...số người biết rằng Nô-ê đã đóng một chiếc tàu. Điều họ có thể không biết đó là ông cũng xây dựng một tính cách tin-kính và một gia đình tin-kính. Nếu không vì gia đình tin-kính của Nô-ê, Áp-ra ham sẽ không được sinh ra; và nếu không có Áp-ra-ham thì sẽ có môt dân-tộc Do-thái, Kinh Thánh và Chúa Cứu Thế chăng?
2. Một người trung-tín làm việc cho Đức Chúa Trời (Sa 6:14-22)
“Bí mật của Đức Giê-hô-va ở cùng người kính-sợ Ngài, và Ngài sẽ tỏ cho họ giao-ước Ngài” (Thi 25:14). Khi bạn bước đi với Đức Chúa Trời, Ngài phán với bạn qua Lời Ngài và cho bạn biết điều bạn cần biết và cần làm. Cơ-đốc nhân không chỉ là tôi-tớ làm theo ý muốn Ngài, chúng ta cũng là bạn của Ngài những người biết kế-hoạch của Ngài (Gi 15:14-15). Kế-hoạch của Đức Chúa Trời đòi hỏi 3 trách-nhiệm đối với Nô-ê và gia đình ông.
•Đóng một chiếc tàu (Sa 6:14-17).
Đức Chúa Trời cho Nô-ê biết nhiệm-vụ của ông là gì: đóng một chiếc thuyền lớn bằng gỗ có thể tồn tại qua Cơn Nước Lụt và giữ cho Nô-ê cùng gia đình ông an-toàn. Nếu cubit là cubit tiêu chuẩn 18 inch, vậy chiếc tàu dài 4500 feet, rộng 75 feet và cao 45 feet. Tàu có 3 tầng, một cửa và một loạt cửa sổ nhỏ cao 18 inch ngay bên dưới mái vòm, cung cấp ánh sáng và sự thông gió. Ba tầng được chia thành những gian phòng, (Sa 6:14) nơi giữ các thú vật và là nơi Nô-ê cùng gia đình ông sẽ sống.
Chiếc tàu này được thiết kế để làm cho nổi lên chớ không phải để vận chuyển đi lại. Đó là một chiếc hộp gỗ khổng lồ có thể nổi trên mặt nước và giữ cho những vật bên trong được an toàn và khô ráo. Tấn sĩ Henry Morris tính toán rằng chiếc tàu lớn đủ để chứa hơn 500 toa xe lửa chở súc vật, cung cấp chỗ cho khoảng 125.000 con vật.
Dĩ nhiên nhiều loài vật sẽ rất nhỏ và không cần nhiều chỗ, và khi có những súc vật lớn, Nô-ê chắc chắn chọn những con vật đại diện nhỏ tuổi hơn và bé hơn [59] Có nhiều chỗ trong tàu dành cho thức ăn của con người và thú vật (c.21), và côn trùng cùng những vật bò trườn sẽ không có vấn đề khi tìm chỗ để sống trên tàu.
•Tin-cậy giao-ước của Đức Chúa Trời (Sa 6:18).
Đây là lần sử dụng đầu tiên từ “giao-ước” trong Kinh Thánh. Từ này thường xuất hiện trong Kinh Thánh vì ý niệm về giao-ước là một phần quan-trọng trong kế-hoạch cứu chuộc vĩ đại của Đức Chúa Trời (Đức Chúa Trời sẽ giải thích giao-ước của Ngài với Nô-ê sau khi ông rời chiếc tàu (Sa 8:20-9:17).
Giao-ước là một sự thỏa-thuận bao gồm những trách-nhiệm và lợi ích cho các bên có liên-quan.
Trong một số giao-ước, chỉ một mình Đức Chúa Trời là “bên giao-ước” và tạo những lời-hứa vô điều-kiện cho dân-sự của Ngài. Nhưng cũng có những giao-ước đòi hỏi dân-sự Ngài thực hiện những điều-kiện nào đó trước khi Đức Chúa Trời có thể chúc phước cho họ.
Lời Đức Chúa Trời trong Sa 6:13-21 được nói đặc biệt với Nô-ê, nhưng Đức Chúa Trời cũng kể đến gia đình Nô-ê trong giao-ước (c.18). Nô-ê mãi đến 500 tuổi mới trở thành một người cha (Sa 5:32), và ông bước vào tàu khi ông 600 tuổi (Sa 7:6), vì vậy 3 con trai ông vẫn “trẻ” khi nói về thời kỳ tiền Nước Lụt. Cham là người trẻ tuổi nhất (Sa 9:24) và Gia-phết lớn nhất (Sa 10:21), cả 3 con trai đều lập gia đình (Sa 7:13). [60]
Việc Đức Chúa Trời đã lập giao-ước để chăm-sóc Nô-ê và gia đình ông, cho họ sự bình-an và sự tin-quyết họ cần khi chuẩn bị chiếc tàu và sau đó sống trong tàu hơn một năm. Đức Chúa Trời thành-tín giữ những lời-hứa của Ngài, và với tư cách dân giao-ước của Đức Chúa Trời, 8 người tin-kính không có gì để sợ.
•Tập trung thú vật (Sa 6:19-22).
Đức Chúa Trời không chỉ muốn loài người được duy trì từ sự hủy diệt nhưng cũng muốn mọi sinh vật không bị chìm đắm bởi Nước Lụt. Nhưng làm sao Nô-ê tập trung một số lượng lớn thú vật, chim và những con vật bò trườn như thế? Đức Chúa Trời sẽ khiến những sinh vật này đến cùng Nô-ê (c.20 Sa 7:8, 15) và Nô-ê sẽ đem chúng vào tàu (Sa 6:19).
Điều này không chỉ kể đến các cặp thú vật không tinh sạch mà sẽ có thể sinh sản sau Cơn Nước Lụt, mà bảy cặp thú vật tinh sạch cũng được kể đến, một số sẽ được dùng làm của lễ (Sa 8:20; Sa 9:3). Nô-ê và gia đình ông không chỉ học về sự thành-tín của Đức Chúa Trời họ cũng thấy quyền tối-cao của Đức Chúa Trời trong hành động.
Trong quyền năng tối cao của Đức Chúa Trời, Ngài đem các thú vật đến với Nô-ê cùng với các con trai ông và điều khiển chúng để chúng làm theo mệnh-lệnh của Ngài. Tuy nhiên, sự bày-tỏ đẹp đẽ này về quyền-năng của Đức Chúa Trời đã không đụng đến tấm-lòng những người láng giềng của ông, và họ đã bỏ mạng trong Cơn Nước Lụt.
Loài chim loài thú và các vật bò trườn biết tiếng của Đấng Sáng Tạo và vâng lời Ngài, nhưng những người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời đã từ chối chú ý sự kêu-gọi của Đức Chúa Trời. Những thế kỷ sau, Đức Chúa Trời sẽ nói qua Ê-sai tôi-tớ Ngài, “Bò biết chủ mình, lừa biết máng của chủ, song Y-sơ-ra-ên chẳng hiểu biết dân ta chẳng suy nghĩ” (Ês 1:5).
Trong tất cả hành động quan-trọng này. Nô-ê đang hầu việc Chúa và làm-chứng cho một thế giới tội-lỗi. Trong 120 năm (Sa 6:3), Đức Chúa Trời đã nhẫn nhục với tội-nhân vô tâm và chống nghịch, nhưng họ đã không chú ý sứ-điệp của Ngài và đánh mất cơ-hội của mình về sự cứu-rỗi.
3. Một ngư ời yên tâm chờ đợi Đức Chúa Trời (Sa 7:1-24)
Đức Chúa Trời đã khuyên dạy trong Thi 32:9 “chớ như con ngựa hoặc con la”, và Nô-ê vâng theo lời khuyên đó, con ngựa đôi khi muốn lao tới một cách mãnh liệt, còn con la muốn lê chân và bướng bỉnh đứng lại, nhưng Nô-ê bước đi với Đức Chúa Trời và làm việc cho Đức Chúa Trời, để Đức Chúa Trời sắp xếp thời gian biểu.
•Một tuần chờ đợi (Sa 7:1-10).
Từ khi mưa bắt đầu vào ngày 17 tháng 2 (Sa 7:11), vào ngày 10/2 Nô-ê và gia đình ông đã vào tàu theo chỉ dẫn của Đức Chúa Trời (c.1). Suốt tuần lễ cuối cùng đó trước Cơn Nước Lụt, họ đã xong việc tập trung các thú vật và đem theo lương thực cho chúng. Họ làm theo chỉ dẫn của Chúa, tin lời-hứa giao-ước của Ngài, và biết rằng không có gì để sợ hãi.
Đa-vít một ngày kia quan sát một cơn bão có sấm sét và viết ra một bài ca ngợi từ kinh-nghiệm đó (Thi 29:1-11) cho biết ông đã thấy và nghe Đức Chúa Trời thể nào trong cơn bão đó. Khi ông suy gẫm điều xảy ra, Đa-vít nghĩ về cơn bão nổi tiếng nhất của lịch sử trong thời Nô-ê, và ông viết: “Đức Giê-hô-va ngự tại Cơn Nước Lụt, và Đức Giê-hô-va ngự ngôi Vua đời đời” (Sa 29:10 NKJV).
Cơn mưa quét sạch, sấm sét vang dội và tia chớp lóe sáng nhắc nhở Đa-vít về quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Dù những cơn bão của đời sống có thể lớn ra sao, Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngôi khiến cho mọi sự hiệp lại vì ích lợi. Đó là lý do Đa-vít kết thúc bài ca ngợi bằng cách “Đức Giê-hô-va sẽ ban sức mạnh cho dân sự Ngài, Đức Giê-hô-va sẽ chúc phước cho dân sự Ngài bằng sự bình an” (c.11 NKJV).
Vào cuối tuần lễ chuẩn bị cuối cùng đó, Nô-ê cùng gia đình ông vâng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và vào tàu, rồi Đức Chúa Trời đóng cửa tàu và khiến nó an toàn (Sa 7:16). Họ không biết họ sẽ sống trong tàu bao lâu, nhưng Chúa biết và tất cả điều đó thật sự quan trọng. “Kỳ hạn tôi ở trong tay Chúa” (Thi 31:15 NKJV). Một năm 10 ngày trôi qua, chính Đức Chúa Trời đã mở cửa và mời họ bước ra để sống trên đất của Ngài đã được tẩy thanh mới mẻ (Sa 8:16).
• Ngày tính sổ (Sa 7:11-24).
Cơn Nước Lụt là sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với một thế giới gian ác. Đức Chúa Trời đã mở những đập trên trời để những cơn mưa như trút nước đổ xuống, và “mọi nguồn của vực lớn nổ ra” (c.11), vì vậy ngay cả những ngọn núi cao nhất cũng bị ngập nước (c.20). Đức Chúa Trời đã chờ đợi hơn một thế kỷ để tội nhân ăn năn, và giờ đây đã quá trễ. “Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi Ngài có thể gặp được, hãy kêu cầu Ngài trong khi Ngài ở gần” (Ês 55:6).
Mưa đã tạnh sau 40 ngày, tức là vào ngày 27 tháng 3 (Sa 7:12). Tuy nhiên, nước tiếp tục dâng lên 110 ngày nữa và đạt đến cao điểm của nó sau 150 ngày (c.24). Vào lúc đó, chiếc tàu tấp trên ngọn núi A-ra-rát (Sa 8:4). Phải mất 150 ngày để nước rút xuống (c.3), đưa chúng ta đến ngày 17 tháng 12. Hai tháng 10 ngày sau đó, Nô-ê cùng gia đình ông rời khỏi tàu và thả các thú vật được tự do (c. 14) Từ ngày Đức Chúa Trời đóng cửa tàu, họ đã ở trong tàu 1 năm 10 ngày.
