả những khiếm khuyết của nó, xã hội sẽ ở trong tình trạng trì trệ, và không quốc gia nào có thể cải tiến thích đáng hay tự bảo vệ mình. “Các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định” (Ro 13:1) không có nghĩa là Đức Chúa Trời phải đổ lỗi cho sự bổ nhiệm hay bầu cử mỗi cá nhân quan chức hay những quyết định họ thực hiện khi họ nắm quyền.

Nó có nghĩa là quyền hạn đối với chính thể đến từ Đức Chúa Trời và những người phục vụ trong chính quyền đều là những người giúp việc của Chúa và chịu trách nhiệm với Ngài (c.4). “Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICo 14:10) áp dụng không chỉ cho những lễ thờ phượng chung của Hội thánh mà cũng cho công vụ của các viên chức chính quyền. Dân sự Đức Chúa Trời được bảo phải cầu nguyện cho những quan chức cầm quyền đó (ITi 2:1-6), nhưng chúng ta rất thường phạm tội chỉ trích họ thay vì cầu thay cho họ.


Môi-se chỉ ra những chức vụ và trách nhiệm cơ bản của chính thể mà Đức Chúa Trời muốn Y-sơ-ra-ên thiết lập trong xứ.


1. Những quan án giỏi (Phuc 16:18-22) (Phuc 16:18-17:13)

Sự lập lại của từ “cửa thành” (Phuc 16:5,11,14,18; Phuc 17:2,5,8) cho thấy rằng đơn vị cơ bản của chính thể trong Y-sơ-ra-ên là hội đồng địa phương. Nó bao gồm các quan án và quan chức, là những người quản lý công việc buôn bán tại cửa thành cùng với các trưởng lão (Ru 4:1-12).

Các quan án và quan chức có lẽ được bổ nhiệm hoặc bầu cử do các công dân nam có đất trong thành, nhưng chúng ta không được cho biết chi tiết. Từ được dịch là “quan chức” có nghĩa “người viết, thư ký” và chỉ về những người giữ hồ sơ hành chính và gia phả, cố vấn cho các quan án và thực hiện những quyết định của họ. Đức Chúa Trời là Đấng làm luật tối cao trong xứ, vì Ngài đã ban luật pháp, các quan án địa phương tạo nên ngành lập pháp của chính thể, và các quan chức của họ tạo nên ngành hành pháp.


Tính cách tin kính (Phuc 16:19-20).

Điều quan trọng nhất về quan án và quan chức đó là họ phải làm những con người có tính cách, vì chỉ những người như vậy mới có thể thi hành ngay thẳng sự xét xử công bình (1). Quan án không được xuyên tạc luật pháp và “bóp mép công lý”, cũng không được “tôn trọng người ta” mà theo tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa đen là “nhìn mặt” Điều quan trọng là xác định bị cáo đã làm gì và không quan tâm bị cáo là ai. Chúa đã cảnh cáo các quan xét đừng thiên vị bạn hữu bằng cách tha tội, giảm ác hay thay đổi việc tố tụng, cũng không được nhận hối lô. “Công lý” thường được mô tả như một người đàn bà mang chiếc cân và đeo băng bịt mắt. “Lấy làm chẳng tốt mà nể vì kẻ ác, đặng lường gạt người công bình trong việc xét đoán” (Ch 18:5).


Những quyết định của quan án ảnh hưởng không chỉ đến những cá nhân chịu xét xử mà còn đến cả quốc gia. Nếu quan án tha bổng kẻ phạm tội bằng cái giá của những kẻ vô tội, xứ sẽ bị ô uế và Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ cất dân tộc khỏi xứ. Tiếc thay, đó chính là điều đã xả ra xuốt những năm trước khi Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sụp đổ. Tòa án trở nên thối nát và để cho kẻ giàu cướp bóc người nghèo và người túng bấn, và kẻ giàu chẳng bao lâu đã làm chủ những tài sản lớn và điều khiển kinh tế (2).

Vì các quan trưởng không vâng theo luật lệ về năm Sa-bát và năm Hân Hỉ, nên nền kinh tế mất cân đối và xứ bị tước đoạt khỏi những người chủ hợp pháp. Đức Chúa Trời không thể cho phép sự bất tuân trắng trợn như thế đối với luật pháp Ngài, nên Ngài đã nghiêm phạt dân Ngài bằng cách phó họ vào sự giam cầm.


Chức lãnh đạo trong Hội thánh địa phương phải được giao cho người có năng lực (Cong 6:1-7; ITi 3:1-16; Tit 1:5-9). Tiến sĩ Lee Roberson nói: “Mọi sự đều dấy lên hay sụp đổ với chức lãnh đạo” và ông nói đúng. Bi thảm thay khi các Hội thánh chọn những người thiếu năng lực và kinh nghiệm để “lấy đầy” chức vụ thay vì “sử dụng” những chức vụ đó để xây dựng Hội thánh và quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời (ITi 3:10). Trong chức lãnh đạo Hội thánh địa phương, tính cách thuộc linh quan trọng hơn nhiều so với danh tiếng, cá tính, tài năng hay nghề nghiệp của một người.


Sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời (Phuc 16:21-17:7).

Sự thờ hình tượng là kẻ thù lớn của đời sống thuộc linh trong dân Do-thái, và các quan xét phải cảnh giác đủ để đối phó với nó. “Rừng cây là khu vực được dâng cho việc thờ phượng vợ của Ba-anh, Át-tạt-tê, và giữa hình tượng của họ là những cột trụ gỗ tượng trưng cho tay chân người nào.” Hãy chú ý rằng người thờ hình tượng tìm cách đặt trung tâm thờ lạy của họ gần với bàn thờ Đức Chúa Trời nếu có thể (Phuc 16:21 NIV “gần bên bàn thờ”).

Người thờ hình tượng muốn khuyến khích người ta thờ Giê-hô-va và cả Át-tạt-tê, và cuối cùng Át-tạt-tê sẽ thắng. Nếu các quan án tận tụy với Đức Chúa Trời, họ sẽ thận trọng kiểm tra những tập tục như thế, thu thập sự kiện, lên án kẻ phạm tội, và cất hình tượng khỏi xứ. Họ phải đặt Đức Giê-hô-va trên hết (3).


Không thể nhấn mạnh quá nhiều khi tôn giáo của các dân Ca-na-an thô tục không thể tả và trộn lẫn với sự mê tín mù quáng với sự đồi bại trắng trợn. Với bản chất con người, dân Do-thái sẽ bị lôi cuốn vào các thần họ có thể thấy và những nghi lễ mời gọi những thèm muốn xác thịt. Điều này giải thích lý do Đức Chúa Trời ra lệnh cho dân Do-thái tiêu diệt mọi tàn tích của tôn giáo Ca-na-an khỏi xứ (Phuc 7:1-11), vì Ngài biết rằng lòng dân sự rất thường bị xui giục làm ác bất chấp những thánh luật và những lời cảnh cáo của Ngài.


Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Phuc 17:8-13). Nhiều lần, các quan án và tòa án địa phương phải xem xét những việc kiện rắc rối, phức tạp và khó xử đối với họ, những vụ kiện có liên quan đến sự đổ máu, sự tố cáo, kiện tụng, và nhiều dạng cưỡng hiếp. Để giúp các quan chức địa phương, Chúa sẽ thiết lập một “tòa án” trung tâm tại nơi thánh của Ngài là nơi các thầy tế lễ và người Lê-vi sẽ bày tỏ sự khôn ngoan của họ và giải thích luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Y-sơ-ra-ên, luật pháp Đức Chúa Trời là luật pháp quốc gia, và những người giỏi nhất để giải thích và ứng dụng luật pháp các thầy tế lễ và người Lê-vi.


“Tòa án nơi thánh” này không phải là một tòa phúc thẩm nơi một người bị kết án có thể yêu cầu một cuộc xét xử lần thứ hai, nó cũng không phải là một ủy ban cố vấn mà những quyết định có thể được chấp nhận hay từ chối. Đó là một tòa án xét xử những vụ kiện một cách thận trọng và những quyết định có quyền lực và mang tính ràng buộc. Bất cứ ai coi thường quyền hạn của tòa án hay những quyết định họ đưa ra là thật sự coi thường Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài. Những kẻ chống đối như thế đã phạm tử tội và chịu án tử hình.

Đức Chúa Trời sẽ không có những công dân chống nghịch trong nước Ngài hay cho phép dân sự chống lại luật pháp Ngài một cách tự mãn, không có của lễ nào được quy định trong luật pháp cho người phạm những tội “kiêu căng” và cố ý (Dân 15:30-36).


Khi Woodrow Wilson là Tổng thống Hoa Kỳ, ông đã nói “Có khá nhiều vấn đề trước dân Mỹ hôm nay, và trước mắt tôi với tư cách Tổng thống, nhưng tôi mong tìm thấy giải pháp cho những vấn đề đó chỉ tương xứng với việc tôi trung tín trong sự học lời Đức Chúa Trời” (4).

Chính trị gia Daniel Webster nói: “Nếu chúng ta tồn tại bởi những nguyên tắc được dạy trong Kinh Thánh, quốc gia chúng ta sẽ tiếp tục thịnh vượng và thịnh vượng, nhưng nếu chúng ta và hậu thế chúng ta thờ ơ với sự dạy dỗ và quyền hạn nó, không ai có thể biết một thảm họa có thể ập trên chúng ta và chôn vùi vinh quang của chúng ta trong sự tối tăm mờ mịt một cách bất ngờ ra rao”. (5) Sống như chúng ta đang sống trong một xã hội dân chủ theo thuyết đa nguyên, chúng ta không thể mong chờ chính phủ khiến Kinh Thánh trở nên sách hướng dẫn chính thức của họ, nhưng nó sẽ giúp cho quốc gia nếu những người tự xưng là Cơ-đốc nhân và các Hội thánh Cơ-đốc tập trung vào việc rao giảng, dạy dỗ và vâng theo Lời Đức Chúa Trời.

-Phuc 17:1-13; xem giải nghĩa Phu 16:18-22.


2. Những vua tin kính (Phuc 17:14-20)

Các lãnh đạo được bầu cử, không phải những vua chúa cha truyền con nối, họ cai trị các quốc gia dân chủ ngày nay, nhưng trong các thời đại xưa, vua và hoàng đế thống trị “quốc gia và đế quốc bằng bạo quyền.” Nhưng Y-sơ-ra-ên khác với các quốc gia khác, vì luật pháp của Chúa là “xi măng” liên kết 12 chi phái. Người Lê-vi, bị tản lạc khắp xứ, dạy cho dân sự luật pháp Đức Chúa Trời, còn các thầy tế lễ và quan xét bảo đảm cho luật pháp được thực thi cách công bằng. Dân Y-sơ-ra-ên phải đem phần 10 và của lễ của họ đến nơi thánh vì trung tâm, và mỗi năm 3 lần tất cả những người nam trưởng thành tập hợp ở đó để kỷ niệm sự nhân từ của Chúa. Đức Giê-hô-va là Vua trong Y-sơ-ra-ên (Xu 15:18; Cac 8:23) và Ngài “ngự giữa các chê-ru-bin” (Thi 80:1) trong nơi chí thánh.


Yêu cầu một vua (Phu 17:14).

Nhưng Chúa biết rằng sẽ đến ngày mà Y-sơ-ra-ên yêu cầu một vua vì họ muốn giống các dân tộc khác (ISa 8:1-22). Suốt thời các quan xét, sự hiệp nhất của 12 chi phái về mặt chính trị và thuộc linh đã giảm sút khá nhiều (Cac 17:6 21:25) và Y-sơ-ra-ên ở trong hiểm họa thường trực về sự xâm lăng của kẻ thù họ (ISa 9:16 12:12). Thay vì tin cậy Đức Chúa Trời, dân sự muốn có một vua sẽ lập một quân đội và lãnh đạo dân tộc đi đến chiến thắng. Tiếc thay, chức lãnh đạo thuộc linh trong Y-sơ-ra-ên đã suy sụp và các con trai của Sa-mu-ên kêu cầu một vua là họ không giống với các quốc gia đặc biệt của Đức Chúa Trời (Xu 19:5-6). “Kìa là một dân ở riêng ra, sẽ không nhập số các nước” (Dan 23:9).


Bắt chước thế gian thay vì tin cậy Chúa luôn là sự cám dỗ lớn đối với dân sự Đức Chúa Trời, và mỗi lần họ không chống lại nổi, họ bị khốn khổ. Suốt hành trình trong đồng vắng, Y-sơ-ra-ên so sánh mọi điều xảy ra với điều họ đã kinh nghiệm ở Ai-cập, và tại Ka-đe Ba-nê-a họ thậm chí muốn chọn một lãnh đạo và trở lại Ai-cập! (Phuc 14:1-5). Nhưng Hội thánh ngày nay cũng phạm tội vô tín, như vậy khi các lãnh đạo Hội thánh tiếp nhận những phương pháp và khuôn thước của thế gian, thì Hội thánh đã đi một bước lớn tiến đến việc trở nên gống với thế gian và đánh mất những đặc tính thiêng liêng của mình.

Thay vì tin cậy Lời Đức Chúa Trời và cầu nguyện (Cong 6:4), chúng ta cậy vào việc làm theo sự khôn ngoan của thế gian, và nuôi dưỡng những ham muốn của thế gian, cho người ta điều họ muốn thay vì điều họ cần. Tín hữu hôm nay cần ghi vào lòng Lời Đức Chúa Trời nhắc nhở Y-sơ-ra-ên “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, đã phân rẽ các ngươi cùng các dân” (Le 20:24).


Những phẩm cách của một vị vua (Phuc 17:15-17). Vua không nên do dân sự chọn, người phải do Đức Chúa Trời chọn. Vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên là Sau-lơ (ISa 9:1-10:27), nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ định dùng Sau-lơ để lập một triều vua trong Y-sơ-ra-ên. Sau-lơ xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, nhưng Giu-đa là chi phái nhà vua (Sa 19:8-10) và Đấng Mê-si-a sẽ đến từ chi phái Giu-đa. Thực ra, Sau-lơ được ban cho dân sự để sửa phạt họ vì họ đã khước từ Chúa (ISa 8:7), vì sự xét đoán lớn nhất của Đức Chúa Trời là cho dân Ngài điều họ muốn và để họ chịu khổ vì điều đó.


Vua không những phải do Đức Chúa Trời chọn, mà vua còn phải là người Y-sơ-ra-ên chớ không phải là một người ngoại quốc. Mỗi khi Đức Chúa Trời muốn sửa phạt dân Ngài, Ngài sẽ đặt một vua ngoại bang cai trị họ và để dân sự kinh nghiệm sự tương phản giữa sự nhân từ của Đức Chúa Trời và sự áp bức của dân ngoại thờ hình tượng. Vua Y-sơ-ra-ên cũng phải đặt sự tin cậy hoàn toàn của mình nơi Chúa và không cậy nơi ngựa cùng quân đội (Phuc 17:16), các đồng minh nước ngoài dựa trên hôn nhân (c.17a) hay của cải vật chất (c.17b).

Vua Sa-lô-môn đã vi phạm cả ba trong số những quy tắc này và điều đó dẫn ông cùng dân tộc vào tội lỗi. Ông đã cưới một công chúa Ai-cập (IVua 3:1), đồng minh đầu tiên trong nhiều đồng minh chính trị ông đã tạo nên bằng cách lấy những người vợ ngoại quốc (Phu 11:1-6). Ông đã trở lại Ai-cập không những gì một người vợ mà còn vì những con ngựa cho quân đội ông, và xây “các thành chứa xe” trong Y-sơ-ra-ên nơi ông để ngựa và xe ngựa (Phuc 10:26,28-29). Về phần của cải của ông, thật không thể tưởng tượng và không tính được (c.14-25,27) (6).


Sự khôn ngoan của vua (Phuc 17:18-20).

Tư cách quan trọng nhất đối với vua là một sự hiểu biết cá nhân về luật pháp Đức Chúa Trời (c.18-20). Vua phải sao lại một bản luật pháp cho mình, sử dụng bản chính thức do các thầy tế lễ cung cấp (Phuc 31:9,24-26), đọc thường xuyên và ghi vào lòng (xem mệnh lệnh của Đức Chúa Trời cho Giô-suê trong Gios 1:7-8). Sự nghiên cứu luật pháp của vua không những giúp vua cai trị dân cách công bình, mà nó còn bày tỏ cho vua tính cách của Đức Chúa Trời và khích lệ vua kính sợ Ngài và yêu mến Ngài hơn (Ch 4:1-27). Việc vua đầu phục Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài sẽ giữ vua khỏi trở nên kiêu ngạo và lạm dụng quyền hành Chúa đã ban cho mình (7). Đối với vua, nghĩ rằng mình tốt lành hơn anh em mình và có đặc quyền sống vượt trên luật pháp Đức Chúa Trời sẽ cho thấy vua không thích hợp để lãnh đạo quốc gia.


3. Những lãnh đạo thuộc linh trung tín (Phuc 18:1-8)

Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ là một chức tế lễ (IPhi 2:5,9), nhưng dân tộc Y-sơ-ra-ên đã có một chức tế lễ. Tất cả các thầy tế lễ và người Lê-vi đều là con cháu Lê-vi, con trai thứ ba của Gia-cốp sanh bởi Lê-a.Lê-vi có ba con trai Ghẹt-sôn, Kê-hát, Mê-ra-ri, còn A-rôn và Môi-se xuất thân từ dòng dõi của Kê-hát (Xu 6:16-25). Chỉ con cháu của A-rôn được gọi là “các thầy tế lễ” và được phép hầu việc tại bàn thờ và nơi thánh đích thực. Người Lê-vi, con cháu của Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri, phụ giúp các thầy tế lễ trong nhiều chức vụ có liên hệ với bàn thờ và nơi thánh. Thầy tế lễ và người Lê-vi đều không được ban cho bất cứ sản nghiệp nào trong xứ Y-sơ-ra-ên (Phuc 10:8-9 12:12,18,19) nhưng sống nhờ vào phần mười, của dâng và của lễ được đem đến nơi thánh.


 Thầy tế lễ (Phu 18:3-5).

Các thầy tế lễ phải nhận những phần được chỉ định từ những của lễ, trừ của lễ thiêu, là của lễ được thiêu hoàn toàn tại bàn thờ. Họ sẽ thiêu một năm của lễ chay trên bàn thờ và giữ phần còn lại một mình, còn những phần khác của con sinh tế được dành cho họ theo tiêu chuẩn họ được hưởng (Le 6:8-7:38). Họ cũng được cho hoa lợi đầu mùa gồm lúa, dầu, rượu và lông chiên. Nghi thức Cựu-ước này mang vào chức vụ trong Tân-ước. “Anh em há chẳng biết rằng ai hầu việc thánh thì ăn của dâng trong đền thờ, còn ai hầu việc nơi bàn thờ thì có phần nơi bàn thờ sao? Cũng vậy Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tinh Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành” (ICo 9:13-14). Mệnh lệnh của Chúa được tìm thấy trong Lu 13:7 và được trích dẫn trong ITi 5:18.


Nếu dân sự không cấp dưỡng cho các thầy tế lễ như Đức Chúa Trời đã truyền lệnh thầy tế lễ sẽ phải tìm nguồn cấp dưỡng cho họ ở nơi nào đó, là điều này sẽ đưa họ rời xa chức vụ ở nơi thánh. Nhưng chỉ các thầy tế lễ mới có thể dâng của lễ,coi sóc đèn và bàn để bánh, và dâng hương trên bàn thờ bằng vàng, không có sự hiện diện của thầy tế lễ, chức vụ tại nơi thánh sẽ bị hoãn lại và dân sự sẽ không có sự cầu thay và sự giúp đỡ về thuộc linh.


Người Lê-vi (Phuc 18:6-8).

Người Lê-vi sống trong 48 thành rải rác khắp nước Y-sơ-ra-ên (Gios 21:1-45). Chúng ta cho rằng có một thời gian biểu rõ ràng điều khiển sự dự phần của họ ở nơi thánh, như đã có trong thời Đa-vít (ISu 23:1-26:32), với mỗi người Lê-vi được ấn định cho một nhiệm vụ và một thời gian thầy tế lễ và người Lê-vi có thể mua đất nếu họ muốn (IVua 2:26; Gie 32:7; Cong 4:36-37) và thậm chí thu huê lợi từ đất đó. Nhưng mối quan tâm chính của họ phải là sự hầu việc tại nơi thánh và giúp dân sự nhận biết Đức Chúa Trời và vâng theo Lời Ngài. Nếu một người Lê-vi bán hay cho thuê bất động sản của mình và đi đến nơi thánh vì lòng yêu mến của người đối với Chúa và nhà Ngài, người ấy phải được cho phép hầu việc ở đó và dự phần vào những lễ vật dân sự mang đến. Việc người kiếm tiền bằng cách cho thuê hay bán đất của mình không làm thay đổi chính sách này.


Vào thời Nê-hê-mi, dân sự không trung tín đem phần mười và của dâng đến đền thờ, và một số người Lê-vi đã phải trở về đất của họ để sống (Ne 13:10-14). Nê-hê-mi đã kêu gọi dân sự vâng lời Chúa và giúp đỡ những lãnh đạo thuộc linh của họ, và họ đã đem đến phần 10 cùng của dâng để được phân phát cho người Lê-vi. Thật đáng tiếc khi những người tự xưng là Cơ-đốc nhân không giúp đỡ cho Hội thánh mình bằng cách trung tín đem đến phần 10 và của dâng, nhưng lại trông chờ Hội thánh giúp họ khi họ có nhu cầu.


4. Dân vâng phục (Phuc 16:1-8) (Phuc 26:1-19)

Một quốc gia có những lãnh đạo tài năng và tin kính thì chưa đủ, nó cũng phải có những công dân tin kính vâng theo luật pháp của Chúa. Khổng Tử đã nói: “Sức mạnh của một quốc gia bắt nguồn từ sự chính trực của các gia đình nó”. Nhưng gia đình được tạo nên từ những cá nhân, nên chính sức mạnh của cá nhân giúp gia đình trở nên điều mà nó phải có.

Daniel Webster nói: “Bất cứ điều gì khiến con người trở nên những Cơ-đốc nhân tốt, điều khiến họ trở nên những công dân tốt”. Ba lời xưng nhận được ghi lại trong chương này giúp chúng ta hiểu mình phải làm loại công dân nào với tư cách môn đồ của Chúa Giê-xu.


Lời xưng nhận về sự nhân từ của Đức Chúa Trời (Phu 26:1-11).

Nghi lễ này phải được sử dụng lần đầu tiên khi bất cứ người Do-thái nào đem sản vật đầu mùa của mình dâng cho Chúa. Nó không nên bị nhầm lẫn với của lễ đầu mùa hằng năm (Phuc 16:4; Xu 23:19; Xu 34:26; Le 23:10-17; Dân 15:18-20; Dân 18:12-13).

Nghi lễ đặc biệt này không những là một sự xưng nhận về lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên và đối với người thờ phượng này, nó cũng là một sự tuyên bố rằng người ấy giờ đây đã giành được cơ nghiệp của mình trong xứ. Người ấy làm việc nơi đất và nhận được một mùa thu choạch rời người đem phần đầu tiên và tốt nhất đến dâng Chúa. Giỏ hoa quả ở gần bàn thờ là một chứng cớ cho sự thành tín của Chúa đối với dân sự Ngài. Toàn bộ nghi lễ là một bản dịch Cựu-ước của Mat 6:33.


Lời xưng nhận mở đầu bằng việc Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an (Phuc 26:3) và điều này sẽ nhắc nhở người thờ phượng về phép lạ của việc vượt sông Giô-đanh (Gios 3:1-17). Đức Chúa Trời Đấng mở Biển Đỏ cho dân tộc này ra khỏi Ai-cập cũng đã mở sông Giô-đanh để họ có thể vào và nhận lấy sản nghiệp của mình. “Ngài đã đem chúng ta ra… để dẫn vào xứ…” (Phuc 6:23). Nguyên nhân duy nhất Y-sơ-ra-ên không vào xứ sớm hơn là vì thế hệ trước đã chống nghịch Chúa tại Ca-đê và từ chối tin cậy Ngài để được chiến thắng (Dân 13:1-14:45). Người thờ phượng được nhắc nhở rằng bí quyết về sự thành công lớn của Y-sơ-ra-ên là đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời. Những năm sau đó, Giô-suê sẽ nói: “Trong các lời lành mà Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành, thảy đều ứng nghiệm hết” (Gios 21:45; Gios 23:14; IVua 8:56).


Sau đó người thờ phượng sẽ nói về Gia-cốp, tổ phụ của 12 chi phái trong Y-sơ-ra-ên (Phuc 26:5), người đã rời quê hương và đi đến A-ram ở hướng Đông Bắc Mê-sô-pô-ta-mi (Os 12:12; Sa 25:20) để tìm cho mình một người vợ. Sau 20 năm ở trong nhà ông gia La-ban, Gia-cốp vâng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và trở về xứ của mình rồi định cư cùng với 12 con trai và gia đình họ. Thật vậy Gia-cốp là một “người ẩn náu” và là một “lữ khách” suốt những năm đó, nhưng Chúa đã dõi theo ông và chúc phước cho ông. 12 con trai của Gia-cốp phải trở thành những người sáng lập 12 chi phái Y-sơ-ra-ên và qua Y-sơ-ra-ên Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho toàn thế giới (Sa 12:1-3).


Đức Chúa Trời sẽ biến đổi gia đình của một người thành một dân tộc lớn ra sao? Bằng cách đưa họ xuống Ai-cập nơi họ được đưa qua “lò sắt” của hoạn nạn Phuc 26:5-7; Phuc 4:20; IVua 8:51; Sa 46:1-34). 70 người đã đi đến Ai-cập nơi Giô-sép chuẩn bị gia đình cho họ, và nhiều năm sau đó, vào đêm lễ Vượt Qua, có lẽ hai triệu người đã bước ra khỏi Ai-cập cách hoan hỉ.

Kẻ thù càng bắt bớ dân Do-thái, dân Do-thái càng thêm nhiều (Xu 1:1-22). Hoạn nạn và thử thách thường là những công cụ của Đức Chúa Trời để đem phước hạnh đến cho dân Ngài, dù ở thời điểm chúng ta có thể không hiểu được. Kẻ thù càng bắt bớ Hội thánh đầu tiên, họ tản lạc và sinh sôi càng nhiều

(Cong 5:41-6:1; Cong 8:1-4).


Lời xưng nhận chẳng đề cập gì đến sự phàn nàn của Y-sơ-ra-ên trong hành trình của họ hay sự thất bại của họ tại Ca-đe Ba-nê-a. Đây là một lời xưng nhận của đức tin, không phải sự vô tín. “Nên Đức Giê-hô-va đã đem chúng tôi ra khỏi Ai-cập. Ngài đã đem chúng tôi vào nơi này và ban cho chúng tôi xứ này” (Phuc 26:8-9 NKHV). Người ấy gọi Ca-na-an là “một xứ đượm sữa và mật”, là điều Đức Chúa Trời thường gọi xứ ấy. Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài một xứ kỳ diệu đáp ứng mọi nhu cầu của họ. Suốt những năm Y-sơ-ra-ên lang thang và chống nghịch, một số người Do-thái gọi Ai-cập là “một xứ đượm sữa và mật” (Dân 16:13). Thật bi thảm khi con người quá thiếu thuộc linh đến nỗi những điều thuộc về thế gian đầy lôi cuối hơn những điều thuộc về Chúa.


Đáp ứng với sự nhân từ và ân điển của Chúa, người thờ phượng dâng cho Đức Chúa Trời vật đầu tiên và tốt nhất của công lao mình, vì sẽ không có mùa gặt nào nếu không có sự chúc phước của Chúa. Nhưng qua việc dâng sản vật đầu mùa, người thờ phượng thật sự dâng toàn bộ mùa gặt cho Chúa.

Chức quản gia không có nghĩa là chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời một phần rồi sử dụng phần còn lại theo như mình thích. Chức quản gia thật nghĩa là chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Ngài như một nhận thức rằng tất cả những gì chúng ta có là của Ngài. Sau đó chúng ta sử dụng tất cả những gì còn lại một cách khôn ngoan vì vinh hiển Ngài. Dâng cho Chúa 1/10 và sau đó lãng phí 9/10 còn lại, thì không phải là chức quản gia. Đó là sự dại dột.


Chúa “ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng” (ITi 6:17), giải thích lý do Môi-se khuyên dân Do-thái vui mừng trong mọi điều lành Chúa ban cho họ (Phuc 26:11). Trong lúc ở nơi thánh, họ có thể dâng cho Chúa một của lễ tạ ơn và dự tiệc mừng những điều tốt lành, tất cả cho vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhưng hãy chú ý sự đề cập về người Lê-vi và khách lạ, những người chúng ta cần chia sẻ với họ những sự ban cho của Chúa (Phuc 12:12,18; Phuc 16:11,14). Điều này giới thiệu lời xưng nhận thứ 2.


Lời xưng nhận về sự trung thực và rời rộng (Phu 26:12-15).

Bối cảnh này sẽ xảy ra hai năm sau đó, khi dân Do -thái phải đem 1/10 phụ đến cho các viên chức địa phương (Phuc 14:28-29). Nghi thức trước xảy ra chỉ 1 lần, sau mùa gặt đầu tiên trong xứ, nhưng nghi thức này được lặp lại mỗi năm thứ ba. Năm thứ 7 sẽ là năm Sa-bát và rồi chu trình bát đầu trở lại. Lời xưng nhận này có giá trị như một sự đổi mới tổng quát về giao-ước Y-sơ-ra-ên đã lập tại núi Si-nai, lời họ hứa vâng theo Chúa và lời Ngài hứa chúc phước cho sự vâng lời của họ.


Phần mười của năm thứ ba được giữ trong các thành và được sử dụng trong nội bộ để cấp dưỡng cho người Lê-vi, khách lạ, cô nhi và góa phụ. Trong việc dâng phần 10 này, người thờ phượng phải xưng nhận trước Chúa rằng mình đã trung thực trong việc để ra 1/10 và sử dụng nó như Chúa đã bảo. Người ấy không được lấy phần mười cho việc sử dụng cá nhân và chắc chắn không được dùng nó cho bất cứ mục đích tội lỗi nào. Người ấy cẩn thận để không làm ô uế phần 10 bằng cách chạm đến nó trong lúc không tinh sạch vì một cái chết trong gia đình.

Nói cách khác, việc để ra phần 10 này cho người khác là một vấn đề nghiêm túc và phải được thực hiện bằng sự tự trọng và sự vâng phục. Nghi thức này sẽ kết thúc với lời cầu nguyện ở Phuc 26:15 cầu xin Đức Chúa Trời chúc phước cho cả dân tộc chớ không chỉ cho cá nhân người thờ phượng.


Lời xưng nhận thứ nhất và thứ hai đều bày tỏ sự cảm kích đối với xứ “đượm sữa và mật” (c.9,15). Thật là điều tốt lành khi dân sự Đức Chúa Trời cảm kích tất cả những gì Chúa ban cho họ. Suốt 40 năm lang thang, thế hệ đi trước thường xuyên muốn trở lại Ai-cập và hưởng thức ăn họ đã từng ăn ở đó, nhưng cái nhìn lại này chỉ càng đưa họ vào sự rắc rối. Nói đến những hoàn cảnh của đời sống, tất cả chúng ta đều cần noi gương Phao-lô “Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy” (Phi 4:11) một trong những cách tốt nhất để học thỏa lòng là chia sẻ với người khác những phước hạnh Đức Chúa Trời ban cho ta.


Lời xưng nhận về sự vâng phục (Phuc 26:16-19).

Lời xưng nhận thứ nhất và thứ hai hướng đến thời điểm Y-sơ-ra-ên sẽ được định cư trong xứ họ và thu hoạch vụ mùa. Lời xưng nhận này đưa chúng ta trở lại với đồng bằng Mô-áp nơi Môi-se đang trang bị cho thế hệ sau bước vào xứ. “Ngày nay” (c.16-18) và “hôm nay” là những từ Môi-se dùng thường xuyên khi ông nói với dân sự (Phuc 2:26; Phuc 4:26,39; Phuc 6:6; Phuc 7:11; Phuc 8:1,18; Phuc 10:13 v.v..). Đó thật sự là một thời điểm long trọng khi Môi-se lặp lại luật pháp và ôn lại lịch sử của dân tộc. Tương lai của dân tộc tùy thuộc vào việc dân sự tiếp nhận, hiểu và vâng theo Lời Đức Chúa Trời mà Môi-se chia sẻ cho họ.


