top of page

SÁNG-THẾ KÝ (3)

KINH THÁNH

CỰU-ƯỚC

THỂ LOẠI

Các Sách Luật-Pháp (Môi-se) (5)



Trước...

...hết, Áp-ra-ham đi từ sự tin cậy đến việc vạch kế hoạch. Áp-ra-ham không có bàn thờ ở Ê-díp-tô, và bạn không thấy ông kêu cầu Chúa để được sự hướng dẫn và giúp đỡ. Khi tôi thi hành chức vụ trong nhóm “Youth for Christ International” (Nhóm Quốc Tế tuổi trẻ cho Đấng Christ), bạn tôi và người cộng sự Pete Quist thường nhắc nhở chúng tôi: “Đức tin là sống mà không lập kế hoạch”.

Khi bạn thôi tin cậy Lời Đức Chúa Trời, bạn bắt đầu cậy vào sự khôn ngoan của loài người, và điều này dẫn đến rắc rối (Ch 3:5-6; ICôr 3:18-20). Áp-ra-ham và Sa-ra đã đem “lẽ thật nửa vời” này theo họ từ U-rơ (Sa 20:13 sử dụng nó ở Ê-díp-tô và Ghê-ra (Sa 20:1-18), và sau đó con trai ông là Y-sác đã áp dụng điều đó (Sa 26:1-35). Khi bạn thấy mình lập kế hoạch để thoát khỏi những vấn đề với con người, hãy coi chừng, rắc rối tệ hại hơn sẽ đến!


Ông cũng đi từ sự tin quyết đến sự sợ hãi. Khi bạn ở nơi Đức Chúa Trời chọn, bạn chẳng cần phải sợ hãi, vì đức tin và sự sợ hãi không thể ở trong cùng một tấm lòng (Ês 12:2; Mac 4:40). Sự kính sợ Đức Chúa Trời là sự kính sợ chiến thắng mọi sự sợ hãi (Thi 112:1-10; Ês 8:13), nhưng “sự sợ loài người đem đến một cái bẫy” (Ch 29:25 NKJV). Đức Chúa Trời đã nhiều lần phán: “Ta sẽ” với Áp-ra-ham, nhưng giờ đây Áp-ra-ham nói “họ sẽ” (Sa 12:12). Ông để mắt mình rời khỏi Đức Chúa Trời và nhìn vào con người.


Một thay đổi thứ ba đã xảy ra. Ông dần dần chỉ nghĩ đến mình mà thôi. Ông đã nói dối để điều đó có thể “may mắn cho ta vì cớ ngươi Sa-ra” (Sa 12:13). Là chồng, Áp-ra-ham lẽ ra phải nghĩ đến vợ ông trước tiên chớ không phải bản thân ông (IPhi 3:7; Êph 5:25,28,29). Thật ra, ông không nên đem vợ đến đó trước! Một người chồng ngoài ý muốn Đức Chúa Trời có thể đem đến rắc rối không kể xiết cho vợ và gia đình người ấy.


Điều này dẫn đến một thay đổi thứ tư: Ông đi từ chỗ đem đến phước hạnh đến chỗ đem đến sự xét đoán. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Áp-ra-ham để làm một phước hạnh cho các dân tộc (Sa 12:1-3), nhưng bởi sự bất tuân của Áp-ra-ham, sự xét đoán đã giáng trên Pha-ra-ôn và người nhà ông (Sa 12:17). Điều này cũng xảy ra những năm sau đó ở Ghê-ra (Sa 20:1-18). Nếu bạn muốn đem phước hạnh cho người khác, vậy hãy ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời.

Giô-na đã chạy trốn khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời và gây nên một cơn bão gần như làm chìm con tàu. Giống như Giô-na, Áp-ra-ham đã đánh mất chứng cớ trước những người không tin và đã phải đối diện với sự lúng túng và sự quở trách.


Đức Chúa Trời nhân từ dõi theo tôi tớ Ngài và đem ông ra khỏi một hoàn cảnh khó khăn. Nếu Sa-ra trở thành một trong những người vợ của Pha-ra-ôn, điều gì sẽ xảy đến cho lời hứa về Đấng Cứu Chuộc? Khi chúng ta không để Đức Chúa Trời cai trị, Ngài vẫn tể trị và thực hiện những mục đích của Ngài, nhưng chúng ta trả giá đắt cho sự bất tuân của mình.


Áp-ra-ham đã học bài học này, ăn năn, và “trở lên” khỏi Ai-cập (Sa 13:1). Khi bạn bất tuân ý muốn Đức Chúa Trời, việc đúng đắn duy nhất phải làm là trở lại nơi bạn đã lìa khỏi Ngài và tạo một khởi đầu mới (IGia 1:9). Không có thất bại nào còn mãi trong “trường đức tin”. Áp-ra-ham đã trở lại với trại của ông, bàn thờ và đời sống của một “người bộ hành và khách lạ”.


Một người tình cờ quan sát tình tiết này có thể kết luận: “Điều đã xảy đến cho Áp-ra-ham không hoàn toàn tệ hại. Pha-ra-ôn đã cho Áp-ra-ham nhiều của cải (Sa 12:16; Sa 13:2) và Sa-ra đã được ban cho đầy tớ gái, A-ga (Sa 16:1). Đức Chúa Trời đã tha thứ tội lỗi của Áp-ra-ham, và ông đã bắt đầu trở lại. Vậy, đâu là vấn đề lớn?”


Vấn đề lớn” đó là mọi thứ Áp-ra-ham đã nhận được ở Ê-díp-tô sau đó đã gây ra rắc rối. Vì của cải lớn của họ, Áp-ra-ham và Lót đã không thể sống chung với nhau và phải phân rẽ (Sa 13:5-6). A-ga, đầy tớ gái người Ai-cập, đã đem sự chia rẽ và buồn rầu vào trong gia đình (Sa 16:1-16). Đã có một sự nếm trải về Ê-díp-tô (thế gian), Lót bắt đầu đo lường mọi sự bằng những gì ông nhìn thấy ở đó (Sa 13:10-11), và điều này dẫn đến sự sa ngã và sự sụp đổ của gia đình ông. Không có ích lợi gì từ sự bất tuân.


Bài học thực tiễn từ mọi điều này đơn giản là đừng bao giờ từ bỏ bàn thờ của bạn. Hằng ở trong mối giao thông với Chúa cho dù hoàn cảnh có thể ra sao. Nếu bạn bất tuân và Đức Chúa Trời kỷ luật bạn, hãy trở lại nơi bạn đã lìa khỏi Ngài và làm cho mọi sự trở nên đúng đắn. Hãy nhớ: “Đời sống Cơ-đốc đắc thắng là một chuỗi những khởi đầu mới”. Đó không phải là một sự biện hộ cho tội lỗi, nhưng đó là một sự khích lệ cho sự ăn năn.

-Sa 13:1-4 xem giải nghĩa Sa 12:10.


3. Sự việc (Sa 13:5-18)

Tôi không biết có bao nhiêu cuộc chiến gia đình đã xảy ra bởi sự tham tiền. Báo chí thường đăng tường thuật về những gia đình tranh chiến trước tòa vì việc gia tài hay một cuộc trúng vé số. Những người từng yêu nhau và vui sống với nhau bắt đầu tấn công nhau chỉ để có tiền, nhưng tiền bạc không thể mua những phước hạnh mà các gia đình hưởng một cách tự do.


Áp-ra-ham có thể đã thất bại hai thử nghiệm đầu tiên, nhưng ông đã vượt qua thử nghiệm thứ ba với thành công lớn. Thử nghiệm này không phải là một thử nghiệm dễ dàng, vì nó có liên quan đến đất đai và của cải; nhưng Áp-ra-ham là tấm gương về điều mà mỗi tín-hữu phải làm khi có những tranh chấp những thứ vật chất.


Áp-ra-ham ham đã quyết định làm một người hòa giải chớ không phải một người gây rối. Vấn đề giữa Áp-ra-ham và Lót không bị gây ra bởi đất đai, nạn đói hay của cải (cả hai người đều giàu có), hay thậm chí những người chăn súc vật của họ (Sa 13:7). Trung tâm của mọi vấn đề là vấn đề trong tấm lòng. Lòng của Lót hướng về của cải và thành công của thế gian, còn Áp-ra-ham chỉ muốn là đẹp lòng Chúa. “Hai người có thể đi cùng với nhau, nếu họ không đồng ý với nhau sao?” (Am 3:3).


Thật tệ hại khi sự tranh chấp này ở giữa vòng anh em (Sa 13:8), nhưng tệ hại hơn, những người ngoại đạo trong xứ đang theo dõi và lắng nghe (Sa 13:7). Khi các Cơ-đốc nhân có những tranh chấp, điều đó gây tai hại cho lời chứng về Chúa.

Trong chức vụ mục sư của tôi, tôi thường thăm viếng những bà con và bạn bè chưa được cứu của những thuộc viên Hội thánh, tìm cách khiến họ quan tâm về những điều thuộc linh, chỉ để khám phá rằng họ biết về mọi “tranh chấp trong Hội thánh” trong thành phố. Không có gì lạ khi Chúa chúng ta cầu nguyện để dân sự Ngài có thể hiệp một, hầu cho thế gian có thể tin (Gi 17:20-23).


Sự hiệp nhất Cơ-đốc tỏa hương thơm và có kết quả (Thi 133:1-3), nhưng sự không đoàn kết khiến cho hương thơm đó trở thành một mùi hôi thối và biến khu vườn thành một hoang mạc.


Gia 3:13-4:10 giải thích lý do Lót là một kẻ gây rối thay vì một người hòa giải: Ông có “sự rắc rối trong lòng.” Ông đi theo sự khôn ngoan của thế gian này (như Áp-ra-ham chú ông đã làm ở Ai-cập) chớ không phải sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Ông tranh chấp với Áp-ra-ham vì ông đã tranh chiến với bản thân, và ông tranh chiến với bản thân vì ông tranh chiến với Đức Chúa Trời. Sự khôn ngoan của thế gian và của cải (của) thế gian dường như đem lại sự thỏa mãn, nhưng cuối cùng chúng đem đến sự thất vọng.


Sự tham lam – một khao khát vô độ để có nhiều hơn -dẫn đến mọi loại điều ác (ITim 6:10). Để có nhiều tiền hơn, con người sẽ nói dối (Ch 21:6) ngược đãi người khác (Ch 22:16), lừa đảo (Ch 28:8) và thậm chí gây ỷ phiền toái cho gia đình mình (Ch 15:27).

Robert South đã viết: “Sự tham lam là khởi đầu và kết thúc âm mưu của ma quỷ, thói xấu đầu tiên trong bản tính sa đọa hoạt động và thói xấu cuối cùng đi đến chỗ chết.”


Áp-ra-ham đã gây rắc rối ở Ai-cập vì ông ở không đúng chỗ, và Lót đã gây ra rắc rối ở Ca-na-an vì ông ở không đúng chỗ: Lòng ông thật sự ở Ai-cập (Sa 13:10). Theo ICôr 2:14-3:3 chỉ có 3 loại người trong thế gian: người tự nhiên (chưa được cứu), người xác thịt (được cứu nhưng sống cho thế gian: và xác thịt, và người thuộc linh dâng mình cho Đức Chúa Trời). Bạn tìm thấy cả 3 loại ngươi trong Sa 13:1-18: người tự nhiên (Sa 13:13) người xác thịt (Lót) và người thuộc linh (Áp-ra-ham).


Lót là một người công bình (IIPhi 2:7-8), nhưng không dâng mình cho Chúa. Ông không thể cùng đi với Áp-ra-ham vì Áp-ra-ham là bạn của Đức Chúa Trời (IISu 20:7; Ês 41:8) và Lót là bạn của thế gian (Gia 4:4). Có nhiều sự chia rẽ trong Hội thánh và những tranh chấp trong gia đình được gây ra bởi những Cơ-đốc nhân xác thịt là những người không bước đi với Chúa hay với những tín-hữu khác.


Áp-ra-ham đã sống vì người khác, chớ không vì bản thân.

Mặc dù ở Ai-cập, Áp-ra-ham đã nghĩ đến bản thân trước tiên (Sa 12:12-13), nhưng khi ông trở lại với bàn thờ của ông ở Ca-na-an, ông đặt Đức Chúa Trời lên trên và kế đến là những người khác. Với tư cách “nhà chính trị cao niên” của trại, Áp-ra-ham có mọi quyền để quyết định vấn đề và bảo Lót điều phải làm, nhưng ông cho Lót sự chọn lựa trước tiên “Hãy yêu nhau cách thân ái bằng tình yêu anh em, trong sự tôn trọng nhau” (Rô 12:10).


Cơ-đốc nhân thuộc linh không khăng khăng đòi những quyền lợi của riêng mình nhưng vui mừng nhường nhịn người khác. Trong những năm cuối của mình, tướng William Booth, người sáng lập “The Salvation Army” (tên một tổ chức từ thiện cứu tế quốc tế sáng lập 1865 ở Anh để giúp những người nghèo khó) đã quá yếu nên không thể tham dự hội nghị thế giới của Army, nhưng ông đã gởi đến những đại biểu một sứ-điệp. Một năm nọ ông đã gởi đến một bức điện chỉ có một chữ “Những người khác”.

Tôi đã được đặc quyền thi hành chức vụ với The Salvation Army ở những khu vực khác nhau trên thế giới, và tôi có thể xác nhận rằng họ xem từ “OTHERS” đó rất nghiêm túc. “Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa” (Phi 2:4).


Áp-ra-ham đã sống bởi đức tin chớ không bởi ngoại cảnh.

