...ICôr 5:8 Phao-lô ví sánh đời sống của Hội thánh địa phương như việc “giữ lễ” Vượt Qua. Hội thánh không “giữ lễ” theo nghĩa đen vì nó đã được trọn trong Đấng Christ là Chiên Con của lễ Vượt Qua đã bị giết vì chúng ta (c.7). Nhưng như dân Do-thái vào đêm lễ Vượt Qua ở Ai-cập, chúng ta là một dân hành hương, sẵn sàng để được gọi ra đi, và chúng ta không nên bị tội lỗi vấn vương. Dân Do-thái ăn tiệc lễ Vượt Qua với tư cách gia đình, và mỗi Hội thánh địa phương là một gia đình của Đức Chúa Trời, dự tiệc Chúa Giê-xu qua Lời Chúa và chờ đợi Ngài gọi dân Ngài ra khỏi thế gian này. Giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, chúng ta phải nhắc nhở mình rằng chúng ta từng là nô lệ của tội lỗi, trong xiềng xích của thế gian (Eph 2:1-3) và Đức Chúa Trời đã giải cứu chúng ta bằng cách sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta. Khi dự tiệc thánh, chúng ta nhờ sự chết của Ngài và trông đợi sự tái lâm của Ngài (3).
• Lễ Ngũ Tuần (Phuc 16:9-12; Le 23:15-22).
Từ “Ngũ Tuần” nghĩa là “thứ 50” và truy nguyên từ bản dịch Cựu-ước tiếng Hy-lạp, bản 70 lễ này được kỷ niệm 50 ngày sau lễ Quả đầu mùa, nghĩa là nó cũng xảy ra vào ngày đầu tuần. Đối với dân Do-thái, đây là thời gian vui vẻ mừng mùa gặt lúa mì, nhưng đối với Cơ-đốc nhân, nó kỷ niệm sự ngự đến của Đức Thánh Linh và “ngày sinh của Hội thánh” (Cong 2:1-47). Chúa Giê-xu đã hứa rằng Ngài và Cha sẽ ban Thánh Linh cho người tin nhận (Gi 14:16-17), nhưng Thánh Linh không thể đến cho tới lúc Đấng Christ chịu chết,được sống lại từ cõi chết và được vinh hiển trên trời (Gi 7:37-38).
• Khởi đầu sự sáng tạo (Sa 1:1-2),
Đức Thánh Linh được thấy hành động suốt Kinh Thánh Cựu-ước, thường ban quyền năng cho con người nam nữ để làm những công việc quyền năng để qui vinh hiển Đức Chúa Trời. Suốt những thời Cựu-ước, Thánh Linh là một vị khách tạm thời giáng trên con người, nhưng từ sự ngự đến của Ngài trong Cong 2:1-42), Thánh Linh mãi mãi ngự trong bất cứ ai thuộc về Đấng Christ (Gi 14:16-17) Ngài ban những món quà thuộc linh cho Hội thánh (ICôr 12:1-31) và ban quyền năng cho dân sự Đức Chúa Trời để làm chứng về Chúa Giê-xu (Công 1:8). Không có chức vụ và quyền năng của Đức Thánh Linh, tín hữu không thể sống cho Đức Chúa Trời hoặc hầu việc Ngài có hiệu quả.
Vào ngày lễ Quả đầu mùa, thầy tế lễ vẫy bó lúa, nhưng vào lễ Ngũ Tuần, ông dâng hai ổ bánh hấp có men (Le 23:17,20). Khi Thánh Linh ngự đến vào lễ Ngũ Tuần, Ngài làm báp-tem cho mọi người tin nơi Đấng Christ (Công 1:4-5; ICôr 12:13). Vì vậy chúng ta không còn là những ổ bánh lúa đơn lẻ nhưng là ngũ cốc được hoà vào bột tạo thành những ổ bánh. Bột được làm từ “những bó lúa đầu mùa” của mùa gặt lúa mì. Sự hiện diện của men trong các ổ bánh cho thấy Hội thánh trên đất chỉ phải là một Hội thánh tinh sạch và không bao giờ tinh sạch cho đến khi Đấng Christ đem Hội thánh lên trời.
• Lễ Ngũ Tuần báo hiệu mùa gặt (Le 23:22) và dân Do-thái được lệnh chia sẻ những gì họ có và vui mừng dự tiệc trước mặt (Phu 16:11). Khi Thánh Linh giáng trên các tín hữu vào lễ Ngũ Tuần, đó là khởi đầu của một mùa gặt lớn đối với Hội thánh.