Hiểm họa thường trực đó là dân sự không tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời vào lòng nhưng chỉ nghe bằng tai rồi quên. Giống như dân Do-thái trong thời Chúa Giê-xu, họ có tai nhưng không thể nghe (Mat 13:13-15). Chỉ tự nhiên biết lời Chúa thì chưa đủ. Nếu lời Đức Chúa Trời phải nuôi dưỡng chúng ta và thay đổi chúng ta để Đức Chúa Trời có thể chúc phước cho chúng ta (Thi 1:1-3), chúng ta phải dâng mình cho điều đó, tấm lòng và linh hồn. Đức Chúa Trời đã tuyên bố Y-sơ-ra-ên cho dân Ngài và Chúa ban phước cho họ nếu họ vâng lời Ngài (Phuc 26:18) và Y-sơ-ra-ên đã tuyên bố rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ và họ sẽ vâng lời Ngài (c.17). Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ những lời hứa của Ngài, nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ giữ những lời hứa của họ chăng?


Đức Chúa Trời đã hoạch định những việc lớn cho Y-sơ-ra-ên, cũng như Ngài hoạch định những việc lớn cho con cái Ngài (Eph 2:10; ICo 2:6-10). Nếu dân sự giữ những lời hứa giao-ước của họ với Chúa, Ngài sẽ chúc phước cho họ và khiến họ trở nên một nguồn phước nhưng nếu họ bất tuân Ngài, Ngài sẽ phải sửa phạt họ. “Nhưng dân sự ta không khứng nghe tiếng ta, Y-sơ-ra-ên không muốn vâng theo ta. Vì vậy, ta buông chúng nó đi theo sự cứng lòng chúng nó. Ôi! Chớ chi dân ta khứng nghe ta! Chớ chi Y-sơ-ra-ên chịu đi trong đường lối ta! Thì chẳng bao lâu ta bắt suy phục các thù nghịch chúng nó. Ta sẽ lấy màu mỡ ngũ cốc mà nuôi họ, và làm cho ngươi được no nê bằng mật ong nơi hòn đá” (Thi 81:11-14,16).


Đức Chúa Trời thành tín với chúng ta, nhưng chúng ta bỏ mất nhiều biết bao khi chúng ta đã không trung tín với Ngài!

-Phuc 18:9-22; xem giải nghĩa Phu 12:17-19.





8. TỘI NGỘ SÁT, CHIẾN TRẬN VÀ TỘI SÁT NHÂN (Phuc 19:1-21:14)


Dân Y-sơ-ra-ên đã được ban phước dồi dào. Họ có Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm Vua của họ, một xứ kỳ diệu làm quê hương của họ, và một thánh luật làm người hướng dẫn họ, nhưng họ đã đối diện một số vấn đề tương tự mà xã hội ngày nay đối diện. Với bản chất con người tội lỗi, các dân tộc sẽ luôn phải đối phó với “sự vô nhân đạo của con người đối với con người”, vì trung tâm của mọi vấn đề vẫn là vấn đề của tấm lòng.

Các luật lệ cần thiết để đem trật tự đến cho xã hội, để ngăn trở điều ác, và để giúp điều khiển hành vi đạo đức, nhưng luật pháp không bao giờ có thể thay đổi lòng người.

Chỉ ân điển Đức Chúa Trời mới có thể làm được điều đó. Nếu phân đoạn Kinh Thánh này nhấn mạnh bất cứ điều gì, đó là Đức Chúa Trời quý trọng nhân mạng và muốn chúng ta đối xử với con người cách công bình, vì họ được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời (Sa 9:1-7). Mong muốn của Đức Chúa Trời đối với mọi dân tộc là “Hãy làm cho sự chánh trực chảy xuống như nước và sự công bình như sông lớn” (Am 5:24). Và tiêu chuẩn của Ngài cho cá nhân chúng ta là Mi 6:8 “Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện, cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?”


1. Sự công bình trong xứ (Phu 19:1-20)

Nhà thơ giáo phái Quaker, Jhon Greenleaf Whittier đã gọi sự công bình là “hy vọng của tất cả những người hoạn nạn, sự kinh hãi của tất cả những kẻ làm điều sai trái”. Đó là điều lý tưởng, nhưng không phải lúc nào nó cũng được thực thi trong đời thường. Không có sự công bình, xã hội sẽ sụp đổ,tình trạng vô chính phủ sẽ xảy ra, và sẽ không an toàn để người dân rời khỏi gia đình họ, Y-sơ-ra-ên đã không có hệ thống cảnh sát chặt chẽ như chúng ta có hôm nay, nên việc định chỗ và trừng phạt phạm nhân chủ yếu tùy thuộc vào các trưởng lão và quan án. Bằng cách chọn ra “thành ẩn náu”, Chúa đã đề cao sự công bình trong xứ.


Các thành (Phu 19:1-3,7-10).

Môi-se ôn lại ở đây điều ông đã dạy cho Y-sơ-ra-ên trong Dan 15:1-41. Thật ra ông đã lập ba thành ẩn náu ở phía Đông sông Giô-đanh (Phu 4:42-43). Trách nhiệm của Giô-suê sẽ là: lập ba thành khác ở phía Tây sông Giô-đanh sau khi Y-sơ-ra-ên đã chiếm xứ (Gios 20:1-9). Các thành ở phía Đông sông Giô-đanh là Gô-lan, Ra-mốt và Bết-se, còn các thành ở phía Tây sẽ là Kê-đe, Si-chem và Hếp-rôn. Nếu bạn tham khảo bản đồ về Xứ Thánh, bạn sẽ thấy rằng những thành này được định chỗ để những người cần sự bảo vệ có thể đến được dễ dàng. Những con đường dẫn đến các thành này phải được sữa chữa cẩn thận và được đánh dấu rõ ràng.

Lời truyền khẩu trong giới giáo sĩ Do-thái cho rằng có những dấu hiệu ở mọi ngã tư đường chỉ con đường đi đến thành ẩn náu gần nhất. Chúa muốn cho những kẻ ngộ sát thoát khỏi sự báo thù của những con người hung dữ.


Chúa cũng có những chuẩn bị cho dân tộc này để thêm vào ba thành ẩn náu nữa nếu biên giới xứ họ được mở rộng. Ngài đã hứa ban cho Y-sơ-ra-ên một xứ rộng rãi (Sa 15:18 Xu 23:31), và nếu họ vâng theo luật pháp Ngài, Ngài sẽ giữ lời hứa Ngài. Chỉ suốt triều đại của Đa-vít mà địa phận rộng lớn này đã thật sự do Y-sơ-ra-ên nắm giữ, và sau đó họ đánh mất nó khi mọi sự sụp đổ suốt triều đại Sa-lô-môn. Nếu chúng ta không vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời và tuyên bố những lời hứa của Đức Chúa Trời, chúng ta không bao giờ có thể nhận được tất cả những gì Đức Chúa Trời muốn chúng ta có.


Kẻ ngộ sát (Phu 19:4-6).

Luật vẫn theo Môi-se trong việc phân biệt kẻ sát nhân và kẻ ngộ sát (Xu 21:12-14 Le 24:17). Người vô ý giết ai đó có thể chạy trốn đến thành ẩn náu gần nhất và trình bày hoàn cảnh của mình cho các trưởng lão ở đó. Nếu người ấy không chạy trốn, người của gia đình nạn nhân có thể đuổi bắt người ấy và trở thành “kẻ báo thù huyết” và giết người ấy. Y-sơ-ra-ên không có hệ thống nào cho việc xác định và bắt giữ những tội phạm bị tình nghi.

Điều đó cho gia đình nạn nhân thấy rằng sự công bình đã được thực hiện. “Kẻ báo thù huyết” không được quyền hành động như quan án, bồi thẩm hay người hành hình; người ấy chỉ phải giao bị cáo cho các viên chức có quyền.Nhưng nếu người bà con này giận dữ, người ấy có thể nắm luật pháp trong tay và giết người vô tội. Bằng cách chạy trốn đến thành ẩn náu, kẻ ngộ sát được an toàn cho đến khi những sự thật của vụ án có thể được xem xét và bản án được tuyên bố. Nếu được nhận thấy vô tội, kẻ ngộ sát, được phép sống an toàn trong thành ẩn náu cho đến khi thầy tế lễ cả qua đời. Dù vô tội, người ấy vẫn trả một giá cho việc vô tình giết mạng người khác. Nếu người ấy rời khỏi thành ẩn náu,mạng sống người ở trong sự nguy hiểm và các trưởng lão không thể bảo vệ người ấy.


Những thành ẩn náu này minh họa sự cứu rỗi chúng ta trong Chúa Giê-xu Đấng mà chúng ta “đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta” (He 6:18), nhưng chúng cũng minh họa như vậy bằng sự tương phản. Người chạy trốn trong Y-sơ-ra-ên làm vậy vì người ấy không phạm tội sát nhân, nhưng chúng ta chạy trốn vì chúng ta phạm tội và đáng bị xét đoán. Không ai cần phải điều tra trường hợp của chúng ta vì chúng ta biết mình đã phạm tội và đáng bị sự trừng phạt của Đức Chúa Trời.

Về trường hợp các thành ẩn náu, người vô tội được phép sống, nhưng trong trường hợp của chúng ta, Chúa Giê-xu Đấng vô tội đã bị kết án chết. Người Y-sơ-ra-ên phải ở trong thành ẩn náu, vì nếu người rời thành, người có thể chết trong tay kẻ báo thù. Sự cứu rỗi chúng ta có trong Đấng Christ được quyết định không bởi sự vâng lời của chúng ta nhưng tùy thuộc hoàn toàn vào ân điển và những lời hứa của Ngài.

“Ta ban cho nó sự sống đời đời, nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta” (Gi 10:28).

“Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Giê-xu” (Ro 8:1).

Kẻ ngộ sát Y-sơ-ra-ên có thể rời thành ẩn náu một cách hợp pháp sau sự qua đời của thầy tế lễ cả, nhưng thầy tế lễ Thượng phẩm của chúng ta ở trên trời sẽ không bao giờ chết và sống đời dời để cầu thay cho chúng ta (He 7:25).


Kẻ giết người (Phu 19:11-13).

Nhưng có thể một người nào đó đã mưu sát kẻ thù mình sẽ chạy trốn đến một thành ẩn náu và nói dối với các trưởng lão, kể với họ rằng mình vô tội. Các trưởng lão trong thành của hắn phải làm cho sự việc minh bạch bằng cách sai đến thành ẩn náu và đem hắn trở về thành của hắn. Các trưởng lão trong thành ẩn náu sẽ trao trả bị cáo để hắn có thể bị xét xử thích đáng, nếu có tội, sẽ bị xử tử, Đức Chúa Trời mong muốn mỗi công dân quan tâm về việc đảm bảo cho sự công bình được thực hiện trong xứ. Sẽ dễ dàng để các viên chức trong thành của kẻ giết người để cho các trưởng lão trong thành ẩn náu lo lắng về vụ kiện, nhưng điều đó sẽ không đẩy mạnh sự công bình hay ngăn trở sự ô uế xứ. Trong dân tộc Y-sơ-ra-ên, việc làm đổ huyết vô tội làm ô uế xứ, và một cách để thanh tẩy xứ là trừng phạt kẻ vi phạm.

“Chớ làm ô uế xứ nơi các ngươi ở, sự đổ huyết làm ô uế xứ, và sự chuộc tội không thể được thực hiện cho xứ bị đổ huyết, trừ khi bởi huyết của kẻ làm đổ huyết” (Dan 35:33 NIV).


Giết người là một trong nhiều tội tử hình ở Y-sơ-ra-ên. Những tội tử hình khác là tội thờ hình tượng và tội phù phép (Le 20:1-6), tội lộng ngôn (Le 24:10-16), tội vi phạm ngày Sa-bát (Dan 15:32-36), tội bất tuân cha mẹ một cách cố ý và tái diễn (Phu 21:18-21; Xu 21:15-17), bắt cóc người (Xu 21:16), giao cấu với thú vật (Xu 22:19), đồng tính luyến ái (Le 20:13), tà dâm, và cưỡng hiếp thiếu nữ đã hứa hôn (Phu 22:22-27). Ngày nay, chúng ta không có nhiều tội tử hình này, nhưng Y-sơ-ra-ên là một quốc gia thần quyền và luật pháp của nó là luật pháp của Đức Chúa Trời. Vi phạm luật pháp là phạm tội nghịch với Chúa và làm ô uế xứ và dân sự cần hiểu sự nghiêm trọng của những hành động như thế.

Vào năm 1972, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố án phạt tử hình là trái với hiến pháp nhưng sau đó phục hồi nó trở lại và năm 1976. Án tử hình có thể không ngăn trở mọi kẻ sát nhân cất đi một mạng sống, nhưng nó thật sự đề cao sự quý giá của nhân mạng cũng như tôn trọng luật pháp.


Kẻ cắp (Phu 19:14).

Sau khi Y-sơ-ra-ên chinh phạt xứ Ca-na-an, mỗi chi phái được ấn định địa phận của mình và ranh giới của họ được mô tả chính xác. Giô-suê, thầy tế lễ cả Ê-lê-a-sa cùng những trưởng lão của 12 chi phái bốc thăm và thực hiện việc phân chia xứ (Gios 14:1-2). Trong các chi phái, mỗi gia đình và thị tộc sẽ nhận lấy phần đất mình và đánh dấu bằng những hòn đá làm ranh giới. Trong thời đó, các viên chức không vẽ sơ đồ đất đai chi tiết, điều mà chúng ta ngày nay gọi là “sơ đồ nhà đất”.

Mọi người phải tôn trọng mộc giới (đá ranh giới), vì dời những hòn đá có nghĩa là ăn cắp đất của người lân cận mình và của con cháu họ (Ch 22:28). Những quan chức vô tâm có thể dễ dàng bóc lột góa phụ với cô nhi nghèo khó và chiếm đất cùng huê lợi của họ (Ch 15:25 Ch 23:10-11). Vì Đức Chúa Trời làm chủ xứ và dân sự là tá điền của Ngài, nên việc dời những hòn đá cũng có nghĩa là ăn cắp của Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ trừng phạt họ (Os 5:10). Chắc chắn tội này được kể trong số những sự rủa sả được rao từ núi Ê-banh (Phu 27:17).


Hình phạt cho kẻ giết người nhắc nhở họ rằng tài sản cá nhân phải được tôn trọng. “Ngươi chớ trộm cắp” (Xu 20:15) hàm ý rộng hơn là chỉ cấm kẻ cắp vào nhà người ta và lấy đi những gì không phải của mình. Tống tiền cũng là ăn cắp (Thi 62:10) và Đức Chúa Trời lên án những quan chức lập các luật lệ bất công để họ có thể cướp của người nghèo và kẻ cô thế (Exe 22:29). Kẻ vu khống và kẻ làm chứng dối cướp đi của người khác thanh danh của họ (Phu 19:16-19 Mat 15:19-20) và thanh danh khó phục hồi hơn hàng hóa bị đánh cắp.


Kẻ nói dối (Phu 19:15-21).

Mọi hệ thống của công lý đều tùy thuộc vào việc con người biết lẽ thật và nói sự thật. Làm chứng dối là vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời (Xu 20:16) và phá hoại nền móng của hệ thống luật pháp. Người thề nói sự thật rồi sau đó nói dối là đang phạm tội khai man, chính nó là một trọng tội. Luật pháp Do-thái đòi hỏi 2 hoặc 3 nhân chứng để lập tội của một bị cáo (Phu 17:6; Dan 35:30), và Chúa Giê-xu (Mat 18:16) với Phao-lô (IICo 13:1; ITi 5:19) đều áp dụng nguyên tắc này cho kỷ luật của Hội thánh địa phương. Việc 2 hoặc 3 người làm chứng không bảo đảm rằng họ sẽ nói sự thật (IVua 21:1-14), nhưng Môi-se đã cảnh cáo rằng những kẻ làm chứng dối sẽ bị trừng phạt với mức án tương tự như hình phạt đối với bị cáo.


Tuy nhiên, có thể có những trường hợp mà chỉ một nhân chứng đứng lên tố cáo một người và người ấy là một kẻ làm chứng dối. Vậy thì sao? Cả bị cáo lẫn người làm chứng đơn phương sẽ phải đi đến tòa án trung tâm ở nơi thánh rồi trình bày vụ kiện cho các thầy tế lễ và quan án ở đó (Phu 17:8-13). Nếu tòa án khám phá rằng nhân chứng đơn phương không nói sự thật, người ấy sẽ nhận bản án tương tự, mà sẽ dành cho bị cáo nếu người phạm tội. Luật này sẽ khiến kẻ nói dối suy nghĩ kỹ trước khi vu cáo một người vô tội. Việc đi đến tòa án thầy tế lễ cùng các quan án và phơi trần sự gian ác của kẻ kiện cáo. Nhưng việc nhận biết họ có thể bị hình phạt mà họ muốn đối với bị cáo cũng sẽ khiến họ do dự, đặc biệt nếu đó là tội xử tử: “Chứng gian sẽ chẳng thoát khỏi bị phạt, và kẻ buông lời giả dối sẽ bị hư mất” (Ch 19:2,9).


Chúng ta đôi khi nghe rằng nỗi sợ hãi hình phạt không làm cản trở người ta phạm luật pháp, nhưng Phu 19:20 nói ngược lại “Còn những người khác hay điều đó, sẽ sợ,không làm sự hung ác như thế ở giữa ngươi nữa”. Mọi luật lệ trong các sách có lẽ đã bị vi phạm nhiều lần và không phải tất cả những kẻ vi phạm đều bị bắt giữ hay bị xét xử. Nhưng điều đó không chứng minh rằng việc khởi tố những kẻ bị bắt không làm cho xã hội tốt đẹp và ngăn trở nhiều tội phạm hơn. Một số chuyên gia luật pháp tranh cãi rằng tử hình đã không ngăn trở người ta phạm những tội tử hình, nhưng làm sao họ biết được? Những luật về tốc độ đã ngăn chặn những người bất cẩn lái xe quá tốc độ quy định, nhưng việc họ có máy dò ra-đa trong xe hơi của họ cho thấy họ không muốn gặp cảnh sát! Và hãy nghĩ đến những xa lộ sẽ nguy hiểm biết bao nếu không có những luật lệ về tốc độ.


Môi-se kết thúc phân đoạn này bằng cách nhắc nhở dân sự rằng trong mọi trường hợp,hình phạt phải tương xứng với tội phạm (c.21 Xu 21:23-25). Điều này được biết như “lex talionis”, là tiếng La-tinh của “luật ăn miếng trả miếng”. Những người gọi nguyên tắc này là “dã man” có lẽ không hiểu nó có nghĩa gì. Bản án không nên quá nghiêm khắc, cũng không được quá dễ dãi nhưng phải thích hợp với điều luật đòi hỏi và điều phạm nhân bị kết án đáng nhận.

Quan án trung thực không dành cho kẻ giết người bản án tương tự như họ dành cho người bỏ thuốc độc con mèo của người lân cận mình, kẻ ăn cắp vặt cũng không nên bị dành cho hình phạt tương tự như kẻ bắt cóc người. Nguyên tắc xét xử này nhấn mạnh sự công bằng và đối xử con người tại một thời điểm trong lịch sử khi các hình phạt hết sức tàn bạo. Ở nước Anh thế kỷ 18 có hơn 200 tội tử hình, và một người có thể bị treo cổ vì tội móc túi. Trẻ em vi phạm luật pháp thường bị đối xử như người lớn và bị bỏ tù vì những vi phạm nhỏ.


Khi Chúa chúng ta đề cập đến luật “Lex talionus” trong “Bài Giảng Trên Núi” (Mat 5:38-42), Ngài không nói về hệ thống tòa án của chính quyền, nhưng nói về cách tín hữu phải đối phó với những vi phạm và cách đối xử bất công của cá nhân, Ngài không hủy bỏ luật pháp Cựu-ước, vì Ngài đến để làm trọn luật pháp đó (c.17-20). Đúng hơn, Ngài cấm môn đồ Ngài “trả đũa tương tự” với những người xúc phạm hoặc lợi dụng họ. Nếu những tòa án của chúng ta không làm theo những mệnh lệnh của Chúa chúng ta được thấy trong các c.38-42, quốc gia sẽ ở trong tay của những tội phạm! Chúa Giê-xu kêu gọi chúng ta đừng trả thù riêng nhưng giao những vấn đề đó trong tay Đức Chúa Trời (Ro 12:17-21). Chúng ta phải bắt chước Chủ và lấy thiện báo ác, lấy tình yêu thương trả cho ghen ghét và lấy sự hy sinh trả cho lòng ích kỷ (IPhi 2:11-25).


2. Chiến tranh trong xứ (Phu 20:1-9,16-18)

Dân Do-thái đi vào Ca-na-an không với tư cách người tham quan nhưng với tư cách những chiến sĩ được chuẩn bị cho trận chiến và mong muốn Đức Chúa Trời ban cho họ chiến thắng. Thật quan trọng để chú ý rằng Đức Chúa Trời đã ban cho dân tộc này hai chiến lược quân sự khác nhau, một cho các thành trong xứ Ca-na-an (c.1-9,16-18) và một cho các thành bên ngoài Ca-na-an (c.10-15). Sau khi Y-sơ-ra-ên chinh phạt và định cư trong sản nghiệp mình, họ có thể phải tấn công một thành ở xa, vì luôn có những kẻ thù để đối phó, và họ có thể luôn chấp nhận sự thách thức của việc tuyên bố lời hứa của Đức Chúa Trời và mở rộng xứ (Phu 19:8-9)


Lời bảo đảm của Chúa (Phu 20:1).

Môi-se không đánh giá thấp tầm cỡ hay sức mạnh của kẻ thù, vì ông biết rằng các dân tộc sống trong Ca-na-an có ngựa, xe ngựa, quân đội đông đảo và các thành được xây công sự. 38 năm trước đó các thám tử thăm dò xứ đã nhìn thấy mọi trở ngại và nguy hiểm này (Dan 13:1-33), nhưng không thấy những vấn đệ này nhỏ bé biết bao khi so với sự vĩ đại của Đức Chúa Trời họ.

Môi-se nhắc nhở dân sự rằng Chúa đã đem họ ra khỏi Ai-cập một cách thành công để đến đồng bằng xứ Mô-áp và đánh bại mọi kẻ thù tấn công họ. Thật ra, địa phận mà Y-sơ-ra-ên giờ đây đang sống thuộc về dân Do-thái chớ không phải thuộc về kẻ thù, vì Chúa đã ban cho dân Ngài chiến thắng lớn trên các dân tộc phía Đông sông Giô-đanh. Như Chúa đã đánh bại Pha-ra-ôn và quân đội ông ở Ai-cập, Ngài cũng sẽ đánh bại các dân ở Ca-na-an.


Trong thời kỳ đầu của tình trạng suy thoái trầm trọng, Tổng thống Franklin D.Roosevelt đã nói trong bài diễn văn khai mạc của ông: “Điều duy nhất chúng ta phải sợ là chính sự sợ hãi?” Có một nỗi sợ hãi huy động một người như khi bạn nghe còi báo động cháy vang lên, nhưng cũng có một nỗi sợ hãi làm tê liệt một người, và đó là nỗi sợ hãi Môi-se đang nói. Khi bạn kính sợ Chúa và tin cậy Ngài, chúng ta không cần sợ kẻ thù, Y-sơ-ra-ênkhông có gì để sợ hãi vì Đức Chúa Trời Đấng nhận chìm đội quân Ai-cập, sẽ đánh bại những đội quân Ca-na-an.


Lời khích lệ của thầy tế lễ (Phu 20:2-4).

Đây không phải là thầy tế lễ cả nhưng là một trong các thầy tế lễ được chỉ định nói với quân đội. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi nghe thầy tế lễ khích lệ quân đội, vì những cuộc chiến ở Ca-na-an là những cuộc thánh chiến, sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với các dân tộc gian ác đã chống nghịch Ngài và phạm tội nghịch với sự sáng. Chúa đã cho các dân tộc này thời gian dài để ăn năn và trở lại với Ngài, nhưng họ từ chối vâng lời.

Việc giải cứu Y-sơ-ra-ên cách kỳ diệu khỏi Ai-cập và sự vượt sông Giô-đanh là bằng chứng đủ cho thấy Đức Chúa Trời Toàn năng ở cùng họ và sự xét đoán đã đến (Gios 2:1-24). Dân Do-thái là dân sự Đức Chúa Trời, chiến đấu trong những cuộc chiến của Đức Chúa Trời và điều đó thích hợp để họ nghe tôi tớ của Đức Chúa Trời, thầy tế lễ (1).


Lời của Chúa “Đừng sợ” là lời mỗi tín hữu cần nghe khi đối đầu với những kẻ thù của đức tin. Đó là sứ điệp Chúa ban cho Áp-ra-ham, sau khi giúp ông đánh bại các vua (Sa 15:1) và sứ điệp cho Gia-cốp khi ông rời quê hương đi đến Ai-cập (Sa 46:3). Môi-se đã rao sứ điệp đó cho dân Do-thái khi họ đứng tại Biển Đỏ (Xu 14:13), và tiên tri Ê-sai đã lặp lại sứ điệp đó nhiều lần để khích lệ những người Do-thái còn sót lại (Es 41:10,13-14 Es 43:1,5 Es 44:2,8). Bạn tìm thấy nhóm từ này 7 lần trong Phúc-Âm Lu-ca (Lu 1:13,30 Lu 2:10 Lu 5:10 Lu 8:50 Lu 12:7,32). Khi chúng ta bước đi bởi đức tin và cứ nhìn xem Chúa (He 12:1-3), Ngài ban cho ta sự bình an ta cần (Phi 4:4-9). Bạn sẽ hướng đến chiến thắng khi bạn biết Chúa ở cùng bạn và chiến đấu cho bạn.


 Lời khích lệ của các quan trưởng (Phu 20:5-9).

Thầy tế lễ khích lệ các chiến sĩ đối diện với kẻ thù không sợ hãi, nhưng các quan trưởng bảo họ trở về nhà nếu họ có việc chưa làm xong, không quan trưởng nào muốn lãnh đạo những chiến sĩ bị phân tâm, có tâm trí và tấm lòng ở đâu đó, vì “một người phân tâm phàm làm điều gì đều không định” (Gia 1:8). Phao-lô có thể đã nghĩ đến hình ảnh này khi ông viết IITi 2:4 “Khi một người ra trận, thì chẳng còn lấy việc đời lụy mình, làm vậy đặng đẹp lòng kẻ chiêu mộ mình”.


Các quan trưởng tuyên bố 3 trường hợp khác nhau để cho phép sự gia hạn tạm thời, và trường hợp thứ nhất là cho phép người lính dâng cho Chúa một nhà mới và bắt đầu sống trong đó (Phu 20:5). Từ dịch là “dâng” (dedicate, KJV) cũng có nghĩa là “bắt đầu” (initiate), bắt đầu sống trong ngôi nhà này với gia đình mình và vui hưởng nó. Gia đình cần người này nhiều hơn chiến trận cần, vậy người ấy được hoãn lại một năm. Trường hợp thứ hai là thu hoạch một vườn nho mới mà người lính chưa nếm qua trái của nó.

Theo Le 19:23-25, người chủ một vườn cây ăn trái phải chờ đến năm thứ 5 trước khi có thể ăn trái của cây, nhưng luật này có thể không áp dụng cho vườn nho. 5 năm sau sẽ là thời hạn khá dài. Trường hợp thứ 3 có lẽ quan trọng nhất, và đó là cho phép người lính đã hứa hôn trở về nhà và lập gia đình. Theo Phu 24:5 người ấy được hoãn 1 năm.


Ba ngoại lệ này cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm nhiều về việc chúng ta hưởng những phước hạnh của đời sống gia đình, mùa gặt, và tuần trăng mật hơn việc chúng ta chỉ dấn thân cho những chiến trận của đời sống. Ngài không muốn bất cứ người Do-thái nào dùng những trách nhiệm quân đội làm một viện cớ để bỏ bê gia đình,vườn nho và vợ chưa cưới của mình. Chắc chắn sự phục vụ quân đội là quan trọng,nhưng Chúa quan tâm hơn về việc những người nam này có những ưu tiên đúng đắn trong đời sống. Điều gì tốt lành được thực hiện cho dân Do-thái nếu quân đội họ đánh bại kẻ thù trên chiến trường nhưng mọi sự sẽ sụp đổ nếu không trở về nhà?


Các thầy tế lễ bảo những chiến sĩ hãy nhìn lên và tin cậy Chúa, còn các quan trưởng bảo họ nhìn lại và xem xét bất cứ công việc dở dang nào sẽ ngăn trở họ làm hết sức mình. Nhưng các quan trưởng đưa ra thách thức khác và bảo các chiến sĩ nhìn vào và xem họ có quá lo sợ để bước vào trận chiến hay không, Ghê-đê-ôn đã mất 22.000 người nam khi ông đưa ra thách thức này (Cac 7:1-3). Sự sợ hãi đức tin không thể cùng tồn tại thành công trong một tấm lòng (Mat 8:26 Lu 8:25). Hơn nữa, sự sợ hãi gây lây nhiễm và làm nản lòng những chiến sĩ khác. Chính sự sợ hãi và vô tín đã gây nên sự đại bại của Y-sơ-ra-ên tại Ka-đe (Dan 13:1-14:45).


Một khi hàng ngũ đã được lọc lựa, các quan trưởng sẽ chỉ định những chỉ huy, vì vậy mỗi người phải sẵn sàng phục vụ. Ở thời điểm này Y-sơ-ra-ên không có cái chúng ta gọi là “một đội quân thường trực” với một hệ thống có tổ chức gồm những sĩ quan thường trực. Những sĩ quan lớn biết những người giỏi nhất của họ và sẽ chỉ định những trách nhiệm chỉ huy cho mỗi chiến dịch. Khi Sau-lơ trở thành vua,ông lập một trung tâm cho một đội quân thường trực và người kế vị ông là Đa-vít đã phát triển tổ chức này thậm chí nhiều hơn, nhưng quyền hạn và cấp bậc cũng quan trọng.


3. Chiến trận ngoài xứ (Phu 20:10-20) (Phu 21:10-14)

Môi-se đã chỉ dẫn cho dân sự cách đánh trận trong xứ Ca-na-an, nhưng giờ đây ông đề cập đến những cuộc chiến họ sẽ đánh bên ngoài xứ. Chúa muốn mở rộng những biên giới của Y-sơ-ra-ên (Phu 19:8) và điều này sẽ có liên quan đến những cuộc giao tranh của quân đội ở xa xứ Thánh.


Chiếm một thành (Phu 20:10-18).

Quan trọng để chú ý rằng kế hoạch của Y-sơ-ra-ên trong việc tấn công các thành ở xa khác với kế hoạch khi họ tấn công các thành trong xứ Ca-na-an. Đức Chúa Trời nhiều lần ra lệnh cho Y-sơ-ra-ên tiêu diệt dân trong các thành Ca-na-an và không thương xót (c.1-18 Phu 3:6 Phu 7:1-11). Suốt thời gian họ đánh chiếm Ca-na-an, dân Do-thái không chỉ phải giết mọi dân trong thành, họ còn phải tiêu diệt mọi vật có liên hệ với hệ thống tôn giáo gian ác của dân Ca-na-an, bao gồm đền thờ, hình tượng và bàn thờ. Chính sách này sẽ giúp cất bỏ những cám dỗ nguy hiểm khỏi dân Do-thái là dân luôn có xu hướng theo hình tượng.


Lúc đến những thành ngoại bang trách nhiệm đầu tiên của các quan trưởnglà đưa ra những điều khoản hòa bình. Nếu dân sự chấp nhận những điều khoản này, thì thành và cư dân của thành sẽ được tha nhưng thành sẽ chịu phục dịch cho Y-sơ-ra-ên. Điều này liên quan đến việc đóng thuế hằng năm cho Y-sơ-ra-ên và biến dân trong thành trở nên nô lệ cho người Y-sơ-ra-ên (Gios 9:16-17 Gios 16:10 Gios 17:13).

Suốt triều đại của vua Đa-vít có một quan trưởng đặc biệt trong Y-sơ-ra-ên là người đảm trách về “lao động cưỡng bức” (IISa 20:24). Vì những chương trình xây cất mở rộng của mình, vua Sa-lô-môn mở rộng chức vụ này và thậm chí kể dân Y-sơ-ra-ên vào sự cưỡng bức lao động (IVua 5:13-18; IVua 9:15; IISu 2:17-18). Chính gánh nặng này cuối cùng đã khiến Giu-đa nổi dậy chống lại Rô-bô-am con trai Sa-lô-môn và ly khai khỏi vương quốc (IVua 12:1-33).