• Một sự xét đoán toàn thế giới.
Trong những năm gần đây, những người muốn làm cho Kinh Thánh thích hợp với những quan điểm của khoa học hiện đại nên đã lựa chọn một Cơn Nước Lụt nào đó “có giới hạn” chớ không mang tính toàn cầu. Họ gợi ý rằng người viết Sáng-thế ký đã sử dụng “ngôn ngữ bề ngoài” và chỉ mô tả điều ông có thể thấy.
Có những vấn đề đối với cả hai quan điểm, nhưng sự giải thích “có giới hạn” dường như yếu hơn [61] Ngôn ngữ rõ ràng của bản văn dường như xác định rằng Đức Chúa Trời đang đem đến một sự xét đoán toàn thế giới, Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ hủy diệt loài người và loài vật “khỏi mặt đất” (Sa 6:7) [62], và “mọi loài sống” sẽ bị hủy diệt (Sa 7:4, 21, 23; Sa 8:21).
Nếu các ngọn núi bị ngập đến một độ cao như thế đến nỗi chiếc tàu có thể nổi trên dãy núi A-ra-rát và cuối cùng nằm trên đỉnh, vậy toàn bộ hành tinh phải bị chìm đắm hoàn toàn (Sa 7:18-20).
Người đọc Sa 6:1-9:29 lần đầu tiên sẽ kết luận rằng Cơn Nước Lụt mang tính toàn cầu.
Nhưng nếu Cơn Nước Lụt không mang tính toàn cầu thì tại sao Đức Chúa Trời ban cái cầu vồng làm một dấu hiệu toàn cầu của giao-ước Ngài? (Sa 9:11-15). Tại sao người trong một địa phương sẽ cần một dấu hiệu như thế? Hơn nữa, nếu Cơn Nước Lụt là một sự kiện cục bộ thì tại sao Đức Chúa Trời bảo Nô-ê đóng một chiếc tàu lớn như thế để cứu gia đình ông và các loài vật? Nô-ê chắc chắn có đủ thời gian để tập trung gia đình ông cùng các loài vật trong vùng đó và dẫn họ đến một nơi mà Cơn Nước Lụt sẽ không đến. [63]
Đức Chúa Trời đã hứa rằng Ngài sẽ không bao giờ giáng Cơn Nước Lụt nào khác giống như Cơn Nước Lụt Ngài đã giáng trong thời Nô-ê (c.8-17). Nhưng nếu Cơn Nước Lụt chỉ là một sự kiện cục bộ, Đ ức Chúa Trời đã không giữ lời hứa Ngài!
Bao thế kỷ qua, đã có vô số cơn lụt địa phương, một số cơn lụt đem đến tử vong và sự tàn phá cho các vùng địa phương. Chỉ trong năm 1996, cơn lụt lớn ở Afganistan trong tháng 4 đã khiến 3.000 người mất nhà ở, và trong tháng 7, cơn lụt ở miền Bắc Bangladesh đã hủy diệt các nhà cửa của trên 2 triệu người. Trong tháng 7 và tháng 8, những con sông Yellow, Yangtze và Hai đã làm ngập lụt 9 tỉnh ở Trung Quốc và khiến 2.000 người chết. Nếu Cơn Nước Lụt thời Nô-ê là một sự kiện mang tính địa phương, thì lời hứa và dấu hiệu giao-ước về cái cầu vồng của Đức Chúa Trời chẳng có ý nghĩa gì cả.
Việc đọc bản văn một cách đơn giản khiến chúng ta tin rằng Cơn Nước Lụt là một sự xét đoán toàn thế giới vì “Hết thảy xác thịt làm bại hoại đường lối Ngài (Đức Chúa Trời) trên đất” (Sa 6:12). Chúng ta không biết nền văn minh đã lan ra trên hành tinh chúng ta mức độ nào, nhưng bất cứ nơi đâu con người đi đến, đều có tội lỗi đáng phải bị xét đoán, Cơn Nước Lụt làm chứng cho tội lỗi cả thế gian và sự xét đoán toàn thế giới.
Chúa Giê-xu và Phi-e-rơ đã sử dụng Cơn Nước Lụt để minh họa những sự kiện tương lai sẽ liên quan đến cả thế giới: Sự Tái Lâm của Đấng Christ (Mat 14:37-39; Lu 17:26-27) và sự đoán xét toàn thế giới bằng lửa (IIPhi 3:3-7). Nếu Cơn Nước Lụt chỉ mang tính địa phương, thì những điều tương tự này là giả dối và lầm lạc. Phi-e-rơ cũng viết rằng Đức Chúa Trời đã không tha cho “thế giới ngày xưa” (NKJV) khi Ngài giáng Cơn Nước Lụt, ngụ ý nhiều địa phận hơn là một vùng giới hạn.
• Một gia đình kiên nhẫn.
Mặc cho sự tàn phá bên ngoài, Nô-ê với gia đình ông và các loài vật được an toàn bên trong chiếc tàu. Dù họ cảm thấy thế nào, hay chiếc tàu tròng trành trên mặt nước ra sao, họ vẫn an toàn trong ý muốn của Đức Chúa Trời.
Họ đã kiên nhẫn chờ đợi Đức Chúa Trời hoàn thành công việc Ngài và đặt họ trở lại trên đất. Nô-ê cùng gia đình ông đã trải qua một năm 17 ngày trong tàu, và dù họ có công việc hằng ngày để làm, đó là một thời gian dài để ở trong một chỗ. Nhưng “bởi đức tin và lòng nhịn nhục” mà chúng ta hưởng những phước hạnh Đức Chúa Trời hứa ban (Hêb 6:12; Hêb 10:36), và Nô-ê đã sắm sẵn chờ đợi Chúa.
Phi-e-rơ nhìn thấy trong từng trải của Nô-ê một bức tranh về sự cứu rỗi bởi đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ (IPhi 3:18-22). Đất trong thời Nô-ê đã bị chìm ngập trong nước, nhưng chiếc tàu nổi trên mặt nước và đưa Nô-ê cùng gia đình ông đến nơi an toàn . [64] Đối với Phi-e-rơ, đây là 12 hình ảnh về báp-têm: chết, chôn và sống lại. Đất đã “chết” và “chôn” vì nước, nhưng chiếc tàu nổi lên (“sự sống lại”) để giúp gia đình này vượt qua an toàn.
Chúa Giê-xu đã chết, được chôn và sống lại; và bởi công việc được hoàn tất của Ngài, chúng ta có sự cứu rỗi thoát khỏi tội lỗi. Phi-e-rơ cho biết rõ rằng nước của lễ báp-têm không tẩy sạch tội lỗi. Chính sự vâng phục của chúng ta đối với mệnh lệnh của Đức Chúa Trời để chịu báp-têm (Mat 28:19-20) làm sạch lương tâm hầu cho chúng ta được công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Nhà giải kinh người Anh Alexander Maclaren đã nói.
Trong 120 năm, những kẻ dí dỏm đã cười nhạo, và những người có “ý thức thông thường” đã ngạc nhiên, còn vị thánh-đồ kiên nhẫn tiếp tục việc đóng và dựng con tàu của ông. Nhưng một buổi sáng nọ, trời bắt đầu mưa, và bằng cách nào đó, theo những mức độ, Nô-ê hoàn toàn không có vẻ là một người dại dột. Những lời chế nhạo sẽ có vẻ khác đi nhiều khi nước dâng lên đến đầu gối của những kẻ chế nhạo, những lời mỉa mai, sẽ dính nơi cổ họng của họ khi họ chết đuối.
Điều đó luôn như vậy, vì thế điều đó sẽ xảy ra vào ngày trọng đại cuối cùng. Những người đã sống cho tương lai, bởi đức tin nơi Đấng Christ, sẽ được nhận thấy là người khôn ngoan khi tương lai trở thành hiện tại, và hiện tại trở thành quá khứ, và đi qua mãi mãi, trong khi những kẻ không có mục đích gì ngoài những vật chất của đời, giờ đây bị chìm đắm dưới chân trời tối tăm, sẽ thức tỉnh quá trễ để tin rằng mình ở ngoài chiếc tàu của sự an toàn, và văn bia thật nhất của họ là “Ngươi-kẻ ngu dại”. [65]
8. ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA NHỮNG KHỞI ĐẦU MỚI (Sa 8:1-22)
Khi các tín-hữu khao khát nghiên cứu Kinh Thánh để tìm đọc điều gì đó gây khích lệ, dường như họ thích mở Rô 8:1-39 hơn là Sa 8:1-22. Xét cho cùng, Rô 8:1-39 là một trong những chương động viên nhất ở Kinh Thánh, trong lúc Sa 8:1-22 mô tả hoạt động “quét sạch” của Đức Chúa Trời sau Cơn Nước Lụt.
Nhưng lần sau bạn thấy chính mình trong một cơn bão, thì Sa 8:1-22 có thể cho bạn hy vọng và sự khích lệ mới mẻ. Vì chủ đề chính của chương này là sự đổi mới và sự yên nghỉ sau hoạn nạn. Chương này ghi lại kết thúc của cơn bão, khởi đầu của một đời sống mới cho hy vọng cho dân sự Đức Chúa Trời và sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Chỉ hãy xem xét điều Đức Chúa Trời làm trong Sa 8:1-22 và can đảm!
1. Đức Chúa Trời nhớ đến những người thuộc về Ngài (Sa 8:1a)
Khi bạn trải qua một cơn bão, thật dễ cảm thấy mình bị bỏ rơi. Một tín-hữu Hội thánh mà tôi thăm viếng trong bệnh viện đã nói: “Tôi nghĩ Chúa đã quên tôi”.
Trong tâm trí bà, bà có thể nhớ lại Hêb 13:5 và trích dẫn nó (“Ta sẽ chẳng bao giờ lìa ngươi hay bỏ ngươi” (NKJV), nhưng trong lòng, bà cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi. Đức Chúa Trời của bà ở đâu? Cơn bão khi nào sẽ chấm dứt?
Cảm thấy bị bỏ rơi là cảm xúc bình thường của con người mà đa số chúng ta đã trải qua, dù chúng ta có thừa nhận hay không. Tác giả Thi-thiên đã hỏi: “Đức Giê-hô-va ôi, vì cớ gì Ngài đứng xa? Lúc gian truân tại sao Ngài ẩn mặt đi?” (Thi 10:1).
Phao-lô thú nhận rằng những hoạn nạn của ông ở xứ A-si quá khắc nghiệt đến nỗi ông hầu như mất sự sống (IICôr 1:8), và Chúa Giê-xu, Đấng trải qua mọi thử thách của con người, đã kêu lên tại thập tự giá. “Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mat 27:46). Cảm thấy cô độc là điều không có gì mới đối với dân sự Đức Chúa Trời, nhưng khi ấy họ nhớ lại bài hát:
Đức Chúa Trời vẫn ngự trên ngôi,
Và Ngài sẽ nhớ đến những người thuộc về Ngài!
Từ “nhớ” trong Sa 8:1 không có nghĩa là nhắc nhở điều gì đó có thể đã bị quên. Đức Chúa Trời không thể quên bất cứ điều gì, vì Ngài biết kết cuộc từ lúc khởi đầu. Đúng hơn, nó có nghĩa là “chú ý đến, thưc hiện một lời hứa và hành động vì cớ ai đó”.