Sứ điệp của Phi-e-rơ vào lễ Ngũ Tuần đã đem 3.000 người đến Đấng Christ (Cong 2:41), và chẳng bao lâu sau đó, chức vụ của ông đã thêm vào 2000 người nữa (Cong 4:4). Sách Công-vụ là sự ghi chép về sự tăng trưởng của Hội thánh. Khi Đức Thánh Linh ban quyền năng cho những chứng nhân để rao Phúc-Âm trong cánh đồng mùa gặt bất cứ nơi đâu Chúa sai họ.
Tiến sĩ A.W.Tozer có lần đã nói: “Nếu Đức Chúa Trời phải cất Thánh Linh ra khỏi thế gian này, nhiều việc Hội Thánh đang làm sẽ tiêu tan ngay, và không ai sẽ biết sự khác biệt”. Thật là một bản cáo trạng mà các Hội thánh của chúng ta lệ thuộc vào mọi sự ngoại trừ quyền năng của Đức Thánh Linh! Hội thánh đầu tiên đã không có những thứ mà chúng ta cho là cần thiết ngân quỹ,những kiến trúc, học vị và thậm chí “những quan hệ” chính trị nhưng họ thật sự có quyền năng của Thánh Linh và nhìn thấy vô số người trở về với Đấng Christ.
• Lễ Lều tạm (Phuc 16:13-15).
Giống như lễ Bánh không men, lễ Lều tạm cũng kéo dài 7 ngày. Nó xảy ra vào mùa thu (tháng 9 tháng 10 của chúng ta) và cũng được gọi là lễ Các tuần, lễ Trại và lễ Nhóm họp. Nó kỷ niệm sự hoàn tất mùa gặt mà bắt đầu bằng mùa gặt lúa mì tại lễ Ngũ Tuần, và giờ đây là mùa gặt hoa quả, nho và và ô-liu. Sau mùa gặt, người nông dân sẽ cày ruộng và gieo hạt lúa, rồi những cơn mưa mùa đông sẽ bắt đầu. Suốt kỳ lễ này, dân Do-thái sống trong những lều làm bằng nhánh cây, một sự nhắc nhở về những năm tháng tổ phụ họ đã sống tạm bợ khi họ lang thang trong đồng vắng. Đó là một tuần dự lễ vui vẻ bắt đầu bằng một sự nhóm hiệp thánh và kết thúc bằng một cuộc triệu tập quan trọng (Le 23:33-44).
Chắc chắn Đức Chúa Trời muốn dân Ngài biết ơn và vui mừng về những sự ban cho tốt lành Ngài đổ xuống trên chúng ta. Sau khi Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa, Ngài muốn họ nhớ rằng đời sống không phải luôn dễ dàng, rằng tổ phụ họ đã sống trong các lều rạp. Sau khi họ tới Ai-cập. Tất cả chúng ta biết rằng không thế hệ sau nào muốn nghe “người già” nói về những khó khăn của “ngày xưa” nhưng Chúa đã viết kỷ niệm quá khứ của Y-sơ-ra-ên trong lễ Vượt Qua và lễ Lều Tạm, hai kỳ lễ đầu và cuối cùng trong năm. Mặc dù Hội thánh không nên sống trong quá khứ, nhưng Hội thánh không nên quên quá khứ và điều Chúa đã làm cho dân sự Ngài qua các thời đại, chúng ta có khuynh hướng xem nhẹ những ơn phước của mình và quên sự thành tín của Chúa.
Hai trong số các Hội thánh tôi làm mục sư đã giữ những lễ kỷ niệm quan trọng trong lúc tôi hầu việc họ, và suốt những năm đặc biệt đó, chúng tôi để thời gian trong các lễ thờ phượng để nhờ sự nhân từ của Chúa và cảm tạ Ngài vì mọi điều Ngài đã làm. Thật ích lợi cho những thành viên nhỏ tuổi biết về những của lễ dân sự đã làm trong quá khứ, và ích lợi cho những thành viên lớn tuổi hơn tiếp nhận một thử thách mới cho tương lai. Xét cho cùng, hội thánh không phải là một bãi đậu xe, đó là một bệ phóng!