Cho dù Lót đã làm gì, Áp-ra-ham không lo lắng về tương lai ông; vì ông biết rằng mọi sự ở trong tay Chúa. Áp-ra-ham chưa bao giờ đọc Thi 47:4 hay Mat 6:33 nhưng ông đặt cả hai vào sự thực hành bằng đức tin. Ông đã gặp Đức Chúa Trời tại bàn thờ và ông biết rằng mọi sự ở dưới quyền điều khiển. Khi Đức Chúa Trời là ưu tiên trong đời sống của bạn thì ai là người thứ nhì hay cuối cùng không tạo điều gì khác biệt.


Lót có một trại nhưng không có bàn thờ (Sa 13:5), nghĩa là ông đã không cầu khẩn Chúa để được khôn ngoan trong việc thực hiện những quyết định (Gia 1:5). Thay vì ngước mắt lên trời, Lót ngước mắt về phía đồng bằng của Giô-đanh (Sa 13:10) và ngừng lại ở đó. Đôi mắt nhìn điều mà tấm lòng yêu thích.

Áp-ra-ham đã đưa Lót ra khỏi chân lý Ai-cập, nhưng ông không thể đem Ai-cập ra khỏi Lót. Quan điểm quyết định hậu quả. Mắt Áp-ra-ham đặt trên thành thánh của Đức Chúa Trời (Hêb 11:13-16), ông tiếp tục bước đi với Chúa và hưởng phước hạnh. Mắt Lót đặt trên những thành tội lỗi của loài người, và ông tiếp tục tiến đến sự thành công của thế gian, sự thất bại thuộc linh và một kết thúc nhục nhã.


Lót có một cơ hội lớn để trở thành người của Đức Chúa Trời khi ông đồng đi với Áp-ra-ham, nhưng chúng ta không đọc về việc Lót xây một bàn thờ hay cầu khẩn Chúa. Trước tiên Lót nhìn về Sô-đôm (Sa 13:10); Rồi ông đi đến Sô-đôm (Sa 13:11-12), và cuối cùng, ông đi vào Sô-đôm (Sa 14:12).

Thay vì làm một khách hành hương tiếp tục hành trình, Lót đi lùi vào trong thế gian và xa cách phước hạnh của Đức Chúa Trời (Thi 1:1). Ông đã “đi qua phía Đông” (Sa 13:11), quay lưng về phía Bê-tên (“nhà của Đức Chúa Trời”) và hướng về A-hi (“sự đổ nát”, xem Sa 12:8). Dân ở Sô-đôm có thể dường như không gian ác đối với Lót, nhưng họ gian ác đối với Đức Chúa Trời, và sự đánh giá của Ngài là tất cả những gì quan trọng.


Áp-ra-ham để Đức Chúa Trời chọn lựa cho ông.

Sau khi Lót đã ra đi, Áp-ra-ham có cuộc gặp gỡ khác với Chúa (Sa 13:14-18). Lót đã ngước mắt lên và thấy những gì thế gian cho. Giờ đây, Đức Chúa Trời mời Áp-ra-ham ngước mắt lên và xem những gì Thiên Đàng ban cho. Lót chọn một phần xứ mà ông cuối cùng đánh mất, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham toàn xứ vẫn thuộc về ông và con cháu ông. Lót đã nói “Ta sẽ chọn”. Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham: “Ta sẽ ban cho”. Thật là một tương phản!


Lót mất gia đình, nhưng Áp-ra-ham được hứa ban một gia đình đông đúc đến nỗi không thể đếm được. (Hãy nhớ, Áp-ra-ham và Sa-ra đã già và không có con). Lót đang sống cho những điều có thể xảy ra, nhưng Áp-ra-ham tin cậy Đức Chúa Trời cho những điều không thể xảy ra.


“Hãy nhướng mắt lên và nhìn xem” được tiếp theo bởi “Hãy nhấc chân và bước đi” (Sa 13:17). Hãy xác nhận di sản của bạn bằng đức tin! (Gios 1:1-3; Phuc 11:24). Kỷ luật mà ông đã kinh nghiệm khi đi xuống Ai-cập đã dạy Áp-ra-ham tôn trọng những ranh giới, vì vậy giờ đây Đức Chúa Trời có thể giao phó cho ông những chân trời rộng mở. Chính đức tin của bạn nơi Đức Chúa Trời quyết định mức độ phước hạnh của Ngài mà bạn sẽ hưởng.


Khi bạn tin Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa của mình, Đức Chúa Trời ban cho bạn “mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Đấng Christ” (Êph 1:3). Bạn giờ đây có di sản của mình! Tất cả những gì bạn cần làm là dành di sản đó bằng đức tin và lãnh “sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển” (Phi 4:19). Lời Đức Chúa Trời là “di chúc” cho bạn biết bạn giàu có ra sao, và đức tin là chìa khóa mở kho để bạn có thể xác nhận di sản của mình.


Áp-ra-ham dâng lời tạ ơn Đức Chúa Trời.

Áp-ra-ham không chỉ nhướng mắt, nhìn xem (Sa 13:14), nhấc chân và bước đi (Sa 13:17), nhưng ông cũng dâng tấm lòng để thờ phượng Đức Chúa Trời và cảm tạ Ngài về ơn phước nhơn từ của Ngài. Ông đóng trại từ nơi này sang nơi khác theo như Đức Chúa Trời hướng dẫn ông, và ông đã xây bàn thờ chứng cớ và thờ phượng. Dân ở Sô-đôm kiêu ngạo về sự giàu có của họ (Êxe 16:49), nhưng Áp-ra-ham có của cải thuộc linh mà họ chẳng biết gì (Gi 4:31-34). Ông đang bước đi trong mối giao thông với Đức Chúa Trời, và lòng ông được thỏa mãn.


Sa-tan muốn sử dụng hoàn cảnh, con người và sự việc để cám dỗ bạn và đem đến điều tệ hại nhất trong bạn, nhưng Đức Chúa Trời cũng muốn sử dụng những điều đó để thử nghiệm bạn và đem đến điều tốt nhất trong bạn. Áp-ra-ham đã thất bại hai cuộc thử nghiệm đầu tiên vì ông sử dụng đức tin nơi sự khôn ngoan của loài người thay vì đức tin nơi Lời Đức Chúa Trời. Nhưng ông đã vượt qua cuộc thử nghiệm thứ 3 với nét đặc biệt lớn vì ông để Đức Chúa Trời nắm quyền điều khiển. “Và đây là chiến thắng vượt trên thế gian: đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).





14. ĐỨC TIN LÀ SỰ CHIẾN THẮNG (Sa 14:1-24)


Khi bạn ghi tên trong “trường đức tin”, bạn không bao giờ biết điều gì xảy ra kế tiếp. Một ngày nào đó hãy thăm viếng Áp-ra-ham và bạn thấy ông giải quyết một cuộc tranh chấp về ranh giới. Hãy thăm viếng ông một ngày khác và bạn thấy ông chuẩn bị cho một cuộc chiến. Điều này tại sao như vậy?


Trước tiên, Đức Chúa Trời muốn chúng ta trưởng thành trong mọi lãnh vực của đời sống nhưng sự trưởng thành không đến dễ dàng, không thể có sự tăng trưởng mà không có thử thách, và không thể có thử thách mà không có sự thay đổi. Nếu hoàn cảnh không bao giờ thay đổi, mọi sự sẽ có thể tiên đoán được; và đời sống càng trở nên có thể đoán trước được, nó càng bày tỏ ít thử thách.

William Culles Bryant đã viết:

“Đừng khóc khi thế giới thay đổi. Nếu nó cứ giữ một tình trạng bền vững không đổi, thì thật sự có nguyên nhân để khóc.”


Khi bạn bước đi trong sự sáng (IGi 1:5-10) bạn có thể thấy điều gì đang xảy ra, và bạn kinh nghiệm sự đa dạng trong đời sống mình. Nhưng trong sự tối tăm, mọi sự có vẻ giống nhau. Không có gì lạ khi những người chưa được cứu (và những tín-hữu sa ngã) quá chán nản và phải luôn tìm lối thoát! Đời sống đức tin bày tỏ những thử thách giữ cho bạn tiếp tục đi và giữ bạn tiếp tục tăng trưởng!


Trong chương này, Áp-ra-ham người có đức tin, thực hiện 3 vai trò đặc biệt: người quan sát (Sa 14:1-12), người đánh trận (c.13-16) và người thờ phượng (c.17-24). Trong cả 3 vai trò Áp-ra-ham đã thực hành đức tin nơi Đức Chúa Trời và thực hiện những quyết định đúng đắn.


1. Áp-ra-ham người quan sát (Sa 14:1-12)

Phân đoạn này ghi lại trận chiến đầu tiên được đề cập trong Kinh Thánh, và nó sẽ không được kể đến ở đây nếu nó không có liên quan đến Áp-ra-ham.


Kinh Thánh ghi lại khá nhiều về lịch sử; nhưng như Tiến sĩ A. T. Pierson đã nói “Lịch sử là câu chuyện của Ngài.” Những gì được viết ra giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách Đức Chúa Trời thực hiện kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Ngài trong thế gian này. Trong Kinh Thánh, những sự kiện lịch sử thường là những cửa sổ cho chân lý thuộc linh.


-5 thành ở đồng bằng Giô-đanh (Sa 14:2; Sa 13:10) đã chịu lệ thuộc các vua của 4 thành phía đông 12 năm (Sa 14:1) và cuối cùng nổi dậy chống lại họ. Dĩ nhiên đây là một sự tuyên chiến; vì vậy 4 vua đã xâm lược đồng bằng Giô-đanh để đem 5 vua vào trong sự lệ thuộc. Theo quan điểm ngày nay của chúng ta, sự xâm lược là một cuộc chạm trán nhỏ, nhưng vào thời đó, nó được xem là một cuộc xung đột quốc tế lớn.


Chắc chắn 5 vua phải có thể đánh bại 4 vua, đặc biệt khi đang chiến đấu “trên đất của họ”. Nhưng quân đội của các thành đồng bằng đã bị các vua xâm lược đánh bại hoàn toàn! Rõ ràng 5 vua thậm chí không biết xứ của mình vì họ đã bị mắc bẫy trong hố bùn (Sa 14:10). Tất cả những gì quân đội họ có thể làm là chạy trốn ở những ngọn đồi.


Khi nhìn lại những đội quân của mình, công tước Wellingor được cho rằng đã nói: “Tôi không biết những người này sẽ có ảnh hưởng gì trên kẻ thù, nhưng họ làm tôi sợ!” Êxe 16:49-50 gợi ý rằng lối sống của dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ không chuẩn bị cho họ về cuộc xung đột (so sánh Êxe 16:49-50; IGi 2:15-17).


Bất cứ mục đích nào các vua có thể có trong cuộc chiến này, Đức Chúa Trời đã nghĩ đến điều gì đó đặc biệt cho Lót: ông đã trở thành một tù binh chiến tranh. Lót đã nhìn xem Sô-đôm và đi đến Sô-đôm (Sa 13:10-13) và giờ đây ông đang sống trong Sô-đôm (Sa 14:12; Thi 1:1). Bạn không thể đoán điều đó từ hạnh kiểm của ông, nhưng Lót là một người công bình (IIPhi 2:6-8). Ông đã thất bại ở đâu?


Trong khi ở Ai-cập với Áp-ra-ham, Lót đã có một nếm trải về thế gian và hưởng thụ nó. Kinh Thánh không ghi rằng Lót từng xây một bàn thờ và tìm kiếm Chúa, như Áp-ra-ham chú ông đã làm. Áp-ra-ham là bạn của Đức Chúa Trời (Gia 2:3), nhưng Lót là bạn của thế gian (Sa 4:4). Đồng thời, Lót sống theo thế gian (Rô 12:2), và khi Sô-đôm thua trận, Lót bị kết án cùng với thế gian (ICôr 11:32). Nếu bạn đồng hóa với thế gian, vậy hãy nghĩ đến việc chịu khổ điều mà thế gian chịu khổ.


Việc Lót bị bắt là cách Đức Chúa Trời kỷ luật ông và nhắc ông nhớ rằng ông không có việc gì để sống trong Sô-đôm. Chắc chắn Áp-ra-ham đang trung tín cầu nguyện cho cháu ông để cháu ông có thể biệt riêng mình khỏi thế gian và bắt đầu sống như một “khách lạ và người bộ hành” thật sự. Đức Chúa Trời kỷ luật con cái Ngài vì Ngài yêu họ và muốn điều tốt nhất cho họ (Ch 3:11-12; Hêb 12:1-11). Nếu chúng ta không lắng nghe những lời quở trách của Ngài, vậy Ngài phải gợi sự chú ý của chúng ta cách nào đó, và cách đó thường rất đau đớn.


2. Áp-ra-ham người đánh trận (Sa 14:13-16)

Thái độ của ông Áp-ra-ham không tham dự trong cuộc chiến cho đến khi ông nghe rằng Lót đã bị bắt, và sau đó ông bắt đầu hành động. Áp-ra-ham được biệt riêng, nhưng không cô lập; ông độc lập, nhưng không hờ hững. Thật ra, ông và một số trưởng tộc địa phương đã lập một liên minh chỉ cho những trường hợp khẩn cấp như thế (Sa 14:13).

Ông là “Áp-ra-ham, người Hê-bơ-rơ” (Sa 14:13), nghĩa là “người ngoại cuộc, người không có địa vị vững chắc trong xã hội”. Ông không phải là “Áp-ra-ham người cứng lòng”. Ông là một “người bộ hành và khách lạ” trong xứ, nhưng đó không phải là cớ để không hành động.


Mặc dù tín-hữu không nên thỏa hiệp với những người chưa được cứu trong những vấn đề về cách ăn ở và chức vụ thuộc linh (IICôr 6:14-7:1), nhưng họ có thể hợp tác khi nói đến việc chăm sóc con người và “đẩy mạnh phúc lợi chung”, khi bạn thấy người khác ở trong sự rắc rối, bạn đừng yêu cầu họ một lời làm chứng trước khi giúp họ (Lu 10:25-37; Ga 6:10). Sự phục vụ đầy hy sinh là một cách bày tỏ tình yêu của Đấng Christ cho người khác (Mat 5:16).