Ví dụ, lời hứa của Đức Chúa Trời, “Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng” (Hêb 14:17) có nghĩa là Đức Chúa Trời không cần giữ tội của chúng ta và đối xử chúng ta như tội nhân. Chắc chắn Đức Chúa Trời biết điều chúng ta đã làm, nhưng vì đức tin của chúng ta nơi Chúa Giê-xu Christ, tội lỗi chúng ta “bị quên”. Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta như thể tội lỗi của chúng ta chưa bao giờ phạm! Chúa không còn nhớ đến chúng nữa.
Nhớ đến nghĩa là hành động vì cớ người khác. Đức Chúa Trời nhớ đến Áp-ra-ham và cứu Lót khỏi sự hủy diệt trong thành Sô-đôm (Sa 19:29). Chúa nhớ đến Ra-chên cùng An-ne và khiến họ có thể thụ thai và sanh những đứa con trai (Sa 30:22; ISa 1:11, 19). Chúa nói đến giao-ước Ngài và giải cứu dân Do-thái khỏi ách nô lệ ở Ai-cập (Xu 2:24; Xu 6:5).
“Nhớ” ngụ ý về một lời hứa trước đó do Đức Chúa Trời lập và tuyên bố sự hoàn thành lời hứa đó. [66] Nô-ê, gia đình ông và các loài vật đã cùng ở trong tàu hơn một năm, một “sự sống với nhau” khá nhiều. Họ đã mất kiên nhẫn với nhau hoặc với các loài vật chăng? Không có ghi chép nào cho thấy Đức Chúa Trời đã nói gì với họ sau khi Ngài đóng cửa trời, vì vậy có thể một vài người trong gia đình trải qua một sự sợ hãi đôi lúc thoáng qua rằng có thể Đức Chúa Trời đã không quan tâm đến họ nữa.
Đức Chúa Trời không chỉ nhớ đến Nô-ê và gia đình ông, Ngài cũng nhớ đến các loài vật ở cùng họ trong tàu [67] Đức Chúa Trời đã giữ lại những sinh vật này để chúng có thể sống trên đất được đổi mới và sinh sản tùy theo loại. Đó là ước muốn của Ngài để các tạo vật của Ngài vui hưởng đất và góp phần vào hạnh phúc của những con người Ngài đã tạo nên theo hình ảnh Ngài. Như chúng ta sẽ thấy sau đó, các loài vật được bao gồm trong giao-ước của Đức Chúa Trời với Nô-ê.
Chúng ta có thể chắc rằng Đức Chúa Trời không bao giờ quên hay từ bỏ dân sự Ngài, không chỉ vì những lời hứa của Ngài, mà còn vì tính cách của Ngài [68] Đức Chúa Trời là tình yêu và nơi đâu có tình yêu, nơi đó có sự thành tín. Ngài không bao giờ có thể phủ nhận chính Ngài hay Lời Ngài, vì Ngài là Đức Chúa Trời thành tín, và Ngài không bao giờ có thể thay đổi, vì Ngài không thể thay đổi.
Vì Ngài là toàn vẹn, Đức Chúa Trời không thể thay đổi để trở nên tồi tệ hơn. Chúng ta có thể nhờ cậy nơi Ngài cho dù hoàn cảnh chúng ta thế nào hay chúng ta cảm thấy ra sao.
2. Đức Chúa Trời đổi mới thế giới của Ngài (Sa 8:1b-14)
Theo Sa 7:24, Cơn Nước Lụt đạt đến đỉnh cao của nó trong 150 ngày. Cơn mưa như thác và sự dâng trào nước từ dưới đất đều đã chấm dứt (Sa 8:2 xem NIV và NASB), Và trong 5 tháng kế tiếp, Đức Chúa Trời khiến cho nước rút xuống và để lại đất khô.
Nước Lụt đã đi đâu? Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của nước di chuyển! Có thể Nước Lụt đã thay đổi nhiều những đường nét của đất và tạo ra những vùng mới để nước choán chỗ, cả trên bề mặt trái đất và dưới đất [69] Vì có những sự phun trào từ dưới đất (Sa 7:11), toàn bộ các lục địa và các dãy núi có thể đã trồi lên và sụp xuống, tạo nên sẽ khu vực lớn mà nước có thể tràn vào.
Những cơn gió Đức Chúa Trời đã cho thổi trên đất giúp làm bay hơi nước và cũng di chuyển nước đến những nơi Đức Chúa Trời đã quy định. Một Đức Chúa Trời đủ quyền năng để che phủ đất bằng nước, cũng đủ khôn ngoan để biết cách giải quyết nước khi công việc của nó đã được hoàn tất.
Những thế kỷ sau, cơn gió của Đức Chúa Trời sẽ đem cào cào vào Ê-díp-tô và sau đó đuổi chúng xuống Biển đỏ, và tạo một con đường khô ráo cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ rời Ê-díp-tô (Sa 14:21-22; Sa 15:10). Cơn gió bão thực hiện Lời Đức Chúa Trời (Thi 148:8).
Vào ngày 17 tháng 7, chiếc tàu tấp trên một đỉnh của dãy núi A-ra-rát, ở vị trí Thổ Nhĩ kỳ ngày nay. Chúng ta không biết đó là đỉnh núi nào, những nhà thám hiểm tìm kiếm những phần còn lại của chiếc tàu không thể tìm thấy nhiều dữ kiện Kinh Thánh để giúp họ. Trong những năm sau đó, tháng 7 rất đặc biệt đối với dân Do-thái, vì suốt tháng đó họ bước vào năm mới với lễ K èn và dự lễ Chuộc Tội cùng lễ Lều Tạm (Lê 23:23-44). [70]
Bản văn Hê-bơ-rơ nói rằng “chiếc tàu yên nghỉ, nhắc nhở chúng ta rằng tên của Nô-ê nghĩa là “sự yên nghỉ” và Lê-méc cha ông hy vọng rằng con trai mình sẽ đem đến sự yên nghỉ cho một thế giới mệt mỏi (Sa 5:28-29). Dù chiếc tàu đã yên nghỉ an toàn, Nô-ê đang chờ đợi Chúa bảo ông điều phải làm. Ông đã chờ đợi 40 ngày và sau đó thả con quạ ra, là một loài chim ô uế ăn xác chết (Lê 11:13-15), nó cảm thấy dễ chịu giữa vòng những xác chết trôi nổi.
Nô-ê đã đợi một tuần và sau đó thả một con bồ câu ra, là một loài chim tinh sạch, nó không tìm thấy nơi nào để đáp xuống, vì vậy nó trở lại tàu (Sa 8:8-9). Một tuần lễ sau, Nô-ê biết rằng thực vật đang mọc lên và sự sống mới đã xuất hiện trên đất (c.10-11). Con bồ câu mang một nhánh ô-li-ve là dấu hiệu quen thuộc về sự bình an khắp thế giới. Một tuần sau, khi Nô-ê thả bồ câu lần thứ 3, nó không trở về, vì vậy ông biết nước đã khô cạn. [71]
Nô-ê đã làm một “cửa sổ” ở tầng dưới của chiếc tàu (c.6 NIV viết “cái nắp”) và ông mở cửa sổ này ra để ông có thể quan sát thế giới quanh mình. Việc này xảy ra vào ngày các hành khách đã ở trong tàu trọn một năm. Nô-ê thấy rằng đất thật sự đã khô, nhưng ông không ra khỏi tàu cho đến khi Chúa bảo ông rời tàu. Hai mươi sáu ngày sau, mệnh lệnh đó truyền đến và ông vâng lời (c.15).
3. Đức Chúa Trời ban thưởng cho đức tin (Sa 8:15-19)
Nô-ê là một người có đức tin mà tên ông được ghi lại trong Hêb 11:1-40 cùng với tên của những anh hùng đức tin khác (c.7). Ông có đức tin để đồng đi với Đức Chúa Trời khi người thế gian phớt lờ và bất tuân Đức Chúa Trời. Ông có đức tin để làm việc cho Đức Chúa Trời và làm chứng cho Đức Chúa Trời khi sự chống đối chân lý là điều phổ biến. Giờ đây Cơn Nước Lụt đã qua, ông vận dụng đức tin để chờ đợi Đức Chúa Trời trước khi rời khỏi tàu.
Sau khi bị giữ trong tàu hơn một năm, ông và gia đình ông chắc đã ao ước trở lại trên đất khô: nhưng họ chờ đợi những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời. Những hoàn cảnh trên đất có vẻ thích hợp cho sự lên bờ của họ, nhưng đó không phải là sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời muốn họ ra ngay và bắt đầu đời sống mới của họ. Đức tin vâng phục là đáp ứng của chúng ta đối với Lời Đức Chúa Trời, vì “đức tin đến bởi sự nghe, và sự nghe đến bởi Lời Đức Chúa Trời” (Rô 10:17 NKJV).
Phải chăng Nô-ê đang bày tỏ sự vô tín khi ông thả các loài chim và mở cửa hầm để nhìn địa thế? Không ông chỉ sử dụng những cơ hội có sẵn để thu thập dữ kiện. Không có gì sai khi có một sự hiểu biết về hoàn cảnh, chỉ đừng cậy nơi sự thông hiểu của riêng bạn (Ch 3:5-6). Vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời không chỉ đòi hỏi làm điều đúng trong cách đúng vì động cơ đúng, nhưng nó cũng có nghĩa là làm điều đó đúng lúc “Kỳ hạn tôi ở trong tay Chúa” (Thi 31:15 NKJV).
Đức Chúa Trời đã ban thưởng cho đức tin của Nô-ê, và đức tin của gia đình ông, bằng cách chăm sóc họ trong tàu hơn một năm và sau đó chuẩn bị đất cho họ để họ có thể rời tàu. Nô-ê giống một “A-đam thứ 2” khi ông thực hiện khởi đầu mới này cho dòng dõi loài người. Đức Chúa Trời đã đem đất ra khỏi nước suốt tuần lễ sáng tạo, chuẩn bị đất cho A-đam cùng Ê-va.
Và giờ đây Ngài đã đem đất vượt qua Cơn Nước Lụt và chuẩn bị nó sẵn sàng cho Nô-ê cùng gia đình ông. Chúa còn ban cho gia đình Nô-ê và các loài vật mệnh lệnh tương tự mà Ngài đã ban từ buổi đầu: “Hãy sanh sản và thêm nhiều” (Sa 8:17; Sa 1:22, 28).
Nô-ê đã chuẩn bị chiếc tàu “để cứu nhà mình” (Hêb 11:7), và Đức Chúa Trời thành tín đã cứu gia đình của ông. Không có biểu hiện nào trong Kinh Thánh cho thấy Nô-ê bằng sự làm chứng của mình đã mời những người khác gia nhập với ông và gia đình ông trong tàu, nhưng chắc chắn ông hẳn đã khích lệ họ tin cậy Đức Chúa Trời và chuẩn bị chếc tàu cho chính họ. Dĩ nhiên, không ai xem trong sứ-điệp của ông, và thế giới thời bấy giờ đã hủy diệt (IIPhi 3:6).
Điều gì đã khiến cư dân chối bỏ Lời Đức Chúa Trời và bị hư mất? Họ giống như những người trong câu chuyện của Chúa chúng ta (Lu 14:16-24), bận rộn với những việc bình thường của đời sống hằng ngày (Mat 24:37-39) và không quan tâm đến cõi đời đỡi.