Là dân Đức Chúa Trời, chúng ta có nhiều lý do để kỷ niệm sự cao cả và nhân từ của Chúa. Chúng ta đã được cứu chuộc bởi huyết Đấng Christ (lễ Vượt Qua), chúng ta được Thánh Linh ngự cùng và ban quyền năng (lễ Ngũ Tuần), và chúng ta được Chúa giúp đỡ trong hành trình hành hương của chúng ta (lễ Lều Tạm). Thời gian chúng ta ở đây trên đất là ngắn ngủi và tạm bợ, nhưng ngày nào đó chúng ta sẽ bước vào thiên đàng nơi Chúa Giê-xu giờ đây dọn chỗ cho chúng ta.
“Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh Ngài” (Thi 34:3).
-Phuc 15:19-23; xem giải nghĩa Phuc 15:1-18.
-Phuc 16:1-17; xem giải nghĩa Phuc 14:1-21.
7. QUAN XÉT, VUA, THẦY TẾ LỄ VÀ THƯỜNG DÂN (Phuc 16:18-18:8; Phuc 26:1-19)
Khi Môi-se tiếp tục chuẩn bị cho thế hệ mới đời sống trong Đất Hứa, ông không chỉ dạy họ về lịch sử quá khứ và những bổn phận của họ trong sự thờ phượng, ông còn giải thích cho họ loại chính thể Đức Chúa Trời muốn họ tổ chức. Khi tổ phụ họ ở Ai-cập, dân Do-thái có tổ chức nhỏ chỉ bao gồm các trưởng lão (Xu 3:18; Xu 4:29-31), và suốt hành trình trong đồng vắng, Môi-se có những cộng sự chi phái giúp ông trong việc giải quyết các vấn đề dân sự đem đến cho họ (Phi 18:13). Mỗi chi phái trong Y-sơ-ra-ên cũng có một quan trưởng (Dân 1:15-16; Dân 7:10-83), và có 70 trưởng lão giúp Môi-se trong việc giám sát thuộc linh của dân tộc (Dân 11:10).
Tổ chức cơ bản này thích hợp để cai trị một dân tộc đi vào Đất Hứa. Trên hết, Môi-se sẽ không còn ở cùng họ để cho họ những sứ điệp trực tiếp từ miệng Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mỗi chi phái trong số 12 chi phái sẽ sống trong địa phận được ấn định riêng cho nó, và Ru-bên, Gát cùng Ma-na-se sẽ định vị ở bên kia sông Giô-đanh. Họ sẽ đối phó ra sao với sự đổi thay của chi phái? Ai sẽ bảo vệ dân sự và thi hành những luật lệ của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời trong ân điển Ngài đã ban cho họ loại chính thể sẽ đáp ứng những nhu cầu của họ.
Cơ-đốc nhân rất thường đánh giá thấp tầm quan trọng của chính thể đối với sự hòa bình, an ninh và tiến bộ của xã hội không có chính thể loài người, thậm chí với tất cả những khiếm khuyết của nó, xã hội sẽ ở trong tình trạng trì trệ, và không quốc gia nào có thể cải tiến thích đáng hay tự bảo vệ mình. “Các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định” (Ro 13:1) không có nghĩa là Đức Chúa Trời phải đổ lỗi cho sự bổ nhiệm hay bầu cử mỗi cá nhân quan chức hay những quyết định họ thực hiện khi họ nắm quyền.
Nó có nghĩa là quyền hạn đối với chính thể đến từ Đức Chúa Trời và những người phục vụ trong chính quyền đều là những người giúp việc của Chúa và chịu trách nhiệm với Ngài (c.4). “Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICo 14:10) áp dụng không chỉ cho những lễ thờ phượng chung của Hội thánh mà cũng cho công vụ của các viên chức chính quyền. Dân sự Đức Chúa Trời được bảo phải cầu nguyện cho những quan chức cầm quyền đó (ITi 2:1-6), nhưng chúng ta rất thường phạm tội chỉ trích họ thay vì cầu thay cho họ.
Môi-se chỉ ra những chức vụ và trách nhiệm cơ bản của chính thể mà Đức Chúa Trời muốn Y-sơ-ra-ên thiết lập trong xứ.
1. Những quan án giỏi (Phuc 16:18-22) (Phuc 16:18-17:13)
Sự lập lại của từ “cửa thành” (Phuc 16:5,11,14,18; Phuc 17:2,5,8) cho thấy rằng đơn vị cơ bản của chính thể trong Y-sơ-ra-ên là hội đồng địa phương. Nó bao gồm các quan án và quan chức, là những người quản lý công việc buôn bán tại cửa thành cùng với các trưởng lão (Ru 4:1-12).