Nếu các Cơ-đốc nhân không mang phần gánh nặng chung của đời sống, làm sao họ có thể là muối của đất và sự sáng của thế gian?

Ví dụ,

- Giô-sép đã hầu việc ở Ai-cập, và Đức Chúa Trời sử dụng ông để duy trì gia đình ông và dân tộc Do-thái.

- Nê-hê-mi đã hầu việc một vua ngoại đạo, nhưng Đức Chúa Trời sử dụng quyền hạn và những nguồn tài nguyên của vua ấy để giúp Nê-hê-mi có thể xây lại Giê-ru-sa-lem.

- Ê-xơ-tê là một người nữ Do-thái đã lấy một vua người ngoại, và Đức Chúa Trời sử dụng bà để bảo vệ dân Do-thái khỏi sự hủy diệt gần như chắc chắn.

- Đa-ni-ên ở Ba-by-lôn chưa bao giờ thỏa hiệp với những lời kết tội dành cho ông, nhưng ông đã giúp nhiều vua và được Đức Chúa Trời đại dụng. Chúng ta có thể hợp tác với những người khác nhau ở những lúc khác nhau để đạt những mục đích khác nhau, nhưng chúng ta phải luôn ý thức về bổn phận của mình để làm vinh hiển Đức Chúa Trời.


Áp-ra-ham đã đối xử với cháu của ông bằng tình yêu, cả khi ông cho Lót quyền lựa chọn đất đầu tiên (Sa 13:9) và khi ông liều mạng để cứu Lót. Lót đã không tử tế với Áp-ra-ham, và Áp-ra-ham có mọi cớ để cho cháu ông chịu những hậu quả đau đớn của những quyết định dại dột của mình. Nhưng Lót là “anh em” của ông (Sa 14:16), vì vậy Áp-ra-ham đã thực hành tình yêu anh em và thắng điều ác bằng điều thiện (Rô 12:17-21; Ga 6:1-2).


Quân đội của ông.

Dù là người của sự hòa bình, Áp-ra-ham đã được chuẩn bị cho cuộc chiến, Ông không đánh trận từ những động cơ ích kỷ để tư lợi, ông đánh trận vì ông yêu Lót và muốn giúp Lót. Khi bạn xem xét những đặc điểm của quân đội Áp-ra-ham, bạn thấy điều gì cần có trong lĩnh vực thuộc linh để có sự chiến thắng thế gian.

a. Họ được sinh ra trong nhà của ông (c.14).

Nói về mặt thuộc linh, điều này nhắc chúng ta rằng “Hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời thì thắng hơn thế gian” (IGi 5:4). Sự sinh ra đầu tiên của chúng ta khiến chúng ta trở thành con cháu của A-đam, và ông là người thất bại, nhưng sự sinh ra lần thứ hai của chúng ta khiến chúng ta trở thành con cái Đức Chúa Trời, và Chúa Giê-xu là Đấng Chiến Thắng. Ngài đã thắng mọi kẻ thù (Êph 1:19-23), “và Ngài chia sẻ chiến thắng của Ngài với tất cả những ai sẽ tin cậy Ngài. Và đây là chiến thắng vượt trên thế gian: đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).

b. Họ được trang bị (c.14).

Còn có nhiều hơn là lòng nhiệt thành và sự can đảm để thắng một cuộc chiến. Bạn cũng phải có sự trang bị hữu hiệu. Chiến sĩ Cơ-đốc phải mang toàn bộ áo giáp của Đức Chúa Trời và sử dụng những vũ khí thuộc linh Đức Chúa Trời đã cung cấp (Êph 6:10-18). Những vũ khí của chúng ta mang tính thuộc linh, không phải tính xác thịt (IICôr 10:3-5), và chúng ta sử dụng chúng trong quyền năng của Thánh Linh, Lời Đức Chúa Trời và sự cầu nguyện là hai vũ khí hữu hiệu nhất (Công 6:4), và chúng ta phải sử dụng chúng bằng đức tin. Như bài hát nổi tiếng bày tỏ điều đó. “Hãy mặc lấy áo giáp Tin Lành / mỗi bộ phận được mang với sự cầu nguyện”.

c. Họ được huấn luyện (c.14).

Cho dù sự trang bị của họ tốt đẹp thế nào, nếu các chiến sĩ không được huấn luyện, họ sẽ dễ dàng bị đánh bại. Một trong những mục đích của Hội thánh địa phương là huấn luyện dân sự Đức Chúa Trời cách sử dụng Kinh Thánh hữu hiệu, cách cầu nguyện, cách nhận biết kẻ thù, và cách làm theo những mệnh lệnh như chiến sĩ trong đội quân của Đấng Christ.

Bạn càng biết rõ Kinh Thánh, bạn càng được trang bị tốt hơn để đánh trận (IITim 3:16-17). Vị chỉ huy sự cứu rỗi của bạn muốn huấn luyện bạn và “khiến anh em nên trọn vẹn” (Hêb 13:20-21), từ Hy-lạp nghĩa là “trang bị cho một đội quân”. Nếu chúng ta thất bại trong trận chiến, đó không phải là lỗi của sự trang bị hay chến lược của Vị chỉ huy. Có gì đó không ổn với các chiến sĩ.

d. Họ tin nơi người lãnh đạo của mình.

Áp-ra-ham và các đồng minh của ông đã đi 120 dặm để thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ trên bốn vua, và họ giành một chiến thắng hoàn toàn. Rõ ràng Áp-ra-ham có những hướng dẫn từ Chúa, vì vậy toàn bộ việc làm là một chiến thắng của đức tin. Sự ứng dụng thuộc linh thật rõ ràng: Nếu dân sự Đức Chúa Trời muốn đánh bại kẻ thù mình, họ phải tin cậy Chúa và vâng theo những mệnh lệnh của Ngài. Đây là cách Giô-suê đã chinh phạt Đất Hứa và Đa-vít đã đánh bại những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên, và đây là cách Hội thánh phải đánh trận ngày nay.

e. Họ được hiệp nhất.

Không có ba quân đội với ba lãnh đạo. Chỉ có một quân đội, và Áp-ra-ham đảm trách. Nếu dân sự Đức Chúa Trời ngày nay được hiệp nhất trong sự yêu thương, họ sẽ giành được những chiến thắng dường bao! Chúng ta hát “giống như một đội quân mạnh mẽ / chuyển động Hội thánh Đức Chúa Trời”. Nhưng Hội thánh chẳng giống một quân đội, đặc biệt khi nói về kỷ luật về việc hành quân cùng nhau. Một người bạn mục sư đã nói: “Rắc rối với Hội thánh đó là có quá nhiều tướng và không đủ lính!”

f. Họ chỉ có mục đích: Mục đích của họ không phải là thù riêng hay tư lợi (Sa 14:22-23), nhưng là chiến thắng kẻ thù để những người bị bắt có thể được tự do. Một chiến sĩ hai lòng chắc chắn sẽ thất bại. “Khi một người đi ra trận, thì chẳng còn lấy việc đời làm lụy mình, làm vậy đặng đẹp lòng kẻ chiêu mộ mình” (IITim 2:4).


Khi bạn nhớ A-can (Gios 7:1-26), Sam-sôn (Cac 13:1-16:32), và Sau-lơ (ISa 15:35), bạn thấy nhận định này đúng ra sao.


Thành quả của ông Áp-ra-ham và các đồng minh của ông mạnh mẽ đến nỗi họ đã đuổi theo kẻ thù 100 dặm, giải thoát mọi kẻ bị bắt và thu tất cả các chiến lợi phẩm. Phải chăng Áp-ra-ham và người cháu trần tục của ông đã có một cuộc nói chuyện dài khi họ trở về? Phải chăng Lót đã giữ những lời hứa mà ông đã lập trong khi ông ở trong nguy hiểm? Ông có thực hiện bất cứ lời hứa nào với Áp-ra-ham không?


Chúng ta không thể trả lời những câu hỏi đó, nhưng chúng ta biết điều này. Sự sửa phạt của Chúa và sự nhân từ của Chúa trong việc giải cứu Lót đều không đem đến ích lợi gì cho ông. Sự nhân từ của Đức Chúa Trời lẽ ra phải dẫn ông đến sự ăn năn (Lê 15:14-19; Rô 2:4), nhưng thay vì ăn năn, Lót đã trở lại Sô-đôm. Lẽ ra ông có thể hiệp với Áp-ra-ham, nhưng ông quyết định trở lại với tội lỗi.


Alexander Whyte đã viết trong tác phẩm cổ điển của ông “Bible Characters” (Những nhân vật của Kinh Thánh) rằng: “Áp-ra-ham là cha của những người trung tín, và Lót, cháu ông, là cha của tất cả những ai khó được cứu.” Một số người sẽ được cứu “dường như qua lửa” (ICôr 3:15), nhưng tốt hơn là nên có “một lối vào rộng rãi” trong nước đời đời của Chúa (IIPhi 1:11).


3. Áp-ra-ham người thờ phượng (Sa 14:17-24)

Một cuộc chiến mới: Đôi khi bạn đối diện với những hiểm họa lớn nhất sau khi bạn đã thắng một cuộc chiến. Chính sau khi chiếm thành Giê-ri-cô mà lòng tự tin của Y-sơ-ra-ên đã dẫn họ vào sự thất bại ở thành A-hi (Gios 7:1-26). Và sau thành công của mình trên núi Cạt-mên, Ê-li đã khiếp vía và chạy trốn trong sự sợ hãi (IVua 19:1-21). Không có gì ngạc nhiên khi mục sư thánh thiện người Ê-cốt Andrew Bonar (1810-1892) đã nói: “Chúng ta hãy cảnh giác sau chiến thắng cũng như trước cuộc chiến.”


Khi Áp-ra-ham từ trận chiến trở về, ông được hai vua ra đón: Bê-ra, vua Sô-đôm (“cháy”) và Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem (“hòa bình”). Bê-ra trao cho Áp-ra-ham mọi chiến lợi phẩm để đổi lại dân sự, còn Mên-chi-xê-đéc cho Áp-ra-ham bánh và rượu. Áp-ra-ham từ chối đề nghị của Bê-ra nhưng chấp nhận bánh và rượu của Mên-chi-xê-đéc và trao cho ông phần mười của chiến lợi phẩm. Tất cả mọi điều này mang tính biểu tượng và trình bày một số chân lý thuộc linh quan trọng mà bạn phải hiểu và áp dụng ngày nay.


Áp-ra-ham đã phải chọn lựa giữa hai vua là những người đại diện cho hai lối sống trái ngược. Sô-đôm là một thành gian ác (Sa 13:13; Êxe 16:49-50), và Bê-ra đại diện cho quyền thống trị hệ thống thế gian này với sự mời gọi của nó đối với xác thịt (Êph 2:1-3). Bê-ra nghĩa là “món quà”, gợi ý rằng thế gian mong đợi lòng trung thành của bạn. Nhưng Sô-đôm nghĩa là “cháy”, vì vậy hãy cẩn thận cách bạn chọn lựa! Nếu bạn quỳ trước Bê-ra, mọi sự bạn sống vì nó sẽ bốc cháy một ngày nào đó. Đó là điều đã xảy đến với Lót!


Mên-chi-xê-đéc nghĩa là “vua công bình” và Sa-lem nghĩa là “hòa bình”. Hêb 7:1-28 và Thi 110:1-7 đều liên hệ Mên-chi-xê-đéc với Chúa Giê-xu Christ. “Vua hòa bình” và “Vua Công bình” (Thi 85:10). Giống như Mên-chi-xê-đéc trong thời Áp-ra-ham, Chúa Giê-xu Christ là Vua - Thầy tế-lễ của chúng ta ở trên trời, giúp chúng ta có thể hưởng sự công bình và sự bình an khi chúng ta hầu việc Ngài (Ês 32:17; Hêb 12:11). Chắc chắn chúng ta có thể thấy nơi bánh và rượu một sự nhắc nhở về sự chết của Chúa thay cho chúng ta trên thập tự giá.


Vì vậy, khi Áp-ra-ham từ chối Bê-ra và chấp nhận Mên-chi-xê-đéc, ông đang lập một nhận định về đức tin, nói rằng: “Hãy đem thế gian đi, nhưng hãy cho tôi Chúa Giê-xu.” Lót lẽ ra nên thực hiện quyết định tương tự, nhưng ông quyết định trở lại với đời sống thỏa hiệp của mình.


Vì sao sẽ sai lầm để Áp-ra-ham nhận chiến lợi phẩm? Xét cho cùng, ông đã chẳng liều mạng mình và mạng của các gia nhân ông để đánh bại các vua xâm lược và giải cứu những tù nhân đó sao? Nói về lý, Áp-ra-ham có mọi quyền đối với chiến lợi phẩm nhưng về mặt đạo đức, chúng ở ngoài những giới hạn. Nhiều điều trên thế gian này là hợp lý đối với tòa án nhưng sai về đạo đức đối với dân sự Đức Chúa Trời.


Hơn nữa trước khi Áp-ra-ham có thể nhận chiến lợi phẩm, ông phải đồng ý trả dân Sô-đôm về với vua họ là người đã nói: “Hãy giao người cho ta” (Sa 14:21). Giống như Đức Chúa Trời muốn sử dụng thân thể con người vì vinh hiển Ngài (Rô 12:1-2; ICôr 6:19-20), thì kẻ thù cũng muốn sử dụng thân thể con người cho những mục đích xấu xa (Rô 6:12-13). Thật vậy, kẻ thù đã nói: “Hãy trao thân thể ngươi cho ta” với Giô-sép (Sa 39:1-23) và Đa-ni-ên (Da 1:21), nhưng họ đã nói “không!”. Nhưng khi kẻ thù nói lời tương tự với Sam-sôn (Cac 16:1-32), Đa-vít (IISa 11:1-27) và Giu-đa (Gi 13:27), họ đã nói “vâng!” Và quả là một cái giá họ đã trả!