Họ tin rằng đời sống sẽ tiếp diễn và luôn như vậy, và không có gì sẽ thay đổi. Họ nói rằng Đức Chúa Trời sẽ không xâm lấn thế giới hoặc ngăn trở kế hoạch của mọi việc, nhưng Ngài đã làm! Con người ngày nay có thái độ tương tự đối với sự tái lâm của Chúa (IIPhi 3:1-9; ITês 5:1-10).
Khi nói về đức tin cứu rỗi, mỗi người chúng ta phải tin nhận Chúa Giê-xu Christ cách cá nhân, chúng ta không thể được cứu bởi đức tin của một người thay thế. Vợ của Nô-ê, ba con trai của họ và ba con dâu của họ cũng là những tín hữu, và họ chứng tỏ điều đó bằng cách đứng cùng với Nô-ê trong khi ông làm việc và làm chứng, và sau đó bằng cách vào tàu trong sự vâng lời Chúa. [72]
4. Đức Chúa Trời tiếp nhận sự thờ phượng (Sa 8:20)
Sau khi bước ra khỏi tàu và đứng trên đất mới, Nô-ê đầy lòng biết ơn đến nỗi hành động đầu tiên của ông là hướng dẫn gia đình ông trong sự thờ phượng. Ông xây một bàn thờ và dâng một số loài vật tinh sạch làm của lễ cho Chúa.
Nô-ê là một tín hữu quân bình. Ông bước đi với Chúa trong sự giao thông đầy yêu thương và vui hưởng sự hiện diện của Ngài. Ông làm việc cho Chúa trong sự đóng tàu, và ông làm chứng cho Chúa như “thầy giảng đạo công bình” (IIPhi 2:5). Lúc ở trong tàu, ông chờ đợi Chúa để có những chỉ dẫn về việc ông rời tàu, và một khi ông đứng trên đất, ông thờ phượng Chúa. Giống như A-bên ông đem cho Đức Chúa Trời vật tốt nhất của ông (Sa 4:4) và giống như những người dòng Sết còn sót lại, ông kêu cầu danh Chúa (Sa 4:26). Sự thờ phượng Chúa thật đã được phục hồi trên đất.
Trong thời Cựu-ước, khi bạn dâng của lễ thiêu, bạn dâng toàn bộ con thú hay loài chim cho Chúa mà không giữ lại gì cả (Lê 1:1-17). “Tất cả trên bàn thờ” (c.9) là luật của Kinh Thánh, vì của lễ tượng trưng cho sự dâng mình hoàn toàn cho Chúa [73] Trong một bước mới của sự phó thác, “Nô-ê dâng chính mình và gia đình” ông hoàn toàn cho Chúa. Đức Chúa Trời nhân từ bảo vệ họ và đưa họ vượt qua cơn bão, vì vậy chỉ thật thích hợp để họ khiến mình sẵn sàng cho Chúa để làm theo ý muốn Ngài.
Sự mô tả về việc Đức Chúa Trời “ngửi mùi thơm” (Sa 8:21 KV) là một cách của con người nói lên một chân lý thiên thượng: Đức Chúa Trời hài lòng với của lễ, chấp nhận nó, và hài lòng với dân sự Ngài cùng sự thờ phượng của họ (Lê 1:9; Lê 3:16). Nếu Đức Chúa Trời từ chối “ngửi” mùi thơm của lễ, điều đó có nghĩa là Ngài không đẹp lòng với những người thờ phượng (Lê 26:31; Ês 1:11-15) [74]
Trong ngôn ngữ Tân-ước, của lễ nói về Chúa Giê-xu Christ dâng chính Ngài vì chúng ta. “Hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương chúng ta và phó chính mình Ngài vì chúng ta, một của dâng và của tế lễ cho Đức Chúa Trời làm một thức hương có mùi thơm” (Êph 5:2 NKJV).
Tự mình, chúng ta không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bởi địa vị chúng ta có hay điều chúng ta làm, nhưng bởi đức tin, chúng ta có thể được chấp nhận trong Chúa Giê-xu Christ. Cha đã phán về Chúa Giê-xu “Này là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mat 3:17). Những ai đặt đức tin nơi Đấng Christ đều “ở trong Đấng Christ” (IICôr 5:17), và khi Cha nhìn họ, Ngài thấy sự công bình của Con Ngài (IICôr 5:21). Các tín-hữu được “chấp nhận trong Con yêu dấu” Đấng đẹp lòng Cha mọi đàng (Êph 1:6).
Giống như chiếc tàu đã cứu Nô-ê và gia đình ông, Chúa Giê-xu Christ đã vượt qua cơn bão về sự xét đoán của Đức Chúa Trời cho chúng ta. Giô-na, là một điển hình về Đấng Christ trong sự chết, chôn, và sống lại (Mat 12:38-40), đã vượt qua cơn bão về sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời vì sự bất tuân của ông, nhưng Chúa Giê-xu đã vượt qua cơn bão trong sự vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu có thể nói: “Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi” (Thi 42:7; Gion 2:3). Sự thưong khó của Chúa chúng ta trên thập tự giá là “sự báp-têm” mà Chúa Giê-xu đã đề cập trong Lu 12:50 và điều đó được mô tả khi Giăng Báp-tít làm báp-têm cho Chúa Giê-xu ở sông Giô-đanh.
5. Đức Chúa Tái xác định trật tự thiên nhiên (Sa 8:21-22)
Chúa đã không phán những lời này với Nô-ê, Ngài phán những lời ấy với chính Ngài trong lòng Ngài. Đó là đáp ứng nhân từ của Ngài đối với đức tin, sự vâng phục và sự thờ phượng của Nô-ê. Đức Chúa Trời đã hứa điều gì?
• Đất không bị rủa sả nữa (Sa 8:21a).
Đức Chúa Trời rủa sả đất vì tội lỗi A-đam (Sa 3:17) và thêm một sự rủa sả nữa vì tội lỗi Ca-in (Sa 4:11-12). Lời hứa của Đức Chúa Trời được ghi lại ở đây không làm mất hiệu lực những sự rủa sả đó, và chúng ta sẽ không bị cất đi cho đến khi Chúa Giê-xu Christ tái lâm và dân sự Đức Chúa Trời ở trong thành thánh (Kh 22:3). Nhưng trong ân-điển Ngài, Đức Chúa Trời quyết định không thêm vào tai họa của con người.
• Không có những cơn lụt toàn cầu nữa (c.21b).
Đức Chúa Trời cũng quyết định rằng sẽ không có những cơn lụt trong tương lai nữa. Lý do của Đức Chúa Trời được trình bày trong c.21 đã được giải thích khác nhau, và sự giải thích của bạn tùy thuộc vào mức độ nào đó về cách bạn dịch bản văn.
Phải chăng Đức Chúa Trời phán “cho dù mọi khuynh hướng của lòng loài người là xấu” (KJV, NIV), hay Ngài phán “cho dù mọi khuynh hướng của lòng người là xấu” (NIV)?
Từ đầu Chúa đã giáng Cơn Nước Lụt vì tấm lòng xấu xa của loài người (Sa 6:5). Vì vậy, không giáng sự xét đoán khác sẽ khiến điều đó giống như Cơn Nước Lụt là một sai lầm hay một thất bại hoặc Đức Chúa Trời đã từ bỏ dòng dõi loài người được dựng nên theo hình ảnh Ngài.
Nếu chúng ta dịch Sa 8:21 “vì”, rồi chúng ta cho rằng Đức Chúa Trời nói “lòng loài người là gian ác không thể chữa được. Cơn Nước Lụt đã xoá sạch những kẻ vi phạm, nhưng nó không thể chữa được. C ơn Nước Lụt đã xóa sạch những kẻ vi phạm, nhưng nó không thể thay đổi lòng người. Vì vậy, có sự xét đoán khác cũng sẽ không giải quyết vấn đề”.
Nếu chúng ta dịch “cho dù như vậy”, có nghĩa là Đức Chúa Trời nói“vâng, họ đáng lãnh sự xét đoán vì lòng họ gian ác. Và việc cứ ở trong tội lỗi mà không học bài học của mình từ cơn nước lụt này chỉ cho thấy họ xấu xa thể nào. Nhưng trong ân-điển, ta sẽ không giáng cơn nước lụt khác hay rủa sả đất”
• Có lẽ cả hai điều đúng.
Điều quan trọng là Đức Chúa Trời phán những lời này trong sự đáp ứng của lễ của Nô-ê, và của lễ là một bức tranh về sự hy sinh của Đấng Christ (Hêb 10:1-10; Êph 5:2). Trên cơ sở sự chuộc tội được Chúa Giê-xu Christ thực hiện tại thập tự giá, Đức Chúa Trời có thể phán: “Một giá đã được trả cho tội lỗi của thế gian, và ta có thể rút lại sự xét đoán. Sự công bình đã được đáp ứng, Luật pháp của ta đã được gìn giữ, và ta có thể bày tỏ ân-điển cho một thế giới hư mất. Ta sẽ không giáng cơn nước lụt khác và xóa sạch dòng dõi loài người. Ngược lại, ta sẽ ban cho họ sự cứu rỗi lớn của ta.”
Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời không xét đoán tội lỗi hôm nay hoặc sẽ không có sự xét đoán thế gian trong tương lai. Rô 1:18 cho biết rõ rằng sự xét đoán của Đức Chúa Trời đang được bày tỏ nghịch với tội nhân ngay bây giờ qua những hậu quả của tội lỗi. Đức Chúa Trời đã giao họ xiềng xích tội lỗi của chính họ và bỏ mặc họ những hậu quả của tội lỗi trong chính thân thể họ.
Một trong những sự xét đoán lớn nhất Đức Chúa Trời có thể giáng cho tội nhân là để họ theo ý riêng của họ và trả giá cho điều đó trong chính đời sống của họ. Đó là sự xét đoán mà thế gian đang kinh nghiệm ngay bây giờ. Sẽ có một sự xét đoán toàn cầu trong tương lai, nhưng không phải là một sự xét đoán bằng nước. Đó sẽ là một sự xét đoán bằng lửa (IIPhi 3:1-18).
• Không có sự gián đoạn về chu kỳ của thiên nhiên (Sa 8:22).
Cơn Nước Lụt đã làm gián đoạn chu kỳ bình thường của các mùa trong một năm, nhưng điều đó sẽ không bao giờ lặp lại nữa. Trái lại, Đức Chúa Trời đã tái xác định rằng sự nhịp nhàng của ngày, tuần và mùa sẽ tiếp tục bao lâu đất tồn tại. Nếu không có sự đảm bảo này, loài người có thể không bao giờ biết chắc về việc có những thứ cần thiết của đời sống.
Chúng ta giờ đây biết rằng chu kỳ đều đặn của ngày và đêm, tuần và tháng, mùa và năm, được duy trì bởi sự quay vòng của trái đất trên trục của nó và quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời. Đức Chúa Trời đã tạo ra chu kỳ cách ấy để vũ trụ của Ngài sẽ hoạt động hữu hiệu.
Mặc dù có vô số ngân hà để chọn lựa, Chúa quyết định đổ đầy tình yêu và ân-điển của Ngài trên cư dân của trái đất. “Đất thuộc về Đức Giê-hô-va” (Thi 24:1). Chúa đã sắp xếp vũ trụ để mọi vật sống trên đất có thể được duy trì và điều này bao gồm cả những người nam người nữ là những người rất thường quên sự chăm sóc của Đức Chúa Trời.