Nếu dân sự từ chối đề nghị hòa bình của Y-sơ-ra-ên, vậy quân đội Do-thái được phép bao vây thành, tin cậy Đức Chúa Trời ban cho họ chiến thắng. Những người nam trong thành sẽ bị giết (Dan 31:7), phụ nữ và trẻ em sẽ bị bắt làm nô lệ, và chiến lợi phẩm trong thành sẽ được chia cho các chiến sĩ.


Dù một số người thiện chí không thích những ẩn dụ quân sự trong Kinh Thánh, nhưng Hội thánh ngày nay đang trong một cuộc chiến chống lại thế gian, xác thịt và ma quỉ (Eph 2:1-3 Eph 6:10-18 IITi 2:3-4). Nhưng chúng ta cũng là những sứ giả hòa bình mang đôi giày “sự sẵn sàng của Tin Lành bình an” (Eph 6:15) và cầu thay cho tội nhân chống nghịch để được “hòa thuận với Đức Chúa Trời” (IICo 5:18-21).

Chúa Giê-xu đã đem sứ điệp bình an của Ngài cho dân Ngài (Lu 2:14) và họ đã khước từ (Lu 13:34-35; Gi 1:17), nên Ngài phải thay thế lời đề nghị về sự hòa bình bằng lời tuyên bố về sự xét đoán (Lu 12:51-56). Vào năm 70 SC, quân đội Rô-ma đã phá hủy Giê-ru-sa-lem, giết bắt giữ, hoặc phân tán dân sự, và không có quốc gia Y-sơ-ra-ên về chính trị mãi cho đến ngày 14/5/1948.


Chăm sóc tài nguyên thiên nhiên (Phu 20:19-20).

Như Y-sơ-ra-ên phải chú ý đến những tài nguyên Đức Chúa Trời ban cho trong xứ họ (c.6), họ cũng phải cẩn thận không lãng phí những tài nguyên thiên nhiên trong những xứ khác. Đánh bại kẻ thù là quan trọng, nhưng gìn giữ tài nguyên thiên nhiên cũng quan trọng khi Chúa thật sự muốn hạ thấp một quốc gia, Ngài ra lệnh dân Ngài phải hủy diệt những cây tốt (IIVua 3:15-17), nhưng phương pháp này là một ngoại lệ.

Những cây khác có thể được dùng làm công sự vây hãm, nhưng cây ăn quả phải được gìn giữ,vì “cây của đồng ruộng là sự sống của con người” (Phu 20:19), dù người đó là một đồng minh hay một kẻ thù. Phải mất nhiều năm để thay thế những cây bị phá hủy bừa bãi (2). Chiến tranh đủ sức tàn phá mà không cần thêm vào sự đổ nát và lãng phí.


Lấy vợ (Phu 21:10-14).

Mặc dù người nam Do-thái không được phép lấy vợ từ các dân tộc Ca-na-an (Phu 7:3), họ được phép cưới người nữ ở các thành bị chinh phạt nằm xa Đất Hứa Phu 20:14-15). Dĩ nhiên, những người nữ này sẽ phải chấp nhận niềm tin của Y-sơ-ra-ên và bước vào đời sống tôn giáo của dân tộc. Tuy nhiên, trước khi trở về nhà cùng vợ mới, người nam phải chờ một tháng trước khi hoàn tất việc hôn nhân. Biết điều này sẽ giữ cho người nam không hành động hấp tấp và chỉ lấy một người nữ đầy quyến rũ để thỏa mãn những ham muốn của mình, như thể nàng là một phần của chiến lợi phẩm. Suốt thời gian chờ đợi đó người nam có thể xem xét nghiêm túc về điều mình đang làm, và người nữ có thể được chuẩn bị về xúc cảm cho một khởi đầu mới, vì nàng phải cạo đầu, cắt móng tay, và mặc quần áo khác.


Cạo đầu là một phần trong những nghi thức cho người phung được sạch (Le 14:8-9) và sự dâng mình của người Na-xi-rê đã làm trọn hứa nguyện mình (Dan 6:18). Mặc dù cạo đầu sẽ là một kinh nghiệm nhục nhã đối với phụ nữ (Phu 21:14), nó cũng có thể là dấu hiệu của một khởi đầu mới, như đối với người phung và người Na-xi-rê (3). Nàng đang từ bỏ tôn giáo trước đây của mình và nhận Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình. Theo quan điểm thực tế, có lẽ diện mạo này sẽ khích lệ nàng ở nhà và làm quen nhiều hơn với người chồng Do-thái tương lai của mình suốt thời gian chờ đợi này, nàng phải bày tỏ sự buồn rầu của mình về việc xa gia đình và nơi sinh quán của mình. Tóm lại, những kinh nghiệm về tháng chờ đợi này, có thể là đau đớn, được sắp đặt để giúp người nữ thực hiện sự chuyển tiếp từ đời sống cũ sang đời sống mới.


Nếu sau khi hoàn tất việc hôn nhân người nam không hài lòng với người nữ, người ấy không thể chỉ đuổi nàng ra hay bán nàng như thể nàng là một nô lệ. Người ấy phải ly hôn với nàng và để nàng đi nơi đâu nàng muốn. Người đàn ông khác có thể cưới nàng hoặc nàng có thể trở về quê quán mình. Xã hội ngày nay không tán thành việc một phụ nữ bị bắt cách cưỡng chế để trở thành vợ của một người xa lạ, nhưng thế giới cổ đại đã quen với những việc như thế (Cac 21:1-25). Tuy nhiên, luật này bảo vệ nàng khỏi bị cưỡng hiếp và loại bỏ sau cuộc chiến hay bị chồng làm hạ giá đến nỗi người đàn ông khác không muốn cưới nàng. Nàng ra đi tự do tốt hơn là nàng bị ép buộc sống với một người đàn ông không cần nàng.


4. Chuộc tội cho xứ (Phu 21:1-9)

Xứ thuộc về Đức Chúa Trời và dân sống ở đó là tá điền của Ngài. Tội lỗi họ không những làm Chúa đau buồn mà còn làm ô uế xứ, đặc biệt là những tội về sự đồi bại tình dục (Le 18:24-28) và giết người (Dan 35:30-34). Làm đổ huyết vô tội là một tội lỗi gớm ghiếc trong Y-sơ-ra-ên (Phu 19:10,13 Gie 7:6 Gie 22:3,17).

Khi Ca-in giết A-bên em mình, đất thấm máu A-bên và kêu khóc với Đức Chúa Trời về sự công bình (Sa 4:10-12 He 12:24). Đức Chúa Trời ghi nhận việc huyết vô tội bị đổ ra bởi thú vật và con người, và một ngày nào đó sẽ tính sổ (Sa 9:5-6). “Vì Đấng báo thù huyết nhớ lại kẻ khốn cùng, chẳng hề quên tiếng kêu của họ” (Thi 9:12). “Khi Chúa đến để xét đoán, đất sẽ làm chứng về huyết vô tội đã bị đổ ra” (Es 26:21).


“Các trưởng lão và quan án” được đề cập trong Phu 21:2 có thể là “tòa án nơi thánh” được đề cập trong Phu 17:8-13 và điều này sẽ kể đến các thầy tế lễ (Phu 21:5). Đây là tòa án cao nhất trong xứ và giết người là một tội ác ghê tởm. Hơn nữa, không ai đo đạc để thấy thành nào gần nhất, nên các trưởng lão và quan ác không thể đến từ thành đó, một khi thành gần nhất được xác định, các trưởng lão của thành đó tham dự vào nghi lễ được ấn định. Chúng ta cho rằng các trưởng lão và quan án đã điều tra vụ án triệt để trước khi họ đi đến những bước phác thảo trong những câu này.


Việc dâng bò cái tơ không giống như việc dâng một củalễ tại nơi thánh. Trước hết các thầy tế lễ không giết con vật và hứng máu nó; những thường dân vặn cổ con vật trong thung lũng, và các thầy tế lễ chỉ chứng kiến hành động này. Các quan trưởng rửa tay trên con vật chết (Mat 27:24), xưng ra sự vô tội của họ và cầu xin Chúa tha thứ dân Ngài, và Ngài tha thứ. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa kẻ giết người vô danh tự động được tha, nhưng đúng hơn có nghĩa lời Chúa sẽ tẩy thanh xứ và tha thứ Y-sơ-ra-ên tội lỗi họ đã phạm. Sự công bình của Đức Chúa Trời được gìn giữ và luật pháp Đức Chúa Trời được bảo vệ dù thủ phạm là nặc danh.


Việc nghi lễ này liên quan đến Chúa Giê-xu Christ và công tác chuộc tội của Ngài trên thập tự giá là rõ ràng qua lời các trưởng lão. “Xin chớ kể huyết vô tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài” (Phu 21:8). Vào ngày bi thảm đó khi Y-sơ-ra-ên yêu cầu đóng đinh Đấng Mê-si-a của họ trên thập tự giá, Phi-lát đã rửa tay và nói: “Ta vô tội về huyết người này” và dân sự đáp: “Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi” (Mat 27:24-25).

Giống như bò cái tơ vô tội đó, Chúa Giê-xu đã chết thay dân tộc này và thậm chí cầu nguyện trên thập tự giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu 23:34). Chúa Giê-xu đã làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời và gìn giữ Thánh luật của Ngài, và Đức Chúa Trời đã rút sự xét đoán của Ngài khỏi Y-sơ-ra-ên trong khoảng 40 năm. Chúa Giê-xu đã chết thay tội lỗi thế gian (Gi 1:29; IGi 4:14). Ngài chết thay cho Hội thánh (Eph 25:25-26) và cho dân Y-sơ-ra-ên “Người đã bị phạt vì cớ tội lỗi của dân ta” (Es 53:8).


Toàn bộ nghi lễ nói đến ân điển Đức Chúa Trời, vì công việc của con người không bao giờ có thể dành được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Bò cái tơ chưa bao giờ được làm việc,đất trong thung lũng chưa bao giờ được trồng trọt, còn các trưởng lão, quan án và thầy tế lễ không làm điều gì đặc biệt để đáng hưởng sự thu thứ của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Của lễ thậm chí không được thực hiện tại nơi thánh hay được dâng bởi một thầy tế lễ.

“Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Eph 2:8-9). Việc dâng bò cái tơ vô tội chỉ về việc dâng Con Đức Chúa Trời Đấng mà sự chết Ngài đem đến sự thanh tẩy, sự tha thứ và sự bãi bỏ sự xét đoán của Đức Chúa Trời.


Nhìn lại phân đoạn này về luật pháp, chúng ta có ấn tượng với việc Đức Chúa Trời muốn dân Ngài hưởng sự sống trong xứ, và bí quyết của sự vui hưởng này là vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời. Tội lỗi và bất công bí quyết của sự vui hưởng này là vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời. Tội lỗi và bất công đã làm ô uế xứ, và Đức Chúa Trời không muốn dân Ngài bị ô uế. Các dân tộc bất kính trong Ca-na-an làm ô nhiễm xứ đến nỗi đất “nôn họ ra” (Le 18:24-30). Không có Y-sơ-ra-ên, không dân tộc nào trên thế giới ở trong một mối liên hệ giao ước với Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa vẫn tính sổ với mọi dân tộc về tội lỗi của họ Am 1:3-2:3). Một ngày nào đó Đức Chúa Trời sẽ xét đoán các dân trong sự công bình (Gio 3:9-16) và không ai thoát khỏi.

-Phu 21:10-14; xem giải nghĩa Phu 21:1-9





9. NHỮNG TRANH CHẤP VÀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH (Phu 21:15-25:19)


Sự nhấn mạnh chính trong những chương này là về cách luật pháp của Chúa điều khiển những mối liên hệ trong dân Y-sơ-ra-ên. Tài liệu thật đa dạng nên cách tốt nhất để ngihên cứu điều Môi-se nói là sắp xếp nó theo những loại tổng quát.


1. Bảo vệ gia đình (Phu 21:15-21) (Phu 24:1-5 Phu 25:5-10)

Nền tảng cho xã hội loài người là gia đình, một món quà của Đức Chúa Trời. Nhà xã hội Margaret Mood đã nói: “Dù ai nghĩ ra bao nhiêu công xã đi nữa, thì gia đình vẫn được xem là quan trọng nhất”. Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã thiết lập gia đình và khi như vậy Ngài đã sữa chữa điều duy nhất trong sự sáng tạo của Ngài là loài người ở một mình thì “không tốt” (Sa 1:26-31 Sa 2:18-26). Dân Y-sơ-ra-ên được lệnh phải tôn kính cha mẹ (Xu 20:12) và 4 thế hệ sống chung như một gia đình mở rộng sự tôn kính đó bao phủ một phần địa phận.


Con trưởng nam (Phu 21:15-17).

Kiểu mẫu thiêng liêng ban đầu cho hôn nhân là một người nam và một người nữ dâng hiến nhau trọn đời, và hai ngoại lệ – sự đa thê và ly hôn được cho phép trong Y-sơ-ra-ên vì “sự cứng lòng của con người” (Mat 19:3-9), Người đa thê đầu tiên là Lê-méc chống lại Đức Chúa Trời (Sa 4:19) và những người đàn ông trong Kinh Thánh theo gương ông đã đem sự đau buồn và rắc rối vào trong gia đình họ. Gia-cốp đã khám phá rằng có nhiều vợ nghĩa là sự cạnh tranh với va chạm trong gia đình và đem vào gia đình nhiều đau khổ (Sa 29:30 Sa 31:1). Đức Chúa Trời tể trị sự ích kỷ trong gia đình và thực hiện những mục đích của Ngài trong việc xây dựng dân tộc, nhưng một số thành viên gia đình đã trả một cái giá.


Tại lễ Vượt qua, Đức Chúa Trời đã tha các con trưởng nam Do-thái là những người được che chở bởi huyết chiên con. Để thừa nhận phép lạ nhân từ này, Ngài truyền lệnh rằng tất cả các con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên,loài người và thú vật, phải được dâng cho Ngài (Xu 13:1-16). Y-sơ-ra-ên là con trưởng nam của Đức Chúa Trời (Xu 4:22-23) và con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên cũng thuộc về Ngài. Cũng được định rằng con trưởng nam trong gia đình sẽ thừa hưởng hai phần gia tài. Nếu có hai con trai, con lớn nhận 2/3 và con nhỏ nhận 1/3 không điều gì có thể thay đổi luật này, dù là tình yêu của người chồng đối với vợ ưa thích của mình.


Trong lịch sử cứu rỗi phải chú ý rằng Đức Chúa Trời đôi khi bỏ qua con trưởng nam và chọn con thứ. Con trưởng nam của Áp-ra-ham là Ích-ma-ên, nhưng Đức Chúa Trời chọn Y-sác, và Ê-sau là con trưởng nam của Y-sác, nhưng Đức Chúa Trời chọn Gia-cốp (Ro 9:6-13). Gia-cốp đã ban phước đặc biệt cho Ep-ra-im, con thứ của Giô-sép, chớ không phải cho Ma-na-se, con trưởng (Sa 48:1-22). Đức Chúa Trời không chấp nhận sự sinh ra thứ nhất của chúng ta, đó là xác thịt, nhưng ban cho chúng ta sự sinh ra thứ hai, một sự sinh thuộc linh, khiến chúng ta trở nên con đầu lòng của Ngài (Gi 3:1-18 He 12:23).


Con bội nghịch (Phu 21:18-21).

Con trai này vốn là “con trai hoang đàng” (Lu 15:11-32), trừ khi nó không bỏ nhà đi để bất tuân điều răn thứ 5, bất kính cha mẹ và làm xấu hổ cho cộng đồng của mình. Ngày này sang ngày khác, nó chống cự những lời năn nỉ, răn đe và sự sửa phạt của cha mẹ khi nó từ chối làm việc, chè chén với những kẻ nghiện rượu, và chẳng đáng góp gì cho gia đình hay ông đồng loại tội lỗi này thật ghê tởm đến nỗi bị kể vào những sự rủa sả được đọc trong xứ Ca-na-an (Phu 27:16 Xu 21:17) (1).


Đây không chỉ là một sự quan tâm của gia đình, vì nó có liên quan đến hòa bình và thanh danh của cộng đồng sự đoàn kết của dân Y-sơ-ra-ên là yếu tố quan trọng trong đời sống dân sự, xã hội và tôn giáo vì tội lỗi của một người, gia đình hay một thành có thể ảnh hưởng đến cả quốc gia (Phu 13:1-19 Gios 7:1-15).

Điều này cũng đúng với Hội thánh, vì là những chi thể của một thân thuộc linh (ICo 12:1-31), chúng ta thuộc về nhau và chúng ta ảnh hưởng lẫn nhau (ICo 5:1-13). Cha mẹ của đứa con bội nghịch phải đem nó đến hội đồng địa phương tại cửa thành, làm chứng về sự bội nghịch và ương ngạnh của nó, rồi để hội đồng quyết định. Nếu đứa con không chịu thay đổi những việc làm của nó, vậy sự tuyên án duy nhất là cái chết bằng cách ném đá, với tất cả mọi người tham dự.

Vì sao? Để “cất sự ác” và cảnh cáo những kẻ hoang đàng khác về những gì có thể xảy ra cho họ. Nhóm từ “cất sự ác” được tìm thấy 9 lần trong sách Phục truyền (Phu 13:5) và những tham khảo, và nhóm từ “nghe và sợ” được tìm thấy 4 lần (Phu 13:11 Phu 17:13 Phu 19:20 Phu 21:21).

Chúa và Môi-se tin rằng hình phạt công khai cho những kẻ vi phạm có thể là một bất lợi cho những kẻ khác phạm tội. Hơn nữa, tương lai của gia đình đó ở tình trạng lâm nguy nếu đứa con này được phép tiếp tục trong tội lỗi mình.


“Luật về những kẻ hoang đàng” này giúp ta hiểu một khía cạnh trong ví dụ của Chúa chúng ta, sự kiện người cha chạy ra đón con trai ông Lu 15:20). Ở Đông phương không có tục lệ người lớn tuổi chạy. Dĩ nhiên, tình yêu của người cha đối vói đứa con buộc ông phải vội vàng để gặp con, nhưng có điều gì đó liên quan. Tin tức về đời sống hư hỏng của đứa con trai này nơi phương xa chắc chắn đã bay về quê nhà nó, và những công dân tôn trọng luật pháp biết rằng nó đã làm xấu hổ cho thành của họ.

Nhìn đứa con trai đến gần, các trưởng lão tại cửa thành có thể bị cám dỗ để từ chối cho nó vào, hoặc trong cơn giận, họ có thể nhặt đá ném nó! Nhưng có người cha giữ đứa con trong vòng tay, hôn nó, và nghênh đón nó, các trưởng lão không thể làm gì. Nếu ai đó ném đá, họ sẽ ném trúng người cha. Điều này nói với chúng ta về đồi gô-gô-tha nơi Đức Chúa Trời nhận hình phạt thay chúng ta để Ngài có thể đón chúng ta về nhà.


Sự ly hôn (Phu 24:1-17) (2).

Đủ tồi tệ khi một gia đình có đứa con bội nghịch quấy rối tgia đình, nhưng còn tồi tệ hơn khi người chồng và người vợ không hòa thuận và hôn nhân đổ vỡ. Luật hôn nhân đầu tiên tại vườn Ê-đen không nói gì về sự ly hôn (Sa 2:18-25). Hôn nhân về cơ bản là một sự hiệp nhất về thuộc thể (“một thịt”), nên chỉ một nguyên nhân thuộc thể mới có thể làm hôn nhân vỡ, và có 2 lý do như thế, sự chết của người chồng hoặc người vợ (Ro 7:1-3 ICo 7:39) và sự ngoại tình (Phu 22:22 Le 20:10). Người đàn ông và người đàn bà ngoại tình đều bị giết chết, để người vợ hoặc người chồng vô tội được tự do tái hôn. Luật Môi-se không cho phép ly hôn mình.


“sự ô uế” (“cái gì đó khiếm nhã” NIV) không thể là tội ngoại tình, điều gì cho phép một người nam ly hôn vợ mình? Trong thời Chúa chúng ta, trường Rabbi-Hillel có một quan điểm rất rộng và giải thích “sự ô uế” nghĩa là “bất cứ điều gì không làm hài lòng người chồng”. Nhưng trường Rabbi Shammai có quan điểm hẹp hòi rằng “sự ô uế:” nghĩa là loại tội lỗi tình dục nào đó (Mat 5:31-32 Mat 19:1-9 Mac 10:1-12). Chúa Giê-xu không định nghĩa “sự ô uế” nhưng cho biết rõ rằng luật Môi-se về việc ly hôn là một sự nhượng bộ, không phải một mệnh lệnh.

Đức Chúa Trời cho phép đều đó vì cớ sự cứng lòng của loài người. Tuy nhiên, dường như Chúa Giê-xu thật sự cho phép sự ly hôn nếu người chồng hoặc người vợ phạm tội ngoại tình sự thừa nhận là người chồng hoặc vợ được tự do tái hôn, nếu không tại sao ly hôn? (3).


Khi Chúa chúng ta cho phép ly hôn vì sự ngoại tình, Ngài đặt sự ly hôn ngang hàng với sự chết. Hội thánh những có quyền giết người vì cớ phạm tội ngoại tình hay bất cứ tội lỗi nào khác, nhưng họ có thể chấp nhận sự ly hôn tương đương với sự chết, như vậy để người vợ hoặc chồng vô tội tự do tái hôn. Chúa Giê-xu xác nhận quyền của ưu tiên của luật hôn nhân đầu tiên tại vườn Ê-đen, nhưng Ngài cũng ban cho sự nhượng bộ này. Dĩ nhiên, tốt hơn khi người có tội xưng nhận tội lỗi,ăn năn, được phục hồi và được tha thứ, nhưng điều này không phải luôn xảy ra. Tội lỗi là kẻ huỷ diệt lớn, và nơi mà những đặc quyền là cao nhât như trong hôn nhân, thì nỗi đau của tội lỗi đó lớn nhất.


“Tờ ly hôn” là một văn kiện chính thức bảo vệ người nữ khỏi sự vu cáo, phỉ báng và cũng cho nàng đặc quyền về một cuộc hôn nhân thứ hai. Thời gian yêu cầu để có được văn kiện này sẽ cho người chồng cơ hội suy nghĩ vấn đề thấu suốt và có thể xem xét lại. Anh ta sẽ mất những gì để lại về giá trị cuộc hôn nhân hoặc của hồi môn, và điều đó có thể đắt giá. Quá nhiều cuộc ly thân và ly hôn là kết quả của những cảm xúc chồng chất, những vết thương mưng mủ, và những lời nói khinh suất lẽ ra có thể tránh được nếu vợ chồng thành thật với nhau, trao đổi sự việc, và sớm tìm kiếm sự giúp đỡ của Chúa trong vấn đề.


Nếu cuộc hôn nhân thứ hai phải kết thúc trong sự ly hôn, người nữ bị cấm trở lại với chồng trước của nàng vì nàng đã bị “ô uế” (Phu 24:4). Điều này có nghĩa là việc hoàn thành cuộc hôn nhân thứ hai bị xem là tội ngoại tình, vì chỉ có sự chết sự ngoại tình mới có thể làm hôn nhân tan vỡ (tội ngoại tình được gọi là “sự ô uế” trong Le 18:20 Dan 5:13-14). Đối với vấn đề này, việc trở lại với người chồng đầu tiên sẽ làm giảm giá trị của nàng và khiến nàng chỉ là một món đồ có thể được mua hay bán tùy ý.


Sự gia hạn (Phu 24:5).

Luật này đã được xem xét trong Phu 20:7. Bất cứ người nam khoẻ mạnh nào cũng có thể thế chỗ người chồng mới trong quân đội nhưng không ai có thể thế chỗ anh ta ở nhà. Vợ anh sẽ khổ sở vì nỗi đau xa cách người yêu dấu của mình nỗi khốn khổ về sự mất mát, và nếu anh chết trong chiến trận, luật này cho thấy giá trị cao cả Đức Chúa Trời đặt trên tình yêu loài người và trách nhiệm về hôn nhân.


Hôn nhân theo tục anh em chồng lấy chị em dâu (Phu 25:5-10). Từ “Levirate” đến từ tiếng La-tinh và có nghĩa “một anh em trai của chồng”. Chính luật này đã được người Sa-đu-sê sử dụng khi họ tìm cách gài bẫy Chúa Giê-xu (Mat 22:23-33). Về cơ bản, luật này yêu cầu một anh em của người đàn ông đã chết phải cưới góa phụ này và có con với nàng để danh người chết sẽ không tàn lụi trong Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, có một số điều kiện đặc biệt để tuân thủ. Thứ nhất, người anh em đã kết hôn và người anh em độc thân phải sống chung với nhau, thứ hai, vợ chồng đã kết hôn phải không có con, và thứ ba, người anh em độc thân phải muốn cưới người góa phụ và có con với nàng.


Yêu cầu thứ nhất “sống chung nhau” không đòi hỏi một ngôi nhà chung nhưng chỉ đòi hỏi anh em sống gần nhau (Sa 13:6). Do đó, người vợ không phải là một người xa lạ đối với người anh em chồng của nàng. Về yêu cầu thứ hai, nếu vợ chồng đã có con, sẽ không cần hôn nhân thứ hai. Thật ra người anh em chồng cưới chị em dâu của mình khi họ đã có con là trái luật (Le 18:6). Yêu cầu thứ ba là một yêu cầu quyết định: người anh em chồng có muốn lấy góa phụ của anh em mình chăng? Người bà con vô danh trong sách Ru-tơ từ chối lấy Ru-tơ vì điều đó sẽ gây nguy hại cho sản nghiệp của người ấy (Ru 4:16).


Nếu người nam này từ chối cưới nàng, người nữ đem sự việc mình trình cho các trưởng lão tại cửa thành, và họ sẽ cãi lẽ với người nam. Chắc chắn họ sẽ chỉ ra rằng góa phụ không con cần sự bảo vệ và người anh em quá cố cần một người thừa kế để lưu danh và tài sản. Nếu người nam đó vẫn từ chối, vậy người góa phụ có thể công khai làm nhục người bằng cách khạc vào (hoặc trước) mặt người (Dan 12:14) và cởi giày người. Đặt chân bạn trên đất hoặc đặt giày bạn trên đó nghĩa là giành nó cho mình (Sa 13:17; Gios 10:24; Thi 60:8; Thi 108:9), còn cởi giày bạn nghĩa là bỏ việc giành tài sản này. Nếu người anh em này cưới vợ sau đó và có một gia đình, gia đình ấy sẽ được biết là “nhà của người đi chân không”. Chỉ người nghèo người than khóc, và tù nhân chiến tranh mới đi chân không (Es 20:2-4 Mi 1:8 Lu 15:22), nhưng mang giầy bạn trở lại là được phục hồi trong xã hội (IISu 28:15 Lu 15:22). Bằng cách từ chối tôn kính người anh em đã chết, người nam này đã mang đến sự hổ thẹn cho chính mình và gia đình mình.


2. Làm nhục tội phạm (Phu 21:22-23)

Chúa sử dụng hình ảnh tích cực và tiêu cực để dạy dân Ngài tôn trọng và vâng theo luật pháp Ngài. Về mặt tích cực, những người mang tua áo xanh trên chéo có của họ để nhắc họ rằng họ thuộc về Chúa và được ban đặc quyền có luật pháp Ngài để vâng theo (Dan 15:37-41).

Lễ Sa-bát hằng tuần và những kỳ lễ hằng năm là những điều nhắc nhở về tất cả những gì Chúa đã làm cho Y-sơ-ra-ên, và sự hiện diện của nơi thánh của Đức Chúa Trời giữ sự hiện diện của Chúa trước mắt họ. Người Lê-vi tản lạc khắp Y-sơ-ra-ên là những nhắc nhở sống động về luật pháp của Chúa và tầm quan trọng về việc biết nó.


Về mặt tiêu cực, việc dâng của lễ huyết là một nhắc nhở sống động rằng cơ sở của sự tha thứ và mối giao thông là sự dâng đời sống (Le 17:11). Mỗi khi cộng đồng ném đá một kẻ phạm luật cho đến chết, điều đó sẽ khiến dân sự “nghe và sợ”. Cô lập người phung ngoài trại qân, thiêu quần áo nhiễm phung, và phá sập nhà bị nhiễm phung nhắc nhở dân sự rằng tội lỗi giống như bệnh phung và phải được xử lý.

Nhưng việc phơi bày công khai xác chết của một tội phạm sẽ là một bài học thực tiễn mà một số người sẽ quên, một phạm nhân bị định tội về việc phạm tội tử hình thì bị ném đá đến chết, và nếu các quan trưởng muốn làm cho việc xét xử thậm chí trở nên long trọng hơn, họ có thể ra lệnh cho thây bị treo trên cây hoặc bị đâm xiên vào một cái sào cho đến khi mặt trời lặn.

Đó sẽ là một bài học thực tế biết bao! (Ở Luân Đôn vào thế kỷ 17-18, đầu của những phạm nhân bị xử tử đôi khi bị phô trương giữa công chúng). Vì một xác chết là ô uế, nó được đưa xuống lúc mặt trời lặn để không thối rữa hơn và làm ô uế xứ. Cũng vậy, Chúa không muốn những tội phạm bị xử tử gây quá nhiều chú ý để họ khỏi trở thành những anh hùng.


Hành động biểu tượng khá khủng khiếp này nhắc nhở dân sự rằng Đức Chúa Trời rủa sả những người phạm tội tử hình. Trong Ga 3:13 Phao-lô áp dụng lẽ thật này cho sự chết của Chúa trên thập tự giáo: “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, (vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ)”. Những ai tin nhận Đấng Christ không thể bị luật pháp kết án (c.10) vì Đấng Christ đã mang sự rủa sả đó thay họ.


3. Yêu người lân cận mình (Phu 22:1-4,6-8)

Những luật lệ này là những áp dụng cụ thể của Le 19:18 “Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù cùng con cháu dân sự mình, nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình: Ta là Đức Giê-hô-va” kẻ lân cận là một người anh em, đó thậm chí là một động cơ cao nhất. Thật ra, dân Do-thái phải mở rộng mối quan tâm tương tự này thậm chí cho súc vật của kẻ thù họ (Xu 23:4). Cả Chúa Giê-xu lẫn Phao-lô đều khuyên chúng ta yêu kẻ thù mình và bày tỏ tình yêu này trong những phương diện thực tiễn (Mat 5:43-48 Ro 12:17-21).


Tài sản bị mất (Phu 22:1-3).

Có ít hàng rào và tường trên nông trại người Do-thái, bạn phải trả nó về cho khổ chủ nó. Nếu chủ sống ở xa, bạn phải cho con vật “ăn ở trọ” cho đến khi người chủ tới nhận nó, gia súc vừa đắt tiền vừa cần thiết, gia đình nông dân và quốc gia đều không thể sống mà không có chúng. Nhưng Môi-se không giới hạn luật pháp này ở thú vật bị lạc; ông nói rằng bất cứ cái gì một người Do-thái tìm thấy phải được bảo vệ và trả lại cho chủ. Người lân cận không phải chỉ là người sống gần kề bạn; Người ấy là bất cứ ai có nhu cầu mà bạn có thể giúp đỡ. Trong câu chuyện của Chúa Giê-xu về người Sa-ma-ri nhơn lành (Lu 10:25-37), Ngài đi theo định nghĩa nàng về “người lân cận”. Tuy nhiên Đức Chúa Trời quan tâm về con vật cũng như về người chủ, và chúng ta cũng phải như vậy.


Chúa quan tâm việc con người tìm thấy và trả lại con vật bị lạc, nhưng Ngài cũng quan tâm nhiều việc chúng ta tìm tội nhân hư mất đi lạc lối (Lu 15:1-7 Gi 5:19-20). Chắc chắn một người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời có giá trị nhiều hơn một con vật (Mat 12:12).


Những trường hợp khẩn cấp (Phu 22:4).

Một con lừa mang nặng sẽ không dễ đỡ dậy, nhưng đó là điều dành cho người lân cận và người anh em. Vì cớ con vật và vì cớ người chủ, những người này sẽ họp lại và biến trường hợp khẩn cấp này thành một cơ hội để thực hành tình yêu thương anh em. Những trường hợp khẩn cấp không tạo nên con người; chúng cho thấy con người được tạo nên bởi cái gì. Khi một cơn bão dữ dội phá hủy hằng ngàn cây trong thành phố chúng ta, một số người lợi dụng hoàn cảnh này và dùng những chiếc cưa máy của họ để thu phí cắt cỏ của người khốn khó. Sự tham tiền đã thắng tình yêu của họ đối với người lân cận của họ. Nhưng những người khác, kể cả thanh thiếu niên, đi từ nơi này sang nơi khác để dành sự phục vụ của họ giúp những người không thể tự giúp mình.