Áp-ra-ham không chấp nhận đề nghị của vua Bê-ra. Ngược lại, dường như Áp-ra-ham đã cho mọi người được ông giải cứu cơ hội để đến với ông và tin cậy Đức Chúa Trời hằng sống chân thật. Áp-ra-ham là một trưởng tộc mạnh mẽ, và các láng giềng của ông biết về trại và bàn thờ của ông. Nhưng không có biểu hiện nào cho thấy bất cứ ai trong họ (kể cả gia đình của Lót) chấp nhận lời mời của ông. Ngoại trừ Lót và hai con gái ông, họ đều đã bỏ mạng trong sự hủy diệt thành Sô-đôm.


Một phước hạnh mới.

Mên-chi-xê-đéc có điều gì đó tốt hơn để ban cho Áp-ra-ham: phước hạnh của “Đức Chúa Trời rất cao, là chủ của trời và đất.” Áp-ra-ham đã sống bởi phước hạnh của Chúa, chớ không phải sự đút lót của thế gian. Ông không muốn bất cứ ai nghĩ rằng thế gian đã làm cho ông giàu có. Thậm chí một vật nhỏ như dây giày cũng có thể ảnh hưởng đến cách ăn ở của ông! Có quá nhiều tôi tớ Đức Chúa Trời đã làm suy yếu lời chứng của họ bằng cách chấp nhận sự tán tụng và những món quà từ người thế gian. Bạn không thể cùng lúc vừa là một tôi tớ của Đức Chúa Trời vừa là một người nổi danh trong thế gian.


Mên-chi-xê-đéc đã gặp Áp-ra-ham sau cuộc chiến để làm cho ông mạnh mẽ vì sự chiến thắng. Chúa biết những cám dỗ chúng ta đương đầu sau khi chúng ta đã đánh bại kẻ thù. Áp-ra-ham đã gặp Chúa trước cuộc chiến và hứa không nhận gì cho bản thân từ những chiến lợi phẩm của chiến thắng. Ông chỉ có một mục đích khi ông lãnh đạo đội quân của mình, và Đức Chúa Trời đã ban cho ông chiến thắng.


Áp-ra-ham không áp đặt những nhận thức của ông trên các đồng minh của ông A-ne, Ếch-côn và Mam-rê (Sa 14:24). Nếu họ muốn nhận phần chiến lợi phẩm, đó là việc của họ, và ông sẽ không chỉ trích họ. Ông cũng không mong họ dâng phần mười cho Mên-chi-xê-đéc. Áp-ra-ham là một người bộ hành và khách lạ, còn các đồng minh của ông là người thế gian có hạnh kiểm được điều khiển bởi một tập hợp những tiêu chuẩn khác. “Người khác có thể bạn không thể”.


Sa 14:20 là sự đề cập đầu tiên về việc dâng phần mười trong Kinh Thánh. Dâng phần mười là dâng cho Đức Chúa Trời 10% tiền bạc, nông sản hoặc thú vật (từ Hê-bơ-rơ là “mười”). Khi chúng ta dâng phần mười, chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời làm chủ mọi sự và chúng ta là những quản gia biết ơn về của cải Ngài.

Dân Do-thái đã dâng phần mười hằng năm cho Chúa (Lê 27:30-33) cũng như phần mười mỗi năm thứ 3 cho người nghèo (Phuc 26:12-15). Họ cũng có thể dâng phần mười của 90% còn lại cho “của dâng về lễ hội” đặc biệt để vui hưởng ở Giê-ru-sa-lem (Phuc 12:5-19).


Việc dâng phần mười đã xảy ra trước luật Môi-se, vì không chỉ Áp-ra-ham đã dâng phần mười, mà Gia-cốp cũng vậy (Sa 28:22). Vì lý do này, nhiều Cơ-đốc nhân tin rằng dân sự Đức Chúa Trời ngày nay phải bắt đầu việc dâng hiến của mình bằng phần mười. Một chấp sự tin kính có lần đã nói với tôi: “Nếu dân Do-thái thời Cựu-ước ở dưới luật pháp đã có thể dâng phần mười, Cơ-đốc nhân thời Tân-ước dưới ân-điển phải dâng nhiều hơn biết bao!”. Kế hoạch dâng hiến thời Tân-ước được phác thảo trong IICôr 8:1-9:27 nhưng việc dâng phần mười là một vị trí tốt để khởi đầu.


Chúng ta phải cẩn thận dâng hiến vì sự tin kính của tấm lòng chúng ta, chớ không phải như một “của hối lộ” cho những phước hạnh của Đức Chúa Trời. R. G. Le Tourneau, cố kỹ nghệ gia Cơ-đốc nổi tiếng và là người nhân đức, đã từng nói: “Nếu bạn dâng phần mười vì nó có lợi nó sẽ không có lợi!”


Nhưng Áp-ra-ham cho chúng ta một gương tốt về sự dâng hiến. Ông đã đem những món quà của mình cho Chúa Giê-xu Christ qua con người của Mên-chi-xê-đéc (Hêb 7:1-10). Chúng ta đừng dâng phần mười và của dâng hiến của mình cho nhà thờ, mục sư hay các thuộc viên của ban tài chính. Nếu sự dâng hiến của chúng ta là một hành động thờ phượng thật, chúng ta sẽ dâng cho Chúa và vì lý do đó, chúng ta cần dâng điều tốt nhất của mình (Ma 1:6-8).


Ở một trong những Hội thánh tôi làm mục sư, chúng tôi đã không nhận tiền dâng hiến vào những chúa nhật nhưng cung cấp những chiếc hộp đặc biệt ở lối ra trước và sau các lễ thờ phượng.


Một chú bé ngày kia tham quan Hội thánh đã hỏi bạn mình rằng những cái hộp được làm gì, và bạn cậu cho cậu biết “Đó là nơi chúng ta đặt tiền dâng của chúng ta.”

Cậu khách hỏi: “Điều gì xảy ra với tiền này?”

Cậu bé kia đáp: “Tôi nghĩ họ trao nó cho ông Eastep” (Tiến sĩ D. B. Eastep là mục sư lúc đó).

Càng bối rối hơn, chú bé hỏi: “À, ông Eastep làm gì với nó?”

Lần này cậu bé đã sẵn sàng: “Tôi không biết ông ấy làm thế nào với nó, nhưng ông ấy dâng nó cho Đức Chúa Trời!”


Khi mục sư tin kính làm việc trước tôi nghe câu chuyện đó, ông cười một cách vui vẻ.

Ông biết (cũng như chúng ta đều biết) rằng mỗi người thờ phượng phải đem những món quà của mình đến cho Chúa và dâng hiến từ một tấm lòng biết ơn. Mọi dân sự Đức Chúa Trời đều là những thầy tế-lễ và có thể đem những của lễ của mình đến cho Ngài (IPhi 2:5, 9).


Áp-ra-ham đã sẵn sàng trong việc dâng hiến của mình. Những nguyên tắc về chức quản gia của ông cố định vững chắc trong lòng ông nên không có lý do gì để trì hoãn.


Ông cũng quân bình trong việc dâng hiến của mình, một phương sách được Phao-lô khích lệ (ICôr 16:1-2). Việc dâng phần mười là một vị trí tốt để khởi đầu; nhưng khi Chúa chúc phước, chúng ta phải gia tăng tỷ lệ đó nếu chúng muốn thực hành loại “dâng hiến rời rộng” được mô tả trong IICôr 8:1-9:27.


Áp-ra-ham đã dâng hiến vì ông yêu mến Đức Chúa Trời và muốn nhận biết sự vĩ đại cùng sự nhân từ của Ngài. Thật là một tương phản giữa “Đức Chúa Trời chí cao” và các hình tượng ngoại đạo! Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham là Đấng dựng nên trời và đất (Sa 14:19; Ês 40:1-30). Ngài xứng đáng được mọi sự thờ phượng và ngợi khen của mọi dân Ngài!


Trước cuộc chiến, Áp-ra-ham đã giơ tay lên bởi đức tin trong một lời thề nguyện long trọng trước Đức Chúa Trời rằng ông sẽ không nhận gì từ chiến lợi phẩm. Ông chỉ có một tấm lòng và tâm trí duy nhất khi ông lãnh đạo đội quân (Mat 6:24).


Suốt cuộc chiến Áp-ra-ham đã vận dụng gươm của ông bằng đức tin và tin cậy Đức Chúa Trời về chiến thắng.


Sau cuộc chiến, bởi đức tin Áp-ra-ham đã khép kín bàn tay mình trước vua Sô-đôm nhưng mở tay trước vua Sa-lem, nhận bánh và rượu, rồi dâng phần mười.

“Và đây là chiến thắng vượt trên thế gian: đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).


Chú ý: Bạn có thể nghiên cứu thêm về Mên-chi-xê-đéc trong “Be Confident” (Hãy có lòng tin quyết), giải nghĩa thơ Hê-bơ-rơ, và “sự dâng hiến rời rộng” được giải thích trong “Be encouraged” (Hãy can đảm), giải nghĩa thơ IICô-rinh-tô.





15. ĐÊM TĂM TỐI CỦA LINH HỒN (Sa 15:1-21)


“Một người thật sự kính sợ Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài, có thể ở trong một hoàn cảnh tăm tối, không có ánh sáng, và người ấy có thể bước đi nhiều ngày, nhiều năm trong hoàn cảnh đó…”


Nhà thần học Thanh giáo Thomas Goodwin (1600-1679) đã viết như thế và tiên-tri Ê-sai đồng ý với ông: “Ai trong các ngươi kính sợ Đức Giê-hô-va? Ai vâng theo tiếng của tôi tớ Ngài? Ai đi trong tối tăm và không có sự sáng? Người ấy hãy tin cậy danh Đức Giê-hô-va và nương nhờ Đức Chúa Trời mình” (Ês 50:10 NKJV).


Có những lúc Cơ-đốc nhân tận tụy nhất cũng cảm thấy “ở trong sự tối tăm” và không biết vì sao Đức Chúa Trời dường như quá xa. Suốt cuộc nổi dậy Boxer Rebellion, Hội Truyền Giáo China Inland Mission đã chịu khổ rất nhiều; và J. Hudson Taylor, người sáng lập hội, đã nói với một người bạn “Tôi không thể đọc; tôi không thể suy nghĩ, tôi thậm chí không thể cầu nguyện, nhưng tôi có thể tin cậy.” Đó là một thời kỳ tối tăm, nhưng Đức Chúa Trời cuối cùng đã ban ánh sáng.


Áp-ra-ham đã có một kinh nghiệm mà những người hướng dẫn thuộc linh gọi là “đêm tăm tối của linh hồn”. Thuật ngữ này đến từ một tác phẩm cổ điển thuộc linh thế kỷ 16 có tựa đề “St. John of the Cross” (Thánh Giăng của thập tự giá). Dựa trên những cảnh đêm tối được mô tả trong Nhã-ca, sách cho biết thể nào con cái Đức Chúa Trời bước vào tình yêu và đức tin sâu sắc hơn bằng cách kinh nghiệm sự tối tăm tạm thời và dường như là sự xa cách với Đức Chúa Trời. Đó không phải là một điều dễ dàng để kinh nghiệm, nhưng đôi lúc nó cần thiết.


1. Sự an toàn của Áp-ra-ham (Sa 15:1)

Lắng nghe chính mình. Chương trước tập trung về những hành động của Áp-ra-ham nhưng chương này đề cập đến những cảm xúc của ông, kể cả “cơn kinh hãi về sự tối tăm lớn” (Sa 15:12). Người có đức tin cũng là người có những cảm xúc, và những cảm xúc không nên bị coi thường hay bỏ qua. Nhiều Cơ-đốc nhân chính thống có khuynh hướng nhấn mạnh về tinh thần với ý chí và đánh giá thấp những cảm xúc, nhưng đây là một sai lầm nghiêm trọng có thể dẫn đến một đời sống bất quân bình.


Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và điều này kể đến những cảm xúc của chúng ta. Mặc dù thật thiếu khôn ngoan khi tin cậy những cảm xúc của bạn và bỏ qua tâm trí của bạn, hay để những cảm xúc của bạn vượt khỏi sự kiểm soát; Nhưng cũng thiếu khôn ngoan khi phủ nhận và đè nén những cảm xúc của bạn rồi trở thành một rô-bốt tôn giáo.


Trong Thi-thiên, Đa-vít và những tác giả khác đã cho Đức Chúa Trời biết một cách thành thật họ cảm thấy thế nào về Ngài, chính bản thân họ, và những hoàn cảnh của họ, và đây là một gương tốt đề chúng ta noi theo. Chúa Giê-xu là một con người thật, và Ngài công khai bày tỏ những cảm xúc vui mừng, buồn rầu, cơn giận thánh khiết và tình yêu của Ngài.


Nhưng giờ đây cuộc chiến đó đã thành công, vậy tại sao Áp-ra-ham sợ hãi? Trước hết, ông là con người, và những cảm xúc của chúng ta có thể “tan vỡ” sau một thời gian hiểm họa và khó khăn lớn. Điều này giúp phải thích lý do Ê-li quá nản lòng sau chiến thắng Ba-anh trên núi Cạt-mên (IVua 19:1-21). Sau đỉnh núi thì đến thung lũng.


Một yếu tố khác là khả năng 4 vua có thể trở lại với quân tiếp viện và tấn công trại quân của Áp-ra-ham. Áp-ra-ham biết rằng các vua Đông phương không nhận thất bại một cách nhẹ nhàng hay để cho sự thù hằn tan biến nhanh chóng. Và giả sử nếu Áp-ra-ham bị giết? Điều gì sẽ xảy ra cho giao-ước và lời hứa của Đức Chúa Trời?