Sự bảo đảm trong Sa 8:22 cho chúng ta hy vọng và khích lệ khi chúng ta đối diện với một tương lai chưa biết. Mỗi khi chúng ta đi ngủ vào ban đêm hay giở lịch sang một tháng mới, chúng ta sẽ được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời quan tâm về hành tinh trái đất và cư dân trái đất. Với sự phát minh về ánh sáng điện cùng những phương tiện giao thông vận tải hiện đại, thế giới chúng ta đã đi xa khỏi việc sống bởi những chu kỳ thiên nhiên do Đức Chúa Trời thiết lập.
Chúng ta không còn đi ngủ lúc mặt trời lặn và thức dậy lúc mặt trời mọc, và nếu chúng ta không thích thời tiết nơi mình ở, chúng ta có thể nhanh chóng đi du lịch đến một môi trường khí hậu khác. Nhưng nếu Đức Chúa Trời muốn làm mặt trời mờ tối, sắp xếp lại các mùa, hay làm trái đất nghiêng đi một góc khác, sự sống chúng ta lâm nguy.
Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta sống từng ngày một. Chúa Giê-xu đã dạy chúng ta cầu nguyện “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” (Mat 6:11) và cảm tạ về điều đó. “Các ngày ngươi bao lâu, sức lực ngươi cũng sẽ b ấy nhiêu” (Phuc 33:25 NKJV; Mat 6:25-34). Khi các môn-đồ can Chúa Giê-xu đừng đi đến Bê-tha-ni, Ngài đáp: “Trong ban ngày há chẳng phải có 12 giờ sao?” (Gi 11:9). Ngài đã vâng theo thời gian biểu của Cha và sống từng ngày một, tin cậy Cha chăm sóc Ngài.
“Giao-ước ngày và đêm” của Đức Chúa Trời đặc biệt có ý nghĩa đối với dân Y-sơ-ra-ên, vì nó đảm bảo với họ sự chăm sóc và bảo vệ của Ngài để họ sẽ không bao giờ thôi làm một dân tộc (Giê 33:19-26). Lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ không giáng cơn nước lụt khác là sự bảo đảm cho dân Do-thái rằng giao ước của Ngài với họ sẽ chẳng bao giờ bị phá vỡ (Ês 54:7-10).
Chúng ta có khuynh hướng xem việc mặt trời mọc và mặt trời lặn là điều bình thường, nhưng mọi chức năng này chính là những chứng cớ cho thấy Đức Chúa Trời ngự trên ngôi và giữ những lời hứa của Ngài. Mọi sự sáng tạo rao ra một bài giảng bất biến, ngày này sang ngày nọ, mùa này tiếp mùa khác, bảo đảm với chúng ta về sự chăm sóc yêu thương của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể tin cậy lời Ngài vì “chẳng có m ột lời nào không ứng nghiệm về mọi lời hứa tốt lành của Ngài” (IVua 8:56).
9. HÃY ĐẾN VỚI SỰ SỐNG! (Sa 9:1-17)
“Hãy đến với sự sống” là một trong những bài hát vui nhất trong “Fiddler on the roof” một khúc nhạc mô tả đời sống người Do-thái trong ngôi làng nhỏ Anatevka.
Người bán sữa tên Tevge và những láng giềng của anh cô thế, nghèo nàn và không biết chắc về tương lai họ ở nước Nga chuyên chế. Nhưng họ vẫn ca tụng đời sống như một món quà vui mừng từ một Đức Chúa Trời nhân từ. Dù đó là sự tuyên bố đính hôn, sự ra đời của một em bé, hay thậm chí một chiếc máy may vừa được gởi đến, những cư dân Anatevka, khiêm nhường đã tìm thấy những lý do để tạ ơn vì những phước hạnh của đời sống.
Trong phân đoạn này (Sa 9:1-17), Đức Chúa Trời nói với 8 người sống sót trong Cơn Nước Lụt và cho họ những chỉ dẫn về 4 lĩnh vực của đời sống. Dù từ đầu được bày tỏ cho Nô-ê và gia đình ông, những chỉ dẫn này áp dụng cho mọi người trong mọi thời đại và mọi nơi. Đó là những quy định thường trực từ Đức Chúa Trời cho cả loài người, và chúng không nên bị bỏ qua hoặc thay đổi. Đời sống là quý giá, và nó phải được xử lý cẩn thận.
1. Thêm nhiều sự sống (Sa 9:1-7)
Khi Nô-ê ra khỏi tàu, ông như “A-đam thứ 2” sắp bước vào một khởi đầu mới trên đất cho dòng dõi loài người. Đức tin nơi Chúa đã cứu Nô-ê cùng gia đình ông khỏi sự hủy diệt, và ba con trai ông sẽ tái cư trú khắp đất (c.18).
Đức Chúa Trời đã bảo A-đam với Ê-va “hãy sanh sản, thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất” (Sa 1:28), và Ngài lặp lại mệnh lệnh đó hai lần với Nô-ê và gia đình ông (Sa 9:1, 7). Mọi con cháu của Nô-ê quan trọng đối với kế hoạch của Đức Chúa Trời, nhưng đặc biệt là dòng của Sem. Từ dòng đó Áp-ra-ham sẽ được sinh ra, người mà Đức Chúa Trời chọn để lập dân tộc Do-thái. Từ dân tộc đó sẽ ra Đấng Cứu Chuộc, là Đấng sẽ làm trọn Sa 3:15 và giày đạp đầu con rắn.
Trong Kinh Thánh, con cái được mô tả như một phước hạnh không phải một sự rủa sả, và việc có nhiều con cháu là chứng cớ về đặc ân của Đức Chúa Trời (Sa 24:60; Thi 121:3-5; Thi 128:3-4). Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng con cháu ông sẽ như sao trên trời và cát dưới biển (Sa 15:5; Sa 22:17), và các thánh tổ đã cầu xin phước hạnh về sự sinh ra những người thừa kế họ (Sa 28:3; Sa 35:11; Sa 48:4). Chúa đã lập giao-ước với Y-sơ-ra-ên để ban cho họ nhiều con cái nếu dân tộc vâng theo những luật lệ của Ngài (Sa 26:9; Phuc 7:13).
Nhiều người ngày nay dường như không có thái độ đó đối với con cái. Bắt đầu bằng cuộc chiến tranh Cách Mạng, trong gần 200 năm của lịch sử Mỹ, 1.200.000 quân nhân đã bị giết trong 9 cuộc chiến tranh lớn. Nhưng trong một năm ở nước Mỹ, 1.600.000 trẻ sơ sinh bị phá thai hợp pháp [75] Trong thời Kinh Thánh, các cặp vợ chồng Do-thái đã không nghĩ đến việc phá thai một em bé, dù hoàn cảnh của họ khó khăn ra sao hay nguồn tài chính của họ thiếu thốn thế nào. Đời sống là món quà của Đức Chúa Trời và con cái là một di sản từ Đức Chúa Trời, là của báu phải được bảo vệ và đầu tư vì vinh hiển của Ngài.
2. Duy trì sự sống (Sa 9:2-4)
Một cuộc nghiên cứu được thực hiện trong năm 1900 cho thấy rằng con người cảm thấy họ cần 72 đồ dùng để thực hiện chức năng một cách bình thường và được hài lòng.
Năm mươi năm sau đó, trong một cuộc nghiên cứu tương tự, tổng số lên đến gần 500 đồ dùng! Nhưng Kinh Thánh chỉ liệt kê hai thứ: “Có thức ăn và quần áo, chúng ta phải thỏa lòng với những điều này” (ITim 6:8 NKJV).
Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-xu đã dạy chân lý tương tự khi Ngài phán về loài chim và loài hoa (Mat 6:24-34). Nếu Cha trên trời mặc cho loài hoa vẻ đẹp và ban cho loài chim thức ăn của chúng, chắc chắn Ngài sẽ chu cấp thức ăn và quần áo cho con cái yêu dấu của Ngài, “vì Cha các ngươi ở trên trời biết rằng các ngươi cần mọi điều này” c.32, NKJV).
Khi Đức Chúa Trời đặt A-đam và Ê-va trong gia đình là khu vườn của họ; Ngài ban cho họ trái cây và thực vật để ăn (Sa 1:29; Sa 2:9,16), nhưng sau Cơn Nước Lụt, Ngài mở rộng thức ăn của loài người kể cả thịt. Sự hài hòa trong thiên nhiên mà A-đam và Ê-va hưởng được bây giờ không còn nữa, vì Nô-ê và gia đình ông không có “quyền cai trị” trên sự sống thú vật (Sa 1:26, 28). Giờ đây, thú vật sẽ sợ hãi loài người và làm mọi điều có thể để thoát khỏi mối đe dọa của cái chết.
Từ khi đa số thú vật sinh sản nhanh chóng và con cái nó tăng trưởng nhanh chóng, các loài thú có thể dễ dàng vượt quá dân số con người. Vì vậy Đức Chúa Trời đã đặt sự sợ hãi con người trong loài vật. Ca-in là nông dân, A-bên là người chăn chiên, nhưng Nô-ê và các con trai ông là những thợ săn.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đặt một hạn chế về việc ăn thịt thú vật, thịt phải được sạch máu (Sa 9:4). Đức Chúa Trời xác định một cách ngắn gọn với Nô-ê điều mà sau đó Ngài lập tỉ mỉ qua Môi-se: sự sống ở trong huyết, và sự sống phải được tôn trọng, dù bạn đang giết một con thú để ăn tại môt kỳ lễ (Lê 3:17; Lê 7:26-27; Lê 17:10-14; Lê 19:26; Phuc 12:16; Phuc 12:23-25; Phuc 15:23)[76]
Trong sự hạn chế này, Đức Chúa Trời một lần nữa bày tỏ sự quan tâm của Ngài đối với sự sống loài vật. Sự sống ở trong huyết, và sự sống đó đến từ Đức Chúa Trời nên phải được tôn trọng. Hơn nữa, huyết thú vật sẽ quan trọng trong hầu hết những của lễ theo luật Môi-se vì vậy huyết phải được xử lý bằng sự trân trọng.
Chúa Giê-xu đã dạy r ằng có thể được phép ăn mọi thức ăn (Mac 7:1-23), và Phi-e-rơ (Công 10:1-48) với Phao-lô (ITim 4:3-4; Côl 2:16) đã xác nhận chân lý này. Tuy nhiên, Hội thánh đầu tiên vẫn đối diện với những bất đồng về thức ăn (Rô 14:1-15:7). Để giữ cho các tín-hữu người ngoại khỏi gây vấp phạm cho những tín-đồ Do-thái hoặc những người tìm kiếm đạo, các Cơ-đốc nhân đầu tiên được khuyên không được bất cẩn trong việc ăn thịt (Công 15:19-21, 24-29)[77] Lời khuyên của Phao-lô là: hãy tiếp nhận nhau, yêu thương nhau, đừng làm gì gây vấp phạm cho nhau và hãy tìm cách gây dựng nhau trong đức tin. Cách tiếp cận là tình yêu; mục đích là sự trưởng thành.
3. Bảo vệ sự sống (Sa 9:5-6)
Từ chỗ chỉ dẫn Nô-ê về việc làm đổ máu thú vật, Chúa tiếp tục bàn đến một chủ đề quan trọng hơn, việc làm đổ máu loài người. Cho đến nay, loài người không có một ghi chép tốt đẹp cho lắm khi nói về việc quan tâm đến nhau. Ca-in đã giết A-bên em mình (Sa 4:8), Lê-méc đã giết một người trai trẻ và khoe khoang về điều đó (c.23-24), và đất đã đầy dẫy mọi thứ bạo lực (Sa 6:11, 13). Đức Chúa Trời đã đặt sự sợ hãi con người trong loài vật, nhưng giờ đây đã phải đặt sự kính sợ Đức Chúa Trời trong con người để họ không hủy diệt lẫn nhau!