Sự mềm mại (Phu 22:6-7).

Mối quan tâm về thú vật bị ngã dẫn đến mối quan tâm về loài chim không được bảo vệ. Con người phá những tổ chim, dùng những con chim và trứng chim hòng làm bữa ăn tối, nhưng Đức Chúa Trời cấm hành động bừa bãi như thế. Nếu người này bắt chim mẹ, chim con sẽ chết vì thiếu thức ăn và sự chăm sóc, vì vậy người được phép bắt chim con và trứng. Chim mái có thể có ổ khác và điều này sẽ giúp duy trì chủng loài.

Khi bạn đọc luật Môi-se, bạn không khỏi xúc động bởi sự quan tâm của Chúa đối với những nguồn thiên nhiên Ngài đặt trên đất, không chỉ loài chim mà còn cây cối (Phu 20:19-20), con lừa (Phu 22:4), và con bò đói (Phu 25:4). Đức Chúa Trời duy trì loài người và cả loài thú (Thi 36:6 Thi 104:10-30), và Ngài mong dân Ngài giúp Ngài trong công tác quan trọng đó. Đức Chúa Trời cung cấp thực phẩm cho loài người, nhưng tính tham lam của một số người có thể huỷ hoại nguồn dự trữ cho nhiều người. Chúa hứa rằng dân tộc này sẽ trở nên phước hạnh nếu họ bày tỏ sự quan tâm đối với loài vật yếu đuối (Phu 22:7 Phu 4:40 Phu 5:16 Phu 6:3,18 Phu 12:25,28 Phu 19:13).


Sự an toàn (Phu 22:8).

Mái của một ngôi nhà ở Y-sơ-ra-ên là nơi sinh sống đối với gia đình, đặc biệt suốt mùa nóng khi họ ngủ trên mái nhà nơi trời mát hơn. Chủ nhà phải xây một bức tường thấp (tường chắn mái) hoặc một rào chắn quanh mái nhà để bảo vệ người ta khỏi rơi xuống. Đặt một tắm biển và cảnh báo người ta về nguy hiểm thì chưa đủ, chủ nhà phải xây lên một rào chắn để giúp bảo vệ người ta. Chúng ta thường nghĩ gia đình như một nơi trú ẩn khỏi những công kích của thế gian, nhưng các chuyên gia về sự an toàn cho chúng ta biết rằng gia đình cụ thể là hiện trường của nhiều tai nạn, thương tích và thậm chí là sự chết.


Sự rời rộng (Phu 23:24-25).

Xứ thuộc về Chúa và những mùa gặt là phần thưởng của Ngài cho công việc trung tín của dân Ngài và sự vâng lời của họ đối với luật pháp Ngài; do đó, Ngài có mọi quyền để chia sẻ mùa gặt của Ngài cho những ai cần đến. Nếu những con bò đói có thể ăn lúa chúng đang đập (Phu 25:4), chắc chắn những người đói có thể ăn nơi đồng ruộng của Chúa (Mat 12:1-8). Luật này không cho con người cái quyền lấy thực phẩm khỏi đồng ruộng, vườn nho, vườn cây ăn trái của người lân cận mình bất cứ khi nào họ muốn một bữa ăn qua loa. Đặc quyền này được dành cho người thật sự đói và đặc biệt là người lao động nơi trang trại, khách lạ và người nghèo. Luật này đặc biệt giúp cho người du hành qua xứ. Tuy nhiên, Môi-se làm rõ rằng thực phẩm phải được ăn tại chỗ chứ không được mang đi. Luật này cho con người đặc quyền đáp ứng nhu cầu họ chớ không phải thỏa mãn sự tham lam của họ.


Đức Chúa Trời khích lệ dân Y-sơ-ra-ên rời rộng với người kém may mắn. Người nông dân không được thu hoạch đồng ruộng và vườn nho của họ quá cẩn thận đến nỗi không còn gì sót lại cho người nghèo và người túng thiếu lượm mót (Phu 24:19-22; Le 19:9-10; Le 23:22; Ru 2:1-23). Nếu Y-sơ-ra-ên vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời và yêu mến kẻ lân cận của họ, Đức Chúa Trời sẽ ban phước dư dật cho họ và chu cấp dư dật cho mọi người. Ngay dưới thời Cựu-ước, những người ban cho kẻ khác sẽ nhận dư dật từ Chúa (Ch 11:21 Ch 22:9 Es 58:6-7 Ma 3:10 Mat 5:42 Lu 8:38 Cong 20:35 IICo 9:6). Chúng ta những người dự phần sự giàu có vô lượng của ân điển Đức Chúa Trời bởi đức tin trong Chúa Giê-xu Christ càng phải rời rộng biết bao!


4. Duy trì sự phân biệt (Phu 22:5,9-12)

Vì dân Y-sơ-ra-ên là tuyển dân của Đức Chúa Trời, được biệt riêng với các dân tộc khác, những tập tục có thể được chấp nhận trong những nền văn hóa ngoại giáo bị cấm đối với dân Do-thái Đức Chúa Trời đã biệt riêng các thầy tế lễ và người Lê-vi để dạy dân sự biết những điều phải trái, cùng những thứ thanh sạch với ô uế, và điều này giúp dân sự phát triển sự phân biệt. Khi họ vâng lời Đức Chúa Trời và tìm kiếm sự chúc phước của Ngài, họ học biết càng nhiều hơn về điều gì phù hợp và đúng đắn trong xã hội Do-thái. Dân tộc đã bị suy sụp về thuộc linh vì các thầy tế lễ và người Lê-vi không làm công việc của họ, và dân Do-thái bắt đầu bắt chướng những láng giềng ngoại đạo của họ (Exe 22:23-29; Exe 44:23).


Quần áo (Phu 22:5).

Từ quen thuộc và được chấp nhận hiện nay “unisex” (dùng cho 2 giới tính) xuất hiện trước tiên trên báo trong tạp chí Life (21/6/1968) qua một bài báo mô tả quần áo dùng cho 2 giới tính là “mốt bảnh bao cũng như một trò đùa khôi hài” 

Trong câu Kinh Thánh này, Đức Chúa Trời gọi đó là “một sự gớm ghiếc”. Tuy nhiên những người đồng ý với Môi-se không phải luôn nhất trí về cách luật này phải được áp dụng trong Hội thánh. Vì Cơ-đốc nhân không ở dưới Cựu-ước, một số tín hữu hoàn toàn bất chấp luật này, trong khi những tín hữu khác sử dụng nó để bảo phụ nữ trong Hội thánh cách họ phải ăn mặc ra sao, ở nhà và trước công chúng.

Chúng ta không thể làm ngơ sự bày tỏ của Đức Chúa Trời trong Cựu-ước, vì Chúa Giê-xu và các sứ đồ đã sử dụng Cựu-ước trong các bàn luận về những mối quan tâm thuộc linh (4). Dù luật về quần áo này không áp dụng cho Hội thánh cách giống như cách đã áp dụng cho Y-sơ-ra-ên, đằng sau nó có những nguyên tác thuộc linh quan trọng đối với chúng ta (IITi 3:16-17).


Trước hết luật này không chỉ tập trung vào quần áo. Theo nguyên văn luật này nói rằng “không được có những thứ của người nam ở trên người nữ, và người nam không được mặc quần áo của người nữ” (5). Nhóm từ “những thứ của người nam” có thể chỉ về bất cứ vật gì thường liên hệ với người nam trong văn hoá đó, bao gồm quần áo, dụng và vũ khí. Nếu chúng ta áp dụng luật này một cách nghiêm khắc cho tín hữu ngày nay, vậy chúng ta phải xác định trong mỗi nền văn hoá và mỗi hoàn cảnh những thứ nào là giống cái và những thứ nào thuộc giống đực, và điều đó có thể không dễ làm.

Người nam Xê-mít đeo hoa tai và nữ trang vàng khác, một thói quen gây khó chịu đối với một số Hội thánh ngày nay. Vấn đề mà câu Kinh Thánh này là một điều cấm về việc cư xử ngược phái tính là rõ ràng, nhưng một người nam trong nền văn hóa Tây phương có thể sử dụng chiếc dù của một người nữ hay mặc áo mưa của cô ta hay không?


Môi-se đang nhắc nhở dân sự rằng có một sự phân biệt giữa 2 giới tính, do Đức Chúa Trời thiết lập từ ban đầu, và Đức Chúa Trời muốn chúng ta duy trì sự phân biệt này “Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài, Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” (Sa 1:27). Bởi sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, người nam và người nữ được dựng nên vì nhau nhưng được dựng nên khác nhau. Nhiều quốc gia trong thế giới cổ đại tán thành và thực hành sự đồng tính luyến ái, thậm chí trong tôn giáo của họ, nhưng Đức Chúa Trời cấm điều đó trong Y-sơ-ra-ên và khiến nó thành một tội xử tử (Le 18:22 Le 20:13). Việc duy trì và tôn trọng những phân biệt giới tính không hạ giá người nữ hay đề cao người nam. Cả hai được Đức Chúa Trời dựng nên theo hình ảnh Ngài và đều dự phần trong sự chúc phước và sử uỷ thác về sự sáng tạo (Sa 1:28-31), làm hoen ố những nét đặc trưng của họ, để người nam không còn phân biệt được với người nữ là đem đến sự lộn xộn cho trật tự của Đức Chúa Trời đối với thế giới của Ngài (ICo 11:1-16 ITi 2:9-15).


Nếu người nam và người nữ trong Y-sơ-ra-ên được phép “ăn mặc trái ngược,” điều đó sẽ khiến họ phạm tội dễ hơn. Tất cả những gì kẻ ngoại tình phải làm là mặc quần áo phụ nữ và không ai biết ai đang thăm viếng nhà người lân cận, trong xã hội ngày nay, sự cải trang không còn cần thiết. Thật ra, tội tình dục là món ăn tiêu chuẩn trong trò giải trí bằng phương tiện truyền thông và người ta có vẻ không xấu hổ về điều họ thấy hoặc làm. Hơn nữa, “ăn mặc trái ngược” sẽ có nghĩa là bắt chước những dân tộc ngoại giáo, những dân tộc sử dụng những việc làm như thế trong nghi lễ tôn giáo của họ “đừng làm theo đời này” (Ro 12:2) không có nghĩa là Cơ-đốc nhân phải trông như họ đến từ thế giới khác hay từ một sai lệch về thời gian. Cơ-đốc nhân dấn thân sẽ không có vẻ và hành động như Cơ-đốc nhân,họ còn phải có vẻ và hành động như người nam và người nữ bình thường.

Điều này cũng áp dụng cho trẻ em và cho thanh niên. Các mốt thay đổi và những nền văn hoá thì khác nhau, nhưng thiếu nữ và Cơ-đốc phải luôn ăn mặc giản dị (ITi 2:9) trong những quần áo phù hợp với công việc, và đàn ông với nam thiếu niên cũng vậy.


Nguyên tắc đằng sau luật này là nguyên tắc về sự phân rẽ khỏi thế gian và sự nhận biết trật tự của Đức Chúa Trời đối với người nam và người nữ. Đó là một nguyên tắc giúp chúng ta tôn trọng Đức Chúa Trời và tránh sự lộn xộn cùng tội lỗi. Nói rằng chúng ta phải vâng theo bức thư luật pháp này ngày nay là không hiểu vấn đề. Phải chăng điều này cũng có nghĩa là chúng ta không thể mặc quần áo có sợi thớ pha tạp (Phu 22:11) hay chúng ta phải kết tua trên quần áo mình? (c.2 Dan 15:37-40 Mat 23:5). Có lẽ điều cấm về vải pha lộn là một nhắc nhở sâu xa về trách nhiệm của Y-sơ-ra-ên phải phân rẽ khỏi những dân tộc khác là những dân thực hành những điều này, có lẽ thuộc một phần trong hệ thống tôn giáo của họ.


Việc đồng áng (Phu 22:9-10 Le 19:19).

Bằng cách không mang ách chung cho những loại thú vật khác nhau, dân Do-thái một lần nữa nhận biết trật tự của Đức Chúa Trời trong thiên nhiên. Cũng có vấn đề về sự phân rẽ, vì bò là con vật thanh sạch và lừa là một con vật ô uế. Theo một quan điểm thực tiễn, các thú vật có tính khí khác nhau, và việc chúng bị mang ách chung với nhau có thể chỉ tạo ra những vấn đề. Giữ cho các hạt giống khác loại được phân rẽ khi gieo vào ruộng cũng là sự nhận biết về nguyên tắc phân rẽ. Có thể các dân tộc ngoại giáo đã hòa lẫn hạt giống của họ như một phần của các nghi lễ về sự mày mỡ đất có liên hệ với các thần của họ.

Dù đang dệt quần áo, cày cấy bằng thú vật nông trại,hay gieo giống, dân Do-thái giáo nhớ rằng họ là dân sự Đức Chúa Trời và do đó là một dân được biệt riêng. Đây là bản dịch Cựu-ước của ICo 10:31 “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm”.


5. Tôn trọng sự thanh khiết cá nhân (Phu 22:13-30)

Fulton J.Sheen nói: “Tình dục đã trở nên một trong những chủ đề được bàn luận nhiều nhất thời nay. Dân dưới triều đại Victoria giả vờ như nó không tồn tại, dân ngày nay giả vờ như không có điều nào khác tồn tại”.

Đức Chúa Trời đã tạo nên tình dục và có mọi quyền để điều khiển cách chúng ta sử dụng nó, và nếu chúng ta vâng lời Ngài, nó sẽ đem lại sự phong phú và vui mừng. Một trong những luật cơ bản đó là tình dục không được trải qua bên ngoài mối dây hôn nhân. Luật Môi-se và Kinh Thánh Tân-ước đề cao sự thanh khiết cá nhân cùng tầm quan trọng của tính trung thực và trung thành trong hôn nhân.


Người vợ bị vu cáo (Phu 22:13-21).

Sự thanh khiết về tình dục của người nữ là quan trọng trong Y-sơ-ra-ên để duy trì sự chính trực cho dòng họ và do đó dy trì được sự chính trực của các chi phái. Tính hợp pháp của các con trai một người nam bảo đảm cho việc bảo vệ và làm bất diệt tên tuổi cùng tài sản gia đình. Đối với chúng ta, đều này dường như một tiêu chuẩn gấp đôi, vì không có luật nào mà bởi đó người nữ có thể kiểm tra lòng trung thành của chồng mình. Nhưng vấn đề ở đây không phải chỉ là tính đạo đức cá nhân ngay cả tính hợp pháp về gia đình, việc ngăn trở một đứa con hoang bước vào gia đình. Nếu sau khi hoàn tất hôn nhân, người chồng khám phá rằng vợ anh không phải là một trinh nữ, thì có thể nàng đã mang thai. Nếu người chồng không hành động ngay để bảo vệ mình, anh sẽ phải chấp nhận một đứa trẻ có cha là một người đàn ông khác, nhưng làm sao anh ta có thể chứng minh điều đó?


Vào đêm tân hôn, cô dâu khôn ngoan chuẩn bị cho mình một chiếc áo, tân hôn mà sẽ vấy máu nàng lúc hoàn tất việc hôn nhân. Đây sẽ là bằng chứng nàng thật sự là một trinh nữ khi nàng kết hôn. Nếu sau này chồng nàng nói ngược lại (6), nàng và cha mẹ nàng có thể đưa chiếc áo hôn nhân ra làm chứng cớ. Không người nữ chung thủy nào lại muốn thanh danh của chồng mình bị bôi nhọ hay tương lai mình bị hủy hoại chỉ vì một lời nói dối của một người đàn ông đáng ghét. Các trưởng lão sẽ đánh người chồng, phạt anh ta hai lần giá tiền cưới vợ (c.19,29), tương đương với tiền công 10 năm, và ra lệnh rằng anh ta không bao giờ có thể ly hôn với nàng. Luật này trừng phạt người nam và bảo vệ người nữ.


Nhưng nếu lời tố cáo được chứng minh là thật, người nữ sẽ bị ném đá đến chết trước nhà cha nàng, vì chính trong lúc nàng sống ở đó, nàng đã phạm tội. Cũng có thể cha mẹ đã biết con gái họ không phải là trinh nữ và nói dối với người chồng. Cha mẹ này không bao giờ có thể bước ra trước cửa mà không nhìn thấy nơi con gái họ đã bị ném đá đến chết. “Tiền công của tội lỗi là sự chết”.


Tội ngoại tình (Phu 22:22-24).

Sự thông dâm là sự ăn nằm giữa những người độc thân, còn ngoại tình có liên quan ít nhất một người đã kết hôn. Những ai bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đều bị ném đá đến chết (trong tình tiết được mô tả ở Gi 8:1-11), chúng ta không biết điều gì xảy ra cho người nam một người nữ Do-thái đã hứa hôn được xem như là vợ của một người nam (Phu 22:24), và nếu nàng có một sự ăn nằm trong một thành, đó bị xem là tội ngoại tình và nàng bị ném đá. Điều này là đúng, dù không ai đến đúng lúc để cứu nàng, tiếng kêu la của nàng là chứng cớ nàng không hợp tác trong việc làm này. Sự yên lặng của nàng đã ngụ ý sự đồng tình.


Sự cưỡng hiếp (Phu 22:25-29).

Một người nữ đã hứa hôn bị tấn công trong làng đã có thể la lên mà không được cứu giúp vì không ai ở đó nghe thấy và đến của nàng. Do đó, người nam bị ném đá đến chết nhưng người nữ được phép sống không điều gì được nói về hôn lễ tương lai của nàng, bởi có lẽ vị hôn phu của nàng sẽ không muốn nàng nếu nàng đã mất trinh tiết. Về điều này, Môi-se im lặng.


Người nam cưỡng hiếp một người nữ chưa hứa hôn phải cưới người nữ này và trả cho cha nàng giá tiền cưới vợ là 50 siếc-lơ, và anh ta bị cấm ly hôn với nàng. Chúng ta không biết những cuộc hôn nhân sẽ thành công ra sao khi khởi đầu bằng sự tham dục và được giữ chỉ bởi luật pháp. Nhưng một lần nữa, luật này bảo vệ người nữ và trừng phạt người nam.


Sự loạn luân (Phu 22:30).

Người nữ ở đây là mẹ kế của người nam, phạm tội và không phải là mẹ ruột anh ta (Le 18:7-8). Le 20:11 kết án tử hình cho cả hai. Tội lỗi này thuộc số những tội bị kết án trên núi Ê-banh (Phu 27:20). Rõ ràng đây là tội lỗi của người nam trong Hội thánh Cô-rinh-tô là người cần phải bị kỷ luật (ICo 5:1- 13).


6. Những luật khác (Phu 22:13-30) (Phu 23:1-25:19)

Ở đây chúng ta phân loại nhiều luật hỗn hợp quan trọng đối với đời sống của dân tộc này và minh họa những lẽ thật thuộc linh quan trọng đối với chúng ta ngày nay.


Gia nhập hội chúng (Phu 23:1-8 Phu 25:17-10).

Làm một thành viên của dân tộc Do-thái và dự phần trong những phước hạnh của giao ước Đức Chúa Trời là một đặc quyền. Từ “hội chúng” có thể chỉ về hội chúng thờ phượng chớ không phải cả dân tộc. Dân ngoại có thể sống trong những ranh giới của lãnh thổ Y-sơ-ra-ên nhưng điều đó không cho họ cái quyền dự vào những kỳ lễ và những sự kiện tôn giáo khác. Dân ngoại chịu phép cắt bì và xưng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống có thể trở thành người quy đạo (Xu 12:43-51), nhưng một số người bị loại trừ vì những lý do khác nhau. Chúa có quyền quyết định ai sẽ gia nhập thánh quốc của Ngài.


Trước hết, bất cứ người nam nào bị hoạn đều bị khước từ (Phu 23:1). Các thầy tế lễ nào có những khiếm khuyết tương tự đều bị cấm hầu việc tại bàn thờ, dù họ có thể ăn thức ăn thánh (Le 21:10-23), và Y-sơ-ra-ên là một nước thầy tế lễ (Xu 19:5-6). Do đó, những người gia nhập dân tộc này phải không có những khiếm khuyết. Có thể một số người ngoại đã chịu sự mổ xẻ này như một phần sự dâng hiến của họ đối với một Đức Chúa Trời của người ngoại giáo, còn phép cắt bì Do-thái nói là sự thuộc về Đức Chúa Trời chân thật của Y-sơ-ra-ên. Tiên tri Ê-sai trông chờ ngày mà những người hoạn sẽ được tiếp đón vào vương quốc và được Đức Chúa Trời chúc phước (Es 56:3-5). Chúng ta ngày nay có thể vui mừng rằng những khuyết tật và những giới hạn thuộc thể không phải là một rào cản cho đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ và sự dự phần trong phước hạnh của giao ước mới (Cong 8:26-39).


Con ngoại tình (Phu 23:2).

Cũng bị loại trừ, dù chúng ta không biết chắc điều khoản này có nghĩa gì trong Y-sơ-ra-ên cổ đại, các ra-bi giải thích nó có nghĩa là một đứa con “sinh bởi một cuộc hôn nhân bị cấm” (theo như Kinh Thánh NIV dịch, nhưng “một cuộc hôn nhân bị cấm” là gì? Nó có thể kể đến nhửng cuộc hôn nhân loạn luân hay những cuộc hôn nhân có liên hệ với những dân tộc bị khước từ (dân Am-môn, dân Mô-áp). Lý do đứa con vô tội phải bị trừng phạt vì tội lỗi của cha mẹ (Phu 24:16) thật khó hiểu. Nhóm từ “đến đời thứ 10” nghĩa là “mãi mãi” (c.3).


Dân Am-môn và dân Mô-áp (Phu 23:3-6) là con cháu của Lót (Sa 19:30-38), cháu trai của Áp-ra-ham, nhưng họ không bày tỏ sự tử tế đối với bà con Do-thái của họ. Dân Am-môn không bán cho họ thức ăn và rượu, và Ba-lác, vua Mô-áp đã thuê Ba-la-am rủa sả Y-sơ-ra-ên (Phu 2:9-23 Dan 22:1-24:25). Vì cả hai dân tộc có liên hệ với Y-sơ-ra-ên, Chúa không cho phép dân Do-thái tấn công họ. Hình phạt cho họ là bị loại trừ khỏi những phước hạnh của dân tộc Y-sơ-ra-ên mãi mãi. Tuy nhiên, Ru-tơ, người nữ Mô-áp đã lấy Bô-ô, gia nhập dân tộc Y-sơ-ra-ên rồi trở nên bà cố của vua Đa-vít (Ru 4:17-22) và do đó là một tổ mẫu của Chúa Giê-xu Christ (Mat 1:3-6). Bà đặt đức tin mình nơi Đức Giê-hô-va (Ru 1:16-17) và Chúa đã chấp nhận bà.


Dân Ê-đôm và dân Ê-díp-tô (Phu 23:7-8) có thể gia nhập dân tộc này trong đời thứ ba vì dân Ê-đôm là con cháu Ê-sau, anh của Gia-cốp (Sa 25:24-26) và dân Ê-díp-tô đã nhận Gia-cốp cùng gia đình ông vào xứ mình mà chăm sóc cho họ (Sa 36:1-47:31). Bất chấp sự thù địch sau đó của dân Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời đã biến đổi gia đình Gia-cốp thành một dân tộc lớn trong lúc họ lưu lại ở Ê-díp-tô.


Dân A-ma-léc (Phu 25:17-19) bị Chúa khước từ và Y-sơ-ra-ên không nên quên những việc ác của họ. Họ đã tấn công Y-sơ-ra-ên sau khi dân tộc này ra khỏi Ê-díp-tô (Xu 17:8-13), khởi đầu với những người Do-thái mệt mỏi yếu đuối đi phía sau đoàn người. Giô-suê đã đánh bại họ và Đức Chúa Trời tuyên chiến không ngừng với họ. Vua Sau-lơ đã mất ngôi vì ông không tiêu diệt họ (ISa 15:1-25), và ông bị giết trên chiến trường bởi một người A-ma-léc (IISa 1:1-16). Mãi đến đời Ê-xê-chia thì dân A-ma-léc cuối cùng mới biến mất khỏi hiện trường (ISu 4:41-43).


Thánh hóa trại quân (Phu 23:9-14).

Phân đoạn này áp dụng cho các chiến sĩ Y-sơ-ra-ên khi họ đóng trại xa nhà. Nguyên tắc cơ bản là họ đối xử với trại quân như họ đối xử đất của họ ở nhà, vì Chúa ở cùng họ ngay cả trên chiến trường, Ngài đi giữa họ. Các dân tộc thờ hình tượng tin tin rằng họ để các thần mình lại đằng sau khi họ đi đến quốc gia khác, nhưng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên luôn ở cùng họ, vì Ngài là Đức Chúa Trời của các cả trái đất. Nếu một chiến sĩ bị ô uế ở nhà, người ấy sẽ phải rời cộng đồng, tắm rửa và trở về ngày hôm sau, và luật lệ tương tự đó áp dụng trong trại quân (7). Những người này cũng phải có một nơi ngoài trại quân để giải quyết phân của họ. Điều này không những giữ họ khỏi bị ô uế, mà nó còn đề cao vệ sinh.


Dù chúng ta đi đâu, Đức Chúa Trời vẫn ở cùng chúng

ta, và chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta có thể bất tuân Ngài và tránh được sự trừng phạt. Lời khuyên răn của Đức Chúa Trời là: “Hãy tránh mọi sự bất khiết” (c.9, NIV). Dù chúng ta đi nghỉ mát hay xa nhà vì công việc, Chúa vẫn dõi theo chúng ta và mong muốn chúng ta thận trọng nơi chúng ta không biết cũng như nơi chúng ta biết. Môi-se ở nơi đất thánh xứ ma-đi-an (Xu 3:1-5:23) cũng như Giô-suê đứng gấn thành Giê-ri-cô (Gios 5:13-15).


Chia sẻ với người nghèo và người túng thiếu (Phu 23:15-16,19-20 Phu 24:6,11-15,19-22 Phu 25:4).

Tập họp những luật này liên hệ đến những cơ hội dân Do-thái sẽ phải bày tỏ sự tử tế và rời rộng đối với con người và thú vật. Trái với luật pháp của những dân tộc khác, luật pháp của Y-sơ-ra-ên cho phép dân Do-thái chứa cấp nô lệ chạy trốn và bảo vệ họ. Những nô lệ này sẽ không phải là người Do-thái, vì dân Do-thái không được phép bắt anh em mình làm nô lệ.

Những tôi tớ Do-thái được phóng thích vào năm Sa-bát hoặc sẽ đồng ý tự nguyện phục vụ trọn đời (Phu 15:12-18). Cũng vậy, người chủ Do-thái không được phép ngược đãi tôi tớ mình đến nỗi muốn trốn đi. Những người chạy trốn này đến từ các quốc gia lân cận, về việc giúp đỡ họ sẽ cho dân Do-thái cơ hội nói cho họ biết về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.


Dân Do-thái không được phép lấy lời khi họ cho anh em mình vay tiền hay sản vật, nhưng họ có thể lấy lời người ngoại bang (Phu 23:19-20 Xu 22:25-27 Le 25:35-37). Phước hạnh Đức Chúa Trời ban cho người cho vay sẽ vượt xa số lời người ấy kiếm được từ tiền cho vay. Đây là ví dụ khác về nguyên tắc được trình bày trong Mat 6:33.


Nếu người cho vay cần vật thế chấp cho khoản vay, người ấy không được phép lấy những thớt cối của người vay (Phu 24:6), vì người này cần chúng để nuôi chính mình và gia đình mình. Người cho vay không được hạ nhục người vay bằng cách đi vào nhà người ấy để chiếm lấy một vật cầm cố (c.10-15) và nếu vật cầm cố ấy là áo ngoài của người ấy, người cho vay phải trả nó trước khi mặt trời lặn (Xu 22:25-27). Những giao dịch buôn bán giữa anh em Do-thái phải mang tính nhân đạo và thương xót, để giúp anh em túng thiếu chớ không phải để làm giàu cho người cho vay.


Người nông dân phải chừa lại vài “gié lúa” cho người nghèo suốt thời gian mùa gặt (Phu 24:19-22 Le 19:9-10). Điều này sẽ cho khách lạ, cô nhi và góa phụ cơ hội thu nhặt thực phẩm một cách đàng hoàng mà không buộc phải ăn xin. Với người cho vay thế nào, người nông dân rời rộng cũng thế ấy: Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho người trong công việc của người và thưởng cho người về sự tử tế của người đối với kẻ nghèo (Thi 41:1 Ch 14:21,31 Ch 29:7). “Ban cho có phước hơn nhận lãnh” (Công 20:35).


Sự rời rộng này cũng phải mở rộng đối với thú vật (Phu 25:4). Khớp mõ con bò đang đạp lúa là làm nó thất vọng và khiến công việc nó trở nên khó nhọc một cách không cần thiết. Một lần nữa, Chúa bày tỏ sự thương xót đối với loài vật và kêu gọi chúng ta tỏ lòng thương xót đối với những loài dưới sự chăm sóc của chúng ta. “Người công bình coi sóc sự sống của súc vật mình, còn lòng thương xót của kẻ dữ khác nào sự hung bạo” (Ch 12:10). Phao-lô sử dụng câu này để dạy rằng những người làm việc vì Tin lành phải đưa dân sự của Đức Chúa Trời cấp dưỡng (IICo 9:1-14 ITi 5:17-18).


Làm trọn những lời hứa (Phu 23:17-18,21-23).

Chủ đề về lời hứa nguyện cũng được bàn trong sách Lê-vi đoạn 27 và Dân-số ký đoạn 30. Một người Do-thái có thể hứa nguyện dâng cho Chúa cái gì đó, hay làm điều gì đó cho Ngài để đáp lại một sự chúc phước đặc biệt. Sự hứa nguyện này cũng có thể liên quan đến việc kiêng cử điều gì đó để làm đẹp lòng Chúa. Những lời hứa nguyện hoàn toàn mang tính tự nguyện (Phu 23:12), và chúng phải được tuyên bố công khai và được thực hiện cách vâng phục (c.23). Bất cứ cái gì được hứa phải được đem đến nơi thánh và được dâng cho Chúa (Tr 5:4-6). Hứa nguyện mà không giữ lời sẽ là lấy danh Chúa làm chơi (Xu 20:7 Ch20:25).


Tuy nhiên, không sự hứa nguyện nào có thể được trả cho Chúa bằng tiền kiếm được bởi phạm tội (Phu 23:17-18). “Hành dâm” là một lối nói trại chỉ về sự thờ hình tượng (Xu 34:15-16) vì những điện thờ ngoại bang thật sự cung cấp đĩ điếm (“chó”). Không người nam người nữ Do-thái nào được làm một đĩ điếm nơi điện thờ và không sự hứa nguyện nào có thể được trả cho Chúa bằng tiền thuê một đĩ điếm. Chúng ta không làm điều ác để điều lành có thể ra từ đó (Ro 3:8). Mọi tiền bạc là ô uế theo một ý nghĩa nào đó. Phao-lô và Phi-e-rơ đều gọi nó là “lợi bẩn thỉu” (ITi 3:3,8 Tit 1:7-11 IPhi 5:2). Nhưng có một món tiền nào đó đặc biệt bẩn thỉu vì nguồn gốc của nó.


Xem sự công bình đó được thực hiện (Phu 24:7,16-18 Phu 25:1-3,11-16).

Bắt cóc người là điều bị cấm (Phu 24:7) và là một tội xử tử (Xu 21:16). Bắt cóc người khác và bán họ là đối xử họ như hàng hóa mà không như con người được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Dân Do-thái không được nô lệ hoá lẫn nhau hoặc bán nhau để họ có thể tự do, và bắt cóc người là điều trái ngược với mục đích của Đức Chúa Trời.


Khi một người phạm lỗi bị xét có tội và bị xử đánh đòn, người ấy không nên bị hạ nhục nhưng phải bị phạt một cách công bình (Phu 25:1-3). Đánh người ấy quá ít là xem nhẹ sự vi phạm, nhưng đánh người quá nhiều sẽ là đối xử với người cách vô nhân đạo và “lám mất danh giá người” (NIV). Giới hạn là 40 roi, nhưng sau đó dân Do-thái thực hiện 39 roi (IIC0 11:24) để không vượt quá số luật định một cách ngẫu nhiên.