Lắng nghe Đức Chúa Trời. Bạn chắc chắn phải “lắng ghe những cảm xúc của mình” và thành thật về chúng. Bác sĩ tâm thần Da-vid Viscott viết: “khi một người gánh vác trách nhiệm đối với những cảm xúc của mình, người ấy gánh vác trách nhiệm đối với thế giới của mình.” 

Nhưng đừng dừng lại ở đó; Hãy để thời gian lắng nghe Đức Chúa Trời, và tiếp nhận những lời khích lệ của Ngài. Đây là lần đầu tiên trong Kinh Thánh bạn tìm thấy nhóm từ “có lời Đức Giê-hô-va”. Nó được sử dụng hơn 100 lần trong Cựu-ước, Đức tin chiến thắng sự sợ hãi là đức tin nơi Lời Chúa, chớ không phải niềm tin nơi những cảm xúc.


Đức Chúa Trời phán với bạn Ngài bằng tên (Gi 10:3).

Khi tôi còn là một cậu bé, tôi thường đi mua sắm thay mẹ tôi; và những người bán hàng trong các cửa hàng sẽ gọi tôi bằng tên và hỏi về gia đình của tôi. Khi cha mẹ tôi đến ngân hàng, những thủ quỹ thường biết họ là ai và chào hỏi họ. Với rất ít sự ngoại lệ, những người bán hàng tôi gặp ngày nay xem tôi chỉ như một con số trong máy vi tính. Dường như không thể tin được, nhưng Đức Chúa Trời Đấng đặt tên và đếm mọi ngôi sao, cũng biết tên bạn và quan tâm về những nhu cầu của bạn (Thi 147:3-4).


Đây cũng là lần đầu tiên bạn tìm thấy những từ làm cho vững tâm “đừng sợ” trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời lập lại những từ đó với Y-sác (Sa 26:24), Gia-cốp (Sa 46:3) và thường với dân Y-sơ-ra-ên (Xu 14:13; Xu 20:20; Dân 14:9; Phuc 1:21). Những lời hứa “đừng sợ” trong Ê-sai thật tốt lành để đọc và suy gẫm khi bạn thấy mình đối phó với sự sợ hãi (Ês 41:10,13,14; Ês 43:1,5; Ês 44:2, 8).


Phương thuốc của Đức Chúa Trời cho sự sợ hãi của Áp-ra-ham là nhắc ông nhớ Ngài là ai? “Ta là cái thuẫn của ngươi, và là phần thưởng rất lớn của ngươi” (Sa 15:1). Lời nói “TA LÀ” của Đức Chúa Trời hoàn toàn thích hợp cho lời nói “tôi không phải là” của con người.


“Hãy yên lặng, và biết rằng ta là Đức Chúa Trời” (Thi 46:10). Đời sống của bạn chỉ lớn như đức tin của bạn và đức tin của bạn chỉ lớn như Đức Chúa Trời của bạn. Nếu bạn dành mọi thời gian để nhìn chính mình, bạn sẽ nản lòng, nhưng nếu bạn nhìn Đức Chúa Trời bằng đức tin, bạn sẽ được khích lệ.


Đức Chúa Trời là cái thuẫn và phần thưởng của chúng ta là sự bảo vệ và là nguồn chu cấp của chúng ta. Áp-ra-ham không cần phải lo lắng về cuộc chiến khác, vì Chúa sẽ bảo vệ ông. Và ông không cần phải hối tiếc vì mất của cải do vua Sô-đôm ban cho mình vì Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho ông trong những phương diện lớn hơn nhiều. Đây là điều ở Cựu-ước tương đương với Mat 6:33; Phi 4:19.


Sự bảo vệ và chu cấp là những phước hạnh mà thế gian đang tìm kiếm và những chính trị gia đang hứa hẹn khi nào họ nắm quyền. Các ứng cử viên đề nghị với những cử tri sự bảo vệ khỏi chiến tranh, cùng hiểm họa trên đường phố cũng như sự chu cấp việc làm, sự chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và tuổi già.

Một số lời hứa đã được giữ đúng, nhưng nhiều lời hứa đã bị quên lãng. Đức Chúa Trời toàn năng là Đấng duy nhất có thể đề nghị với bạn sự bảo vệ cùng sự chu cấp và giữ những lời hứa của Ngài. “Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời là mặt trời và cái khiên; Đức Giê-hô-va sẽ ban ân-điển và vinh hiển. Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho ai ăn ở ngay thẳng” (Thi 84:11).


2. Người thừa kế của Áp-ra-ham (Sa 15:2-6)

Hỏi (Sa 15:2-3). Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng con cháu của ông sẽ nhiều như bụi đất (Sa 13:16) và họ sẽ đem phước hạnh đến cho cả thế gian (Sa 12:1-3). Nhưng Áp-ra-ham và Sa-ra vẫn chưa có con, và nếu Áp-ra-ham chết, người thừa kế duy nhất mà ông có là “quản gia” của ông: Ê-li-ê-se. (Người ấy có thể là người đầy tớ được đề cập trong Sa 24:2). Lót không còn ở trong bức tranh này, và những bà con khác của Áp-ra-ham ở Mê-sô-bô-ta-mi cách xa 500 dặm. Điều gì đã xảy ra cho lời hứa này?


Mối quan tâm của Áp-ra-ham không phải chỉ cho bản thân ông và vợ ông, dù giống như mọi cặp vợ chồng ở Đông phương, họ muốn có con cái. Mối quan tâm của ông là vì sự thực hiện kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho cả thế giới. Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch vinh hiển, và Ngài lập một lời hứa nhân từ, nhưng Đức Chúa Trời dường như không làm gì cả! Áp-ra-ham với Sa-ra đang trở nên già hơn, và thời gian đang hết.


Một trong những bài học cơ bản trong “trường đức tin” là: ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ phải được thực hiện theo cách của Đức Chúa Trời và trong giờ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không mong Áp-ra-ham và Sa-ra tính toán làm sao để có một người thừa kế. Tất cả những gì Ngài yêu cầu là họ sẵn sàng để Ngài có thể thực hiện những mục đích của Ngài trong và qua họ. Điều mà Áp-ra-ham và Sa-ra không nhận ra là Đức Chúa Trời đang chờ đợi để họ “tê liệt hoàn toàn” hầu cho chỉ một mình Đức Chúa Trời sẽ nhận quyền thế và vinh hiển.


Thật tốt để chia sẻ những mối quan tâm của bạn với Chúa, thậm chí dù điều bạn muốn nói dường như chứng tỏ sự vô tín hoặc sự thiếu kiên nhẫn trong lòng bạn. Đức Chúa Trời không làm ngơ đối với những vấn đề của bạn hoặc không quan tâm về những cảm xúc của bạn. Ngài đã không quở trách Áp-ra-ham. Ngược lại, Ngài cho ông những sự bảo đảm ông cần. “Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em” (IPhi 5:7).


 Nhìn xem (Sa 15:4-5).

Đức Chúa Trời cho biết rõ ràng chỉ một mình Áp-ra-ham sẽ là cha của người kế tự trong tương lai. Quyền kế tự tùy thuộc vào quyền làm con (Rô 8:14-17). Sau đó Đức Chúa Trời bảo đảm với Áp-ra-ham một cách kịch tính rằng người này sẽ là tổ phụ của nhiều con cháu đến nỗi không ai có thể đếm được. Thậm chí khi đời sống tăm tối, bạn vẫn có thể thấy những ngôi sao. Ai đó đã nói chí lý: “Khi quan điểm ảm đạm, hãy cố gắng nhìn lên”. Áp-ra-ham đã nhìn quanh tìm cách giải quyết vấn đề của ông, nhưng cách giải quyết nằm trong hành động nhìn lên.


Có khoảng 30.000 ngôi sao được liệt kê trong bảng mục lục “General Catalog” được các nhà thiên văn học sử dụng, nhưng người ta ước tính có 100 tỉ ngôi sao nữa! Đức Chúa Trời không nói rằng Áp-ra-ham sẽ có nhiều con cháu số lượng như vậy, nhưng Ngài nói rằng giống như những ngôi sao, sẽ có quá nhiều đến nỗi không thể đếm được. Dù Áp-ra-ham nhìn xuống bụi đất (Sa 13:14) hay nhìn lên những ngôi sao (Sa 15:5), ông sẽ nhớ lại lời hứa của Đức Chúa Trời và có sự tin quyết. Lời hứa này đã được lặp lại cho Áp-ra-ham (Sa 22:17) và được tái xác nhận với Y-sác (Sa 26:4).


Tin (Sa 15:6).

Những lời hứa không gây ích lợi gì cho chúng ta trừ khi chúng ta tin và hành động dựa trên chúng. Áp-ra-ham đã tin cậy lời hứa của Đức Chúa Trời (Sa 12:1-3) và chứng minh điều đó bằng cách rời quê hương và đi đến Ca-na-an (Hêb 11:8). Nhưng Sa 15:6 là sự đề cập đầu tiên trong Kinh Thánh về đức tin của Áp-ra-ham. Đó là Gi 3:16 của Cựu-ước, và vì lý do này, những tác giả Tân-ước sử dụng nó để minh họa sự cứu rỗi bởi đức tin.


Chỉ có 5 từ trong bản gốc (nguyên bản hy Bá lai) ở Sa 15:6, nhưng chúng chứa đựng ý nghĩa phong phú biết bao. Câu này được trích dẫn ba lần trong Tân-ước. Ga 3:6; Rô 4:3; Gia 2:23. Ba từ chính là: “tin”, “kể là” và “công bình”.

Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, theo nghĩa đen là “Áp-ra-ham đã nói: Lạy Đức Chúa Trời, A-men!”. Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “tin” nghĩa là “dựa toàn bộ sức nặng của bạn lên”. Áp-ra-ham nương dựa hoàn toàn nơi lời hứa với Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời của lời hứa. Chúng ta không được cứu bởi tạo lời hứa với Đức Chúa Trời, nhưng bởi tin lời hứa của Đức Chúa Trời. Trong Phúc-âm Giăng, được viết để cho con người biết làm thế nào để được cứu (Gi 20:31), từ “tin” được sử dụng gần 100 lần. Sự cứu rỗi là món quà ân-điển của Đức Chúa Trời, và nó được tiếp nhận bằng đức tin (Êph 2:8-9).


Nhu cầu lớn nhất của Áp-ra-ham là gì? Sự công bình. Đây là nhu cầu lớn nhất của con người trên thế giới chúng ta ngày nay, vì “mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô 3:29).

“Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không” (Rô 3:23). “Ngoan đạo” thì chưa đủ, Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta có sự công bình trọn vẹn, nếu không Ngài sẽ không để chúng ta bước vào Thiên Đàng.


Áp-ra-ham đã tiếp nhận sự công bình này như thế nào? Ông tin Chúa, và sự công bình được kể cho ông. “kể cho” nghĩa là “đặt vào tài khoản của ai”. Trên thập tự giá, tội lỗi của chúng ta được đặt vào tài khoản của Chúa Giê-xu “bị kể vào hàng kẻ dữ” (Ês 53:12) khi Ngài chịu hình phạt lẽ ra thuộc về chúng ta (Ês 53:6). Khi bạn tin Ngài, sự công bình của Ngài được đặt vào tài khoản của bạn (IICôr 5:21) và bạn được công bình và được tha thứ trước mặt một Đức Chúa Trời thánh khiết.


Áp-ra-ham chứng tỏ đức tin của ông bởi những việc làm của ông khi ông dâng Y-sác trên bàn thờ (Gia 2:14-24). Áp-ra-ham được cứu không phải bởi vâng lời Đức Chúa Trời hay thậm chí hứa vâng lời Đức Chúa Trời; nhưng sự vâng lời của ông được chứng minh bởi đức tin của ông. Tội nhân được cứu không phải bởi đức tin cộng với việc làm, nhưng bởi một đức tin hành động.


Hãy dành thời gian đọc Ga 3:1-29; Rô 4:1-25; Gia-2:1-26. Và bạn sẽ thấy Áp-ra-ham minh họa sự cứu rỗi bởi đức tin ra sao. Trong Ga 3:1-29 Phao-lô tập trung vào “tin”. Trong Rô 4:1-25 ông đề cập “kể là” và trong Gia 2:1-26 Gia-cơ giải thích “sự công bình”.

Cần có ba chương Tân-ước để bày tỏ một câu!


Sự trả lời cho nỗi sợ hãi của Áp-ra-ham là sự hiện diện của Đức Chúa Trời: TA LÀ. Sự trả lời cho mối quan tâm của Áp-ra-ham về người thừa kế là lời hứa của Đức Chúa Trời: TA SẼ. Đức Chúa Trời sẽ trả lời mối quan tâm thứ ba của Áp-ra-ham ra sao?


3. Xứ của Áp-ra-ham (Sa 15:7-21)

Lời xác nhận (Sa 15:7).

Đức Chúa Trời đã cho Áp-ra-ham biết rằng Ngài sẽ ban xứ Ca-na-an cho ông cùng con cháu ông (Sa 12:7; Sa 13:15, 17), và giờ đây Ngài tái xác nhận lời hứa đó. Xứ là một phần quan trọng của giao-ước, vì chính trong đất Y-sơ-ra-ên mà vở kịch thiên thượng của “lịch sử về sự cứu rỗi” đã được diễn ra. Xứ Y-sơ-ra-ên cũng sẽ là sân khấu cho cảnh cuối cùng của vở kịch khi Đấng Mê-si-a tái lâm để cai trị đất.


Trải qua các thế kỷ, Y-sơ-ra-ên là một dân tộc không có xứ, và dường như những lời hứa giao ước sẽ không được thực hiện. Vào năm 1932, nhà bình luận người Anh G. Campbell Morgan đã viết: “Giờ đây tôi hoàn toàn tin rằng sự dạy dỗ của toàn bộ Kinh Thánh đó là không có tương lai cho Y-sơ-ra-ên với tư cách một dân trên đất” (This was his faith - Đây là đức tin của ông, tr. 290). Rồi đến ngày 14/5/1948 và là sự tái sinh của dân tộc Y-sơ-ra-ên! Như Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham và ban Đấng Mê-si-a, Ngài cũng sẽ giữ lời hứa của Ngài và phục hồi xứ cho dân sự Ngài.