Những ai giết đồng loại mình sẽ phải trả lời trước mặt Đức Chúa Trời về những hành động của mình, vì người nam người nữ đều được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời [78] Tấn công một con người là tấn công Đức Chúa Trời, và Chúa sẽ đem sự xét đoán đến trên kẻ vi phạm. Mọi sự sống là sự ban cho của Đức Chúa Trời, và cất sự sống đi nghĩa là chiếm chỗ của Đức Chúa Trời. Chúa ban cho sự sống và chỉ một mình Ngài có quyền cho phép cất sự sống đi (Giop 1:21).
Nhưng Đức Chúa Trời đã định trừng phạt kẻ giết người ra sao để thấy rằng sự công bình được thực hiện và Luật pháp được gìn giữ? Ngài đã thiết lập chính thể loài người trên đất và khi làm vậy Ngài chia sẻ với loài người quyền đáng sợ về việc cất mạng sống con người. Đó là nội dung mệnh lệnh của Đức Chúa Trời trong Sa 9:6. Chính thể loài người và án tử hình đi đôi với nhau, như Phao-lô giải thích trong Rô 13:1-7. Nhà cầm quyền mang thanh gươm và có quyền sử dụng nó.
Dưới Luật pháp Cựu-ước, không có quyền lực cảnh sát như chúng ta biết. Nếu một vụ giết người bị vi phạm, nó được gia đình nạn nhân tìm ra thủ phạm để đem hắn đến quan tòa. Có một sự khác nhau giữa sự giết người và tội ngộ sát (Xu 21:12-14) vì vậy Chúa đã hướng dẫn dân tộc Y-sơ-ra-ên lập 6 thành ẩn náu mà kẻ giết người bị tố cáo có thể trốn để được an toàn (Dân 35:6-34; Phuc 19:1-13). Các trưởng lão của thành sẽ bảo vệ bị cáo cho đến khi vụ kiện có thể được điều tra, và nếu các bị cáo bị thấy có tội, gia đình của người chết có thể tiếp tục việc thi hành án. Vì kẻ giết người đã làm đổ máu, máu của kẻ giết người phải bị đổ ra.
Chính thể được thiết lập bởi Đức Chúa Trời, vì lòng người xấu xa (Sa 6:5) và sự sợ hình phạt có thể giúp ngăn trở những kẻ vi phạm luật. Luật pháp có thể ngăn trở nhưng không thể phục hồi, chỉ ân-điển Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi lòng người (Giê 31:31-34; Hêb 8:7-13). Nhưng nếu cá nhân, gia đình hoặc nhóm được phép đối phó với kẻ vi phạm theo ý mình, xã hội sẽ ở trong một tình trạng hỗn loạn thường trực. Chính thể loài người có những khiếm khuyết và giới hạn của nó, nhưng chính thể thì tốt hơn tình trạng vô chính phủ và con người làm điều gì đúng theo mắt mình (Cac 17:5; Cac 18:1; Cac 19:1; Cac 21:25).[79]
Đức Chúa Trời đã chỉ định và thiết lập 3 thể chế trên đất: hôn nhân và gia đình (Sa 1:26-28; Sa 2:18-25), chính thể loài người (Sa 9:5-6) và Hội thánh (Mat 16:13-19; Công 2:1-47). Mỗi chính thể có phạm vi và trách nhiệm của nó, và chính thể này không thể thay thế cho chính thể kia. Hội thánh vận dụng gươm của Thánh Linh (Hêb 4:12), không phải gươm của công lý (Rô 13:4; Gi 18:36). Nhưng nếu chính thể can thiệp những vấn đề về lương tâm Cơ-đốc, các tín-hữu có quyền không vâng theo (Công 4:18-20).
Những người phản đối án tử hình hỏi: “Án tử hình có cản trở tội ác không?” Nhưng có luật pháp nào cản trở tội ác, kể cả luật đậu xe và luật tốc độ? Có lẽ không như chúng ta mong muốn nhưng hình phạt của những kẻ phạm tội thật sự giúp xã hội tôn trọng luật pháp và công lý. Không ai biết có bao nhiêu người học về nhận thức tội lỗi và suy nghĩ lại trước khi họ bất tuân luật pháp. Luật pháp cũng giúp bảo vệ và bồi thường cho người vô tội là nạn nhân của hành vi vô luật pháp.
Không phải mọi sự hợp pháp đều hợp với Kinh Thánh, không kể những điều mà các triết gia, nghị viên và tòa án có thể nói, mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về án tử hình bắt đầu bằng “bất cứ ai”. Nó được Đức Chúa Trời ban ra để mọi người tôn trọng và vâng theo.
4. Vui hưởng sự sống (Sa 9:8-17)
Phân đoạn này là điều được các nhà thần học gọi là “Giao-ước Nô-ê”. Dù Đức Chúa Trời phán đặc biệt với Nô-ê và các con trai ông, giao-ước này bao gồm mọi con cháu của Nô-ê (c.9) và “mọi đời hầu đến” (c.2, NIV), Tuy nhiên, giao-ước không dừng lại ở đó vì nó cũng kể đến mọi vật sống (c.10, 12) và “mọi loài sinh vật” (c.15 NIV). Con người, loài chim, loài vật, thú hoang đều được bao gồm trong giao-ước kỳ diệu này.
Trong giao-ước này, Đức Chúa Trời hứa vô điều kiện rằng Ngài sẽ không bao giờ giáng cơn lụt khác để hủy diệt mọi sự sống trên đất. Như thể làm cho nó được nhấn mạnh, ba lần Ngài phán “chẳng bao giờ lại” (c.11, 15, NKJV, NIV). Ngài không đặt bất cứ điều kiện nào để loài người phải vâng theo, Ngài chỉ xác định sự thật rằng sẽ không có những cơn nước lụt toàn cầu nữa. Từ ngày đó trở đi, Nô-ê và gia đình ông có thể vui hưởng đời sống và không lo lắng mỗi khi mưa bắt đầu đổ xuống.
• Một giao-ước với sự sáng tạo.
Ít nhất bốn lần trong giao-ước này, Chúa đề cập “mọi vật sống”. Ngài đang nói về loài thú và loài chim mà Nô-ê đã giữ an toàn trong tàu suốt Cơn Nước Lụt (c.10). Một lần nữa, chúng ta được nhắc nhở về sự quan tâm đặc biệt của Đức Chúa Trời đối với sự sống loài vật.
Khi Sứ-đồ Giăng ngắm xem ngôi trên trời, ông thấy bốn “sinh vật” thờ phượng trước ngôi Đức Chúa Trời, mỗi sinh vật có một gương mặt khác nhau (Kh 4:6-7). Sinh vật thứ nhất có mặt giống như sư tử, con thứ hai giống như bò đực, con thứ ba như người và con thứ tư như chim phụng hoàng.
Bốn gương mặt tương tự với bốn loài vật mà Đức Chúa Trời đã lập giao-ước này với chúng: thú hoang, súc vật, loài người và loài chim (Sa 9:9-10). Những sinh vật này mãi được đại diện trước ngôi Đức Chúa Trời, vì Chúa quan tâm đến sự sáng tạo của Ngài. Chúng nhắc nhở chúng ta rằng toàn bộ sự sáng tạo thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Trời. Đấng chu cấp cho những tạo vật của Ngài, và vui mừng trong sự thờ phượng của chúng. [80]
• Một dấu hiệu giao-ước.
Để giúp dân sự Ngài nhớ những giao-ước của Ngài, Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ một dấu hiệu có thể thấy được. Giao-ước của Ngài với Áp-ra-ham được ấn chứng bằng dấu hiệu của phép cắt bì (Sa 17:11; Rô 4:9-12) và giao-ước với môi-se tại núi Si-na-i bằng dấu hiệu về ngày Sa-bát hằng tuần (Xu 31:16-17). Giao-ước của Đức chúa Trời với Nô-ê và loài vật được ấn chứng nhớ lời hứa của Đức Chúa Trời rằng không có cơn bão nào trong tương lai sẽ trở nên một cơn lụt toàn cầu hủy diệt loài người.
Mark Twain và bạn ông là William Dean Howells đã bước ra khỏi nhà thờ ngay khi một cơn mưa bão dữ dội bắt đầu. Howells nói: ”Tôi chẳng biết nó sẽ tạnh hay không”, và Mark Twain đáp: “Nó luôn tạnh”. Ông nói đúng, nó luôn tạnh! Vì sao? Vì Đức Chúa Trời đã lập một giao-ước và Ngài luôn giữ Lời Ngài.
Đức Chúa Trời phán về cái cầu vồng như thể Nô-ê và gia đình ông quen thuộc với nó, vì vậy, chắc nó đã tồn tại trước Cơn Nước Lụt. Những cầu vồng được tạo nên bởi ánh sáng mặt trời xuyên qua nước trong không khí, mỗi giọt nước trở thành một lăng kính phát những màu sắc tiềm ẩn trong ánh sáng trắng của mặt trời. Những cầu vồng mỏng manh nhưng đẹp đẽ, và không ai phải trả tiền để xem chúng!
Những màu sắc đáng yêu của chúng nói với chúng ta về điều mà Phi-e-rơ gọi là “ân-điển muôn vẻ của Đức Chúa Trời” (IPhi 4:10). “Muôn vẻ” nghĩa là “khác nhau, nhiều màu sắc, nhiều đốm màu”. Cái cầu vồng nhắc nhở chúng ta về giao-ước nhân từ của Đức Chúa Trời và ân-điển “muôn màu” của Đức Chúa Trời.
• Chúng ta hãy theo đuổi tư tưởng đó.
Nếu cái cầu vồng nhắc chúng ta về sự thành tín và ân-điển của Đức Chúa Trời, vậy tại sao chúng ta phiền muộn và lo lắng? Đức Chúa Trời đã không hứa rằng chúng ta sẽ không bao giờ kinh nghiệm những cơn bão, nhưng Ngài hứa rằng những cơn bão sẽ không hủy diệt chúng ta. “Khi người vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng, và khi ngươi vượt qua sông, chúng sẽ chẳng che lấp ngươi” (Ês 43:2 NKJV). Khi những đám mây xuất hiện và mặt trời bị che khuất, chúng ta không có gì để sợ hãi.
• Chúng ta hãy nghĩ về cây cung.
Cây cung là một dụng cụ chiến tranh nhưng Đức Chúa Trời đã biến đổi nó thành một bức tranh về ân-điển và sự thành tín của Ngài, một sự bảo đảm về sự bình an. Đức Chúa Trời chắc chắn có thể xoay cây cung của sự xét đoán trên chúng ta, vì chúng ta đã vi phạm Luật pháp của Ngài và đáng lãnh sự xét đoán. Nhưng Ngài đã xoay cây cung về phía Thiên Đàng và chính Ngài mang lấy sự xét đoán thay chúng ta! Khi Chúa Giê-xu chịu chết trên thập tự giá, chính Đấng Công Bình chịu thương khó vì những kẻ không công bình (IPhi 3:18) và mang lấy sự thương khó mà đúng ra thuộc về chúng ta.
Những cái cầu vồng mang tính toàn cầu, bạn nhìn thấy chúng khắp thế giới. Ân-điển muôn màu của Đức Chúa Trời đủ cho cả thế giới và cần phải được rao báo cho toàn thế giới. Xét cho cùng, Đức Chúa Trời yêu thương thế giới (Gi 3:16) và Đấng Christ đã chết thay tội lỗi của thế giới (IGi 4:10, 14).