Dù là một quan án xét xử một phạm nhân hay một người cha sửa phạt con mình, hình phạt phải tương xứng với sự vi phạm và không hạ nhục người vi phạm. Như “Dự luật về quyền hạn” của nước Mỹ ghi rằng “Tiền bảo lãnh quá mức sẽ không bị đòi hỏi, tiền phạt quá đáng cũng không được áp đặt, hình phạt độc ác và bất thường cũng không được gây đau khổ” (dự luật VIII).


Hai người đánh nhau (Phu 25:11-12) là một sự mời gọi cho điều phiền hà hơn nữa, tốt hơn họ nên tìm sự giúp đỡ và giải quyết tranh chấp của họ một cách xây dựng họ. Có thể hiểu rằng người vợ muốn chồng nàng thắng, nhưng phương pháp giúp đỡ của nàng là xấu hổ, bất công và hết sức gây xúc phạm. Khi mô tả tình huống này, Môi-se cấm mọi phương cách tham chiến khiếm nhã của người nam hoặc người nữ. Hình phạt chắc chắn sẽ ngăn trở bất cứ ai làm một việc như vậy.


Cân và đong trung thực (c.13-16) là cần thiết cho ích lợi chung (Le 19:35-37). các tiên tri đã lên án những cái cân và đong bất lương vì việc sử dụng chúng làm cho người nghèo trở nên nghèo hơn và người giàu trở nên giàu hơn (Am 8:5 Mi 6:10-11 Ch 11:1 Ch 16:11 Ch 20:10,23). Một lần nữa, Môi-se nhắc nhở dân sự rằng sự an toàn và phước hạnh tương lai của họ trong xứ tùy thuộc vào sự vâng lời của họ đối với luật pháp Đức Chúa Trời. Khi họ lừa dối kẻ khác, họ chỉ lừa dối bản thân.

“Sự công bình tôn cao một nước, nhưng tội lỗi là sự hỗ thẹn cho bất cứ dân tộc nào” (Ch 14:34 NKSV).

-Phu 23:1-25; xem giải nghĩa Phu 22:13-30

-Phu 24:1-22; xem giải nghĩa Phu 22:13-30

-Phu 25:1-19; xem giải nghĩa Phu 21:15-21 Phu 22:13-30

-Phu 26:1-19; xem giải nghĩa Phu 16:18-17:13





10. SỰ VÂNG PHỤC VÀ SỰ BẤT TUÂN (Phu 26:16-31:13)


Những phước hạnh và những sự rủa sả (Phu 26:16-31:13)


Môi-se hoàn thành việc trình bày luật pháp trong Phu 26:15 và sau đó bắt đầu đem sứ điệp dài tạm biệt của ông đến chỗ kết thúc bằng một thách thức cá nhân đối với sự vâng phục. Như chúng ta đã thấy trước đó, sách Phục-truyền luật-lệ ký được viết theo dạng những hiệp ước xưa do các vua đưa ra cho các quốc gia bị chinh phạt.

Chúa là Vua và Y-sơ-ra-ên là quốc gia được chọn và là dân đặc biệt của Ngài.Ngài giành dân Do-thái cho chính Ngài bằng cách đánh bại Ê-díp-tô và cho Y-sơ-ra-ên được tự do để yêu mến Ngài và hầu việc Ngài. Môi-se ôn lại điều Chúa đã làm cho Y-sơ-ra-ên và phán với Y-sơ-ra-ên, và ông kể ra những điều khoản của giao ước. Giờ đây ông sẽ giải thích những ích lợi của việc vâng lời Chúa và những kỷ luật sẽ xảy đến nếu Y-sơ-ra-ên bất tuân.


1. Sự lựa chọn được bày tỏ (Phu 26:1-19) (Phu 26:16-28:14).

Trong lời giới thiệu ngắn của mình cho phân đoạn cuối cùng này (Phu 26:16-19). Môi-se nhắc nhở dân sự rằng ông đã ban cho họ Lời Chúa, những điều răn của Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống. Ông cũng nhắc nhở họ rằng tại núi Si-nai, dân tộc đã hứa nguyện vâng theo mọi điều Đức Chúa Trời phán với họ (Xu 19:7-8 Xu 24:3-8), và Chúa đã hứa ban phước cho họ nếu họ thật lòng vâng lời Ngài (Phu 7:6-16).

Nơi đó trên đồng bằng Mô-áp, dân Y-sơ-ra-ên sẽ tiếp nhận sứ mạng nghiêm túc này lần thứ hai, và sau đó họ sẽ xác nhận nó lần thứ ba khi họ vào Đất Hứa (Gios 8:30-35). Dân sự Đức Chúa Trời vui hưởng những phước hạnh và đặc quyền của giao ước thì chưa đủ. Họ cũng phải tiếp nhận những trách nhiệm có liên quan. Môi-se đã giải thích những trách nhiệm này và yêu cầu dân sựđầu phục Chúa hoàn toàn.


Hai ngọn núi (Phu 27:1-13).

Chú ý rằng Môi-se đã cùng với các trưởng lão (c.1) và các thầy tế lễ (c.9) công bố giao ước cho dân sự. Môi-se sẽ sớm rời khỏi hiện trường, nhưng dân tộc sẽ tiếp tục và quyền hạn của Chúa sẽ hành động qua các lãnh đạo dân sự và tôn giáo của họ. “Dân sự không dâng mình cho Môi-se; Họ dâng mình cho Chúa để giữ hết các điều răn” (Phu 26:18).


Một khi Giô-suê đã dẫn dân sự vào Đất Hứa, họ phải ngừng sự chinh phạt của họ và chuẩn bị một lễ kỷ niệm về sự tái xác nhận giao ước. Việc đó sẽ xảy ra gần Si-chem, ở núi Ê-banh về hướng Bắc và núi Ga-ri-xim về hướng Nam. Thung lũng giữa hai núi tạo thành một thính đường nơi các thầy tế lễ và người Lê-vi có thể nhóm lại và công bố Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Gio-sép (Ép-ra-im và Ma-na-se), và Bên-gia-min, tất cả các con trai của Gia-cốp sanh bởi hai người vợ là Ra-chên và Lê-a. Tập hợp ở núi Ê-banh, núi của những lời rủa sả, là chi phái Ru-bên và Su-bu-lôn (đều là hai con trai của Lê-a) và các con trai của những tớ gái, là Gát, A-se, Đan và Nép-ta-li.


Giô-suê được lệnh phải đặt một số hòn đá lớn trên núi Ê-banh và viết trên đó những luật lệ Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài. Đây không phải là một hành động tượng trưng, vì những lời này phải được viết rõ ràng để dân sự đọc (Phu 27:8) (1). Ông cũng phải lập một bàn thờ tại chân núi Ê-banh nơi các thầy tế lễ sẽ dâng của lễ thiêu (sự dâng hiến hoàn toàn cho Đức Chúa Trời) và của lễ thù ân (kỷ niệm vui mừng về sự chúc phước của Đức Chúa Trời). Có luật pháp Đức Chúa Trời mà không có một của lễ chuộc tội sẽ là đem đến sự kết án chớ không phải sự dâng hiến, vì “luật pháp cho người ta biết tội lỗi” (Ro 3:20). Địa điểm này đã giữ những nghi lễ thiêng liêng đối với dân Do-thái vì Áp-ra-ham đã lập một bàn thờ gần Si-chem (Sa 12:6-7) và Gia-cốp cũng vậy (Sa 33:17-20).


Những lời rủa sả (Phu 27:14-26).

Khi các lãnh đạo thuộc linh đọc những lời rủa sả này, họ không đoán được điều gì sẽ xảy ra nếu dân sự bất tuân Đức Chúa Trời. Họ đang cầu xin Chúa giáng những sự rủa sả này trên dân sự Ngài nếu họ xây bỏ Ngài (2). Và khi dân sự nói “A-men” sau mỗi lời tuyên bố (“đúng như vậy”), họ đang nói với Chúa rằng họ sẵn sàng bị sửa phạt nếu họ bất tuân Ngài. Lời “A-men” của họ không chỉ là sự đồng ý của họ đối với những lời được nói ra. Đó là sự chấp nhận của họ về những điều khoản của giao ước, những lời rủa sả này có liên hệ chặt chẽ với luật pháp Môi-se đã ban và giải thích, đặc biệt là Mười Điều răn.


-Lời rủa sả thứ nhất (c.15) kết án sự thờ hình tượng và sự vi phạm điều răn thứ nhất và thứ nhì (Xu 20:1-6). Tạc hay đúc một hình tượng và thờ nó là chối rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời Hằng Sống và chân thật duy nhất, và chính tội lỗi này cuối cùng đã đem đến cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trên Y-sơ-ra-ên. Dù một người Do-thái bí mật thờ một hình tượng và không tìm cách thuyết phục bất cứ ai tham gia với mình, đó vẫn là một trọng tội và phải bị trừng phạt (Phu 13:1-19).

-Lời rủa sả thứ hai có liên quan đến gia đình (Phu 27:16 Xu 20:12) và -lời rủa sả thứ ba có liên quan đến tài sản (Phu 27:17 Phu 19:14 Xu 20:15).

-Lời rủa thứ tư (Phu 27:18) bày tỏ mối quan tâm đặc biệt của Đức Chúa Trời đối với những người tàn tật Le 19:14 đề cập đến những người điếc và những người mù.

-Trong lời rủa sả thứ năm (Phu 27:19), trung tâm là về việc đối xử cách tử tế và công bình với người cô thế và bất hạnh trong xứ. Góa phụ, cô nhi và khách lạ thường bị ngược đãi và bóc lột trong Y-sơ-ra-ên và Đức Chúa Trời kêu gọi dân sự Ngài bảo vệ duyên cớ của họ và bảo đảm họ nhận được sự công bình (Phu 24:17-18 Xu 22:21-24 Lu 18:1-8). Dân Do-thái đã từng là khách lạ ở Ê-díp-tô nhiều năm và Chúa chăm sóc họ và xét đoán những kẻ ngược đãi họ. Nếu Y-sơ-ra-ên không chăm sóc những người nghèo túng, Đức Chúa Trời cũng xét đoán họ. Trong số những điều khác, điều này có nghĩa là đem đến cho Chúa phần mười đặc biệt của họ mỗi năm thứ ba hầu người nghèo túng sẽ có thực phẩm để ăn (Phu 14:28-29).

-Lời rủa sả thứ sáu đến thứ chín (Phu 27:20-23) có liên quan đến sự tinh khiết về tình dục và liên hệ với điều răn thứ bảy (Xu 20:14). Những tội lỗi này đã lưu hành giữa các dân tộc ở Ca-na-an và Y-sơ-ra-ên không được bắt chước láng giềng của họ. Sự loạn luân (Phu 27:20,22-23) đặc biệt bị lên án ở Y-sơ-ra-ên (Phu 22:30; Le 18:8-9,17; Le 20:21). Ru-bên mất những quyền lợi làm con trưởng. Vì ông đã phạm luật này (Sa 35:22; Sa 49:3-4). hành động thú tính (Phu 27:21; Le 18:23) đã được thực hành trong một số tà giáo và “những con vật thiêng liêng” được sử dụng trong việc thờ phượng tà thần của họ. Sự bóp méo tính dục không chỉ là một sự lạm dụng món quà từ Đức Chúa Trời, nó còn đe dọa hôn nhân và gia đình, là những điều làm cơ sở cho sự thành công của quốc gia.

-Lời rủa sả thứ mười và mười một (Phu 27:24-25) là một tiếng dội của điều răn thứ sáu, “ngươi chớ giết người” (Xu 20:13). Điều răn này nói đến một hành động cố ý (tội mưu sát) chớ không phải là cái chết ngẫu nhiên (tội ngộ sát Xu 21:12-14). Mưu sát là một đại tội vì những hậu quả của nó không thể thay đổi được, nhưng mưu sát người láng giềng khiến cho tội đó thậm chí trở nên tồi tệ hơn. Điều duy nhất ghê tởm hơn đó là được trả tiền để mưu sát ai đó! Luật pháp Môi-se lên án những kẻ nhận hối lộ để phạm luật pháp vì kiếm tiền không quan trọng hơn việc duy trì sự công bằng (Xu 16:19 Xu 23:8). Luật pháp dạy dân Y-sơ-ra-ên phải yêu người lân cận và làm điều tốt cho họ (Le 19:18 Phu 22:1-4). Nhưng dù nạn nhân là một người láng giềng hay một kẻ hoàn toàn xa lạ, giết người là sai trái và những kẻ giết người phải bị trừng phạt.

-Lời rủa sả thứ mười hai (Phu 27:26) buộc dân Do-thái theo mọi luật lệ Đức Chúa Trời ban cho họ, dù nó được liệt kê trong danh sách này hay không. Phao-lô đã trích dẫn câu này trong Ga 3:10 để chứng minh rằng không thể có sự cứu rỗi bởi vâng theo luật pháp, vì không ai có thể vâng theo mọi điều Đức Chúa Trời đã ra lệnh. Nhưng mục đích của luật pháp không phải là sự cứu rỗi mà là sự kết án, buộc tội mọi người đều là tội nhân, và do đó là sự cần thiết để mọi người phải tin nhận Đấng Christ “người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Ga 3:11) (3).

Không thể có sự quy đạo mà không có sự xác tín, và sự kết án xảy đến khi chúng ta nhìn thấy sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong luật pháp Ngài, và tình trạng tội lỗi của tấm lòng chúng ta. nói rằng mình đã giữ một số luật lệ của Đức Chúa Trời thì không làm chúng ta giảm tội, vì vi phạm một luật lệ là vi phạm tất cả (Gia 2:10-11). Nếu bạn đang treo lơ lửng ở trên một vực thẳm nối với một chuỗi dây xích 10 mắt, bao nhiêu mắt xích cần phải bẻ gãy để bạn rơi xuống? (4).


Khi dân Y-sơ-ra-ên ở trong Đất Hứa nói “A-men” với 12 lời rủa sả này, họ đang tán thành luật pháp của Đức Chúa Trời, hứa vâng theo, và đồng ý rằng họ đáng bị xét đoán nếu họ bất tuân luật pháp. Đây sẽ là một giờ long trọng trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Tại núi Si-nai, Y-sơ-ra-ên đã đồng ý vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời (Xu 19:7-8 Xu 24:3-8), và không lâu sau đó, họ đã làm một bò con vàng và thờ lạy nó! Cần phải có nhiều hơn là những lời nói ngoan đạo và sự chú ý tốt để làm một con cái của Đức Chúa Trời tận tâm và vâng phục (Mat 7:21-23).


Những phước lành (Phu 28:1-14).

Chúng ta không đọc rằng dâng sự phải nói “A-men” với những phước lành này như họ đã nói “A-men” với những lời rủa sả. những lời rủa sả không mang tính tiên tri trong khi sự liệt kê này về những phước hạnh là lời hứa tiên tri của Đức Chúa Trời về điều Ngài sẽ làm cho dân sự Ngài nếu họ giữ sự cam kết của họ đối với Ngài. Những phước lành của Đức Chúa Trời hoàn toàn thuộc về ân điển, dù dân sự Ngài đồng ý hay cảm kích chúng (5).

Những phước hạnh này sẽ nâng Y-sơ-ra-ên lên cao hơn mọi dân tộc khác (Phu 26:19) và khiến Y-sơ-ra-ên trở nên “sự sáng cho các dân ngoại” (Es 49:6). Đều này sẽ cho dân Do-thái những cơ hội nói cho các dân tộc khác biết về Đức Chúa Trời hằng sống chân thật (Phu 28:10).


Đức Chúa Trời hứa ban phước cho dân sự Ngài ở mọi nơi – thành thị, đồng ruộng và gia đình – với mọi điều họ cần (6). Khi họ đi ra đi vào trong công việc hằng ngày của họ (c.6, Phu 8:17-18), Ngài sẽ chăm sóc họ và làm cho những nỗ lực của họ được thành công. Ngài sẽ ban cho họ chiến thắng trên kẻ thù để họ có thể có quyền sở hữu xứ. Ngài sẽ ban mưa cho đồng ruộng, vì nước là một mặt hàng quý giá ở Đông phương. Đức Chúa Trời sẽ giáng “mưa đến sớm” vào tháng 10 và tháng 11, “mưa mùa Đông” từ tháng 12 đến tháng 2, và “mưa đến muộn” vào tháng 4, và mùa màng của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên dư dật. Họ sẽ bán mùa gặt thặng dư cho các dân tộc khác nhưng không mua của bất cứ ai.


Chúng ta phải nhớ vì sao Chúa hứa ban những phước hạnh kỳ diệu này. Trước hết, dân tộc Y-sơ-ra-ên vẫn ở trong sự non trẻ thuộc linh (Ga 4:1-7) và một cách để dạy trẻ con là bằng những phương tiện về sự ban thưởng và sự trừng phạt, những phước hạnh vật chất này là cách Đức Chúa Trời nhắc nhở con cái Ngài rằng sự vâng lời đem đến phước hạnh nhưng sự bất tuân đem đến sự sửa phạt.

Tuy nhiên, không lâu dân Y-sơ-ra-ên khám phá rằng người ác cũng nhận được những phước lành, vì vậy có điều gì đó đối với đức tin hơn là chỉ được ban thưởng (Thi 73:1-28; Gie 12:1-4; Giop 21:7-15) (7). Dần dần Đức Chúa Trời dạy dân sự Ngài rằng sự vâng lời của họ là một chứng cớ cho các dân tộc khác (Phu 28:12) và đem vinh hiển đến cho danh Ngài. Sự vâng lời cũng xây dựng tính cách tin kính trong dân sự để họ thật sự là một dân thánh và là một nước thầy tế lễ.

-Phu 27:1-26; xem giải nghĩa Phu 26:1-19.

-Phu 28:1-14; xem giải nghĩa Phu 26:1-19.


2. Những sự rủa sả được mô tả (Phu 28:15-16)

Phân đoạn này mang tính tiên đoán, nó mô tả những sự xét đoán Đức Chúa Trời hứa giáng trên dân tộc nếu dân sự không chịu vâng theo luật pháp Ngài. Những sự xét đoán được trình bày chi tiết hơn những phước lành và chính xác là sự đối lập với những phước lành. (so sánh c.1-14 với c.15-64). Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngài biết rằng khi những tai họa này giáng xuống, họ sẽ nhận biết bàn tay của Đức Chúa Trời và không nghĩ đó là một chuỗi những sự việc ngẫu nhiên.


Như Đức Chúa Trời hứa ban cho họ trong mọi lãnh vực của đời sống nếu họ vâng theo giao-ước Ngài, Ngài cũng cảnh cáo rằng Ngài sẽ rủa sả họ trong mọi lãnh vực của đời sống, thân thể, gia đình, bầy chiên và bầy gia súc của họ, nếu họ bất tuân. Họ sẽ bệnh hoạn trong thân thể và tâm trí họ, bị cướp đi những nhu cầu của đời sống, bị bại trận nơi chiến trường, và bị tản lạc khắp thế giới.

Từ “bị huỷ diệt” được lập lại để báo điềm xấu (c.20,24,45,48,51,61,63) như những từ “hành hại” và “bị hành hại” (c.22,25,27,28,35). Dân Do-thái sẽ bị chết dần mòn bởi bệnh tật, nạn đói, và bị đánh bại trong trận chiến, với những xác chết của họ không được chôn trở nên thức ăn cho loài chim và thú vật. (Để một thi thể không được chôn là một sự nhục nhã khủng khiếp đói với một người Do-thái). Họ sẽ trải qua những bệnh tật và dịch lệ họ đã thấy ở Ê-díp-tô; họ sẽ thấy vợ của họ bị cưỡng hiếp và con cái họ bị giết trước mắt họ. Cuối cùng, họ sẽ bị giam cầm và phục vụ kẻ thù họ. sau đó họ sẽ biết rằng hầu việc Đức Chúa Trời chẳng quá khó khăn chút nào, nhưng lúc ấy sẽ quá trễ.


Đây là một tóm tắt về những sự xét đoán được liệt kê trong các câu này:

- Con cái bị rủa sả (c.18), tỉ lệ sinh con thấp (c.62-63)

- Mùa màng bị hư hại và thú vật bị giết chết (c.18,22,31-32,38-40,42-51)

- Bệnh tật (c.21-22,27-28,35,59-61)

- Hạn hán, nạn đói và khát (c.22-24,48)

- Bị đánh bại trong chiếnt rận (c.25,49-50,52)

- Vợ con bị cưỡng hiếp (c.30)

- Sự áp bức và nô lệ (c.29-33,48,68)

- Tục ăn thịt người (c.53-57)

- Sự giam cầm (c.36,63-64)

- Xác chết không được chôn (c.26)

- Kế hoạch bị tiêu tan (c.30)

- Sự nghèo khổ, nợ nần, và sự trần truồng (c.44,48)

- Sự cướp giật (c.29,31,33)

- Con cái bị bắt cóc (c.32-41)

- Khách xa chiếm xứ (c.43)

- Sự xấu hổ và sự khinh bỉ (c.37)


Thật phiền muộn khi đọc danh mục dài này về những tai họa,đặc biệt khi bạn nhận ra rằng Y-sơ-ra-ên đã trải qua tất cả lúc này hay lúc khác và những người vô tội chịu khổ vì tội lỗi của những kẻ phạm tội, không chỉ sách Phục-truyền đoạn 28 mà sách Ca-thương của Giê-rê-mi cũng là một sự nhắc nhở nghiêm túc rằng thật không đáng trả giá để chống nghịch Đức Chúa Trời và tìm cách theo ý riêng của bạn. Và nguyên nhân cho mọi rắc rối này là gì? “Bởi trong lúc dư dật mọi điều, ngươi không vui lòng lạc ý phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phu 28:47). Họ đón nhận những phước lành và vui hưởng chúng, nhưng họ không tôn kính Chúa Đấng ban cho họ những phước lành (Phu 8:11-20).

“Vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa” (Ro 1:20). Sự thờ hình tượng bắt đầu bằng một tấm lòng kiêu ngạo và ích kỷ, yêu những sự ban cho hơn yêu Đấng ban cho, và nó kết thúc bằng việc mất Đấng ban cho và cả những sự ban cho.


“Dân tộc từ nơi xa, từ địa cực” sa xuống như chim ưng là ai? (Phu 28:49). Trong Kinh Thánh, hình ảnh chim ưng thường được sử dụng để mô tả sự xâm lấn về quân sự của các quốc gia khác nhau, kể đến Ba-by-lôn (Gie 48:49 Gie 49:22 Exe 17:3), Ê-díp-tô (Exe 17:7) và A-si-ri (Os 8:1).

Quân A-si-ri đã chiếm vương quốc phía Nam của Giu-đa năm 722 và quân Ba-by-lôn đã xâm lược vương quốc phía Nam của Giu-đa năm 606 và phá huỷ Giê-ru-sa-lem cùng đền thờ vào năm 586. Hằng ngàn người Do-thái bị biết đến Ba-by-lôn và bị buộc sống trong xứ hình tượng đó, và điều này chữa cho họ một lần đủ cả về sự thờ hình tượng. Có lẽ hình ảnh trong Phu 28:49 có ý bao gồm mọi cuộc xâm lược của Rô-ma năm 70 SC. Những điều được mô tả trong c.49-57 chắc chắn đã xảy ra suốt thời gian Ba-by-lôn và Rô-ma vây thành Giê-ru-sa-lem. Bị bán làm nô lệ và không được mua sẽ là một trong những kinh nghiệm nhục nhã của dân Do-thái suốt những sự sửa phạt này (c.68), không ai cần họ!


Dân Do-thái không chỉ là một dân bị kỷ luật họ cũng là một dân bị tản lạc (c.63-68 IIVua 17:6 IIVua 25:21). Sau sự giam cầm ở Ba-by-lôn, vào năm 538 họ được phép trở về xứ mình,tái thiết Giê-ru-sa-lem và phục hồi đền thờ (Exo 1:1-6:22 sách A-ghê), và khoảng 50.000 người Do-thái đã lợi dụng cơ hội này. Y-sơ-ra-ên đã có một đền thờ, một chức tế lễ và một quốc gia cho đến thời kỳ xâm lược của rô-ma năm 70 SC, và sau đó, họ lại làm một dân bị tản lạc, được tìm thấy gần như ở mọi quốc gia trên đất. họ không có quê hương, không có đền thờ, và không có chức tế lễ,nhưng dù họ định cư ở quốc gia nào đi nữa, họ chưa bao giờ đánh mất đặc tính dân tộc mình. Mãi đến ngày 14/5/1948 Y-sơ-ra-ên mới một lần nữa trở thành một thực thể chính trị trên võ đài thế giới.


Suốt những thời kỳ hoạn nạn khốc liệt này, nhiều người Do-thái đã hỏi chúa “Tại sao dân Ngài chịu khổ khi các dân ngoại gian ác thoát được hoạn nạn? Thể nào một Đức Chúa Trời thánh khiết có thể sử dụng những dân ngoại bất kính để sửa phạt tuyển dân của Ngài?“ Đây là một trong những chủ đề của sách Ha-ba-cúc và nó được bàn luận trong nhiều đoạn Thi-thiên (Thi 74:1-23; Thi 77:1-20; Thi 79:1-Thi 80:19). Nhưng việc Y-sơ-ra-ên là tuyển dân của Đức Chúa Trời và là một dân tộc đặc biệt giải thích lý do Ngài sửa phạt họ, vì đặc quyền càng lớn thì trách nhiệm càng lớn.

“Ta chỉ chọn các ngươi trong mọi họ hàng trên đất, vậy nên ta sẽ phạt các ngươi vì mọi tội lỗi các ngươi” (Am 3:2 NIV). Sự lựa chọn thiêng liêng không phải là một cớ cho sự chống nghịch của con người. “vì ai đã được ban cho nhiều,thì sẽ bị đòi lại nhiều” (Lu 12:48).


Ở đây có một sứ điệp nghiêm túc cho Hội thánh trên thế giới ngày nay. Giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, chúng ta là tuyển dân của Đức Chúa Trời và là một dân thánh (IPhi 2:9-10) và được ban phước rất nhiều trong Chúa Giê-xu. Ở đây chúng ta phải “quảng cáo” những công đức của Chúa và rao tin mừng về Tin Lành. Nếu chúng ta không làm sáng danh Đức Chúa Trời vâng lời Ngài, Ngài sẽ sửa phạt chúng ta như Ngài đã sửa phạt Y-sơ-ra-ên (He 12:1-14).

“Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời, vả nếu khởi từ chúng ta, thì sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin lành Đức Chúa Trời sẽ ra thế nào?” (IPhi 4:17). Nếu Đức Chúa Trời sửa phạt dân Ngài vì tội lỗi họ, Ngài sẽ làm gì với những người không thuộc về gia đình này và chống lại ý muốn Ngài? Nhưng sự xét đoán sẽ khởi đâu trong gia đình của Đức Chúa Trời, và cách duy nhất chúng ta có thể tránh được sẽ là xây bỏ tội lỗi mình và vâng theo ý muốn Ngài.


Hội thánh nghĩ mình giàu có, Chúa Giê-xu phán là nghèo nàn, và Hội thánh nghĩ mình nghèo nàn, Chúa Giê-xu phán là giàu có (Kh 2:9 Kh 3:17). Chúa Giê-xu sẽ bày tỏ điều gì về những Hội Thánh của chúng ta khi lửa đoán phạt giáng xuống?


3. Giao ước được đổi mới (Phu 29:1-29)

Từ “giao-ước” được sử dụng bảy lần trong chương này; Thật ra, chương này là sách Phục-truyền trong bức tiểu họa. Môi-se ông lại quá khứ (c.1-8), kêu gọi dân sự vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời (c.9-15) và cảnh cáo họ điều sẽ xảy ra nếu họ bất tuân (c.16-29).

Khi chúng ta đọc và nghiên cứu bài giảng tạm biệt của Môi-se, chúng ta có thể mệt mỏi vì những chủ đề được lặp đi lặp lại này, nhưng chúng là tính chất giao ước của Đức Chúa Trời với dân Ngài, trong khi các thầy tế lễ với người Lê-vi có một bản luật pháp của Môi-se và có thể tham khảo nó (Phu 17:18; Phu 28:58; Phu 29:20,27; Phu 31:26), dân chúng phải lệ thuộc vào trí nhớ của họ, do đó sự lặp lại là quan trọng. “Tôi chẳng hề sợ phiền mà lại viết những điều này cho anh em nữa, vì ấy là có ích cho anh em” (Phi 3:1). Dân sự Đức Chúa Trời rất thường quên điều họ phải nhớ và nhớ điều họ phải quên!


Giao-ước được tuyên bố trong sách Phục-truyền không khác với giao ước được ban ra tại núi Si-nai. Đúng hơn, đó là một sự giải thích và ứng dụng giao ước đó cho thế hệ mới và hoàn cảnh mới của họ trong Đất Hứa. Nếu điều Môi-se đã dạy trong sách Phục-truyền là một giao ước riêng biệt, ông sẽ dâng những của lễ huyết để ấn chứng giao ước như ông đã làm tại núi Si-nai (Xu 24:3-8 He 9:18-22).

Nhiều người trong dân sự chấp nhận giao ước tại núi Si-nai đã chết trong đồng vắng, nhưng vẫn có một “dân Y-sơ-ra-ên” chịu trách nhiệm với Chúa để vâng theo giao ước đó (Phu 4:1-5:33). Những thế hệ tương lai ở Anh quốc mà có quyền lợi lẫn nghĩa vụ khi Vua Jhon ký hiến chương Magna Chasta năm 1215, và các thế hệ tương lai của người Mỹ cũng như vậy khi hiến pháp của nước Mỹ có hiệu lực năm 1789.

Các thế hệ tương lai của Do-thái bị ràng buộc bởi giao ước được tổ phụ họ lập tại núi Si-nai, và giao ước đó mãi đến khi Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá mới được bãi bỏ (Co 2:11-14).


Ôn lại quá khứ (Phu 29:1-8).

Môi-se dường như không bao giờ chán việc nhắc nhở dân sự về ân điển và sự thương xót của Đức Chúa Trời ban cho con cháu của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, Đức Chúa Trời đã xét đoán xứ Ê-díp-tô và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ (c.2-3), chăm sóc họ trong hành trình của họ giữa đồng vắng (c.5-6), và ban cho họ chiến thắng trên các dân tộc phía Đông sông Giô-đanh (c.7-8). Vì tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ. Y-sơ-ra-ên giờ đây sắp bước vào Đất Hứa và giành lấy cơ nghiệp của họ. Suốt hành trình dài của họ, Đức Chúa Trời đã giữ cho giày và quần áo họ không hư mòn (8), ban cho họ ma-na để ăn và nước để uống. Một dân du cư sẽ không thể gặt hái nho để làm rượu hay lúa để làm bánh.


Kêu gọi sự vâng lời (Phu 29:9-15).

Bí quyết của sự thịnh vượng là phước lành của Đức Chúa Trời, và bí quyết nhận phước lành đó là sự vâng phục luật pháp Đức Chúa Trời. Môi-se bắt đầu từ những lãnh đạo của dân tộc (c.10), vì nếu các lãnh đạo không nêu gương với tư cách người thuộc linh, thì không có nhiều hy vọng đối với những người đi theo. Tuy nhiên, không ai trong trại quân bị trục xuất, và điều này kể đến phụ nữ và trẻ em, khách kiều ngụ và tôi tớ thấp nhất.

Đức Chúa Trời không thể thật sự là Đức Chúa Trời đối với họ nếu họ từ chối chấp nhận và vâng theo luật pháp Ngài. Điều Ngài làm cho chúng ta tùy thuộc vào cách chúng ta tiến bộ với Ngài (IICo 6:14-18). Giao-ước Ngài đã lập với tổ phụ họ sẽ bền vững mãi mãi nhưng việc họ hưởng được những lời hứa của giao ước ấy tuỳ thuộc vào sự vâng lời của họ đối với những nghĩa vụ đó.


Quan trọng để chú ý rằng dân Do-thái thời ấy thật sự đã ảnh hưởng đến con cháu họ trong những năm tiếp nối (Phu 29:14-15). Như quyết định của Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai liên kết với thế hệ mới trên đồng bằng Mô-áp, quyết định của thế hệ mới cũng sẽ liên kết với con cháu họ.


Cảnh cáo về sự xét đoán (Phi 29:16-29).

Môi-se nhắc nhở dân sự về sự thờ hình tượng trắng trợn mà họ đã chứng kiến khi bị làm nô lệ trong xứ Ê-díp-tô và sau đó lúc họ đi qua đồng vắng. Nếu họ chứng kiến điều đó với tấm lòng dâng hiến cho Chúa, họ không thể ghê tởm bởi điều họ nhìn thấy và họ chắc chắn sẽ không muốn tham dự vào đó.