Sự bảo đảm (Sa 15:8-12).

Câu hỏi của Áp-ra-ham không phải là một dấu hiệu của sự vô tín, nhưng là một đề nghị về một bằng chứng của sự bảo đảm. Ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông đứa con trai đã hứa, nhưng đất đang ở trong tay của mười dân tộc ngoại đạo (Sa 15:19-21). Áp-ra-ham làm chủ đất là một việc, nhưng con cháu ông làm sao sẽ chiếm hữu đất để họ có thể vui hưởng?


Điều được mô tả trong Sa 15:9-17 vào thời đó được biết như “cắt một giao-ước”. Nghi lễ long trọng này đòi hỏi sự chết của thú vật và sự ràng buộc con người với một lời hứa. Những người lập giao-ước sẽ giết nhiều thú vật và mổ xác, đặt nửa con mỗi bên đối nhau trên đất. Rồi các bên sẽ bước đi giữa những phần vật sinh tế trong sự tuyên bố rằng, nếu họ không giữ lời của mình, họ đáng lãnh cùng số phận như những thú vật (Giê 34:18-19).


Nhưng kinh nghiệm của Áp-ra-ham lại khác.

Ông giết các thú vật, đặt chúng trên đất, và trải qua thời gian còn lại trong ngày để đuổi những con chim ăn mồi bị hấp dẫn bởi thịt và huyết. Khi mặt trời lặn, Áp-ra-ham rơi vào một cơn ngủ mê, và rồi Đức Chúa Trời hiện ra với ông và phán với ông. Nhưng chỉ một mình Đức Chúa Trời đi qua giữa những phần vật sinh tế! (Sa 15:17). Chính Đức Chúa Trời đã lập những lời hứa với Áp-ra-ham, không phải Áp-ra-ham đã lập những lời hứa với Đức Chúa Trời. Không có những điều kiện thêm vào; giao ước của ân-điển đến từ tấm lòng rời rộng của Đức Chúa Trời.


Sự biết trước (Sa 15:13-21).

Từ “Cơn kinh hãi về sự tối tăm lớn” Áp-ra-ham nghe những điều khoản của giao-ước Đức Chúa Trời và khám phá kế hoạch của Đức Chúa Trời cho dân tộc (Sa 15:13-15,16,17), bản thân ông (Sa 15:15) và cho đất đai (Sa 15:18-21).


Dân tộc (Sa 15:13-14,16-17).

Gia-cốp và gia đình ông đã đến Ai-cập để được Giô-sép bảo vệ. Và ở đó họ trở nên một dân hùng mạnh (Sa 46:1-34; Xu 1:1-22).


Đến Ai-cập như những vị khách được tôn trọng, dân Do-thái cuối cùng trở thành một sự đe dọa, vì vậy Pha-ra-ôn đã biến họ thành nô lệ và làm họ khổ sở nhiều (Xu 1:11-12). Có lẽ khói (Sa 15:17) là một tượng trưng về hoạn nạn của dân tộc ở Ai-cập (Phuc 4:20). Sự tàn ác của Pha-ra-ôn đã không thể tiêu diệt dân tộc vì Đức Chúa Trời có những kế hoạch cho tuyển dân của Ngài. Đức Chúa Trời đã xét đoán Ai-cập bằng mười tai họa và sau đó giúp Môi-se có thể lãnh đạo dân sự một cách chiến thắng (Xu 5:1-15:27).


Những sự kiện và thì giờ của chúng ở trong tay Đức Chúa Trời. Bốn trăm năm ở Sa 15:13 chỉ về toàn bộ thời gian Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập, từ khi Gia-cốp đến cho tới khi rời khỏi Ai-cập. Đó là một con số chẵn, vì Xu 12:40 đưa ra 430 năm (Công 7:6).

Vì sao Đức Chúa Trời chờ quá lâu để giải cứu dân Ngài? Vì Đức Chúa Trời nhẫn nhục với các dân tộc ở Ca-na-an và trì hoãn sự xét đoán, hầu họ có thể có nhiều thời gian hơn để ăn năn (IIPhi 3:8-9; Mat 23:32). Những ai lên án Y-sơ-ra-ên (và Đức Chúa Trời) về cách dân Ca-na-an bị đối xử, dường như đều quên rằng Đức Chúa Trời đã cho họ bao thế kỷ để ăn năn về sự gian ác của họ.


Áp-ra-ham (Sa 15:15) “Tuổi già tốt lành” của Áp-ra-ham là 175 năm (Sa 25:7), nghĩa là ông đã đồng đi với Đức Chúa Trời một thế kỷ (Sa 12:4). Bất chấp những thất bại thỉnh thoảng của Áp-ra-ham ông đã thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời và đem phước hạnh đến cho toàn thế giới. Lời hứa này từ Đức Chúa Trời chắc đã cho Áp-ra-ham và Sa-ra sự yên ủi lớn suốt những lúc khó khăn, cũng như những lời hứa ở Phi 1:6 và Êph 2:10 yên ủi dân sự Đức Chúa Trời ngày nay.


Đất (Sa 15:18-21).

Vào đầu cuộc hành hương của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời đã phán với ông: “Ta sẽ chỉ cho ngươi đất” (Sa 12:1). Sau đó Ngài phán: “Ta sẽ ban nó cho ngươi” (Sa 13:15-17). Nhưng giờ đây Lời Ngài là “Ta đã ban đất này cho con cháu ngươi” (Sa 15:18 NASB). Giao-ước của Đức Chúa trời trở thành một vấn đề chắc chắn: Đất thuộc về con cháu Áp-ra-ham qua Y-sác.


Sa-lô-môn đã thực hiện quyền cai trị trên một miền rộng lớn (IVua 4:21; Thi 72:8), nhưng Y-sơ-ra-ên đã không chiếm hữu toàn đất đó. Các vua chỉ nhận biết quyền tối cao của Sa-lô-môn và nạp cống vật cho ông. Khi Chúa Giê-xu Christ cai trị từ ngôi Đa-vít (Mat 19:28; Lu 1:32), đất Y-sơ-ra-ên sẽ đạt đến kích thước đầy đủ do Đức Chúa Trời đã hứa.


Giao-ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham bền vững dù Y-sơ-ra-ên tin điều gì. Giao-ước này vô điều kiện; sự thực hiện của nó không tùy thuộc vào đức tin hay sự trung tín của con người. Trong bản chất tương tự, giao-ước mới do Chúa Giê-xu Christ thiết lập là đáng tin cậy, dù con người chấp nhận hay không. Những ai đặt đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ đều bước vào giao ước đó và tiếp nhận sự cứu rỗi đời đời (Hêb 5:9; Hêb 9:12) một di sản đời dời (Hêb 9:15) và sự vinh hiển đời đời (IPhi 5:10).


Khi Áp-ra-ham quan tâm về chính mình, Đức Chúa Trời bảo đảm với ông bằng cách phán “TA LÀ!” Khi ông quan tâm về người thừa kế, ông nghe Đức Chúa Trời phán “TA SẼ!”. Mối quan tâm của ông về đất được đáp ứng bởi Lời Đức Chúa Trời “Ta đã ban!”


Trong Chúa Giê-xu Christ, Đức Chúa Trời ban những lời bảo đảm tương tự như thế cho dân sự Ngài hôm nay.

Áp-ra-ham đã tin Đức Chúa Trời.

Bạn có tin chăng?

(Để có sự nghiên cứu chi tiết hơn về Ga 3:1-29, hãy xem “Be Free” (Hãy tự do). Rô 4:1-25 đươc giải thích trong “Be right” (Hãy công bình). Chủ đề về đức tin và việc làm trong Gia 2:1-26 được đề cập trong “Be Mature” (Hãy trưởng thành). Những tên sách này được Victor Books xuất bản. )





16. HÃY COI CHỪNG NHỮNG KHÚC QUANH! (Sa 16:1-16)


Trở về thập niên 60, vợ tôi và tôi đã hưởng một kỳ nghỉ ngắn ở dải đồi thấp xinh đẹp của rặng núi Appalachian. Khi chúng tôi bắt đầu lái xe về nhà, bà ấy nói: “Chúng ta hãy đi đường phía bên này. Nó có vẻ thú vị”


Thú vị! Nó đã trở thành một trong những con đường nông thôn tồi tệ nhất mà chúng tôi từng gặp phải, kể cả một số con đường chúng tôi đã thấy trên những khu vực công tác ở hải ngoại. Không có ổ gà nào; chúng đều là những cái hố. Và trong khi xe của tôi văng bụi lên, sự thiếu kiên nhẫn của tôi làm tăng sự tức giận của tôi, khi chúng tôi cẩn thận cua một đường vòng, chúng tôi kết luận rằng ít người đã đi con đường này. Vì ở đó trước mặt chúng tôi là hai con rùa, nhàn nhã đi dạo ở một trong hai vết đường mòn giữ lấy bạn trên đường.


Khi chúng ta cuối cùng đạt đến nền văn minh và một con đường lát, tôi nghĩ đến nhận định mà Vance Havner thường nói: “Khúc quanh luôn tệ hại hơn đường chính.”

Sa 16:1-16 ghi lại một khúc quanh đau đớn mà Áp-ra-ham và Sa-ra đã thực hiện trong cuộc hành hương của họ, một khúc quanh đã đem đến xung đột không những trong gia đình họ mà còn trên thế giới. Điều mà các nhà báo gọi là “cuộc xung đột Ả-rập _ Y-sơ-ra-ên” đã khởi đầu ngay ở đây.


Nhưng ý nghĩa câu chuyện này vượt lên trên lịch sử với những hậu quả ngày nay. Đối với dân sự Đức Chúa Trời, đó là một bài học tốt về việc bước đi bởi đức tin và chờ đợi Đức Chúa Trời thực hiện những lời hứa của Ngài theo cách của Ngài và trong thì giờ của Ngài. Khi bạn nghiên cứu những giai đoạn trong từng trải của Áp-ra-ham và Sa-ra, bạn sẽ thấy nguy hiểm ra sao khi cậy nơi sự khôn ngoan của riêng mình.


1. Chờ đợi (Sa 16:1a)

Áp-ra-ham giờ đây đã 85 tuổi. Ông đã bước đi với Đức Chúa Trời được 10 năm và học một số bài học quý giá về đức tin. Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham và Sa-ra một đứa con nhưng không cho họ biết khi nào đứa trẻ sẽ ra đời. Đó là một thời gian chờ đợi, và đa số mọi người không thích chờ đợi. Nhưng chính bởi “đức tin và lòng nhịn nhục mà (chúng ta) được hưởng lời hứa” (Hêb 6:12).


Đức Chúa Trời có thời gian biểu hoàn hảo cho tất cả mọi điều Ngài muốn làm. Xét cho cùng, sự kiện này không phải chỉ là sự ra đời của thêm một em bé. Đó là phần kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời cho cả thế giới. Tuy nhiên, khi Sa-ra chờ đợi điều gì đó xảy ra, bà trở nên thiếu kiên nhẫn.


Vì sao Đức Chúa Trời trì hoãn quá lâu? Ngài muốn Áp-ra-ham và Sa-ra “tê liệt hoàn toàn về mặt thể chất (Hêb 11:12) để chỉ một mình Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển. Ở tuổi 85, Áp-ra-ham vẫn tráng kiện đủ để sinh một đứa con cho A-ga; Vì vậy thời gian cho đứa trẻ của phép lạ vẫn chưa đến. Bất cứ điều gì được làm thật sự bởi đức tin thì đều được làm vì vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô 4:20) chớ không vì sự ca tụng của loài người.


Một ý chí chờ đợi Chúa là bằng chứng khác cho thấy bạn đang bước đi bằng đức tin. “Ai tin sẽ chẳng gấp rút” (Ês 28:16). Phao-lô đã trích dẫn câu này trong Rô 10:1 và mở rộng ý nghĩa của nó: “kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn” (cùng một Đức Chúa Trời đã thần cảm Ê-sai và cả Phao-lô, và Ngài có quyền tạo những thay đổi này). Bất cứ khi nào chúng ta thôi tin cậy Đức Chúa Trời, chúng ta bắt đầu “gấp rút” trong hướng sai lầm và đi đến chỗ hổ thẹn.


Một bằng chứng thứ ba của đức tin đó là bạn đang hành động theo thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời. “Như vâỵ, đức tin đến bởi sự nghe, và sự nghe đến bởi Lời Đức Chúa Trời” (Rô 10:17). Bạn có thể hành động bởi đức tin, và biết rằng Đức Chúa Trời sẽ chúc phước nếu bạn vâng theo điều Đức Chúa Trời phán trong Lời Ngài. Hêb 11:1-40 ghi lại những hành động mạnh mẽ của những người nam người nữ bình thường dám tin những lời hứa của Đức Chúa Trời và vâng theo những điều răn của Ngài.


Cuối cùng, bất cứ khi nào bạn hành động bằng đức tin, Đức Chúa Trời sẽ ban sự vui mừng và bình an trong đời sống bạn. “Xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin” (Rô 15:13) Xung đột có thể bao vây bạn, nhưng bạn sẽ có sự bình an và vui mừng của Đức Chúa Trời trong bạn.


Vậy, đây là những chứng cớ của đức tin thật theo tinh thần Kinh Thánh: (1). bạn sẵn sàng chờ đợi; (2). bạn chỉ quan tâm về vinh hiển của Đức Chúa Trời; (3). bạn vâng theo Lời Đức Chúa Trời, và 4. bạn có sự vui mừng và bình an của Đức Chúa Trời ở trong lòng. Trong khi Áp-ra-ham và Sa-ra chờ đợi, Đức Chúa Trời gia tăng đức tin với sự kiên nhẫn của họ và xây dựng tính cách (Gia 1:1-4). Rồi điều gì đó đã xảy ra đặt Áp-ra-ham và Sa-ra trên một khúc quanh đau đớn.