Nhưng cái cầu vồng không chỉ để cho chúng ta nhìn mà thôi, vì Chúa đã phán “ta sẽ nhìn xem nó” (Sa 9:16). Chắc chắn Đức Chúa Trời không quên những giao-ước của Ngài với dân sự Ngài, nhưng đây chỉ là cách khác để bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta không cần phải sợ hãi. Khi chúng ta nhìn xem cái cầu vồng, chúng ta biết rằng Cha chúng ta cũng đang nhìn xem cái cầu vồng. Và do đó, nó trở thành môt chiếc cầu đem chúng ta lại gần với nhau.
• Ba cái cầu vồng.
Có ba người trong Kinh Thánh đã nhìn thấy những cái cầu vồng đầy ý nghĩa. Nô-ê nhìn thấy cái cầu vồng sau cơn bão, giống như dân Đức Chúa Trời, nhìn thấy nó ngày nay. Nhưng tiên tri Ê-xê-chi-ên nhìn thấy cái cầu vồng giữa cơn bão, khi ông có khải tượng đặc biệt về những bánh xe và ngôi Đức Chúa Trời (Êxe 1:28).
Ê-xê-chi-ên cũng nhìn thấy những sinh vật và mỗi sinh vật có bốn mặt! Một con giống như người, một con giống sư tử, một con giống bò đực và một con giống chim phụng hoàng - những gương mặt tương tự mà Giăng đã thấy (Kh 4:6-7).
Dĩ nhiên Sứ-đồ Giăng nhìn thấy cái cầu vồng trước khi cơn bão của sự xét đoán ập xuống (c.3). Thật ra, Giăng nhìn thấy một cái cầu vồng toàn vẹn ở xung quanh ngôi Đức Chúa Trời! Trên đất, chúng ta thấy “một phần”, nhưng một ngày nào đó trên Thiên Đàng, chúng ta sẽ nhìn thấy mọi vật một cách đầy đủ như chúng thật sự vốn có (ICôr 13:12).
Bài học cá nhân cho dân sự Đức Chúa Trời đơn giản là: Trong những cơn bão của đời sống, hãy luôn tìm kiếm cái cầu vồng về lời hứa giao-ước của Đức Chúa Trời. Giống như Giăng, bạn có thể nhìn thấy cái cầu vồng trước cơn bão. Giống như Ê-xê-chi-ên bạn có thể thấy nó giữa cơn bão, hoặc giống như Nô-ê bạn có thể phải chờ đợi cho đến sau cơn bão. Nhưng bạn sẽ luôn nhìn thấy cái cầu vồng về lời hứa của Đức Chúa Trời nếu bạn nhìn xem bằng đức tin. Đó là bản dịch Cựu-ước của Rô 8:28.
Giao-ước của Đức Chúa Trời với sự sáng tạo của Ngài ảnh hưởng đến mọi sinh vật trên đất. Nếu không có giao-ước đó, sẽ không có sự liên tục được bảo đảm về thiên nhiên từ ngày này sang ngày khác và từ mùa này sang mùa kia. Chúng ta sẽ không bao giờ biết khi nào cơn bão sắp tới sẽ đến và liệu đó sẽ là cơn bão cuối cùng của chúng ta hay không.
Đức Chúa Trời muốn chúng ta vui hưởng những phước hạnh của đời sống tự nhiên và đời sống thuộc linh, vì Ngài “ban cho chúng ta mọi vật dư dật để vui hưởng” (ITim 6:17). Khi bạn biết Chúa Giê-xu Chirst là Chúa và Cứu Chúa, thế giới thiên nhiên quanh bạn trở nên kỳ diệu hơn nhều, vì Đấng Sáng Tạo đã trở thành Cha của bạn.
Trong những năm về sau, nhà truyền giáo người Mỹ D. L. Moody đã nói về sự qui đạo của ông khi còn là một thiếu niên, ông nói: “Tôi đã ở trong một thế giới mới. Sáng hôm sau, mặt trời chiếu sáng hơn và những con chim hót ngọt ngào hơn…. Những cây đu già vẫy cành vì vui mừng, và cả thiên nhiên ở trong sự hòa bình. Đó là niềm vui thú vị nhất mà tôi từng biết”. [81] là Chúa của sự cứu rỗi. Hãy tin cậy Chúa Giê-xu Christ và rồi bạn có thể thật sự hát “Đây là thế giới của Cha tôi”.
10. PHẦN CÒN LẠI CỦA CÂU CHUYỆN (Sa 9:18-10:32)
Tôi là người mê đọc các tiểu sử và tự truyện, và tôi thường hối tiếc khi lật sang trang của một cuốn sách để phát hiện một bộ xương đang nhe răng ra lén vào phòng riêng của ai đó mà tôi từng thán phục.
Nhà bình luận người Mỹ Russell Baker đã nói: “Vấn đề của người viết tiểu sử đó là anh ta không bao giờ biết đủ.
Vấn đề của người viết tự truyện đó là anh ta biết quá nhiều” [82] Nhưng khi Đức Chúa Trời viết câu chuyện, Ngài biết mọi sự về mọi người và luôn nói sự thật, và Ngài làm điều đó vì ích lợi của chúng ta.
Lịch sử về Nô-ê với gia đình ông giờ đây đi từ những cái cầu vồng đến những bóng mờ, và chúng ta nhìn xem những tội lỗi đáng xấu hổ của một con người cao trọng của đức tin. Tiến sĩ William Culbertson, trong nhiều năm làm hiệu trưởng của học viện Kinh Thánh Moody ở Chicago, thường k ết thúc bài cầu nguyện của ông giữa đám đông bằng lời “Và, lạy Chúa, hãy giúp chúng con kết thúc tốt đẹp.”
Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện đó cho Tấn sĩ Culbertson nhưng không phải mọi tín-hữu giờ đây ở Thiên Đàng đã kết thúc cuộc chạy đua và được nghe Đức Chúa Trời phán “được lắm!”. Tuy nhiên, chúng ta hãy độ lượng và nhớ lời cảnh cáo của Phao-lô “Vậy, ai tưởng mình đứng, hãy chú ý, kẻo ngã” (ICôr 10:12 NKJV). Xét cho cùng, Nô-ê không nghĩ điều đó sẽ xảy đến cho ông!
1. Một bị kịch gia đình (Sa 9:18-23)
Mục lục cho “Phần còn lại của câu chuyện” ở câu. 18-19. Những nhân vật chính được liệt kê: Nô-ê, Shem, Cham và Gia-phết - cùng chủ đề chính của phân đoạn này được tuyên bố: Thể nào gia đình Nô-ê đã nhiều thêm và rải rác khắp đất. Độc giả Kinh Thánh đương đại thường bị cám dỗ để bỏ qua những liệt kê này về những tên không có tiếng tăm, nhưng điều đó không làm giảm đi sự quan trọng của những tên ấy.
“Những người không có tiếng tăm” nay đã lập nên những dân tộc mà suốt lịch sử Kinh Thánh đã ảnh hưởng lẫn nhau và giúp thực hiện những mục đích của Đức Chúa Trời trên đất này. Con cháu của Sem-dân Y-sơ-ra-ên-đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trên sân khấu của lịch sử.
• Sự ô nhục (Sa 9:20-21).
Khi trở thành một nông dân, Nô-ê theo nghề nghiệp của cha ông là Lê-méc (Sa 5:28-29). Mặc dù Kinh Thánh lên án sự say rượu (Ch 20:1 23:19-21; Ch 23:29-35; Ês 5:11; Ha 2:15; Rô 13:13; ICôr 6:10; Êph 5:18), Kinh Thánh không lên án việc trồng hoặc ăn nho hay uống rượu. Nho, nho khô và rượu là những yếu tố quan trọng trong thức ăn của các dân Đông phương. Thật ra, trong xã hội thời Cựu-ước, rượu được xem là một phước hạnh từ Đức Chúa Trời (Thi 104:14-15; Phuc 14:26) và thậm chí được sử dụng với những của lễ (Lê 23:13; Dân 28:7).
Đây là sự đề cập đầu tiên về rượu trong Kinh Thánh, nhưng việc chế rượu đã được thực hành trước Cơn Nước Lụt và Nô-ê chắc chắn biết rằng quá nhiều rượu sẽ như thế nào đối với ông. Để cố gắng giải tội cho Nô-ê, một số học giả tuyên bố rằng Cơn Nước Lụt đã đem lại một sự thay đổi trong không khí của trái đất, và điều này làm cho nước nho lên men lần đầu tiên, nhưng sự bảo vệ này thật yếu ớt. Nô-ê đã hái nho, ép chúng trong máy ép nho, để nước nho trong những bầu da, và chờ cho nước nho lên men.
Sự say rượu và sự lõa thể của ông thật ô nhục và hai điều thường đi đôi với nhau (Sa 19:30-38; Ha 2:15-16; Ca 4:21). Rượu không phải là một thức uống kích thích, nó là một loại thuốc mê, và khi nào bị ảnh hưởng bởi rượu, con người mất tự chủ. Ít nhất Nô-ê đã ở trong trại của ông khi điều này xảy ra chớ không ở ngoài giữa nơi công cộng. Nhưng khi bạn xem xét ông là ai (một thầy giảng đạo công bình) và ông đã làm gì (cứu gia đình khỏi sự chết) thì tội lỗi của ông thậm chí trở nên ghê tởm hơn.
Kinh Thánh không bào chữa cho tội lỗi của các thánh đồ, nhưng đề cập chúng như những lời cảnh cáo chúng ta đừng làm điều họ đã làm (ICôr 10:6-13). Như Spurgeon đã nói “Đức Chúa Trời không bao giờ cho phép con cái Ngài phạm tội một cách thành công.”
Luôn luôn có một giá phải trả.
Hai lần Áp-ra-ham đã nói dối về vợ ông (Sa 12:10-20; Sa 20:1) và con trai ông là Y-sác đã noi gương xấu của ông (Sa 26:6-16). Môi-se nổi giận và kết quả là cũng đánh mất đặc quyền bước vào Đất Thánh (Dân 20:7-13). Giô-suê có những kết luận vội vàng và đi đến chỗ bảo vệ kẻ thù (Gios 9:1-10:43). Đa-vít phạm tội tà dâm và dàn xếp để chồng của người đàn bà bị giết trong chiến trận (IISa 11:1-27) và lưỡi gươm đã gây tai họa cho gia đình ông trong những năm sau đó.
Nô-ê không có ý định say rượu và phơi bày chính mình một cách vô liêm sỉ, nhưng điều đó đã xảy ra như vậy. Người Nhật có một châm-ngôn thích đáng “Trước tiên người đàn ông uống rượu, sau đó rượu uống rượu, và rồi rượu uống người đàn ông.”
• Sự bất kính (Sa 9:22).
Cham lẽ ra không nên bước vào trại của cha mình nếu không có một lời mời. Phải chăng ông đã gọi cha mình và không nhận được sự trả lời? Phải chăng ông phân vân không biết Nô-ê bệnh hay có lẽ đã chết? Phải chăng ông thậm chí biết rằng cha ông đã uống rượu? Những câu hỏi này không được bản văn trả lời, vì vậy thật vô ích để chúng ta suy đoán. Một điều chắc chắn là: Cham đã bất kính với cha mình trong điều ông đã làm.