Các quan án và quan chức có lẽ được bổ nhiệm hoặc bầu cử do các công dân nam có đất trong thành, nhưng chúng ta không được cho biết chi tiết. Từ được dịch là “quan chức” có nghĩa “người viết, thư ký” và chỉ về những người giữ hồ sơ hành chính và gia phả, cố vấn cho các quan án và thực hiện những quyết định của họ. Đức Chúa Trời là Đấng làm luật tối cao trong xứ, vì Ngài đã ban luật pháp, các quan án địa phương tạo nên ngành lập pháp của chính thể, và các quan chức của họ tạo nên ngành hành pháp.
• Tính cách tin kính (Phuc 16:19-20).
Điều quan trọng nhất về quan án và quan chức đó là họ phải làm những con người có tính cách, vì chỉ những người như vậy mới có thể thi hành ngay thẳng sự xét xử công bình (1). Quan án không được xuyên tạc luật pháp và “bóp mép công lý”, cũng không được “tôn trọng người ta” mà theo tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa đen là “nhìn mặt” Điều quan trọng là xác định bị cáo đã làm gì và không quan tâm bị cáo là ai. Chúa đã cảnh cáo các quan xét đừng thiên vị bạn hữu bằng cách tha tội, giảm ác hay thay đổi việc tố tụng, cũng không được nhận hối lô. “Công lý” thường được mô tả như một người đàn bà mang chiếc cân và đeo băng bịt mắt. “Lấy làm chẳng tốt mà nể vì kẻ ác, đặng lường gạt người công bình trong việc xét đoán” (Ch 18:5).
Những quyết định của quan án ảnh hưởng không chỉ đến những cá nhân chịu xét xử mà còn đến cả quốc gia. Nếu quan án tha bổng kẻ phạm tội bằng cái giá của những kẻ vô tội, xứ sẽ bị ô uế và Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ cất dân tộc khỏi xứ. Tiếc thay, đó chính là điều đã xả ra xuốt những năm trước khi Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sụp đổ. Tòa án trở nên thối nát và để cho kẻ giàu cướp bóc người nghèo và người túng bấn, và kẻ giàu chẳng bao lâu đã làm chủ những tài sản lớn và điều khiển kinh tế (2).
Vì các quan trưởng không vâng theo luật lệ về năm Sa-bát và năm Hân Hỉ, nên nền kinh tế mất cân đối và xứ bị tước đoạt khỏi những người chủ hợp pháp. Đức Chúa Trời không thể cho phép sự bất tuân trắng trợn như thế đối với luật pháp Ngài, nên Ngài đã nghiêm phạt dân Ngài bằng cách phó họ vào sự giam cầm.
Chức lãnh đạo trong Hội thánh địa phương phải được giao cho người có năng lực (Cong 6:1-7; ITi 3:1-16; Tit 1:5-9). Tiến sĩ Lee Roberson nói: “Mọi sự đều dấy lên hay sụp đổ với chức lãnh đạo” và ông nói đúng. Bi thảm thay khi các Hội thánh chọn những người thiếu năng lực và kinh nghiệm để “lấy đầy” chức vụ thay vì “sử dụng” những chức vụ đó để xây dựng Hội thánh và quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời (ITi 3:10). Trong chức lãnh đạo Hội thánh địa phương, tính cách thuộc linh quan trọng hơn nhiều so với danh tiếng, cá tính, tài năng hay nghề nghiệp của một người.
• Sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời (Phuc 16:21-17:7).
Sự thờ hình tượng là kẻ thù lớn của đời sống thuộc linh trong dân Do-thái, và các quan xét phải cảnh giác đủ để đối phó với nó. “Rừng cây là khu vực được dâng cho việc thờ phượng vợ của Ba-anh, Át-tạt-tê, và giữa hình tượng của họ là những cột trụ gỗ tượng trưng cho tay chân người nào.” Hãy chú ý rằng người thờ hình tượng tìm cách đặt trung tâm thờ lạy của họ gần với bàn thờ Đức Chúa Trời nếu có thể (Phuc 16:21 NIV “gần bên bàn thờ”).