2. Vạch kế hoạch (Sa 16:1-4a)

Sa-ra biết rằng bà không có khả năng sinh con nhưng chồng bà vẫn có khả năng sinh con. Đức Chúa Trời đã gọi Áp-ra-ham một cách rõ ràng là cha của người kế nghiệp được hứa ban, nhưng Ngài chưa xác định người mẹ. Theo lô-gic, đó sẽ là vợ của Áp-ra-ham, nhưng có lẽ Đức Chúa Trời có những kế hoạch khác. Sa-ra đang “suy đoán” kế hoạch của Đức Chúa Trời, và đây là một việc làm nguy hiểm.

Hãy nhớ, đức tin thật đặt cơ sở trên Lời Đức Chúa Trời (Rô 10:17) chớ không dựa trên sự khôn ngoan của loài người (Ch 3:5-6), vì “đức tin là sống mà không vạch kế hoạch”. Sa-ra đã nói “Có lẽ”. Bà không nói “Chúa đã phán vậy!” Đức Chúa Trời đã bảo Áp-ra-ham “phải biết chắc” (Sa 15:13) nhưng Sa-ra không có sự xác tín như vậy để bà đặt cơ sở cho những hành động của mình trên đó.


Hơn nữa, Sa-ra không quan tâm về vinh hiển của Đức Chúa Trời; mục đích duy nhất của bà là “hầu cho tôi có thể có con nhờ nó” (Sa 16:2).

Có lẽ có một ngụ ý về sự thất vọng đối với Đức Chúa Trời và thậm chí là sự đổ lỗi cho Đức Chúa Trời khi bà nói: “Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ” (Sa 16:2).


Người ta thường nói rằng những sự trì hoãn của Đức Chúa Trời không phải là những sự từ chối của Đức Chúa Trời, nhưng Sa-tan thì thầm với chúng ta ”Đức Chúa Trời đang từ chối ngươi! Nếu Ngài yêu ngươi, mọi việc sẽ khác! Hãy trách cứ Ngài!” (Sa 3:1-6).


Việc Áp-ra-ham lấy A-ga làm vợ lẽ hoàn toàn hợp pháp theo luật lệ hôn nhân thời đó. Những năm sau, Gia-cốp sẽ cưới những người hầu của các bà vợ ông, Bi-la và Xinh-ba, mỗi người cho ông hai con trai. Hơn nữa, kế hoạch dường như thành công, vì A-ga đã thụ thai. Xét cho cùng, có lẽ Sa-ra đã đúng.


Nhưng không phải mọi việc hợp pháp hay có vẻ thành công đều được tán thành bởi ý muốn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chưa bao giờ chấp nhận A-ga là vợ của Áp-ra-ham; Thiên-sứ của Đức Giê-hô-va đã gọi nàng là “đòi của Sa-ra” (Sa 16:8). Sau đó nàng bị gọi là “con đòi này với con nó” (Sa 21:10), chớ không phải “vợ và con của Áp-ra-ham”. Tại sao? Vì “điều chi không bởi đức tin là tội lỗi” (Rô 14:23). Đức Chúa Trời khước từ toàn bộ công việc, vì Ngài đã nghĩ đến điều gì đó tốt hơn cho Áp-ra-ham và Sa-ra.


Khi bạn nhìn lại bốn chứng cớ của đức tin theo tinh thần Kinh Thánh đã được giải thích ở trên, bạn có thể thấy rằng Áp-ra-ham và Sa-ra đã không vượt qua cuộc thử nghiệm. Họ không sẵn sàng chờ đợi Chúa nhưng lao về phía trước với những kế hoạch riêng của họ. Họ hành động chỉ để làm thỏa mãn chính mình chớ không phải để làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Họ không vâng theo Lời Chúa, và điều họ đã làm chắc chắn không đem lại niềm vui và sự bình an cho lòng họ hoặc gia đình họ.


Nhà tiểu thuyết người Ê-cốt George Mac Donald đã đúng khi ông nói: “Trong bất cứ điều gì con người làm mà không có Đức Chúa Trời, con người phải thất bại thảm hại, hoặc thành công một cách thảm hại hơn.” Điều này dẫn chúng ta đến giai đoạn thứ ba trong kinh nghiệm “khúc quanh” của Áp-ra-ham và Sa-ra.


3. Tranh chiến (Sa 16:4b-6)

Khi bạn đi theo sự khôn ngoan của thế gian, bạn sẽ đi đến chỗ tranh chiến giống như thế gian (Gia 3:13-18). Trong mọi sự tranh chiến, những tranh chiến gia đình là đau đớn nhất và khó giải quyết nhất. Nếu A-ga vẫn có thái độ của một đầy tớ, mọi việc có thể đã khác; nhưng nàng trở nên kiêu ngạo, và điều này chọc tức bà chủ của nàng (Ch 30:21-23).


Phao-lô đã hỏi: “Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?” (Ga 3:3), và bạn thấy điều này được minh họa trong gia đình của Áp-ra-ham. Ông và Sa-ra đã khởi đầu trong Thánh Linh khi họ đặt đức tin nơi Chúa, nhưng giờ đây họ quay sang xác thịt để được sự giúp đỡ, và một số việc làm của xác thịt đang bắt đầu xuất hiện (Ga 5:19-21). Áp-ra-ham, Sa-ra và A-ga tranh chiến nhau vì họ đã tranh chiến với Chúa, và họ tranh chiến với Chúa vì họ đã có những ham muốn ích kỷ tranh chiến trong lòng họ (Gia 4:1-10).


Việc đầu tiên họ phải làm là xây một bàn thờ, thờ phượng Chúa và cho Ngài biết những vấn đề của họ. Họ phải xưng nhận tội lỗi mình và tiếp nhận sự tha thứ nhân từ của Ngài. Một khi bạn thôi tranh chiến với Đức Chúa Trời và với chính mình, bạn sẽ có một thời gian dễ chịu hơn để không tranh chiến với người khác. Bước kế tiếp hướng đến sự hòa thuận với người khác là hòa thuận với Đức Chúa Trời.


Tuy nhiên, thay vì thành thật đối diện với tội lỗi mình, mỗi người trong cuộc đời chọn một cách cư xử khác; và điều này chỉ làm cho mọi sự trở nên tồi tệ hơn. Giải pháp của Sa-ra là trách cứ chồng bà và ngược đãi đầy tớ của bà khi bà trút cơn giận của mình. Bà dường như quên rằng bà là người trước tiên đã đưa ra đề nghị về hôn nhân.

- Giải pháp của Áp-ra-ham là nhượng bộ vợ ông và từ bỏ cương vị lãnh đạo thuộc linh trong gia đình. Lẽ ra ông phải có lòng thương xót đối với một người đầy tớ cô thế, là người đang có thai, nhưng ông cho phép Sa-ra ngược đãi nàng. Đáng ra ông phải gọi họ đến trước bàn thờ, nhưng ông đã không làm.

- Giải pháp của A-ga là chạy trốn vấn đề, một chiến thuật chúng ta đã biết từ A-đam và Ê-va (Sa 3:8). Tuy nhiên, bạn sớm khám phá rằng bạn không thể giải quyết những vấn đề bằng cách chạy trốn. Áp-ra-ham đã học điều đó khi ông chạy đến Ai-cập (Sa 12:10). Có sự bình an trong gia đình một thời gian ngắn nhưng đó không phải là “sự bình an của Đức Chúa Trời.” Đó chỉ là một sự hòa hoãn tạm thời, dễ tan vỡ mà chẳng bao lâu sẽ thất bại.


4. Đầu phục (Sa 16:7-16)

Gi 4:10 giải thích lý do Cơ-đốc nhân tranh chiến và cách Cơ-đốc nhân có thể ở trong sự hòa thuận. Những cuộc chiến giữa vòng chúng ta phát sinh vì chúng ta vâng theo ba kẻ thù của mình thế gian (Gia 4:4), xác thịt (Gia 4:1) và ma quỷ (Gia 4:7). Làm sao chúng ta mong mình hòa thuận với Đức Chúa Trời và với người khác nếu chúng ta đang sống cho kẻ thù! “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy hãy phục Đức Chúa Trời” (Gia 4:6-7).


A-ga đã phải đầu phục Đức Chúa Trời (Sa 16:7-14).

Đây là sự xuất hiện đầu tiên của thiên-sứ của Đức Giê-hô-va trong Kinh Thánh, Đấng thường được nhận biết là Chúa Giê-xu Christ của chúng ta.

Trong Sa 16:10 thiên-sứ đã hứa làm điều mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm và trong Sa 16:13 A-ga gọi thiên-sứ này là “Đức Chúa Trời”.


Những cuộc thăm viếng trước kỳ hiện thân này của Chúa Giê-xu Christ trên đất là để đáp ứng những nhu cầu đặc biệt và để thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt. Việc Con Đức Chúa Trời đã mặc lấy một thân xác tạm thời, lìa Thiên Đàng, và giáng xuống để giúp đỡ một đầy tớ gái bị ruồng bỏ, chắc chắn bày tỏ ân-điển và tình yêu của Ngài. Những tôi tớ của Ngài là Áp-ra-ham và Sa-ra đã phạm tội với Chúa và với A-ga, nhưng Chúa không từ bỏ họ.


Thiên-sứ gọi nàng là “đòi của Sa-ra”, gợi ý rằng Đức Chúa Trời đã không chấp nhận cuộc hôn nhân của nàng với Áp-ra-ham. Rõ ràng A-ga đang trên đường trở về Ai-cập thì nàng gặp thiên-sứ, nhưng Đức Chúa Trời bảo nàng trở lại với trại của Áp-ra-ham và đầu phục bà chủ của nàng. Điều đó sẽ cần có một đức tin lớn, vì Sa-ra đã ngược đãi A-ga trước đó và có thể làm điều ấy lần nữa.


Sau đó Đức Chúa Trời cho nàng biết rằng nàng mang thai một con trai mà nàng phải đặt tên là Ích-ma-ên (“Đức Chúa Trời nghe”). Mặc dù sẽ không phải là người thừa kế của Áp-ra-ham về những phước hạnh của giao-ước, Ích-ma-ên sẽ vẫn vui hưởng những phước hạnh từ Đức Chúa Trời vì ông là con trai của Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời đã hứa làm cho con cháu của Ích-ma-ên thêm nhiều và khiến họ trở nên những dân tộc lớn (Sa 21:18; Sa 25:12-18), và Ngài đã làm điều đó, vì Ích-ma-ên là người sáng lập các dân Ả-rập.


Ích-ma-ên sẽ là “một con lừa rừng” (Sa 16:12), không phải là một mô tả quá tâng bốc. Nó đồng nhất hóa ông với đồng vắng nơi ông sống bằng kỹ năng của mình với tư cách một người bắn cung (Sa 21:20-21; Gi 24:5). Nó cũng bày tỏ bản tính độc lập và hay gây gỗ của ông.


Ông sẽ là một người bị thù ghét, sống “trong sự thù địch với mọi anh em mình” (Sa 16:12 NIV). Mặc dù chúng ta không nên áp dụng những điểm này cho mọi con cháu của Ích-ma-ên, nhưng sự thù địch hằng bao thế kỷ giữa dân Do-thái và dân Ả-rập quá nổi tiếng đến độ không thể bị bỏ qua. Các dân tộc Ả-rập là những dân độc lập, cư ngụ trong những xứ sa mạc và chống lại sự xâm lấn của các dân tộc khác, đặc biệt là Ysơ-ra-ên và các đồng minh của họ.


Kinh nghiệm ở đồng vắng của A-ga đã đem nàng mặt đối mặt với Đức Chúa Trời và dạy nàng một số chân lý quan trọng về Ngài. Nàng biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống Đấng nhìn thấy chúng ta và nghe những lời than khóc của chúng ta khi chúng ta bị tổn thương. Tên của cái giếng nước nghĩa là “Giếng của Đấng hằng sống và đoái xem tôi.” Ngài là một Đức Chúa Trời riêng tư, quan tâm về những người bị hành hạ và những thai nhi. Ngài biết tương lai và chăm sóc những ai sẽ tin cậy Ngài.


A-ga đã trở về và đầu phục Sa-ra.

Chắc chắn nàng đã xin lỗi về việc kiêu ngạo, xem thường bà chủ, và chạy trốn. Nàng tin cậy Đức Chúa Trời bảo vệ nàng với con trai nàng và chăm sóc họ trong những năm sắp đến. Hãy đầu phục Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài thực hiện những việc vì ích lợi của bạn và vì vinh hiển của Ngài.


Sa-ra đã phải đầu phục Đức Chúa Trời. Sa-ra cảm thấy ra sao khi A-ga trở về trại và thuật lại rằng Đức Chúa Trời đã nói chuyện với nàng? Đức Chúa Trời đã dành thời gian cho một đầy tớ nghèo hèn ư?


Đức Chúa Trời quan tâm về đứa con của một đầy tớ gái sao? Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã chăm sóc cho một người Ai-cập chăng? Vâng, vì đứa con của người Ai-cập đó có Áp-ra-ham là cha, và Đức Chúa Trời có một giao-ước với Áp-ra-ham. Sự ghi chép không cho chúng ta biết Sa-ra đã đáp ứng ra sao, nhưng dường như bà đã chấp nhận A-ga và lời tường thuật của nàng, rồi đưa nàng trở lại vị trí đầy tớ của bà. Sa-ra đã không ngược đãi nàng nữa, vì xét cho cùng, Đức Chúa Trời đang quan sát!