Không ai trong Y-sơ-ra-ên, không cá nhân gia đình hay chi phái nào được liên hệ trong sự thờ hình tượng, vì bất cứ là thờ hình tượng nào đều có thể trở thành một “rễ đắng” có thể làm ô uế cả dân tộc. He 12:15 áp dụng lời cảnh cáo tương tự này cho các hội chúng tín hữu địa phương, vì “một người có tội phá hủy được nhiều sự lành” (Tr 9:18). Dù những kẻ vi phạm che đậy tội lỗi họ và tin rằng họ có thể thoát được sự xét đoán, Chúa cũng sẽ biết và sẽ xét đoán, không thể có sự tha thứ, họ sẽ bị tai họa, bị giết và tên họ sẽ bị xóa dưới trời (Phu 9:14 Xu 32:32-33). Họ sẽ khốn khổ bởi tất cả tai họa được kể trong Phu 28:1-68.


Nếu dân tộc này đi theo những kẻ thờ hình tượng và bất tuân Chúa, Ngài sẽ xét đoán cả xứ và nó sẽ trở thành một gương cho các dân tộc khác về điều xảy ra khi luật pháp Đức Chúa Trời bị vi phạm. Các du khách sẽ nhìn thấy một xứ không có dân, những nông trại không có sản vật, đất giống như đất bị tàn phá quanh Sô-đôm và Gô-mô-rơ, còn các thành bị phá hủy và còn lại đống tro tàn. Cảnh tan hoang hoàn toàn của Y-sơ-ra-ên sẽ là một sự nhắc nhở rằng đó là một điều đắt giá phải trả nếu bất tuân ý muốn của Đức Chúa Trời.


Liệu Y-sơ-ra-ên sẽ là một dân vâng phục chăng? Đức Chúa Trời sẽ giáng những sự rủa sả này chăng? Tương lai có ý nghĩa gì cho dân tộc? Một số người Do-thái có thể đã tự hỏi những câu hỏi đó, nhưng đây không phải là lúc cho sự suy đoán; Đây là lúc cho sự dâng hiến. “Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp này” (Phu 29:29). Trách nhiệm của chúng ta với tư cách dân sự Đức Chúa Trời không phải là tìm cách mở những cánh cửa tương lai nhưng là vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời tại đây và bây giờ. Khi một người hỏi Chúa Giê-xu “Lạy Chúa, có phải chỉ ít kẻ được cứu chăng?” câu trả lời của Ngài mang tính riêng tư và không triết lý.

“Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được” (Lu 13:12). Không cần thiết để biết những bí mật của Đức Chúa Trời, nhưng cần thiết để chúng ta vâng theo điều Đức Chúa Trời đã bày tỏ rõ ràng với chúng ta.


4. Những phước lành được phục hồi (Phu 30:1-20)

Rất thường trong Kinh Thánh, tiếng sấm của sự xét đoán được theo sau bởi tiếng yêu thương của hy vọng. Than ôi, Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ Chúa và đi theo các hình tượng nên Chúa đã giáng trên Y-sơ-ra-ên những sự xét đoán được tuyên bố trong giao ước Ngài.

Không dân tộc nào trong lịch sử chịu khổ nhiều như dân tộc Y-sơ-ra-ên, nhưng không dân tộc nào cho thế giới của cải thuộc linh quá nhiều. Trong chương này, Môi-se nhìn xuống qua các thế kỷ và thấy sự phục hồi Y-sơ-ra-ên trong xứ họ ở tương lai và ở dưới những phước lành của Đức Chúa Trời.


Lời hứa (Phu 30:1-10).

“Lòng” là một trong những từ chính ở chương này (c.2,6,10), những từ khác là “điều răn” hay “luật lệ” (c.2,8,10,11,16), “trở lại”, hay “trở về” (c.2,3,8,10) và “sự sống” (c.15,19,20). Sự liên hệ thật rõ ràng nếu dân sự Đức Chúa Trời từ bỏ tội lỗi họ và bằng cả tấm lòng trở về với Đức Chúa Trời, với những điều răn của Đức Chúa Trời và vâng theo, họ sẽ hưởng sự sống nhưng chỉ Chúa mới có thể ban cho, ở đây Môi-se đang nhìn từ thời điểm khi Y-sơ-ra-ên bị sửa phạt sẽ ăn năn, xây bỏ lối ác của họ, và trở lại với Chúa.


Ở một phạm vi nào đó, một sự nhóm họp đã xảy ra sau sự phu tù ở Ba-by-lôn khi một số người tin kính sót ại trở về xứ và tái thiết đền thờ,nhưng sự ứng nghiệm lời hứa này (c.3-6) sẽ không xảy ra cho đến thời kỳ sau rốt. Dân Y-sơ-ra-ên ngày nay bị tản lạc khắp thế giới, trong lúc ở dân tộc Y-sơ-ra-ên có khoảng 6 triệu người. Nhưng Chúa hứa nhóm dân Ngài lại, đem họ trở về xứ họ, và chúc phước cho họ. Nhưng trước tiên, một “hoạt động” thuộc linh phải xảy ra, phép cắt bì của tấm lòng để họ sẽ nhận Đấng Môi-se của họ yêu mến Chúa, và kinh nghiệm đời sống thuộc linh Ngài đã hứa ban.


Các học giả Kinh Thánh bất đồng về tương lai của Y-sơ-ra-ên, một số người nói rằng Hội thánh giờ đây là “Y-sơ-ra-ên thuộc linh” và tất cả những lời hứa trong Tân-ước giờ đây đang được ứng nghiệm theo một ý nghĩa thuộc linh trong Hội thánh. Những người khác nói rằng những lời hứa trong Cựu-ước phải được hiểu ở giá trị bên ngoài và chúng ta phải mong đợi một sự ứng nghiệm về chúng khi Chúa Giê-xu phải làm để vương quốc Ngài trên đất. Môi-se dường như đang nói ở đây về Y-sơ-ra-ên chớ không phải “dân khác của Đức Chúa Trời” trong tương lai, chẳng hạn như Hội thánh. Hội thánh không có mối liên hệ giao ước với xứ Y-sơ-ra-ên, vì Đức Chúa Trời đã ban xứ ấy cho Áp-ra-ham và con cháu người (Sa 15:1-19), và những phước lành cùng những sự rủa sả được tuyên bố cho Y-sơ-ra-ên, không phải cho Hội thánh.

Dường như sẽ có một ứng nghiệm theo nghĩa đen về những lời hứa này cho Y-sơ-ra-ên. Khi họ ăn năn, trở về với Đức Giê-hô-va và mở lòng họ cho hoạt động của Thần Linh Ngài (Exe 37:1-14 Es 11:2 Gio 2:28-29), Đức Chúa Trời sẽ cứu họ khỏi tội lỗi họ và đặt họ trong vương quốc vinh hiển của Đấng Mê-si-a (Xa 12:10-13:1 Xa 14:8-9).


Sự chọn lựa (Phu 30:11-20).

Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, chúng ta có tâm trí để suy nghĩ, tấm lòng để cảm xúc, và một ý chí để quyết định, chúng ta có thể nghe Lời Đức Chúa Trời, biết ý muốn Đức Chúa Trời, và quyết định vâng lời hoặc bất tuân. Môi-se cho biết rõ rằng thực hiện quyết định này không phải là một nhiệm vụ khó khăn. Xét cho cùng, chúng ta có lẽ thật về Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Lời Ngài, và Lời ấy sẵn có cho chúng ta. Chúng ta không cần phải đi lên trời để nhận lấy Lời Chúa, hay thậm chí vượt biển sang xứ sở khác, vì Đức Chúa Trời đã đem đến cho chúng ta Lời Ngài. Phao-lô đã trích dẫn sứ điệp này trong Ro 10:6-10 để chứng minh rằng sự công bình đạt được không phải bằng những kỳ công to tát nhưng bởi thực hành đức tin đơn sơ nơi Chúa Giê-xu Christ.


Hơn nữa, sự lựa chọn là giữa sự sống và sự chết, và ai sẽ cố ý chọn sự chết? Trong trường hợp của Y-sơ-ra-ên, sự chọn lựa là giữa việc tin cậy Đức Chúa Trời và vui hưởng những quà tặng của xứ (“sự sống và phước lành”), hoặc quay sang hình tượng và kinh nghiệm những sự rủa sả được trình bày trong giao-ước (“sự chết và tai họa”). Đó là “sự sống và phước lành” hoặc “sự chết và sự rủa sả”. Phải chăng đây là một quyết định khó thực hiện? Dĩ nhiên, ngày nay sự lựa chọn là giữa sự sống đời đời và sự chết đời đời, sự cứu rỗi bởi ân điển Đức Chúa Trời hoặc sự kết án bởi sự công bình của Đức Chúa Trời. Quyết định phải là duy nhất là chọn sự sống. “Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (Gi 3:36).


Môi-se kêu gọi toàn bộ sự sáng tạo làm chứng cho cơ hội lớn của Y-sơ-ra-ên để tiếp nhận giao ước và hưởng những phước hạnh của nó (Phu 30:19; Phu 31:28; Phu 32:1; Thi 50:1; Es 1:2). Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài sự sống vì Ngài là sự sống của chúng ta (Phu 30:20). “Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động và có” (Cong 17:28). Chúng ta nhận nơi Ngài không chỉ sự sống thuộc thể qua lần sinh ra đầu tiên mà còn sự sống thuộc linh nhờ lần sinh ra thứ hai của chúng ta (Gi 3:1-18).


Điều này đánh dấu sự kết thúc bài nói chuyện tạm biệt của Môi-se, sự ông lại luật pháp, và sự đổi mới về giao ước. Ông vẫn có nhiều điều nữa để nói, và điều ông nói rất quan trọng. Sau đó, Môi-se sẽ chết và Chúa sẽ chôn ông nơi không ai có thể tìm thấy thi thể. Giô-suê sau đó sẽ kế tục và lãnh đạo Y-sơ-ra-ên đến chiến thắng trong Đất Hứa của họ.

-Phu 31:1-13; xem giải nghĩa Phu 26:1-19





11. BÀI CA MÔI-SE (Phu 31:14-32:47)


“Dân này chẳng bao lâu nữa sẽ bán mình cho các thần ngoại bang trong xứ mà họ sẽ vào” (Phu 31:16 NIV) (1)


Đó là sứ điệp Chúa ban cho Môi-se sau khi ông hoàn tất bài nói chuyện tạm biệt của mình với dân sự mà ông đã hầu việc thật trung tín trong 40 năm (2). Chắc chắn những lời này làm đau lòng ông, nhưng Môi-se biết rằng Y-sơ-ra-ên đã có một lịch sử dài về việc xây bỏ Chúa và thờ lạy hình tượng. Tại Si-nai, họ đã làm một bò con vàng và say sưa trong cuộc truy hoan ngoại đạo (Xu 32:1-33) và tại Ka-đe Ba-nê-a, họ muốn lập một lãnh đạo mới và trở lại Ê-díp-tô (Dan 14:1-45).

Trong cả hai lần chống nghịch, chính sự cầu thay của Môi-se đã cứu dân tộc khỏi bị hủy diệt bởi sự xét đoán của Đức Chúa Trời. Suốt hành trình trong đồng vắng,dân Do-thái thường phàn nàn với Môi-se về cách ông lãnh đạo họ. Khi thế hệ mới đến biên giới Ca-na-an, những người nam say sưa trong sự đồi bại và sự thờ hình tượng với những người nữ Mô-áp, và Đức Chúa Trời đã giáng một tai hoạ giết 24.000 dân Y-sơ-ra-ên (Dan 25:1-18). Lịch sử Y-sơ-ra-ên là một câu chuyện thật sự bi thảm.


Làm thế nào Môi-se có thể khích lệ dân sự yêu dấu của ông ăn ở chân chính đối với Chúa họ, Đấng đã làm quá nhiều cho họ? Môi-se làm điều Đức Chúa Trời phán bảo ông: ông chọn Giô-suê làm người kế tục ông, ông ban cho dân sự sách luật pháp và cho họ biết cách sử dụng nó, và ông hát cho họ nghe một bài ca về sự cảnh cáo. Điều Môi-se đã làm để giúp ngăn chặn sự bội đạo trong Y-sơ-ra-ên cần phải được thực hiện để ngăn chặn sự bội đạo trong Hội thánh ngày nay, vì hồ sơ của Hội thánh không tốt đẹp gì hơn hồ sơ của Y-sơ-ra-ên (3). Chúng ta có ba trách nhiệm trước Chúa: tôn trọng những lãnh đạo tin kính, nghe Lời Đức Chúa Trời và chú ý những lời cảnh cáo Đức Chúa Trời ban cho chúng ta.


1. Tôn trọng các tôi tớ của Đức Chúa Trời (Phu 31:1-8,23)

Môi-se 80 tuổi khi Đức Chúa Trời kêu gọi ông lãnh đạo dân sự Ngài (Xu 7:7), và giờ đây ông được 120 tuổi, vì vậy ông đã hầu việc Chúa và dân sự Ngài được 40 năm. Đã đến lúc ông bước qua một bên và để Giô-suê kế tục. Môi-se vẫn còn thích hợp về mặt thuộc thể (Phu 34:7), nhưng Chúa cho ông biết rằng, vì tội lỗi của ông tại Ka-đe, ông sẽ không được vào Ca-na-an (Phu 1:37-38; Phu 3:23-27; Phu 4:21-22; Dan 20:1-13).

Môi-se là một tôi tớ trung tín trong việc lãnh đạo dân sự, rao luật pháp của Đức Chúa Trời cho họ, và xây dựng một dân tộc, nhưng Giô-suê là người Đức Chúa Trời chọn để lãnh đạo quân đội Y-sơ-ra-ên trong việc chinh phạt xứ Ca-na-an. Nhóm từ “đi ra và đi vào” (Phu 31:2) mô tả những hoạt động của một lãnh đạo hầu việc dân sự (Dan 29:15-17; Gios 14:11), và Giô-suê giờ đây sẽ là vị lãnh đạo đó.


Giô-suê không phải là một người xa lạ đối với dân Y-sơ-ra-ên, vì ông đã hầu việc họ tốt đẹp kể từ khi họ rời Ê-díp-tô. Ông là tôi tớ của Môi-se từ lâu trước khi ông trở thành người kế tục của Môi-se (Xu 33:11; Mat 25:21). Chính Giô-suê đã lãnh đạo quân đội Do-thái đánh bại dân A-ma-léc khi họ tấn công dân tộc sau cuộc kinh lý rời Ê-díp-tô (Xu 17:8-16), và ông đã ở cùng Môi-se trên núi Si-nai (Xu 24:13; Xu 32:17).

Giô-suê là một trong 12 thám tử đã dọ thám xứ Ca-na-an, và ông cùng Ca-lép đứng về phía Môi-se và A-rôn để khích lệ dân sự tin cậy Đức Chúa Trời và chiếm xứ (Dan 13:1-14:45). Để đáp lời cầu nguyện của Môi-se xin một lãnh đạo kế tục ông, Đức Chúa Trời chọn Giô-suê đã ủy nhiệm cho ông trước toàn hội chúng (Dan 27:12-23).


Môi-se khích lệ bằng cách bảo đảm với ông rằng Đức Chúa Trời sẽ đi trước dân sự Ngài và giúp họ chiếm xứ và tiêu diệt các dân tộc bất kính ở Ca-na-an (Phu 31:3-6,23). “Mệnh lệnh” trong câu 23 tương tự với mệnh lệnh Chúa ban cho Giô-suê sau khi Môi-se qua đời (Gios 1:1-9). Giô-suê phải nhân đôi những chiến thắng Chúa đã ban cho Y-sơ-ra-ên ở phía Đông sông Giô-đanh, khi Y-sơ-ra-ên đánh bại Si-hôn và Óc, nghĩa là tiêu diệt các dân Ca-na-an và mọi thứ có liên quan đến tôn giáo của họ. Thật ích lợi để biết rằng Đức Chúa Trời không thay đổi, Đấng đã đi trước các đội quân Y-sơ-ra-ên vẫn giúp đỡ dân sự Ngài hôm nay (He 13:5).


Trong công việc của Chúa, không có sự thay thế cho chức lãnh đạo tin kính. Như Môi-se đã làm với Giô-suê, Đấng Christ đã làm với các sứ đồ Ngài, và Phao-lô đã làm với Ti-mô-thê cùng Tít, thế hệ đi trước phải trang bị cho thế hệ sau thay thế (IITi 2:2). Chúa đã cho chúng ta biết những phẩm chất dành cho lãnh đạo trong Hội thánh (ITi 3:1-16 Tit 1:1-16), và chúng ta phải tận tâm đối với việc cố vấn và huấn luyện những người có đủ tư cách để trở thành những lãnh đạo đó.

Nhà bình luận chính trị Walter Lippmann đã viết: “Cuộc thử nghiệm cuối cùng của một lãnh đạo đó là người ấy để lại sau mình ở nơi người khác sự thuyết phục và ý chí để thực hiện”.

Người lãnh đạo không nên chỉ đủ tư cách, họ còn phải được chuẩn bị và được chứng minh (ITi 3:10) để họ không phải là những người thiếu kinh nghiệm trong sự hầu việc Chúa (c.6). Sự vắng mặt những lãnh đạo có tài năng và tư cách đôi khi là chứng cớ về sự xét đoán của Đức Chúa Trời trên dân sự Ngài (Es 3:1-4,12 Es 57:1). Ngày nay, hoàn cảnh này đã khác nhưng dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa sẽ bị nhục nhã nếu người trẻ tuổi và phụ nữ hầu việc ở vị trí lãnh đạo. Đó là những người đàn ông cao tuổi có sự khôn ngoan và kinh nghiệm để lãnh đạo dân sự.


2. Nghe Lời Đức Chúa Trời (Phu 31:9-13,24-29)

Tại núi Si-nai, Chúa cho Y-sơ-ra-ên biết rõ rằng, không giống như các dân tộc quanh họ, họ phải là một dân có Lời Chúa, là dân sẽ nghe tiếng Đức Chúa Trời và vâng lời (Phu 4:15-20). Dân ngoại giáo có thể nhìn thấy thần tượng nhân tạo của họ nhưng không thể nghe chúng nói, vì những thần tượng của họ là chết (Thi 115:1-8). Nếu Y-sơ-ra-ên từ bỏ những lời hằng sống của Đức Chúa Trời hằng sống và quỳ xuống trước những thần tượng câm, họ sẽ sống bởi ngoại cảnh chớ không bởi đức tin và từ bỏ lẽ thật thiêng liêng vì sự mê tín của loài người. Chính bởi lời phán mà Chúa đã tạo dựng vũ trụ, và chính nhờ Lời ấy mà Ngài thực hiện những mục đích của Ngài trong lịch sử (Thi 33:6-13).


Suốt chức vụ dài của mình, Môi-se đã giữ một ghi chép về điều Đức Chúa Trời đã làm và phán (Xu 17:14 Xu 24:4-8 Xu 34:27 Dan 33:2 Phu 28:58 Phu 29:20,27) và ông đã gởi ghi chép đó cho những thầy tế lễ là những người khiêng hòm giao ước. Ông bảo họ đặt cuốn sách một bên hòm trong nơi Chí Thánh nơi Chúa ngự trên nắp thi ân giữa các Chê-ru-bên (Thi 80:1 NIV). Đức Chúa Trời tể trị thế giới Ngài qua Lời Ngài và dân sự Đức Chúa Trời phải tôn trọng Lời Ngài và vâng theo. Vào những năm tương lai, vua của Y-sơ-ra-ên được yêu cầu viết một bản luật pháp, nghiên cứu và giữ nó bên ông (Phu 17:18-20).

Mỗi năm Sa-bát, vào kỳ lễ Lều Tạm, luật pháp phải được đọc lên và được giải nghĩa công khai cho mọi người nam, nữ, trẻ con, dù là dân Y-sơ-ra-ên hay khách lạ, để họ sẽ nghe, sợ và vâng theo (Ne 8:1-18). Đặc biệt quan trọng để trẻ con nghe Lời Chúa (Phu 31:13), hầu chúng có thể học Lời Chúa sớm và hưởng một đời sống trường thọ trong Đất Hứa (4).


Môi-se công khai cho dân sự biết điều Đức Chúa Trời đã bảo với ông: họ chống nghịch và cứng cổ, và sau khi ông qua đời, họ sẽ xây bỏ Chúa để thờ thần tượng (c.27). Khi dân sự cứng cổ, họ từ chối quỳ xuống trong sự đầu phục cung kính trước Chúa, nhưng chai lì chống lại Chúa và khăng khăng làm điều họ muốn (Xu 32:9; Xu 33:3-15; Xu 34:9; Phu 9:6,13; Phu 10:16). Nghe Lời Đức Chúa Trời, suy gẫm và vâng theo là phương pháp tốt nhất chống lại sự bội đạo. Tiếc thay, sau sự chết của Môi-se và Giô-suê, dân Y-sơ-ra-ên nghe những tiên tri giả, xây bỏ lẽ thật của Đức Chúa Trời và thi hành sự thờ hình tượng (Cac 2:6-7). Nhiều thế kỷ sau, Ê-tiên đã tố cáo chính dân tộc ông là “cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì” và luôn chống lại Đức Thánh Linh khi Ngài phán qua Lời Ngài (Cong 7:51).


Có một bài học quan trọng ở đây cho Hội thánh ngày nay, vì Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài lẽ thật của Lời Ngài, và chúng ta phải bảo vệ nó, vâng theo nó, và lưu truyền nó cho thế hệ tiếp nối (ITi 1:11,18-19; ITi 6:20; IITi 1:13-14; IITi 2:2). Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ luôn là một thế hệ gần như tuyệt chủng, nên quan trọng là mỗi tín hữu phải nghiên cứu Kinh Thánh, tiếp nhận lẽ thật, thực hành và truyền đạt nó lại cho người khác. Chúng ta cần những người chuyên nghiệp trung tín như thầy thông giáo E-xơ-ra là người “định chí tra xét luật pháp của Đức Giê-hô-va, giữ làm theo và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết những luật pháp và giới mạng” (Exo 7:10). Chúng ta cũng cần những thường dân tận tâm và sẵn lòng như Bê-rít-sin và A-qui-la là những người có thể giải thích rõ đường lối của Chúa hoàn hảo hơn cho những tín đồ mơ hồ (Cong 18:24-26).


Những học thuyết về niềm tin Cơ-đốc, được ghi trong Kinh Thánh, không phải do các tín hữu đầu tiên nghĩ ra, nhưng do Đức Chúa Trời ban cho những tôi tớ được chọn của Ngài. Giu 1:3 gọi khối lẽ thật thuộc linh này là “đạo truyền cho các thánh một lần đủ cả”. Trong Hội thánh địa phương, chúng ta không nên dạy học thuyết nào khác (ITi 1:3), chúng ta cũng không nên dạy điều gì khác ngoài Lời Đức Chúa Trời được hà hơi (IITi 4:1-5).

Phao-lô gọi của báu lẽ thật này là “đạo lành” (ITi 1:10 IITi 4:3 Tit 1:9 Tit 2:1) và “những lời lành” (IITi 1:13). Nếu chúng ta muốn có những Hội thánh lành mạnh về thuộc linh các thánh đồ phải nuôi dưỡng học thuyết “lành mạnh”, bất cứ điều gì khác đều là “những lời vô ích” (ITi 1:6 IITi 2:16) và là sự lây nhiễm tràn lan giống như bệnh hoại thư (c.17). Mặc dù các tín hữu khích lệ nhau là một điều tốt, chúng ta phải cẩn thận để “thời gian chia sẻ” của chúng ta đề cao lẽ thật của Lời Chúa chớ không phải đề cao điều mà cá nhân suy nghĩ về Lời Chúa.


Hội thánh địa phương phải bắt chước Y-sơ-ra-ên và có những thời gian đặc biệt khi họ nhóm lại để đọc Lời Chúa và nghe giảng giải. Trong chức vụ của mình, tôi đã được đặc ân nói chuyện với những hội đồng Kinh Thánh lớn được tham dự bởi những tín hữu chỉ nghĩ đến một điều: nghe từ Lời Đức Chúa Trời điều Chúa muốn họ làm.

Ngày nay, nhiều Hội thánh không thể tổ chức những hội chúng những hội đồng Kinh Thánh vì người ta không muốn tham dự. Mọi người điều quá bận rộn, và một hay hai giờ đồng hồ vào buổi sáng Chúa Nhật một tuần một lần là tất cả thời gian họ có thể dành cho Chúa. Lời Chúa không được đọc và dạy trong gia đình như trước đây. Và trừ khi trẻ con học trường Cơ-đốc ban ngày, thì chúng tiếp theo sự giáo dục Cơ-đốc suốt 30 phút của trường Chúa Nhật và có lẽ một tiếng đồng hồ trong một câu lạc bộ giữa tuần. Có gì ngạc nhiên khi gia đình và Hội thánh ngày càng đi xa khỏi đức tin?


3. Chú ý và lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời (Phu 31:14-22,30) (Phu 32:1-47)

Đức Chúa Trời bảo Môi-se gặp Ngài tại lều tạm và đem Giô-suê đến, là người kế tục ông. Phán từ đám mây vinh hiển, Chúa cho hai người biết rằng Y-sơ-ra-ên sẽ xây bỏ Đức Chúa Trời chân thật hằng sống và thờ lạy hình tượng (“thông dâm”) rồi Ngài sẽ từ bỏ họ và giáng những sự xét đoán được trong giao ước (Phu 28:1-68).

Nguyên nhân sự bội đạo của họ không chỉ là ảnh hưởng ngoại bang quanh họ, mà còn là sự thịnh vượng của họ trong xứ (Phu 31:20). Họ sẽ quên Đức Chúa Trời Đấng ban cho rời rộng và thôi cảm tạ Ngài về sự nhân từ của Ngài. Nếu dân tộc này vâng lời Đức Chúa Trời và vui mừng hầu việc Ngài, mặt Ngài sẽ chiếu sáng trên họ (Dan 6:22-27), nhưng nếu họ quay sang hình tượng, Đức Chúa Trời sẽ giấu mặt Ngài khỏi dân sự Ngài và sửa phạt họ.


Chúa bảo Môi-se và Giô-suê (5) viết một bài ca Ngài sẽ ban cho họ, một bài ca dân sự có thể dễ dàng học và nhớ. Bài ca này sẽ cảnh cáo thế hệ mới và những thế hệ tiếp nối những nguy hiểm của sự thờ thần tượng và những hậu quả bi thảm của sự bội đạo. Nó cũng sẽ nhắc nhở họ về sự nhân từ và thương xót của Chúa. Sau khi Môi-se và Giô-suê viết bài ca (Phu 31:19), họ dạy cho các quan trưởng (c.28) và toàn hội chúng (c.30) (6). Môi-se mở đầu bài hát bằng điều nhắc nhở nghiêm túc rằng, sau khi ông qua đời, họ sẽ từ bỏ Chúa và bởi đó mời gọi sự sửa phạt của Chúa. Điều này nghe như cái gì đó giống với bài giảng tạm biệt của Môi-se trước các quan trưởng và dân sự (Gios 23:1-24:33) và những lời cuối cùng của Môi-se với các trưởng lão Ê-phê-sô (Cong 20:17-37).


Bài hát có bốn phần chính: tính cách của Đức Chúa Trời (Phu 32:1-4), sự nhân từ của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài (c.5-14), sự thành tín của Đức Chúa Trời để sửa phạt dân Ngài (c.15-25). và sự báo trả của Đức Chúa Trời đối với kẻ thù Ngài (c.26-43). Bài ca mô tả những cách Đức Chúa Trời đối xử với Y-sơ-ra-ên và là một sự ôn lại ngắn gọn về lịch sử dân tộc, từ lúc họ ở trong đồng vắng đến những sự sửa phạt trong thời kỳ sau rốt. Nó có hai phương diện về lịch sử lẫn tiên tri.


Tính cách của Đức Chúa Trời (Phu 32:1-4).

Môi-se nói, dù Giô-suê ở với ông (c.44-45), và ông mở đầu bài ca bằng hai hình ảnh thú vị: một tòa án (c.1) và một cơn mưa rào (c.2). Ông kêu gọi trời và đất làm chứng cho những lời của ông (Phu 30:19; Phu 31:28) vì bài ca sẽ lên án Y-sơ-ra-ên tội từ bỏ Đức Chúa Trời của họ và vi phạm giao ước.

Đây là vi phạm nghiêm trọng nhất mà dân sự có thể phạm. Mọi vật trong sự sáng tạo đều vâng lời Chúa ngoại trừ dân sự của Ngài! (Thi 119:89-91; Thi 148:5-9; Es 1:1-3). Nhưng Môi-se không đòi hỏi một cơn bão tố, ông ban sứ điệp mình như một cơn mưa rào nhẹ nhàng, tin rằng Lời Chúa sẽ làm mềm đất cứng và kết quả trong lòng dân sự (Es 55:10-11). “lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật” (Eph 4:15) là cách tốt nhất để rao Lời Đức Chúa Trời.


Học tính cách của Đức Chúa Trời phải là mối quan tâm chính của chúng ta trong trường đời, và Môi-se là một học sinh xuất sắc (Xu 33:12-34:9; Thi 90:1-17). Đối với dân Do-thái, danh của Chúa là “Giê-hô-va”, là danh Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho Môi-se tại bụi gai cháy (Xu 3:13-15). Môi-se không tuyên bố tên mình, vì ông là một người khiêm nhường (Dan 12:3), khao khát của ông là tôn cao danh Chúa, “Bài ca của Môi-se” khác (Xu 15:1-27) cũng ca tụng những thuộc tính của Đức Chúa Trời. Trong hai câu ngắn gọn, Môi-se quy cho Chúa sự trọn vẹn, vĩ đại,công chính, lẽ thật, thành tín, công bình và ông mô tả Ngài là “Hòn Đá” (Phu 32:4,15,28,30-31). Đây là một hình ảnh quen thuộc trong Kinh Thánh chỉ về Đức Chúa Trời, nói về Ngài là bền vững, mạnh mẽ, bất biến, thành tín và trường tồn.Gia-cốp gọi Ngài là “Đá” (Sa 49:24), và Chúa Giê-xu thường được nói đến với tư cách là “Đá” hoặc “Hòn Đá” (Mat 21:42-44 Cong 4:11 Ro 9:32-33 IPhi 2:4,7-8 Da 2:1-49).


Ngay từ đầu bài ca, Môi-se đã tập trung sự chú ý của dân sự vào sự vĩ đại của Đức Chúa Trời, vì nếu họ hiểu sự vĩ đại của Ngài, họ sẽ không muốn thờ lạy những thần tượng nhân tạo. A.W.Tozer thường nhắc nhở chúng ta rằng “không tôn giáo nào từng vĩ đại hơn ý niệm của nó về Đức Chúa Trời”. Ông cũng nói “Bước sa sút đầu tiên đối với bất cứ Hội thánh nào cũng đều được thực hiện khi Hội Thánh đó từ bỏ quan điểm cao trọng về Đức Chúa Trời” (7).


Sự nhân từ của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài (Phu 32:5-14). Bạn sẽ nghĩ rằng Y-sơ-ra-ên sẽ ca tụng một Đức Chúa Trời vĩ đại như thế và xem đó là một đặc quyền để biết Ngài và hầu việc Ngài, nhưng họ không làm vậy. Ngược lại, họ quay sang các hình tượng, làm hư hoại chính họ và làm hỏng tên tuổi cùng địa vị của họ. “Khi chúng hành động như vậy, lẽ nào chúng thật sự là con cái Ngài? Chúng là một dòng dõi lừa đảo và gian trá” (c.5, NLT). Quả là một cách để đáp lại cho họ về tất cả mọi điều Ngài đã làm cho họ! (8). Chúng ta nghĩ một cách bất công rằng những người chưa Chúa là gian trá và đồi bại (Phi 2:15), còn dân sự Đức Chúa Trời thì không (Mat 17:17; Lu 9:41).


Một lần nữa, Môi-se kêu gọi dân sự nhớ những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ “những ngày xưa” Những người trẻ tuổi có thể hỏi người lớn tuổi những gì họ nhớ, vì dạy cho người trẻ tuổi là trách nhiệm của tín hữu lớn tuổi hơn (Thi 78:5-8; Tit 2:1-8). Chúa là Đức Chúa Trời của lịch sử và địa lý. Ngài đã phân chia các nước (Sa 10:10 32) và đặt họ trên đất nơi Ngài cần họ (Cong 17:26). Nhưng Ngài có một kế hoạch đặc biệt cho Y-sơ-ra-ên, vì họ là dân sự Ngài; và Ngài đảm bảo rằng họ có một xứ thích hợp cho họ (9). Vở kịch về sự cứu rỗi sẽ được diễn trong xứ Y-sơ-ra-ên, vì vậy xứ ấy rất đặc biệt đối với Chúa.