Người thờ hình tượng muốn khuyến khích người ta thờ Giê-hô-va và cả Át-tạt-tê, và cuối cùng Át-tạt-tê sẽ thắng. Nếu các quan án tận tụy với Đức Chúa Trời, họ sẽ thận trọng kiểm tra những tập tục như thế, thu thập sự kiện, lên án kẻ phạm tội, và cất hình tượng khỏi xứ. Họ phải đặt Đức Giê-hô-va trên hết (3).
Không thể nhấn mạnh quá nhiều khi tôn giáo của các dân Ca-na-an thô tục không thể tả và trộn lẫn với sự mê tín mù quáng với sự đồi bại trắng trợn. Với bản chất con người, dân Do-thái sẽ bị lôi cuốn vào các thần họ có thể thấy và những nghi lễ mời gọi những thèm muốn xác thịt. Điều này giải thích lý do Đức Chúa Trời ra lệnh cho dân Do-thái tiêu diệt mọi tàn tích của tôn giáo Ca-na-an khỏi xứ (Phuc 7:1-11), vì Ngài biết rằng lòng dân sự rất thường bị xui giục làm ác bất chấp những thánh luật và những lời cảnh cáo của Ngài.
• Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Phuc 17:8-13). Nhiều lần, các quan án và tòa án địa phương phải xem xét những việc kiện rắc rối, phức tạp và khó xử đối với họ, những vụ kiện có liên quan đến sự đổ máu, sự tố cáo, kiện tụng, và nhiều dạng cưỡng hiếp. Để giúp các quan chức địa phương, Chúa sẽ thiết lập một “tòa án” trung tâm tại nơi thánh của Ngài là nơi các thầy tế lễ và người Lê-vi sẽ bày tỏ sự khôn ngoan của họ và giải thích luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Y-sơ-ra-ên, luật pháp Đức Chúa Trời là luật pháp quốc gia, và những người giỏi nhất để giải thích và ứng dụng luật pháp các thầy tế lễ và người Lê-vi.
“Tòa án nơi thánh” này không phải là một tòa phúc thẩm nơi một người bị kết án có thể yêu cầu một cuộc xét xử lần thứ hai, nó cũng không phải là một ủy ban cố vấn mà những quyết định có thể được chấp nhận hay từ chối. Đó là một tòa án xét xử những vụ kiện một cách thận trọng và những quyết định có quyền lực và mang tính ràng buộc. Bất cứ ai coi thường quyền hạn của tòa án hay những quyết định họ đưa ra là thật sự coi thường Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài. Những kẻ chống đối như thế đã phạm tử tội và chịu án tử hình.
Đức Chúa Trời sẽ không có những công dân chống nghịch trong nước Ngài hay cho phép dân sự chống lại luật pháp Ngài một cách tự mãn, không có của lễ nào được quy định trong luật pháp cho người phạm những tội “kiêu căng” và cố ý (Dân 15:30-36).
Khi Woodrow Wilson là Tổng thống Hoa Kỳ, ông đã nói “Có khá nhiều vấn đề trước dân Mỹ hôm nay, và trước mắt tôi với tư cách Tổng thống, nhưng tôi mong tìm thấy giải pháp cho những vấn đề đó chỉ tương xứng với việc tôi trung tín trong sự học lời Đức Chúa Trời” (4).
Chính trị gia Daniel Webster nói: “Nếu chúng ta tồn tại bởi những nguyên tắc được dạy trong Kinh Thánh, quốc gia chúng ta sẽ tiếp tục thịnh vượng và thịnh vượng, nhưng nếu chúng ta và hậu thế chúng ta thờ ơ với sự dạy dỗ và quyền hạn nó, không ai có thể biết một thảm họa có thể ập trên chúng ta và chôn vùi vinh quang của chúng ta trong sự tối tăm mờ mịt một cách bất ngờ ra rao”. (5) Sống như chúng ta đang sống trong một xã hội dân chủ theo thuyết đa nguyên, chúng ta không thể mong chờ chính phủ khiến Kinh Thánh trở nên sách hướng dẫn chính thức của họ, nhưng nó sẽ giúp cho quốc gia nếu những người tự xưng là Cơ-đốc nhân và các Hội thánh Cơ-đốc tập trung vào việc rao giảng, dạy dỗ và vâng theo Lời Đức Chúa Trời.
-Phuc 17:1-13; xem giải nghĩa Phu 16:18-22.