Cách con người đáp ứng trước tội lỗi và sự ngượng ngùng của người khác là một sự bày tỏ về tính cách của họ. Cham lẽ ra có thể liếc nhìn vào trong trại, nhanh chóng phán đoán tình hình, và che thân cha, không nói gì với ai về sự việc này. Trái lại, ông dường như vui thích cảnh này và sau đó kể cho hai anh em mình về điều đó trong một thái độ thật bất kính. Có thể ông đã gợi ý để họ đích thân đi xem.
Môi-se đã chưa nói: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi” (Xu 20:12), nhưng chắc chắn điều này phải là điều tự nhiên đối với con cái và sẽ phải hiện diện trong lòng Cham. Nhưng tại sao một đứa con lại tỏ ra sự bất kính như thế đối với cha mình? Dù Cham là nhỏ nhất trong ba con trai, có lẽ ông là một “người anh” thời Tân-ước đã giận dữ với cha mình vì điều ông đã không nhận được (Lu 15:25-32). Bởi điều ông đã làm, Cham đã bày tỏ một sự yếu đuối về tính cách của mình và có thể lộ ra trong con cháu ông.
• Sự đúng đắn (Sa 9:23).
Thay vì cười với Cham và đi xem cảnh tượng ô nhục, Sem và Gia-phết bày tỏ tình yêu của họ dối với cha bằng cách thực hành Ch 10:12 “Tình yêu che đậy mọi tội lỗi” (NKJV, xem IPhi 4:8). Hai anh em đứng với nhau và giữ áo phía sau họ, đi lùi vào trong trại với mắt ngoảnh đi, và che thân thể lõa lồ của Nô-ê. “Kẻ nào khoả lấp tội lỗi tìm cầu tình yêu thương” (Ch 17:9 NKJV) và “một người khôn khéo che lấp sự nhục nhã” (Ch 12:16 NKJV).
Tình yêu không tẩy sạch t ội lỗi, vì chỉ có huyết Đấng Christ mới có thể làm được điều đó (IGi 1:7) Tình yêu cũng không bỏ qua tội lỗi, vì tình yêu muốn điều tốt nhất của Đức Chúa Trời cho người khac. Nhưng tình yêu thật sự che đậy tội lỗi và không đi khắp nơi phơi bày tội lỗi rồi khuyến khích người khác lan truyền tin xấu. Khi người khác phạm tội, và chúng ta biết về điều đó, nhiệm vụ của chúng ta là giúp hồi phục họ trong một tinh thần nhu mì (Ga 6:1-2).
Người ta nói rằng trên chiến trường của đời sống, Cơ-đốc nhân có khuynh hướng đá vào những người bị thương tích của họ, và điều này thường là sự thật. Nhưng trước khi chúng ta lên án người khác, chúng ta nên xem xét chính mình, vì tất cả chúng ta đều là những ứng viên cho những hành vi không thích hợp với một Cơ-đốc nhân.
2. Một lời tiên-tri về gia đình (Sa 9:24-29)
Khi Nô-ê tỉnh lại từ trạng thái say sưa ông có lẽ đã xấu hổ về điều mình đã làm, nhưng ông cũng ngạc nhiên thấy mình được đắp bằng một áo choàng. Đương nhiên, ông không biết điều gì đã xảy ra trong trại lúc ông đang ngủ. Điều hợp lý sẽ là nói với Gia-phết, con đầu lòng của ông, và Gia-phết với Sem chắc đã kể cho ông điều Cham đã làm.
Những lời này là lời duy nhất của Nô-ê được ghi lại trong Kinh Thánh. Thật tồi tệ khi lời nói ngắn gọn này đã bị hiểu lầm và bị dán nhãn là một “sự rủa sả”, vì điều Nô-ê đã nói đúng hơn là một lời tiên tri của một người cha về con cháu ông. Từ “sự rủa sả” được sử dụng chỉ một lần, nhưng nó được chỉ về Ca-na-an con trai út của Cham chớ không phải chỉ về chính Cham. Điều này gợi ý rằng Nô-ê đang mô tả tương lai của các con trai ông và một cháu nội của ông trên cơ sở của điều ông đã nhìn thấy trong tính cách của họ, chẳng khác gì điều Gia-cốp đã làm trước khi ông chết (Sa 49:1-33).
• Ca-na-an, sự nô lệ (Sa 9:25).
Nếu Nô-ê muốn công bố một lời rủa sả, nó sẽ được chỉ về Cham, đứa con đã phạm tội nghịch với cha mình. Nhưng trái lại, ông kể tên Ca-na-an ba lần. Đó là một nguyên tắc trong luật pháp sau này rằng con cháu không thể bị trừng phạt vì tội lỗi của tổ phụ chúng (Phuc 24:16; Giê 1:29-30; Êxe 18:1-4) và dường như nguyên tắc này đã áp dụng trong thời các thánh tổ. [83]
Nhìn xuống các thế kỷ, Nô-ê tiên đoán ba lần rằng con cháu của Ca-na-an sẽ trở nên những tôi tớ hèn mọn nhất [84] Dân Ca-na-an đã được liệt kê trong Sa 10:15-19 chính là các quốc gia mà dân Y-sơ-ra-ên đã chinh phạt và sống trong xứ của họ (Sa 15:18-21; Xu 3:8, 17; Dân 13:29; Gios 3:10; IVua 9:20).
Thật khó để mô tả sự đồi bại về đạo đức của xã hội Ca-na-an, đặc biệt là những tập tục tôn giáo của họ, nhưng những luật được ban ra trong Lê 18:1-30 sẽ cho bạn ý niệm nào đó về cách họ sống [85] Đức Chúa Trời đã cảnh cáo dân Do-thái đừng thỏa hiệp với lối sống Ca-na-an và phải tiêu diệt mọi điều sẽ cám dỗ họ trong hướng đó (Xu 34:10-17; Phuc 7:1-26).
• Hai quan niệm sai lầm phải được làm rõ.
- Thứ nhất, con cháu của Cham không phải là những người của một chủng tộc da đen nhưng là người da trắng thuộc vùng Cáp-ca, vì vậy không có cơ sở nào trong cái gọi là “sự rủa sả dành cho Ca-na-an” này cho thể chế nô lệ.
- Thứ hai, mặc cho những lối sống gian ác của mình một số dân Cham này đã xây dựng những nền văn minh rộng lớn và tiên tiến, kể đến dân Ba-by-lôn, dân A-si-ri và dân Ai-cập. Theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng con cháu của Cham đã “phục vụ” cả thế giới qua những tư tưởng và những công cụ mà họ đã khám phá và phát triển. Giống như dân Ca-in (Sa 4:17-24), những dân tộc này có năng khiếu chế tạo những đồ vật cho thế giới này (Lu 16:8).
• Sem sự giàu có (Sa 9:26).
Nô-ê đã không chúc phước cho Sem, ông ngợi khen “Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem” NIV). Khi làm vậy, Nô-ê đã qui vinh hiển cho Đức Chúa Trời về điều Ngài sẽ làm cho con cháu của Sem. Nô-ê biết trước các con của ông rằng bất cứ điều gì Sem có sẽ là sự ban cho của Đức Chúa Trời, và bất cứ phước hạnh nào Sem đem đến cho thế giới trong tương lai đều sẽ vì cớ ân-điển của Đức Chúa Trời.
Dĩ nhiên, Sem là tổ phụ của Áp-ra-ham (Sa 11:10-32), người sáng lập dân tộc Hê-bơ-rơ, vì vậy Nô-ê đang nói về dân Do-thái. Việc Chúa sẽ làm giàu dân Do-thái về mặt thuộc linh đã được hứa với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) và sau đó được Phao-lô giải thích (Rô 3:1-4; Rô 9:1-13). Chính qua Y-sơ-ra-ên mà chúng ta có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời chân thật, Lời Đức Chúa Trời được viết ra, và Chúa Cứu Thế, là Chúa Giê-xu Christ, Đấng đã ra đời tại Bết-lê-hem thuộc chi phái Giu-đa. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, “Sem” nghĩa là “tên” và chính dân Y-sơ-ra-ên là dân đã gìn giữ danh của Chúa.
• Sem là con trai thứ hai của Nô-ê (Sa 9:24; Sa 10:21), nhưng mỗi khi ba người con được kể tên, tên của Sem đứng đầu (Sa 5:32; Sa 6:10; Sa 9:18; Sa 10:1; ISu 1:4). Đó là trường hợp khác trong Sáng-thế ký về ân-điển của Đức Chúa Trời đã nâng người con thứ hai lên vị trí con đầu lòng. Đức Chúa Trời đã chọn A-bên thay cho Ca-in (Sa 4:4-5), Y-sác thay cho ích-ma-ên (Sa 17:15-22), và Gia-cốp thay cho Ê-sau (Sa 25:19-23). Phao-lô bàn luận chân lý thần học thâm thúy này trong Rô 9:1-33
• Gia-phết - sự mở rộng (Sa 9:27).
Ông là tổ phụ của điều mà chúng ta gọi chúng là “các dân ngoại”. Ở đây chúng ta có một sự chơi chữ, vì trong tiếng Hê-bơ-rơ, tên Gia-phết rất gần với từ có nghĩa là “mở rộng”. Dân Cham đã xây dựng những nền văn minh rộng lớn ở phương Đông, và dân Sem đã định cư trong xứ Ca-na-an cùng miền lân cận, nhưng con cháu của Gia-phết đã lan tràn ra nhiều hơn bà con của họ và thậm chí đi đến vùng mà chúng ta gọi là Tiểu Á và Châu Âu. Họ là một dân sẽ gia tăng và đi vào địa phận mới.
Tuy nhiên, mặc dù con cháu của Gia-phết thành công trong những cuộc chinh phạt của họ, khi nói đến những điều thuộc linh, họ sẽ phải nhờ vào Sem. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của Sem và con cháu của Gia-phết sẽ tìm thấy Đức Chúa Trời “ở nơi trại của Sem”. Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời chọn làm “sự sáng cho dân ngoại” (Ês 42:6; Ês 49:6), vì “sự cứu rỗi thuộc về dân Do-thái” (Gi 4:22). Đáng buồn mà nói, phần lớn, dân tộc Y-sơ-ra-ên đã không làm chứng cho dân ngoại để họ có thể tin nơi Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật (Ês 52:5; Rô 2:24).
Khi Chúa Giê-xu đến trên đất, Ngài đã đem sự sáng đến cho dân ngoại (Lu 2:32), và các sứ-đồ cùng Hội thánh đầu tiên đã đem sự sáng đó đến các dân tộc (Công 1:8; Công 13:47). Con cháu của ba con trai Nô-ê đã được đại diện trong Hội thánh đầu tiên: quan coi kho người Ê-thi-ô-pi, một con cháu của Cham (Công 8:26) [86] Phao-lô, con cháu của Sem (Công 9:1-42), và Cọt-nây cùng gia đình ông, là con cháu của Gia-phết (Công 10:1-48).
Nô-ê đã sống thêm ba thế kỷ rưỡi nữa, và chúng ta có mọi lý do để tin rằng ông đã đồng đi với Đức Chúa Trời và hầu việc Ngài cách trung tín. Theo sự ghi chép ông đã sa ngã một lần, và chắc chắn ông đã ăn năn và Chúa đã tha thứ ông. Trong sự bước đi của mình với Đức Chúa Trời, chúng ta trèo lên những ngọn đồi và đôi lúc chúng ta đi xuống những thung lũng. Như Alexander Whyte thường nói: “Đời sống Cơ-đốc đắc thắng là một chuỗi những khởi đầu mới?”