Chúa đã giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô và sau đó ngự đến với họ trong đồng vắng tại núi Si-nai. Họ là một dân cô thế và Ngài giành họ cho chính Ngài. Họ là “trái táo của mắt Ngài” chỉ về con ngươi của mắt (Thi 17:8; Ch 7:2; Xa 2:8) (10). Môi-se sử dụng hình ảnh chim phụng hoàng để minh họa sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài (Phu 32:11-13a). Ở một giai đoạn nào đó trong đời sống của chim con, chim mẹ phá tổ và buộc chim con bay. Để đảm bảo chim con không rơi, chim mẹ ở sát chim con khi chúng “thử cánh bay ở phía dưới chúng và thậm chí mang chúng trong những cái vuốt khoẻ của mình.” 

Đó là một bức tranh xinh đẹp về tiến trình trưởng thành gay go mà Đức Chúa Trời đặt để mỗi chúng ta như Ngài đã đặt để dân Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên được dựng nên để “cỡi trên các nơi cao” (c.13) chớ không ngụp trong bùn như các dân ngoại giáo. Mọi kinh nghiệm họ có suốt hành trình trong đồng vắng là cơ hội khác để họ tăng trưởng,nhưng họ rất thường thoái lui và hành động như trẻ con.


Y-sơ-ra-ên hưởng xứ Ca-na-an là chủ đề của các câu 13b-14. Đức Chúa Trời đã ban cho họ một xứ giàu có, một xứ sinh ra mật từ những hòn đá và trong xứ ấy cây ô-li-ve có thể phát triển trong đất đá sỏi và sinh nhiều dầu. Bầy chiên và bầy gia súc gia tăng trong các đồng cỏ và hoa quả cùng thóc lúa phát triển trong đồng ruộng,vườn cây ăn trái và vườn nho (11). Thật vậy, Chúa đã ban cho họ một xứ tốt đẹp và không thiếu thứ gì.


Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong việc sửa phạt dân Ngài (Phu 32:15-25).

Môi-se cảnh cáo dân sự rằng sự thịnh vượng không xứng đáng của họ trong xứ sẽ cám dỗ họ trở nên kiêu ngạo và quên Chúa (Phu 8:1-20), và sau đó Ngài sẽ phải sửa phạt họ, và đó chính xác là điều đã xảy ra. “Giê-su-run” là biệt danh cho Y-sơ-ra-ên (Phu 33:5,26 Es 44:2) và có nghĩa là “người chính trực”. Nói về địa vị của họ trước mặt Đức Chúa Trời, “Ngài chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp, và không thấy tà vạy trong Y-sơ-ra-ên” (Dan 23:21), nhưng khi nói về hạnh kiểm của họ, Đức Chúa Trời sẵn sàng để sửa phạt dân yêu dấu của Ngài vì không sống đúng với địa vị của họ. Ngài có một vấn đề tương tự đối với Hội thánh ngày nay, vì chúng ta không phải luôn ăn ở xứng đáng với sự kêu gọi cao trọng mình có (Eph 4:1).


“Sự ghen tương” của Đức Chúa Trời là một sự ghen tương của một người chồng yêu thương chung thủy có người vợ phản bội mình (Đây là câu chuyện trong sách Ô-xê,và xem Gie 2:25). Thờ hình tượng là thờ ma quỉ (ICo 10:20), nên Y-sơ-ra-ên không chỉ làm buồn lòng Chúa mà còn đùa giỡn ngay trong tay kẻ ác. Họ đã quên Hòn đá là Cha họ (“Hòn đá sanh mình”) và là Mẹ của họ (“đã tạo mình”). Dân Do-thái là “con trai và con gái” của Ngài (Phu 32:19). Những thái độ và hành động của họ ngăn trở Ngài yêu họ như Ngài mong muốn, vì vậy Ngài phải bày tỏ tình yêu Ngài bằng cách sửa phạt họ.


Vì họ đã đưa Ngài đến sự ghen tương bằng cách đi theo các thần khác, Ngài quyết định đưa họ đến sự ghen tương bằng cách chúc phước và sử dụng các dân tộc khác (c.21 Os 1:1-11). Về mặt lịch sử, điều này đề cập đến việc Đức Chúa Trời sử dụng nhiều dân ngoại để sửa phạt Y-sơ-ra-ên trong xứ họ (sách Các quan-xét), và sau đó Ngài sử dụng Ba-by-lôn để đưa họ vào vòng phu tù. Nhưng về mặt tiên tri,nó chỉ về việc Đức Chúa Trời kêu gọi dân ngoại đến sự cứu rỗi sau khi Y-sơ-ra-ên xây bỏ sứ điệp của Phúc-Âm (Ro 10:1-20 Ro 11:11).

Ngày nay, Đức Chúa Trời muốn sử dụng Hội thánh để khiến Y-sơ-ra-ên ghen tương về phước hạnh thuộc linh chúng ta có mà dân Do-thái từng có trước đó (Ro 9:1-5 Ro 11:13-14). Chúng ta phải “quảng cáo những nhơn đức của Ngài” (IPhi 2:9) để những người hư mất sẽ mong muốn dự phần những phước hạnh chúng ta có trong Đấng Christ. Thật buồn để đọc những từ như lửa, tên, đói, rét, thú, rắn, gươm và tai hoạ được áp dụng cho dân đặc biệt của Đức Chúa Trời, nhưng đây là những sự xét đoán Ngài đã giáng cho họ (Le 26:14). Sau sự chinh phạt của Rô-ma năm 70 SC, dân tộc này bị tản lạc, và ngày nay chúng ta thấy dân Do-thái ở khắp nơi trên thế giới.


Sự báo trả của Đức Chúa Trời đối với kẻ thù Ngài (Phu 32:26-43).

Vào hai lần khác nhau, Chúa dọa tiêu diệt dân Ngài, và Môi-se nhắc Ngài về những lời hứa giao ước của Ngài và về việc các dân ngoại đang nhìn xem (Xu 32:11-14; Dan 14:11-25). Nếu Đức Chúa Trời tiêu diệt Y-sơ-ra-ên, dân ngoại sẽ nói “Đức Chúa Trời của họ không đủ mạnh để đưa họ vào xứ họ và chăm sóc họ!”. Môi-se quan tâm về vinh hiển của Đức Chúa Trời cũng như ích lợi của dân tộc. Đức Chúa Trời biết rằng dân ngoại sẽ khoe khoang về việc đánh bại và làm nhục Y-sơ-ra-ên, nên Ngài đã can thiệp và cứu dân Ngài (Exe 20:8-29). Ngài cũng nghiêm trị các dân ngoại vì họ đi quá xa và độc ác trong việc đối xử với dân Do-thái (Gie 50:10-13,17). Chính Chúa là Đấng đã cho phép A-si-ri và Ba-by-lôn bắt giữ dân Ngài, và các dân tộc này đã hành động như thể họ là những kẻ đại thắng.


Nguyên nhân cho nghịch cảnh của Y-sơ-ra-ên không phải là sức mạnh của quân thù họ,nhưng là họ thiếu khôn ngoan (Phu 32:28-29; Es 1:3). Họ có Kinh Thánh ghi lại những giao ước, và tất cả những gì họ phải làm là vâng theo các luật lệ của Đức Chúa Trời và Ngài sẽ chúc phước cho họ. Chính Lời Kinh Thánh dó đã tiên tri sự đến của Đấng Mê-si-a của họ, nhưng khi Ngài đến, Y-sơ-ra-ên đã không biết Ngài (Gi 1:26). Ngày nay, có một bức màn trên tấm lòng của họ khi họ đọc Cựu-ước và họ không thể nhìn thấy Đấng Christ qua Kinh Thánh (IICo 3:12-18; Ro 11:25-36; Gi 5:39).


Nếu Y-sơ-ra-ên trung tín với Chúa, Ngài sẽ ban cho họ chiến thắng trên những kẻ thù của họ, và một chiến sĩ Do-thái sẽ đáng giá hơn 20 hay thậm chí 100 địch quân (Le 26:6-8). Tiếc thay, sự chống nghịch của họ đã khiến Hòn Đá của họ “bán họ” cho kẻ thù, dù kẻ thù chẳng có gì đáng so sánh với những gì Y-sơ-ra-ên có nơi Đức Giê-hô-va (Phu 32:31-33). Các thần của họ (hòn đá) chắc chắn không giống như Đức Chúa Trời Hằng Sống của Y-sơ-ra-ên, và cây nho của họ (dân tộc) không được trồng như Y-sơ-ra-ên trong xứ (Es 5:1-30). Ăn nho của kẻ thù và uống rượu của chúng là bị ngộ độc, nhưng Y-sơ-ra-ên đã thờ lạy các thần của họ! “Chúng là một dân mất trí” (c.28).


Đức Chúa Trời không bỏ sót những việc ác của kẻ thù Y-sơ-ra-ên nhưng chuẩn bị sẵn những vũ khí của Ngài để Ngài có thể bảo vệ dân Ngài (c.34-35). “Việc như thế” trong c.34 chỉ về sự báo trả của Đức Chúa Trời trên những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên và của Đức Chúa Trời, điều gì đó Ngài đã hoạch định từ lâu. Ở đây chúng ta có Đức Chúa Trời được bày tỏ là chiến sĩ công bình Đấng sẽ đánh bại những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên và đồng thời xét đoán (“bảo vệ”) dân Ngài và bày tỏ sự thương xót đối với họ (“ăn năn”, KJV).

Đây là một sứ điệp hy vọng cho Y-sơ-ra-ên, vì sự sửa phạt của Ngài là bước đầu tiến đến việc phục hồi dân Ngài và ban lại cho họ những phước hạnh họ đã đánh mất khi họ quay sang các thần tượng (13). Các tà thần họ tin cậy sẽ không thể giúp Y-sơ-ra-ên, nhưng Chúa sẽ bày tỏ đại quyền của Ngài thay cho dân cô thế của Ngài và giải cứu họ khỏi kẻ thù. Chúng ta có thể có trong những câu 39-43 một mô tả về trận chiến A-ma-ghê-đôn (Kh 14:17-20; Kh 16:12-16). Chúng ta không có ghi chép nào trong Kinh Thánh hay trong lịch sử về thời điểm đặc biệt nào của sự báo thù khi Đức Chúa Trời bảo vệ dân Do-thái bằng cách đánh bại các dân ngoại, vì thế lời tiên tri này sẽ phải được ứng nghiệm.


Sự đột phá của phân đoạn cuối của bài ca (Phu 32:34-43) là sự bảo vệ Y-sơ-ra-ên đến cuối cùng trước các dân ngoại đã tấn công họ, làm nhục họ và ngược đại họ ở một phạm vi nào đó, Y-sơ-ra-ên đã được bảo vệ khi Ba-by-lôn bị Đa-ri-út Mê-đi chiếm và dân Do-thái được phép trở về xứ họ, chúng chắn chắn những câu này mô tả điều gì đó rộng hơn và kịch tính hơn sự kiện đó. Ngôn ngữ sống động khiến chúng ta nghĩ đến những mô tả trong Cựu-ước về Ngày của Chúa và sự giết hại sẽ xảy ra (Es 2:10-21; Am 5:18-20; So 1:7-18). Mặc dù đó sẽ là ngày xét đoán trên dân ngoại vì cách họ đã đối xử Y-sơ-ra-ên (Gio 3:1-3), đó cũng sẽ là một thời kỳ tôi luyện đối với Y-sơ-ra-ên, và cuối cùng họ sẽ nhìn thấy Đấng Mê-si-a của họ, ăn năn và được thay đổi (Xa 9:1-14:21).


Đứng cùng với Giô-suê, Môi-se kết thúc bài ca bằng cách kêu gọi dân sự ghi vào lòng sứ điệp và dạy bài ca cho con cái họ, hầu những thế hệ tương lai sẽ vâng theo luật pháp và tránh sự thờ thần tượng (Phu 4:9-10 Phu 6:7; Phu 11:19; Xu 10:2; Xu 12:26). Lời Đức Chúa Trời là sự sống của dân sự Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời là sự sống của chúng ta (Phu 30:20); Vì Lời Chúa truyền đạt cho chúng ta lẽ thật về Đức Chúa Trời và những ơn phước nhân từ của Ngài. Tiếp nhận và vâng theo Lời Chúa là dự phần trong sự sống của Đức Chúa Trời. “Vì đó chẳng phải chỉ là những lời vô ích chio các ngươi. Đó là sự sống của các ngươi” (Phu 32:47 NIV).

“Vì Lời Đức Chúa Trời lời sống và linh nghiệm” (He 4:12).

-Phu 32:1-47; xem giải nghĩa Phu 31:14-22,30





12. SỰ CUỐI CÙNG CỦA MỘT KỶ NGUYÊN (Phu 32:48-34:12)


“Vậy, xin hãy dạy chúng tôi đếm các ngày chúng tôi,hầu chúngt ôi có thể đặt lòng mình vào sự khôn ngoan” (Thi 90:12). Môi-se đã viết những lời này có lẽ sau cuộc đại khủng hoảng ở Ka-đe Ba-nê-a, khi Y-sơ-ra-ên chống nghịch Đức Chúa Trời và Ngài đã đếm các ngày của thế hệ đi trước (Dan 13:1-14:45). Nhưng Môi-se giờ đây đang đếm giờ của ông, vì sẽ sớm đến lúc phải rời trại quân Y-sơ-ra-ên, leo lên núi Nê-bô và ngả vào vòng tay yêu thương của Đức Chúa Trời để được ngủ. Môi-se đã rời trại quân và lìa đời này, nhưng ông cũng để lại đằng sau những món quà tuyệt với cho dân sự ông và cho chúng ta hôm nay.


1. Một lời chúc phước cho Y-sơ-ra-ên (Phu 33:1-29)

“Bài ca của Môi-se” là một bài học về thần học, lịch sử và sự vâng phục cá nhân, kể cả những lời cảnh cáo mạnh mẽ; Nhưng lời chúc phước cuối cùng Môi-se ban trên dân sự ông được dầm thấm ân điển và sự thương xót. nó hoàn toàn trái ngược với “lời chúc phước” Gia-cốp ban cho các con trai ông trước khi ông chết (Sa 49:1-32), bày tỏ tính cách tiềm ẩn của họ và phơi trần tội lỗi (1).

Môi-se mở đầu và kết thúc bài giảng của ông bằng cách ca ngợi sự vĩ đại của Chúa Đấng ông sắp gặp trên đỉnh núi (Phu 33:1-5,26-29) và sau đó ông kể tên từng chi phái ngoại trừ Si mê-ôn (2) và ban cho họ một lời chúc phước từ Chúa. Môi-se viết về ông về bản thân ông trong bài học thứ ba (c.1,4) giống như cách Đa-vít nói với Chúa trong IISa 7:20 khi ông bị tràn ngập bởi những lời hứa của Đức Chúa Trời. Cả Môi-se và Đa-vít đều giống như trẻ nhỏ, thường sử dụng tên mình khi nói với người lớn.


Vinh hiển của Đức Chúa Trời (Phu 33:1-5).

Khi Môi-se nhìn lại quãng đời dài của mình,một cảnh tượng thu hút tâm trí ông là sự bày tỏ vinh hiển Đức Chúa Trời tại núi Si-nai (Xu 19:16-25; Xu 24:15-18; He 12:18-21) và sự ban luật pháp. Nhưng ông đã thấy vinh hiển của Đức Chúa Trời ở gần khi ông ở trên núi cầu thay với Chúa (Xu 33:1-34:35).

Mô tả tương tự này được sử dụng trong Bài ca của Đê-bô-ra trong sách Các quan-xét (Cac 5:4-5 và cũng được tiên tri Ha-ba-cúc sử dụng khi ông ngợi khen Chúa (Ha 3:3). Càng biết rõ hơn Lời Đức Chúa Trời, chúng ta càng phải có thể bày tỏ sự thờ phượng đúng đắn trước mặt Ngài, không có sự thay thế cho “ca vịnh, thơ thánh và bài hát thiêng liêng” (Eph 5:19; Co 3:16) được tìm thấy nơi Kinh Thánh.


Đức Chúa Trời đã đến từ (3) muôn vàn thiên sứ trên trời để gặp Y-sơ-ra-ên tội lỗi.Vì sao? “Vì Ngài thương yêu dân sự” (Phu 33:3). Suốt sách Phục-truyền, Môi-se nhấn mạnh tình yêu đặc biệt của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên và ân điển của Ngài trong việc chọn họ làm dân đặc biệt của Ngài (Phu 4:31-40; Phu 7:6,13; Phu 14:2; Phu 26:19; Phu 28:9). Ân điển tối cao và tình yêu của Đức Chúa Trời không bao giờ là những lý do cho sự kiêu ngạo của con người tội lỗi. Đúng hơn, đó là những lẽ thật phải khiến chúng ta hạ mình và khiến chúng ta muốn hết lòng hầu việc Ngài. “Những vị thánh” (các Đấng Thánh) trong Phu 33:2 là những Thiên sứ, nhưng “các thánh” trong c.3 là dân Y-sơ-ra-ên, dân được Đức Chúa Trời biệt riêng, Giê-su-run “người chính trực”. Mặc dù có sự bất tuân thường xuyên của họ, Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời xem là dân đặc biệt của Ngài. “Ngài chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp và không thấy tà vạy trong Y-sơ-ra-ên” (Dan 23:21).

Có nhiều tội lỗi trong Hội thánh Cô-rinh-tô, nhưng Phao-lô nói với dân sự với tư cách “thánh đồ” (ICo 1:1-2). Địa vị của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời là địa vị công bình trong Chúa Giê-xu Christ (IICo 5:21), nhưng thực trạng của chúng ta trong thế gian này là thực trạng bị cám dỗ và luôn thất bại. Đời sống Cơ-đốc đắc thắng nghĩa là sống đúng với địa vị của chúng ta bởi đức tin nơi quyền năng Đức Chúa Trời.


Môi-se mô tả địa vị cao quý của chúng ta vì cớ ân điển của Đức Chúa Trời: được Đức Chúa Trời yêu, an toàn trong tay Ngài và đầu phục nơi chân Ngài (Phu 33:3). Chúng ta cũng được nương nơi vai Ngài (c.12) và có cánh tay đời đời của Ngài ở dưới mình (c.27). Không ngạc nhiên gì khi Môi-se kêu lên: “Hỡi dân được Đức Giê-hô-va cứu rỗi, ai giống như ngươi?” (c.29).

Môi-se không xem luật pháp như một gánh nặng từ Đức Chúa Trời nhưng như một cơ nghiệp giàu có (c.4). Y-sơ-ra-ên sẽ hưởng một xứ tốt đẹp, nhưng cơ nghiệp lớn nhất của họ là Lời Đức Chúa Trời nuôi dưỡng họ, bảo vệ họ và hướng dẫn họ. “Chứng cớ Chúa là cơ nghiệp tôi đến đời đời; Vì ấy là sự mừng rỡ của lòng tôi” (Thi 119:111). Không giống như các dân tộc quanh họ, Y-sơ-ra-ên không có một vua loài người cai trị dân sự, vì Đức Chúa Trời là Vua họ, và ngôi Ngài là ngôi thương xót trên hòm giao ước (Phu 33:5; Thi 80:1). Bi thảm thay khi sau đó Y-sơ-ra-ên cầu xin một vua và đặt niềm tin họ nơi cánh tay xác thịt (Phu 17:14-20; ISa 8:1-9:27).


Phước lành của Đức Chúa Trời cho các chi phái (Phu 33:6-25). Đức Chúa Trời không chỉ thấy toàn dân tộc, là dân Y-sơ-ra-ên, Ngài còn thấy những chi phái riêng biệt và ấn định những phước lành cho họ. Giống như thầy tế lễ cả, Chúa mang tên những chi phái riêng biệt nơi lòng Ngài (Xu 28:15-30). Chúng ta đã chú ý rằng Si-mê-ôn không được đề cập, nhưng tất cả những chi phái khác được đề cập, kể cả Giô-sép cùng với hai con trai ông là Ép-ra-im và Ma-na-se. Thứ tự như sau:

-Ru-bên, Giu-đa, Lê-vi – các con trai Lê-a (Phu 33:6-11)

-Bên-gia-min, Giô-sép các con trai Ra-chên (c.12-17)

-Ép-ra-im, Ma-na-se các con trai Giô-sép (c.17)

-Sa-bu-lôn, Y-sa-ca các con trai Lê-ai (c.18-19)

-Gát con trai Xinh-ba (c.20-21)

- Đan, Nép-ta-li các con trai Bi-la (c.22-23)

-A-se, con trai Xinh-ba (c.24-25)


Vì Ru-bên (c.6) là con trưởng của Gia-cốp, ông được đề cập trước tiên, dù tội lỗi của Ru-bên (Sa 35:22) khiến ông mất các quyền lợi của con trưởng (Sa 49:3-4) mà sau đó được dành cho Giô-sép (ISu 5:1-2). Nhưng Môi-se không nói gì về điều này! Gia-cốp nói rằng chi phái này sẽ không trội hơn, nhưng Môi-se cầu nguyện để chi phái này sẽ sống, nghĩa là phát triển và thịnh vượng. Các học viên Hê-bơ-rơ không nhất trí về cách dịch của mệnh đề cuối. Phải chăng đó là “nguyện số người của nó chẳng ít” hay là “và nguyện số người của nó ít”? Ông đang cầu xin phước lành hay sự xét đoán? Dẫu tội lỗi ông chống lại cha ông, Ru-bên đã cầu thay cho Giô-sép (Sa 37:19-22 Sa 42:22) và sẵn sàng trao những con trai ông làm sự bảo đảm cho Bên-gia-min (Sa 42:37). Dòng dõi Ru-bên định cư cùng với Gát và Ma-na-se trong địa phận phía Đông sông Giô-đanh. Nhưng họ đã đi đầu đội quân trong cuộc chinh phạt Ca-na-an (Gios 4:12) và không trở về xứ mình cho đến sau khi cuộc chinh phạt hoàn tất (Gios 22:1-9), giữa lần kiểm tra dân số lần thứ nhất và lần thứ hai trong sách Dân-số ký (Dân 1:1-54; Dân 26:1-55), Ru-bên mất 2770 người, nhưng chi phái này có một tiếng tốt vì là những chiến sĩ can đảm (ISu 5:10). Thú vị rằng không lãnh đạo dân sự hoặc quân sự hay tiên tri nào xuất thân từ chi phái Ru-bên.


• Giu-đa (Phuc 33:7) là chi phái nhà vua (Sa 49:10), nhưng đó cũng là một chi phái quân sự, vì những người nam Giu-đa đã đi trước quân đội suốt những hành trình của dân tộc (Dân 2:9). Môi-se cầu xin Đức Chúa Trời nghe những lời cầu nguyện của Giu-đa, ban cho họ chiến thắng trên chiến trường, và đem những đội quân của họ trở về nhà an toàn.


• Chi phái (Phuc 33:8-11) được biệt riêng làm chi phái tế lễ (thầy tế lễ và người Lê-vi) và người Lê-vi giúp việc cho các thầy tế lễ ở nơi thánh. Gia-cốp kết nối Si-mê-ôn và Lê-vi (Sa 49:5-7), và tuyên bố rằng, vì tội lỗi của họ, hai chi phái này sẽ bị tản lạc trong Y-sơ-ra-ên. Si-mê-ôn đã trở thành một phần của Giu-đa và người Lê-vi sống trong 48 thành đặc biệt được ấn định cho họ (Gios 21:1-45). Việc làm tản lạc người Lê-vi trở thành một phước hạnh cho dân Do-thái, vì người Lê-vi biết và dạy luật pháp, và có thể chỉ dẫn dân sự. Dù mang tính lập dị, Gia-cốp hấp hối đã không nói gì về chức vụ thuộc linh của con cháu Lê-vi.


Các thầy tế lễ có U-rim và Thu-mim (Xu 25:7; Xu 28:30), đó có lẽ là hai viên đá quý được giữ nơi bảng đeo ngự của thầy tế lễ cả và được sử dụng để xác định ý muốn của Đức Chúa Trời (ISa 23:6-9). “Người thánh” trong Phu 33:8 (“người mà ngươi ưa thích”, NIV) có lẽ là Môi-se, người cùng với A-rôn xuất thân từ chi phái Lê-vi. Môi-se đã bị thử nghiệm cách gay go tại Ma-sa (Xu 17:1-7) và tại Mê-ri-ba (Dân 20:1-13) và các thầy tế lễ cùng người Lê-vi đứng cùng ông. Chính những người Lê-vi đã giết những kẻ thờ hình tượng sau tình tiết bò con vàng (Xu 32:25-29), bày tỏ lòng nhiệt thành của họ đối với Chúa.

Họ đặt sự vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời lên trên tình yêu của họ đối với gia đình và dân tộc họ (Mat 10:37; Lu 14:26). Đó sẽ là đặc quyền và trách nhiệm của các thầy tế lễ để bảo vệ và sử dụng U-rim và Thu-mim, dạy cho dân sự luật pháp, và đảm trách việc thờ phượng ở nơi thánh. Môi-se cầu nguyện để chi phái Lê-vi, chi phái của ông, sẽ được ban năng lực cho nhiều chức vụ và được bảo vệ khỏi kẻ thù họ.


• Bên-gia-min con út của gia-cốp (Phuc 33:12) được cha ông yêu mến nhiều nhất (Sa 35:18; Sa 44:20), cũng được Chúa yêu và bảo vệ. Chi phái Bên-gia-min bé nhỏ ở sát ngay biên giới phía Bắc của Giu-đa còn thành Giê-ru-sa-lem ở biên giới phía Bắc của Giu-đa và biên giới phía Nam của Bên-gia-min. Vì nơi thánh sẽ ở Giê-ru-sa-lem, Bên-gia-min sẽ ở gần với Chúa, Đấng ngự ở đó với dân sự Ngài. Như một người cha chăm sóc một người con, Đức Chúa Trời sẽ mang Bên-gia-min trên lưng Ngài, giữa hai vai người (4) và che chở người khi nguy hiểm. Những người Nam Bên-gia-min có một tiếng tốt hoàn toàn như những chiến sĩ (Cac 5:14).


Nhiều nơi được dành cho Giô-sép, Ép-ra-im và Ma-na-se (Phuc 33:19-17) hơn bất cứ chi hái nào khác, nhưng Gia-cốp đi theo kiểu mẫu tương tự (Sa 49:22-26). Gia-cốp đã ban các quyền của con trưởng cho Giô-sép và cũng đặt con thứ ông là Ép-ra-im làm trưởng nam trên Ma-na-se (Sa 48:1-33). Môi-se chúc phước cho Giô-sép với “những thứ quý báu” được kể như nước dồi dào, đất tốt, vụ mùa kết quả, và gỗ quý cùng khoáng vật từ các đồi và núi. Ông nói về “mặt trời và mặt trăng” vì đây là những sự sáng Đức Chúa Trời đặt đảm nhận những mùa (Sa 1:14). “Đấng ở trong bụi gai” (Phuc 33:16) là chính Chúa khi Ngài hiện ra cho Môi-se (Xu 3:1-22). Nhóm từ “được biệt khỏi anh em người” cũng có thể được dịch là “một hoàng tử giữa anh em người”. Điều này đúng không chỉ về nghĩa đen ở Ê-díp-tô mà còn về thuộc linh và đạo đức trong gia đình. Cũng là một người tin kính.


Môi-se ví sánh Giô-sép và các con trai người (“vinh hiển của người”) như một bò đực đầu lòng xinh đẹp có sừng nhọn đánh bại mọi kẻ thù. Từ “đầu lòng” (“con đầu tiên”) có ý nghĩa, vì Giô-sép hưởng phước hạnh của con trưởng khi Gia-cốp khước từ Ru-bên và ép-ra-im được lập làm con trưởng trên anh người là Ma-na-se. Chi phái Ép-ra-im và Ma-na-se nổi tiếng về đất kết quả, bầy chiên và bầy gia dúc đông đúc của họ, và sức mạnh quân sự của họ. Tiếc thay, họ kiêu ngạo về tổ tiên họ và đôi khi từ chối hợp tác với các chi phái khác, bởi đó gây ra những vấn đề cho dân tộc.


• Sa-bu-lôn và Y-sa-ca (Phuc 33:18-19) được mô tả là hai chi phái sẽ nhận phước dư dật từ đất và biển. Gia-cốp đồng nhất hóa Sa-bu-lôn với biển (Sa 49:19) và Y-sa-ca với đất (c.14-15), dù Y-sa-ca ở phần biển Ga-li-lê và Sa-bu-lôn chỉ cách Biển Địa Trung hải vài dặm. Hai nhóm từ “đi ra ngoài” và “trong các trại mình” bao gồm toàn bộ đời sống hằng ngày: đi ra ngoài để làm việc, trở về nhà để nghỉ ngơi. Môi-se chúc phước cho mọi khía cạnh của đời sống họ, điều chúng ta có thể gọi là “những nhiệm vụ hằng ngày của đời sống”. Bức tranh trong Phuc 33:19 là bức tranh thờ phượng được tiếp theo bằng một bữa tiệc cộng đồng, nhưng dân Do-thái phải đem những của lễ họ đến nơi thánh trung tâm nơi họ có thể dự bữa tiệc gia đình. Một số người nghĩ đó là bức tranh về hai chi phái chia sẻ những tặng vật của họ với anh chị em của họ và tạ ơn Đức Chúa Trời về sự rời rộng của Ngài, một cách dịch tiếng Do-thái nói về một cuộc dã ngoại của gia đình.


• Chi phái Gát (Phuc 33:20-21) ở phía Đông sông Giô-đanh (Phuc 3:12-16) cùng với Ry-bên và Ma-na-se. Môi-se biết rằng Gát đã chọn xứ tốt nhất cho bầy chiên và bầy gia súc của họ. Nhưng Gát cũng là một chi phái can đảm đã cử đã cử những chiến sĩ vào Ca-na-an để giúp chinh phạt xứ (Gios 1:12-18; Gios 4:12-18; Gios 22:1-4). Khi Y-sơ-ra-ên đánh bại các dân tộc ở phía Đông sông Giô-đanh, Gát nhận “phần của sư tử” cho chính mình.


• So sánh Đan (Phuc 33:22) với “sư tử tơ” là gợi ý rằng chi phái này chưa trưởng thành hoàn toàn, nhưng nó bày tỏ lời hứa lớn và có sức mạnh lớn. Sư tử tơ sẽ lớn lên thành một sư tử! Mệnh đề thứ hai được dịch là “người lẫn tránh kẻ ác”. Gia-cốp so sánh Đan với một con rắn (Sa 49:16-17) và con rắn với sư tử đều được liên tưởng đến Sa-tan (Sa 3:1-24; Kh 12:9,14-15; Kh 20:2; IPhi 5:8). Chi phái Đan đã trở thành kẻ thờ thần tượng và bội đạo (Cac 17:1-18:21).


• Nép-ta-li (Phuc 33:23) được hứa ban dư dật phước lành của Chúa, được phát triển về phía Nam, nơi tọa lạc Biển Ga-li-lê và phát triển về phía Tây, hướng đến Biển Địa Trung Hải. Ba-rác xuất thân từ chi phái này, và các chiến sĩ từ Nép-ta-li đã giúp người cùng Đê-bô-ra (Cac 5:18) và Ghi-đê-ôn (Cac 7:23). Nép-ta-li được đề cập trong lời tiên tri về Đấng Mê-si-a (Es 9:1; Mat 4:13-16).


• Tên A-se (Phuc 33:224-25) nghĩa là “được phước” và Môi-se cầu xin Chúa chúc phước cho chi phái này được nhiều con cháu, được đẹp lòng anh em mình và được thịnh vượng nhiều. Dùng dầu ô-li-ve quý giá nơi chân sẽ là một dấu hiệu của sự giàu có, và địa phận của A-se đã được chúc phước với nhiều rừng cây ô-li-ve. Từ được dịch là “giày” cũng được dịch là “then cửa”, chỉ về sự an toàn chắc chắn ở cửa thành. Vì vậy, chi phái này sẽ hưởng sự màu mở, tình yêu anh em, sự thịnh vượng và sự an toàn, vì Chúa sẽ ban cho họ năng lực hằng ngày để hoàn thành công việc họ. Họ có thể cần điều gì hơn nữa?