2. Những vua tin kính (Phuc 17:14-20)
Các lãnh đạo được bầu cử, không phải những vua chúa cha truyền con nối, họ cai trị các quốc gia dân chủ ngày nay, nhưng trong các thời đại xưa, vua và hoàng đế thống trị “quốc gia và đế quốc bằng bạo quyền.” Nhưng Y-sơ-ra-ên khác với các quốc gia khác, vì luật pháp của Chúa là “xi măng” liên kết 12 chi phái. Người Lê-vi, bị tản lạc khắp xứ, dạy cho dân sự lu ật pháp Đức Chúa Trời, còn các thầy tế lễ và quan xét bảo đảm cho luật pháp được thực thi cách công bằng. Dân Y-sơ-ra-ên phải đem phần 10 và của lễ của họ đến nơi thánh vì trung tâm, và mỗi năm 3 lần tất cả những người nam trưởng thành tập hợp ở đó để kỷ niệm sự nhân từ của Chúa. Đức Giê-hô-va là Vua trong Y-sơ-ra-ên (Xu 15:18; Cac 8:23) và Ngài “ngự giữa các chê-ru-bin” (Thi 80:1) trong nơi chí thánh.
• Yêu cầu một vua (Phu 17:14).
Nhưng Chúa biết rằng sẽ đến ngày mà Y-sơ-ra-ên yêu cầu một vua vì họ muốn giống các dân tộc khác (ISa 8:1-22). Suốt thời các quan xét, sự hiệp nhất của 12 chi phái về mặt chính trị và thuộc linh đã giảm sút khá nhiều (Cac 17:6 21:25) và Y-sơ-ra-ên ở trong hiểm họa thường trực về sự xâm lăng của kẻ thù họ (ISa 9:16 12:12). Thay vì tin cậy Đức Chúa Trời, dân sự muốn có một vua sẽ lập một quân đội và lãnh đạo dân tộc đi đến chiến thắng. Tiếc thay, chức lãnh đạo thuộc linh trong Y-sơ-ra-ên đã suy sụp và các con trai của Sa-mu-ên kêu cầu một vua là họ không giống với các quốc gia đặc biệt của Đức Chúa Trời (Xu 19:5-6). “Kìa là một dân ở riêng ra, sẽ không nhập số các nước” (Dan 23:9).
Bắt chước thế gian thay vì tin cậy Chúa luôn là sự cám dỗ lớn đối với dân sự Đức Chúa Trời, và mỗi lần họ không chống lại nổi, họ bị khốn khổ. Suốt hành trình trong đồng vắng, Y-sơ-ra-ên so sánh mọi điều xảy ra với điều họ đã kinh nghiệm ở Ai-cập, và tại Ka-đe Ba-nê-a họ thậm chí muốn chọn một lãnh đạo và trở lại Ai-cập! (Phuc 14:1-5). Nhưng Hội thánh ngày nay cũng phạm tội vô tín, như vậy khi các lãnh đạo Hội thánh tiếp nhận những phương pháp và khuôn thước của thế gian, thì Hội thánh đã đi một bước lớn tiến đến việc trở nên gống với thế gian và đánh mất những đặc tính thiêng liêng của mình.
Thay vì tin cậy Lời Đức Chúa Trời và cầu nguyện (Cong 6:4), chúng ta cậy vào việc làm theo sự khôn ngoan của thế gian, và nuôi dưỡng những ham muốn của thế gian, cho người ta điều họ muốn thay vì điều họ cần. Tín hữu hôm nay cần ghi vào lòng Lời Đức Chúa Trời nhắc nhở Y-sơ-ra-ên “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, đã phân rẽ các ngươi cùng các dân” (Le 20:24).
• Những phẩm cách của một vị vua (Phuc 17:15-17). Vua không nên do dân sự chọn, người phải do Đức Chúa Trời chọn. Vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên là Sau-lơ (ISa 9:1-10:27), nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ định dùng Sau-lơ để lập một triều vua trong Y-sơ-ra-ên. Sau-lơ xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, nhưng Giu-đa là chi phái nhà vua (Sa 19:8-10) và Đấng Mê-si-a sẽ đến từ chi phái Giu-đa. Thực ra, Sau-lơ được ban cho dân sự để sửa phạt họ vì họ đã khước từ Chúa (ISa 8:7), vì sự xét đoán lớn nhất của Đức Chúa Trời là cho dân Ngài điều họ muốn và để họ chịu khổ vì điều đó.
Vua không những phải do Đức Chúa Trời chọn, mà vua còn phải là người Y-sơ-ra-ên chớ không phải là một người ngoại quốc. Mỗi khi Đức Chúa Trời muốn sửa phạt dân Ngài, Ngài sẽ đặt một vua ngoại bang cai trị họ và để dân sự kinh nghiệm sự tương phản giữa sự nhân từ của Đức Chúa Trời và sự áp bức của dân ngoại thờ hình tượng. Vua Y-sơ-ra-ên cũng phải đặt sự tin cậy hoàn toàn của mình nơi Chúa và không cậy nơi ngựa cùng quân đội (Phuc 17:16), các đồng minh nước ngoài dựa trên hôn nhân (c.17a) hay của cải vật chất (c.17b).
Vua Sa-lô-môn đã vi phạm cả ba trong số những quy tắc này và điều đó dẫn ông cùng dân tộc vào tội lỗi. Ông đã cưới một công chúa Ai-cập (IVua 3:1), đồng minh đầu tiên trong nhiều đồng minh chính trị ông đã tạo nên bằng cách lấy những người vợ ngoại quốc (Phu 11:1-6). Ông đã trở lại Ai-cập không những gì một người vợ mà còn vì những con ngựa cho quân đội ông, và xây “các thành chứa xe” trong Y-sơ-ra-ên nơi ông để ngựa và xe ngựa (Phuc 10:26,28-29). Về phần của cải của ông, thật không thể tưởng tượng và không tính được (c.14-25,27) (6).
• Sự khôn ngoan của vua (Phuc 17:18-20).
Tư cách quan trọng nhất đối với vua là một sự hiểu biết cá nhân về luật pháp Đức Chúa Trời (c.18-20). Vua phải sao lại một bản luật pháp cho mình, sử dụng bản chính thức do các thầy tế lễ cung cấp (Phuc 31:9,24-26), đọc thường xuyên và ghi vào lòng (xem mệnh lệnh của Đức Chúa Trời cho Giô-suê trong Gios 1:7-8). Sự nghiên cứu luật pháp của vua không những giúp vua cai trị dân cách công bình, mà nó còn bày tỏ cho vua tính cách của Đức Chúa Trời và khích lệ vua kính sợ Ngài và yêu mến Ngài hơn (Ch 4:1-27). Việc vua đầu phục Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài sẽ giữ vua khỏi trở nên kiêu ngạo và lạm dụng quyền hành Chúa đã ban cho mình (7). Đối với vua, nghĩ rằng mình tốt lành hơn anh em mình và có đặc quyền sống vượt trên luật pháp Đức Chúa Trời sẽ cho thấy vua không thích hợp để lãnh đạo quốc gia.
3. Những lãnh đạo thuộc linh trung tín (Phuc 18:1-8)
Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ là một chức tế lễ (IPhi 2:5,9), nhưng dân tộc Y-sơ-ra-ên đã có một chức tế lễ. Tất cả các thầy tế lễ và người Lê-vi đều là con cháu Lê-vi, con trai thứ ba của Gia-cốp sanh bởi Lê-a.Lê-vi có ba con trai Ghẹt-sôn, Kê-hát, Mê-ra-ri, còn A-rôn và Môi-se xuất thân từ dòng dõi của Kê-hát (Xu 6:16-25). Chỉ con cháu của A-rôn được gọi là “các thầy tế lễ” và được phép hầu việc tại bàn thờ và nơi thánh đích thực. Người Lê-vi, con cháu của Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri, phụ giúp các thầy tế lễ trong nhiều chức vụ có liên hệ với bàn thờ và nơi thánh. Th ầy tế lễ và người Lê-vi đều không được ban cho bất cứ sản nghiệp nào trong xứ Y-sơ-ra-ên (Phuc 10:8-9 12:12,18,19) nhưng sống nhờ vào phần mười, của dâng và của lễ được đem đến nơi thánh.
• Thầy tế lễ (Phu 18:3-5).
Các thầy tế lễ phải nhận những phần được chỉ định từ những của lễ, trừ của lễ thiêu, là của lễ được thiêu hoàn toàn tại bàn thờ. Họ sẽ thiêu một năm của lễ chay trên bàn thờ và giữ phần còn lại một mình, còn những phần khác của con sinh tế được dành cho họ theo tiêu chuẩn họ được hưởng (Le 6:8-7:38). Họ cũng được cho hoa lợi đầu mùa gồm lúa, dầu, rượu và lông chiên. Nghi thức Cựu-ước này mang vào chức vụ trong Tân-ước.