Hạnh phúc của dân sự Đức Chúa Trời (Phuc 33:26-29). Đây là những lời cuối cùng Môi-se viết, và những lời ấy tập trung về hạnh phúc của dân sự Đức Chúa Trời vì cớ những phước lành của Ngài. Khi Môi-se hoàn tất việc chúc phước cho các chi phái, ông hình dung ra cả dân tộc và niềm vui mừng Y-sơ-ra-ên phải có vì họ biết Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống. Đức Chúa Trời của họ không phải là một thần tượng chết ngồi trong một đền thờ, Ngài cỡi trên các tầng trời để đến giúp đỡ dân sự Ngài! (Thi 18:10; Thi 68:33). Nhưng hơn thế, Đức Chúa Trời là “nhà” và nơi ở của Y-sơ-ra-ên (Thi 90:1) và họ ở trong Ngài dù họ đi đâu khi chúng ta tiến về phía trước bằng đức tin, Ngài đánh bại kẻ thù và giữ vững chúng ta trong chiến trận.


Y-sơ-ra-ên sẽ đối mặt với nhiều kẻ thù và đánh nhiều trận chiến khi họ chinh phục Đất Hứa, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ chiến thắng. Họ sẽ ở trong một xứ an toàn và màu mỡ, được biệt riêng khỏi những dân tộc ngoại giáo nhưng làm chứng cho họ về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời sẽ là Đấng cứu giúp, cái khiên và thanh gươm của họ, vì vậy họ không có gì để sợ hãi.

Hiểm họa lớn nhất của Y-sơ-ra-ên không phải là những quân đội quanh họ mà đúng hơn là những tham muốn trong họ. Tấm lòng họ cần được dứt bỏ tình yêu của họ đối với những thần tượng và những tội lỗi có liên quan với sự thờ hình tượng. Cuối cùng, dân Do-thái đã chấp nhận và thờ lạy các thần của những dân tộc họ đánh bại, và điều này dan đến sự suy đồi về thuộc linh và đạo đức của dân tộc. Thay vì “đạp các nơi cao của chúng nó” (Phuc 33:29), Y-sơ-ra-ên đã ngày càng lún sâu hơn trong hố tội lỗi, cho đến lúc Đức Chúa Trời phải đưa họ vào tình trạng bị giam cầm.


2. Một sự cảnh cáo cho các tôi tớ của Đức Chúa Trời (Phu 34:1-8)

Sự qua đời sắp đến của Môi-se là một chủ đề tái hiện trong những chương cuối này (Phuc 31:1-2,14,16,26-29 Phuc 32:48-58; Phuc 33:1; Phuc 34:1-3,10,12). Môi-se biết việc sắp xảy ra, vì sự chết là một sự chỉ định (He 9:27), không phải là một tai nạn. Môi-se đã khởi đầu chức vụ của ông như một người chăn chiên đơn độc, chăm sóc bầy chiên mình gần Hô-rếp (Si-nai), núi của Đức Chúa Trời (Xu 3:1-22), và giờ đây ông sẽ kết thúc chức vụ của mình, để bầy chiên của ông lại cho Giô-suê và đi lên núi Nê-bô một mình để gặp Đức Chúa Trời.


Nhưng sự nhấn mạnh trong những cảnh này không phải là sự qua đời của ông, mà đúng hơn là việc Chúa không thể cho ông vào Đất Hứa vì cớ tội hấp tấp của ông tại Ka-đe (Dân 20:1-29). Thay vì nói với hòn đá, Môi-se dã đập hòn đá trong sự tức giận và nói: “Hãy nghe, hỡi dân phản nghịch, chúng ta phải đem nước cho các ngươi từ hòn đá này sao?” (c.10, NIV).

Thái độ của ông, những hành động của ông (đập hòn đá) và lời nói của ông đều sinh ra bởi xác thịt chớ không bởi Thánh Linh và được dùng để làm vinh hiển ông cùng A-rôn chớ không phải Chúa. Môi-se đã không thánh hóa Đức Chúa Trời trong điều ông nói và làm, vì vì điều này, ông đã bị giữ bên ngoài Đất Hứa (Phuc 1:37-40; Dân 20:12-13). Ông đã cầu nguyện thành tâm để Chúa đổi ý Ngài, nhưng Chúa từ chối làm vậy (Phuc 3:23-26 động từ cho thấy rằng Môi-se đã thường cầu nguyện điều này). Trên núi Nê-bô, Môi-se có lẽ ở cách biên giới của Đất Hứa 6 dặm, nhưng Chúa sẽ không để ông đi vào.


Phải chăng hình phạt này lớn hơn sự vi phạm? Không chút nào. Alexander Maclaren đã nói: “Bất cứ vi phạm nào của Môi-se cũng không thể là một vi phạm nhỏ”. Môi-se là lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời; ông là người ban luật pháp và là kiến trúc sư của dân Do-thái và Do-thái giáo. Ông biết rằng những đại quyền càng lớn, những trách nhiệm càng nặng. Qua điều Môi-se làm, ông đã không qui vinh hiển cho Đức Chúa Trời, và vì tội lỗi đó ông phải chịu sửa phạt. Đức Chúa Trời trong ân đển Ngài tha thứ tội lỗi chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời trong sự tể trị của Ngài cho phép tội lỗi chúng ta đem lại những hậu quả đáng buồn của nó trong đời sống chúng ta.


Đức Chúa Trời cho Môi-se khả năng nhìn thấy toàn xứ, với Nép-ta-li ở phía Bắc,Ép-ra-im và Ma-na-se ở vùng trung tâm, còn Giu-đa ở vùng Negev, và ở Xoa về phía Nam. Chúa bảo đảm với Môi-se rằng Ngài sẽ giữ giao ước Ngài với các trưởng tộc và ban cho Y-sơ-ra-ên xứ kỳ diệu này. Tuy nhiên, tất cả không bị đánh mất.

Vì Môi-se thật sự đã đến xứ Thánh nhiều thế kỷ sau đó khi ông và Ê-li cùng với Chúa Giê-xu ở trong sự vinh hiển trên núi Hóa Hình (Mat 17:1-3; Lu 9:28-31). Môi-se thậm chí đã nói chuyện với húa Giê-xu về “sự chết của Ngài” (cuộc kinh lý) mà Ngài sẽ thực hiện trên thập tự giá ở Giê-ru-sa-lem (Môi-se bết điều gì đó về một cuộc kinh lý!).


Sau khi nhìn xem xứ, Môi-se đã qua đời và Chúa cùng Thiên sứ Mi-chen (Giu 1:9) đã chôn ông trên núi Nê-bô, trong một ngôi mộ mà không ai có thể xác định vị trí hay nhận biết. Cuộc tranh chấp giữa Mi-chen và ma quỷ thì không được giải thích bất cứ chỗ nào trong Kinh Thánh. Nguyên nhân chính Giu-đe đề cập đến sự kiện lạ lùng này là để bẻ bác những kẻ nói xấu đến các chức sắc (c.8,10), điều mà ngay cả một thiên sứ trưởng thánh sẽ không làm, dù “chức sắc” này chính là Sa-tan!Sự kiện này không được ghi lại trong Kinh Thánh; Nó xuất xứ từ một sách ngụy tác mang tên “sự thừa nhận của Môi-se” Mi-chen có một chức vụ đặc biệt đối với dân Do-thái (Dân 10:13-21; Dân 12:1) và cũng là một kẻ thù của Sa-tan, vì Sa-tan muốn tiêu diệt dân Do-thái (Kh 12:7-9).

Tên Mi-chen nghĩa là “Ai giống như Đức Chúa Trời?” và Sa-tan đa nói: “Ta sẽ giống Đấng Rất Cao (Es 14:14). Phải chăng Sa-tan muốn sử dụng xác Môi-se để tạo ra những vấn đề trong dân Do-thái là dân sắp xâm lấn những thành luỹ của nó ở Ca-na-an liệu Sa-tan có thể cám dỗ dân Do-thái thờ phượng vị lãnh đạo đã chết của họ? Chúng ta không biết và thật vô ích để suy đoán.


Môi-se đã qua đời “theo lời của Đức Giê-hô-va” (Phuc 34:5), và đó phải là mục tiêu của mọi tín hữu. Sự qua đời của các thánh Đức Chúa Trời rất quý báu đối với Ngài (Thi 116:15) và do đó Ngài sẽ không cho phép nó xảy ra tình cờ, trừ khi tín đồ đó chống lại ý muốn Ngài. Các ngày Đức Chúa Trời “định cho chúng ta đã được viết ra (Thi 139:16) và dù chúng ta không thể sống quá những ngày ấy, chúng ta có thể thúc đẩy sự chết của mình bằng sự dại dột và tội lỗi của chúng ta.


3. Một gương cho các tôi tớ của Đức Chúa Trời (Phuc 34:9-12)

Có những lúc khi Môi-se phàn nàn với Đức ChúaTrời vì công việc của ông khó khăn,và hơn một lần ông sẵn sàng rút lui, nhưng mặc cho những yếu đuối rất con người này, Môi-se vẫn là một tôi tớ trung tín. Thật ra, trong vấn đề về sự trung tín,Môi-se thậm chí được so sánh với Đấng Christ (He 3:1-6).


Môi-se đã trung tín bước đi với Đức Chúa Trời, và ông nói với Đức Chúa Trời với tư cách một người nói với bạn mình (Xu 33:11; Dân 12:7-8). Bí quyết của đời sống ông không phải là những khả năng của riêng ông – ông tuyên bố ông chẳng có gì cả, hay thậm chí sự học vấn của ông ở Ê-díp-tô (Cong 7:22), mà là sự ăn ở khiêm nhường của ông đối với Chúa. Ông đã dành thời gian ở với Đức Chúa Trời, ông lắng nghe Lời Đức Chúa Trời, và ông làm theo những mệnh lệnh của Đức Chúa Trời.


Một điều gương mẫu khác về Môi-se là sự tận tâm của ông đối với dân sự ông. Vào hai dịp, Đức Chúa Trời định tiêu diệt dân Do-thái và khởi đầu một dân tộc mới cùng với Môi-se, và Môi-se đã từ chối đề nghị này (Xu 32:9-14; Dân 14:10-25). Môi-se là một người chăn chiên thật sẵn sàng phó sự sống mình vì bầy chiên các ông (Xu 32:30-35). Có quá nhiều người tự xưng là “lãnh đạo Cơ-đốc” thật sự chỉ là những người làm thuê, làm công việc họ vì những gì họ có thể nhận được từ đó (Gi 10:12-14). Khi có rắc rối hay nguy hiểm, người làm thuê sẽ trốn đến một nơi an toàn, nhưng người chăn chiên thật chạy đến với Chúa để được sức mạnh cần thiết để thực hiện công việc.


Môi-se là một người cầu thay trung tín. Nhiều lần ông đã cúi mặt và cầu xin Đức Chúa Trời đừng xét đoán dân sự, và ở trên núi, ông đã cầu nguyện cho đến khi ông biết chắn Chúa sẽ đồng đi với họ trên hành trình của họ. Giống như các sứ đồ, Môi-se là một người tập trung vào “sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo” (Cong 6:4). Như Chúa Giê-xu đối với các sứ đồ Ngài, ông dạy Lời Chúa cho dân sự và sau đó cầu nguyện cho họ chấp nhận Lời Chúa và tăng trưởng.


Chúa đã chuẩn bị cho Môi-se về chức vụ của ông và mất 80 năm để thực hiện điều đó. Ông được nuôi dưỡng với tư cách một hoàng tử ở xứ Ê-díp-tô và được dạy cho tất cả những gì người khôn ngoan biết. Một số học giả tin rằng Môi-se được chuẩn bị để làm Pha-ra-ôn tương lai. Nhưng Môi-se đã từ bỏ mọi điều này để hòa mình với dân sự của Đức Chúa Trời trong hoạn nạn của họ (He 11:24-27). Đức Chúa Trời ban cho Môi-se một “khoá nghiên cứu” mất 40 năm với tư cách một người chăn chiên trong xứ Ma-đi-an, một nơi xa lạ đối với một con người có trong đầu mọi học thức của Ê-díp-tô. Nhưng có những bài học phải được học trong nơi vắng vẻ và yên lặng, và qua việc chăm sóc bầy chiên khờ dại, việc mà Môi-se chưa bao giờ có thể học trong đại học ở Ê-díp-tô. Đức Chúa Trời có những cách khác nhau để huấn luyện cái tôi tớ Ngài, và sự dạy dỗ của mỗi bài học đều do Chúa soạn ra.


Trong nhiều khía cạnh, Môi-se gây ấn tượng như một người rất giống Đấng Christ. Giống như Chúa Giê-xu, ông được sinh ra trong một gia đình tin kính vào một thời điểm gay go trong lịch sử Do-thái, và giống như Chúa Giê-xu, mạng sống ông bị đe dọa.

Khi Môi-se từ bỏ những của cải Ê-díp-tô, điều đó giống với Chúa Giê-xu. Đấng đã trở nên nghèo khó để Ngài có thể chia sẻ của cải thuộc linh với nhiều người (IICo 8:9). Giống như Chúa Giê-xu, Môi-se bị dân sự ông khước từ khi ông tìm cách giúp họ lần đầu tiên (Xu 2:11-15), nhưng ông được họ chấp nhận khi ông đến với họ lần thứ hai (Xa 12:10-13:1).


Môi-se là một người nhu mì, và Chúa Giê-xu đã phán “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường” (Mat 11:28-30). Môi-se đã hoàn tất công việc Đức Chúa Trời giao cho ông làm (Xu 39:42-43; Xu 40:33) và Con Đức Chúa Trời cũng vậy (Gi 17:4). Trước khi trở về trời, Chúa Giê-xu đã để lại những môn đồ được huấn luyện để tiếp tục công tác rao giảng Tin Lành trên thế giới, và Môi-se đã để lại Giô-suê với các trưởng lão để dẫn dắt dân sự trong đường lối Chúa. Mặt của Chúa chúng ta tỏa sáng trên Núi Hóa Hình, và mặt của Môi-se tỏa sáng khi ông từ núi gặp Đức Chúa Trời và trở xuống (Mat 17:2; Xu 34:20-30). Môi-se “đầy quyền năng trong lời nói và việc làm” (Cong 7:22), và Chúa Giê-xu cũng vậy khi Ngài thi hành chức vụ trên đất (Lu 24:19).


Tấm gương hoàn hảo duy nhất là Chúa Giê-xu Christ, nhưng khi chúng ta đọc về Môi-se, ông nhắc nhở chúng ta về Chúa của chúng ta và khích lệ chúng ta trở nên càng giống Cứu Chúa của chúng ta trong mọi việc.





13. ÔN LẠI SÁCH PHỤC-TRUYỀN LUẬT-LỆ KÝ - HỌC ĐỂ NHỚ –NHỚ ĐỂ HỌC (Phuc 1:1-34:12)


John Newton đã viết vào tuổi 82: “Trí nhớ của tôi gần như đã mất, nhưng tôi nhớ hai điều: rằng tôi là một tội nhân lớn và Đấng Christ là một Cứu Chúa vĩ đại.”


Đó là mục đích Môi-se nghĩ đến khi ông rao những bài giảng mà chúng ta gọi là Sách Phục-truyền luật-lệ ký, ông muốn dân sự nhớ những điều thật sự quan trọng. Nếu họ nhớ họ là những tội nhân được cứu bởi ân điển Đức Chúa Trời và những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ, tránh được những cám dỗ nguy hiểm quanh họ, và hưởng cơ nghiệp Đức Chúa Trời chuẩn bị cho họ.


Chúng ta có thể ôn lại những bài học chính của sách Phục-truyền luật-lệ ký bằng cách để ý điều Môi-se bảo chúng ta nhớ.


1. Hãy “nhớ lại Đức Giê-hô-va (Phuc 8:18)

Lời Đức Chúa Trời được ban ra để chúng ta có thể biết rõ hơn Đức Chúa Trời của Lời Ngài (1). Mỗi điều Môi-se tuyên bố với dân sự là một sự bày tỏ về tâm trí và tấm lòng của Đức Chúa Trời. Mỗi luật lệ, mỗi lễ nghi, mỗi sự cấm kỵ, và mỗi ký ức về những sự kiện quá khứ đều chỉ về Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên. Qua những việc lớn quyền năng và những lời ân hậu của lẽ thật, Chúa đã bày tỏ chính Ngài cho Y-sơ-ra-ên khi Ngài chẳng tỏ cho dân tộc nào khác, và Môi-se đã ghi lại những lời nói và việc làm này cho chúng ta đọc hôm nay. Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời là sự hiểu biết quan trọng nhất của đời sống.


Y-sơ-ra-ên phải nhớ rằng Chúa là Chúa duy nhất (Phu 6:4). Họ sống trong một thế giới thờ thần tượng đầy mê tín mà mỗi dân tộc có các thần riêng của họ, và khi bạn đi từ quốc gia này sang quốc gia khác, bạn thay đổi thần mình! Nhưng dân Y-sơ-ra-ên tin rằng có một Đức Chúa Trời tối cao duy nhất, Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, danh Ngài là Đức Giê-hô-va. “Ta là Ta” Điều răn thứ nhất nói rằng “Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác” (Xu 20:3) và điều răn thứ hai cấm dấn Do-thái làm một hình tượng về Đức Chúa Trời họ hay về bất cứ vật gì khác trong vũ trụ mà họ có thể thờ lạy như một thần.


Chúa duy nhất này là Đấng sáng tạo muôn vật và có quyền năng vô hạn. Ngài bày tỏ quyền năng đó qua việc giáng những tai vạ cho Ê-díp-tô và sau đó mở Biển Đỏ để Y-sơ-ra-ên có thể ra đi. Ngài bày tỏ vinh hiển Ngài ở núi Si-nai nhưng Ngài cũng bày tỏ ân điển và sự thương xót của Ngài khi Ngài lập một giao-ước với Y-sơ-ra-ên (Phuc 4:32,37). Chúa là Đức Chúa Trời thành tín giữ Lời Ngài và sẽ không thất tín với dân sự Ngài. Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên yêu dân sự Ngài và muốn họ yêu Ngài. Ngài ghen tương với dân Ngài (c.24 5:9; Phuc 16:16), giống như một người chồng ghen tương với vợ mình.


Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời sửa phạt dân Ngài nếu họ bất tuân Ngài. Giao-ước của Ngài cho biết rõ rằng Ngài sẽ chúc phước khi dân Ngài vâng lời Ngài và giáng sự sửa phạt khi họ bất tuân Ngài, và cả hai hành động đều là những chứng cớ về tình yêu cùng sự thành tín của Ngài. Trong sự thương xót của Ngài, Ngài sẽ tha thứ nếu dân sự ăn năn và trở lại với Ngài, nhưng Ngài sẽ không dung thứ cho sự chống nghịch.


Đức Chúa Trời tuyên bố Lời Ngài qua những tôi tớ được chọn như Môi-se, và Ngài mong dân sự Ngài lắng nghe Lời Ngài, ghi nhớ và vâng theo. Giống như Y-sơ-ra-ên là một dân của Lời Chúa, Hội thánh ngày nay cũng là một dân của Lời Chúa. Đức tin của chúng ta không phải là cái gì đó chúng ta tự tạo ra, vì nó được ban cho chúng ta cách nhân từ qua Lời Chúa, Lời Đức Chúa Trời là sự sống của chúng ta,và không có Lời Chúa, chúng ta không thể biết Đức Chúa Trời, biết ý muốn Đức Chúa Trời, hay thờ phượng và hầu việ Đức Chúa Trời cách xứng đáng. Những điều răn của Đức Chúa Trời là những điều Đức Chúa Trời có thể làm được.


Chúng ta được đặc quyền có Lời Chúa được viết ra bằng ngôn ngữ của chúng ta, được tự do để đọc và chia sẻ nó cho người khác. Giống như Y-sơ-ra-ên, Hội thánh phải là một “dân của lời Chúa”, vì mọi điều chúng ta cần cho đời sống và sự tin kính đều được tìm thấy trong lời được hà hơi của Đức Chúa Trời (IIPhi 1:3; IITi 3:16-17).


2. Khá nhớ rằng ngươi đã làm tôi mọi” (Phu 5:15)

Lời khuyên này cũng được tìm thấy trong Phuc 15:15; Phuc 16:3,12; Phuc 24:18-22. Mỗi lần dân Do-thái dự lễ Vượt Qua, họ được nhắc nhở về những thể thách dân tộc trải qua ở Ê-díp-tô, và điều này phải dẫn họ đến chỗ yêu mến Chúa càng hơn về điều Ngài đã làm cho họ. Khi hành trình trở nên khó khăn, dân Do-thái thường muốn trở lại với sự an toàn và tình trạng nô lệ ở Ê-díp-tô thay vì tin cậy Chúa và hưởng sự tự do Ngài ban cho họ.

Mặc dù chúng ta không muốn nhắc lại những tội lỗi của quá khứ, nhưng có lợi cho chúng ta để nhớ Chúa đã cứu chúng ta ra khỏi điều gì khi chúng ta tin nhận Đấng Christ. Dân Do-thái phải nhớ ngày Chúa đã đem họ ra khỏi ách nô lệ của họ Phuc 16:3). Không có gì sai trái với việc biệt ra “những ngày kỷ niệm” đặc biệt khi chúng ta ôn lại sự nhân từ của Chúa đối với chúng ta.


Việc dân Do-thái từng là khách lạ trong một xứ ngoại bang phải thúc đẩy họ đặc biệt tử tế với những khách lạ trong xứ (Phuc 10:19). Điều đó cũng phải khích lệ họ tử tế với tôi tớ của họ (Phuc 24:14). “Yêu mến lẫn nhau” đơn giản có nghĩa là chúng ta đối xử với người khác như cách Chúa đối xử với chúng ta.


3. “Hãy nhớ Đức Chúa Trời đã dẫn dắt các ngươi thế nào” (Phuc 8:2)

“Và hãy nhớ rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn các ngươi trọn con đường”. Đức Chúa Trời không bỏ rơi Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ê-díp-tô, nhưng dẫn dắt họ bằng một trụ mây ban ngày và một trụ lửa ban đêm. Dân Do-thái không phải lúc nào cũng hiểu con đường Chúa chọn, nhưng Ngài không bao giờ dắt họ đi lạc lối. Chúng ta có thể chắc rằng ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ dẫn chúng ta đến nơi mà ân điển Đức Chúa Trời không thể nắm giữ chúng ta hay quyền năng Đức Chúa Trời không thể giúp chúng ta quy vinh hiển danh Chúa.


Một trong những bài học khó nhất mà dân Đức Chúa Trời phải học là chấp nhận ý muốn Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài mà không chống đối hay than phiền. Nếu dân Do-thái để thời gian nhìn lại và nhớ lại hành trình của họ từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an, họ sẽ thấy rằng mỗi giai đoạn trong hành trình đều dạy họ nhiều hơn về chính họ và về Chúa. Họ sẽ thấy mình đang sống trong quá khứ và sợ hãi tương lai, nghi ngờ tình yêu Đức Chúa Trời và khả năng Ngài gúp họ vượt qua khó khăn. Sự phàn nàn thường xuyên của họ bày tỏ họ thiếu lòng yêu mến đối với Chúa, và sự chống nghịch của họ cho thấy sự thiếu đầu phục của họ đối với ý muốn Ngài.


Dù sống ở đâu, nhà truyền giáo J.Hudson Taylor đều trao tấm bảng ghi: “Ebenezer-Jehovah-Jireh”. Những từ tiếng Hê-bơ-rơ này nghĩa là “Chúa đã giúp đỡ chúng ta cho đến nay. Chúa chắc chắn sẽ gúp đỡ chúng ta”. (ISa 7:12; Sa 22:14). Khi dân Đức Chúa Trời nhìn lại, chúng ta thấy rằng Chúa đã thành tín, và khi chúng ta nhìn phía trước, chúng ta biết Ngài sẽ chu cấp. Vậy, tại sao phải lo lắng và phiền muộn?


4. Hãy nhớ núi Si-nai (Phuc 4:9-13)

Chúa không dẫn Y-sơ-ra-ên trực tiếp từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an vì không sẵn sàng để vào xứ và đối đầu với kẻ thù. Sự tự do không giống như sự trưởng thành. Thật ra, không có sự trưởng thành, sự tự do là một điều nguy hiểm, Đức Chúa Trời không ban luật pháp Ngài cho Y-sơ-ra-ên như một phương tiện của sự cứu rỗi vì Ngài đã cứu chuộc họ bằng huyết của Chiên Con lễ Vượt Qua. Ngài ban cho họ luật pháp Ngài để hoàn thiện họ, vì họ giống như trẻ con cần một người giữ trẻ (Ga 4:1-7).


Dân Y-sơ-ra-ên học được gì ở núi Si-nai? Điều quan trọng trước tiên, họ biết rằng Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời thánh khiết Đấng phải được kính sợ và tôn trọng. Đức Chúa Trời đã bày tỏ đại quyền và vinh hiển Ngài tại núi Si-nai và dân sự run rẫy sợ hãi. Nhưng nếu sự sợ hãi đó không trở nên sự tôn kính trong lòng, nó không bao giờ có thể biến đổi đời sống. Y-sơ-ra-ên cũng biết rằng Đức Chúa Trời là một Đức húa Trời nhân từ và thương xót Đấng ban sự tha thứ và ban một phương tiện để thờ phượng và hầu việc Ngài.


Tuy nhiên, cũng chính tại núi Si-nai, dân sự khám phá sự nóng nảy, thiếu kiên nhẫn và sự vô tín của họ khi Môi-se ở trên núi quá lâu. Họ có một ham muốn về những thần tượng trong lòng, và họ đã thờ phượng con bò vàng. Họ đã thấy Đức Chúa Trời nhanh cóng xét đoán tội lỗi ghê gớm của họ ra sao và họ cũng biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ họ và ban cho họ một khởi đầu mới.


Mọi tín hữu phải học vâng phục ý muốn Đức Chúa Trờ như được trình bày trong Lời Đức Chúa Trời. Một thử nghiệp về sự đầu phục của chúng ta là một thiện ý chờ đợi Chúa mà không theo đuổi những điều thay thế. Cho dù bò vàng được các thầy tế lễ chấp nhận, nó vẫn là xấu xa và trái nghịch ý muốn Đức Chúa Trời.


5. Hãy nhớ ngươi đã chọc giận Đức Chúa Trời ra sao (Phu 9:7)

“Hãy nhớ và chớ quên ngươi đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi trong đồng vắng ra sao” (NKJV). Ít nhất vào hai lần, Chúa đã doạ huỷ diệt cả dân sự và lập một dân tộc mới từ Môi-se. Nhưng dân Do-thái phải được khơi gợi về điều gì? Chúa Đấng nhân từ giải cứu họ khỏi Ê-díp-tô, cũng đã ban cho họ mới thứ họ cần trong hành trình, đánh bại những kẻ thù của họ, và ban cho họ một xứ đượm sữa và mật.


Vấn đề cơ bản của họ là sự vô tín (He 3:1-4:16).

Đơn giản là họ không tin cậy Đức Chúa Trời. Họ không tin những lời hứa của Ngài hay vâng theo những điều răn của Ngài, nhưng tìm cách làm theo ý riêng mình, và điều này dẫn đến sự chống nghịch và sự sửa phạt. Và họ dường như chưa bao giờ học bài học của mình. Giống như những đứa trẻ bướng bỉnh và bất trị, dân Do-thái bị đánh đòn và trở lại ngay với tội lỗi mình!


Là con cái Chúa, chúng ta phải thú nhận rằng không có ân điển Đức Chúa Trời, không có gì tốt ở trong chúng ta (Ro 7:18) và bản chất sa ngã của chúng ta không thể thay đổi được. “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt” (Gi 3:6). Và nó sẽ luôn là xác thịt! Khả năng phạm tội vẫn ở với chúng ta, nhưng chúng ta phải bớt đi tham muốn phạm tội. Nhờ công việc thánh hóa của Thánh Linh và lời Chúa (Gi 17:17; IICo 3:18), con người bên trong của chúng ta phải càng thích ứng với Đấng Christ, khoa khát và vui mừng trong những điều thuộc về Đức Chúa Trời.


6. Hãy nhớ kẻ thù các ngươi (Phuc 25:17)

Đây không phải là một mệnh lệnh mang những mối hận thù,nhưng phải nhận biết những kẻ thù thật sự chống nghịch Chúa và chúng ta. Dân A-ma-léc đã tấn công Y-sơ-ra-ên sau cuộc kinh lý rời Ê-díp-tô và Giô-suê cùng đội quân Do-thái đã đánh bại họ (Xu 17:8-16). Đó chính là lúc Đức Chúa Trời tuyên chiến trên mọi thế hệ dân A-ma-léc cho đến khi kỷ niệm về dân tộc này sẽ bị xoá sạch khỏi mặt đất.

Dân Y-sơ-ra-ên không bị tấn công ở Ê-díp-tô nhưng sau khi Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng thế gian, xác thịt và ma quỉ không tấn công tội nhân chết, vì họ đã ỏ dưới sự điều khiển của chúng (Eph 2:1-3). Tuy nhiên một khi Chúa đã giải phóng chúng ta, những kẻ thù này theo sau chúng ta, và cuộc chiến sẽ diễn tiếp cho đến khi chúng ta gặp Chúa Giê-xu Christ.


Một mục sư trẻ người Ê-cốt đã tham dự một hội nghị “đời sống Cơ-đốc đắc thắng” và đi đến chữ tin rằng ông đã “đạt chiến thắng” trên các kẻ thù của đời sống thuộc linh. Ông chia sẻ tin mừng này với Alexander White, mục sư nổi tiếng ở Edingburgh là người đã nói: “À, đó là một cuộc chiến ác liệt cho đến cuối cùng!” Đó là một suy nghĩ nghiêm túc mà một số người trong Kinh Thánh là những người phạm tội trong với Chúa đã không nghĩ vậy khi họ còn trẻ. Áp-ra-ham trốn đến Ê-díp-tô và nói dối về vợ mình, Môi-se mất bình tĩnh, A-rôn làm một tượng vàng, Đa-vít phạm tội tà dâm và giết người, và Phi-e-rơ chối Chúa mình. Chúng ta đừng bao giờ làm phát triển những cám dỗ và những cuộc chiến.


7. Hãy nhớ điều Chúa đã làm cho Mi-ri-am (Phuc 24:9)

Câu chuyện về sự chống nghịch của Mi-ri-am được tìm thấy trong Dân 12:1-16. Mặc dù A-rôn có liên can với nàng, nhưng dường như nàng là đầu sỏ của vấn đề vì nàng là người đã bị trừng phạt. Mi-ri-am đã ghen tị với vợ của Môi-se và chỉ trích em trai mình vì cớ hôn nhân của người (2) Đức Chúa Trời nhìn thấy lòng nàng, nghi những lời của nàng và trừng phạt tội lỗi nàng bằng cách giáng cho nàng bệnh phung. Để bày tỏ sự nhu mì và tình yêu vốn của mình, Môi-se cầu thay cho nàng và Đức Chúa Trời chữa lành cho nàng. Tuy nhiên, bệnh phung khiến cho nàng bị ô uế và nàng phải rời trại quân một tuần cho đến khi thầy tế lễ có thể xác minh rằng bệnh phung đã khỏi. Tội lỗi của nàng đã làm trì hoãn cuộc hành quân của Y-sơ-ra-ên, vì tội lỗi luôn ngăn trở bước tiến của dân Đức Chúa Trời.


Những tội lỗi về tinh thần cũng gây phá hoại như những tội lỗi và thể xác và đôi khi chúng tồi tệ hơn. Mi-ri-am đã phạm tội kiêu ngạo, ghen ghét, nói xấu và thiếu tình yêu. Nhưng hơn thế, những tội lỗi trong gia đình đặc biệt gây đau khổ, cũng như những tội lỗi giữa vòng các lãnh đạo của dân sự Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời giáng bệnh phung cho mọi lãnh đạo nào ghen ghét những lãnh đạo khác và chỉ trích họ, sẽ không có nhiều người khoẻ mạnh còn lại!


Những điều nhắc nhở đặc biệt này áp dụng cho chúng ta hôm nay. Những ký ức xấu có thể dẫn đến những thái độ cùng hành động xấu và thường dẫn đến sự bất trung đối với Chúa. Mặc dù sách Phục-truyền Luật-lệ ký là một sách đài, đầy những mục khác nhau, nhưng bài học thuộc linh nổi bật đó là chúng ta phải được Chúa trang bị để đối diện những thử thách và những cơ hội của tương lai. Sự trang bị đó đến từ việc nghe Lời Chúa, gìn giữ và vâng theo. Trong lúc có một số điều chúng ta phải quên, cũng có một số điều chúng ta phải nhớ nếu chúng ta muốn làm đẹp lòng Chúa, quy vinh hiển cho Ngài và thực hiện công việc Ngài giao cho chúng ta làm.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page