Áp-ra-ham đã phải đầu phục Đức Chúa Trời. Trong toàn bộ tình tiết này, Áp-ra-ham đóng một vai trò khá tiêu cực. Ông đã để Sa-ra thuyết phục ông cưới A-ga, rồi ông đã cho phép Sa-ra ngược đãi A-ga và đuổi nàng ra khỏi trại. Rõ ràng, Áp-ra-ham đã không giúp đỡ A-ga bằng bất cứ cách nào. Sau đó, ông đã thu xếp việc ấy (Sa 21:9). Nhưng khi con trai ông ra đời, Áp-ra-ham nhìn nhận nó và đặt cho nó cái tên Đức Chúa Trời đã chỉ định.


Cả Áp-ra-ham và Sa-ra đã phải học cách sống với những sai lầm của mình. Chắc chắn Áp-ra-ham đã vui mừng nhìn xem đứa con trai lớn lên, và lòng người già đầy tình yêu dành cho nó (Sa 17:18). Nhưng Áp-ra-ham biết rằng Ích-ma-ên sẽ không phải là một phần mãi mãi trong gia đình giao-ước. Giải pháp của Đức Chúa Trời đối với “vấn đề Ích-ma-ên” không phải là trách mắng Áp-ra-ham, Sa-ra hay A-ga, nhưng là ban đứa con khác trong gia đình Y-sác. Ích-ma-ên đã không gây bất cứ phiền phức nào cho Áp-ra-ham và Sa-ra cho đến khi Y-sác lớn lên; khi ấy cậu bắt đầu tạo ra những vấn đề (Sa 21:1-11).


Như chúng ta sẽ thấy trong những chương sau, tất cả những điều này có ý nghĩa thần học sâu sắc đối với tín-hữu Cơ-đốc ngày nay.

Khi bạn nhìn lại chương này, bạn sẽ thấy rằng nhiều bản văn chính từ sách Rô-ma được minh họa bởi điều được ghi chép ở đây.

“Điều chi không bởi đức tin là tội lỗi” (Rô 14:23).

Hãy biết chắc rằng những kế hoạch và hành động của bạn có thể vượt qua bốn “thử nghiệm của đức tin” được phác thảo ở trên. Con người có thể đồng ý với bạn, và Luật pháp có thể bảo vệ bạn, nhưng nếu Đức Chúa Trời không chúc phước cho bạn, đừng làm điều đó! Hãy để Đức Chúa Trời thực hiện ý muốn của Ngài theo cách của Ngài và trong giờ của Ngài. Sa-ra đã tìm cách chạy trước Đức Chúa Trời, và bà đã tạo ra những vấn đề mà vẫn ở cùng chúng ta hôm nay.

“Những kẻ nhận ân-điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật sẽ cai trị trong sự sống” (Rô 5:17). Trong Sa 15:1-21, ân-điển để cai trị qua sự công bình vì cớ đức tin của Áp-ra-ham (Sa 15:6) và Áp-ra-ham đã cai trị trong cuộc sống vì vinh hiển Đức Chúa Trời.

Nhưng ông đã từ bỏ ngôi vị trong đoạn 16 và tội lỗi bắt đầu cai trị. Sự vô tín, sự thiếu kiên nhẫn, sự giận dữ, sự kiêu ngạo và sự hờ hững đã nắm quyền trong gia đình của Áp-ra-ham và gần như hủy hoại gia đình. Dân sự Đức Chúa Trời là vua và thầy tế-lễ (Kh 1:6), những người sẽ “cai trị trong sự sống” bằng cách đầu phục Chúa Giê-xu Christ (Rô 6:11-14).

“Nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân-điển lại càng dư dật hơn nữa” (Sa 5:20). Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời đồng ý với tội lỗi hay sự phạm tội đầy dẫy đó là chìa khóa cho ân-điển dư dật (Sa 6:1-7).


Đúng hơn, nó có nghĩa là ân-điển của Đức Chúa Trời lớn hơn tội lỗi con người và có thể thực hiện điều tốt nhất của Đức Chúa Trời thậm chí khi con người làm điều tồi tệ nhất của mình. Trong ân-điển, Đức Chúa Trời nhìn thấy A-ga chạy trốn đến Ai-cập; Ngài đến với nàng và đáp ứng những nhu cầu của nàng. Ngài khiến nàng trở nên mẹ của một dân tộc lớn. Dĩ nhiên, Ngài làm điều đó vì Áp-ra-ham, nhưng giao-ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham là một giao-ước của ân-điển.


Theo quan điểm con người, “khúc quanh” này là một bi kịch đem kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời đến chỗ bế tắc. Tuy nhiên, hãy xem xét quan điểm thiên thượng. Đức Chúa Trời không bao giờ bị bị lối. Khi con người không chịu đặt mình dưới sự cai trị của Ngài, Ngài tể trị, và Ngài luôn thực hiện những mục đích của Ngài.


Sa-tan muốn chúng ta nghĩ rằng “những khúc quanh của sự bất tuân” phải trở nên con đường vĩnh viễn cho phần còn lại của đời sống chúng ta; nhưng đây là một sự giả dối. Giống như Áp-ra-ham và Sa-ra, chúng ta có thể xưng nhận tội lỗi mình, tiếp nhận sự tẩy thanh của Đức Chúa Trời (IGi 1:19) và sau đó học cách sống với những sai lầm của mình. Vâng, sẽ có sự đau đớn và hối tiếc, nhưng ân-điển của Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ đắc thắng.


George Morrison đáng được trích dẫn lẫn nữa: “Đời sống Cơ-đốc đắc thắng là một chuỗi những khởi đầu mới.”





17. CÓ GÌ TRONG MỘT CÁI TÊN? (Sa 17:1-27)


Ở thời điểm nào đó trong sự học vần của bạn, có thể bạn đã đọc “Romeo và Juliet” của Shakespeare; và bạn khám phá trong cảnh hai câu trích dẫn nổi tiếng đó: “Có gì trong một cái tên? Điều mà ta gọi là một hoa hồng bằng bất cứ từ ngữ nào khác sẽ tỏa hương ngọt ngào như vậy.”


Juliet nói những lời đó khi nàng tự nói với mình trên ban công, không biết rằng Romeo đang lắng nghe ở dưới. Nàng đang suy gẫm về việc nàng thuộc về dòng họ Capullet và chàng thuộc về dòng họ Montagues đối địch, và sự ra đời tình cờ đó đã ngăn cản họ lấy nhau. Hai cái tên đã tạo ra sự khác biệt nào? Dù tên chàng là gì, Romeo vẫn là tình yêu của nàng!


Không kể Shakespeare, nếu bạn hỏi một nhân vật Kinh Thánh câu hỏi: “Có gì trong một cái tên?” Người ấy sẽ đáp “Tất cả! Tên chúng ta rất quan trọng!” Những cái tên có thể ghi lại điều gì đó có ý nghĩa về sự ra đời của con người (Sa 29:31-30:24) hoặc về kinh nghiệm nào đó làm thay đổi đời sống. Gia-cốp đã được đổi tên là Y-sơ-ra-ên sau một đêm vật lộn với Đức Chúa Trời (Sa 32:24-32), và Si-môn nhận cái tên Phi-e-rơ (đá) khi ông gặp Chúa Giê-xu Christ (Gi 1:40-42).Những tên được định cho những em bé sắp ra đời thậm chí mang những sứ điệp (Sa 16:11; Mat 1:18-25).


Trong chương này, bạn sẽ khám phá 4 tên mới và một tên sẽ luôn cũ vì nó không thể thay đổi được.


1. Đức Chúa Trời toàn năng (Sa 17:1-2)

Sự mạc khải.

Tên Hê-bơ-rơ “El Shaddai” (Shuh-DYE) và đây là lần đầu tiên nó xuất hiện trong Kinh Thánh. “Shaddai” được dịch là “Toàn năng (Almighty)” 48 lần trong Cựu-ước. Trong Tân-ước, từ Hy-lạp tương đương được sử dụng trong IICôr 6:18; IICôr 1:8; IICôr 4:8; IICôr 11:17; IICôr 15:3; IICôr 16:7, 14; IICôr 19:6, 15; IICôr 21:22.

Nó được dịch là “Toàn năng (Almighty)” ngoại trừ trong Kh 19:6 (omnipotent).

“El” là danh của Đức Chúa Trời nói về quyền năng, nhưng “Shaddai” nghĩa là gì? Các học giả không đồng ý với nhau. Một số người nói nó đến từ Hê-bơ-rơ có nghĩa “mạnh”, số khác đưa ra một từ có nghĩa là “núi” hoặc “ngực”. Theo ẩn dụ thì núi là một “ngực” nhô lên từ đồng bằng, và chắc chắn nó là một biểu tượng của sức mạnh. Nếu chúng ta kết hợp nhiều tư tưởng này, chúng ta có thể nói rằng “El Shaddai” là danh của “Đức Chúa Trời toàn năng toàn quyền Đấng có thể làm bất cứ việc gì và đáp ứng bất cứ nhu cầu nào.”


Nhưng vì sao Đức Chúa Trời mạc khải danh này cho Áp-ra-ham tại thời điểm này, sau 13 năm yên lặng? Vì Đức Chúa Trời sẽ cho bạn Ngài biết rằng Sa-ra sẽ có một con trai. Chúa muốn Áp-ra-ham biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời Đấng toàn năng toàn quyền và không điều gì quá khó đối với Ngài. Đức Chúa Trời phán “Ta sẽ” mười hai lần trong chương này; Ngài sắp làm những việc kỳ diệu.


Sau cuộc chiến của Áp-ra-ham với bốn vua, Đức Chúa Trời đến với ông như một người đánh trận và cho ông biết Ngài là “thuẫn” của ông. Khi Áp-ra-ham băn khoăn về việc ông từ chối của cải Sô-đôm, Đức Chúa Trời cho ông biết Ngài là “phần thưởng rất lớn” của ông (Sa 15:1). Giờ đây khi Áp-ra-ham và Sa-ra “tê liệt hoàn toàn” Đức Chúa Trời bảo đảm với họ rằng Ngài đủ khả năng hơn để đem đến sự sinh con kỳ diệu. Đức Chúa Trời đến với chúng ta trong những phương diện chúng ta cần Ngài nhất.


Trách nhiệm.

Sự mạc khải luôn đem đến trách nhiệm. Hê-nóc và Nô-ê đã đồng đi với Đức Chúa Trời (Sa 5:22; Sa 6:8-9), nhưng Áp-ra-ham phải đi trước mặt Đức Chúa Trời, đó là sống trong sự nhận biết rằng mắt Đức Chúa Trời luôn ở trên ông (Hêb 4:13). Từ “trọn vẹn” không có nghĩa là “không có tội” vì đó sẽ là mục tiêu không thể đạt được cho bất cứ ai (IVua 8:46).

Từ này nghĩa là “một lòng, không chỗ trách, thành thật, tận tụy với Chúa hoàn toàn”. Trong Xu 12:5 từ này chỉ về “một của lễ trọn vẹn” không tì vít. Đó là một sự kêu gọi về tính chính trực.


Điều này không gợi ý rằng dân sự Đức Chúa Trời phải giải quyết bất cứ điều gì chưa đến mức phấn đấu, để phù hợp với ý muốn Đức Chúa Trời. Alexander Maclaren đã viết: “Bị thất bại bởi sự khao khát đạt những điều chưa đạt được thì có phước hơn là trì trệ trong sự hài lòng thấp hèn với kiến thức cục bộ. Thà leo lên, mặt hướng về đỉnh núi không thể đến được, hơn là nằm thoải mái trong những thung lũng màu mỡ” (Expositions of Holy Scripture Những bình luận về Kinh Thánh, cuốn 1 trang 120, Baker Book House, 1974).


Bí quyết của một sự bước đi trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời là một sự thờ phượng Đức Chúa Trời cách cá nhân. Giống như Áp-ra-ham, mọi tín hữu phải phủ phục trước mặt Chúa và phó thác mọi sự cho Ngài. Nếu Ngài là “El Shaddai Đức Chúa Trời toàn năng”, vậy chúng ta là ai mà chống lại ý muốn của Ngài?


Mối liên hệ.

Nhóm từ “giao-ước ta” được sử dụng chín lần trong chương này và định rõ mối liên hệ của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham. Đây không phải là giao-ước khác, không giống giao-ước Đức Chúa Trời đã thiết lập với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3; Sa 15:1-21). Nó là một sự tái khẳng định về giao-ước đó, với sự thêm vào quan trọng về phép cắt bì, dấu hiệu và ấn chứng của giao-ước.


Đức Chúa Trời một lần nữa hứa làm cho dòng dõi Áp-ra-ham thêm nhiều cho dù ông và vợ ông chưa có con. Con cháu ông sẽ “như bụi trên đất” (Sa 13:16) và như sao trên trời (Sa 15:5). Hai sự so sánh này đất và trời gợi ý rằng Áp-ra-ham sẽ có một dòng dõi về thuộc thể, dân Do-thái (Mat 3:9) và một dòng dõi về thuộc linh bao gồm tất cả những ai tin nơi Chúa Giê-xu Christ (Ga 3:26-29).


2. Áp-ra-ham (Sa 17:3-14, 23-27)

Dân sự. “Áp-ra-ham” nghĩa là “cha cao quý”, “Áp-ra-ham” nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”. Khi Áp-ra-ham cho dân sự trong trại của ông biết rằng ông đã có một tên mới, một số người chắc đã cười và nói: “Cha của nhiều dân tộc ư! Thế nào, ông ta và vợ ông ta quá già để có thể có con!”. Dù ông nhìn dưới chân hay nhìn lên trời, hoặc bất cứ khi nào có ai gọi tên ông, Áp-ra-ham được nhắc nhở về lời hứa nhân từ của Đức Chúa Trời để ban cho ông nhiều con cháu.


Hãy nhớ rằng con cháu của Áp-ra-ham không chỉ bao gồm dân Do-thái, mà cũng kể đến thế giới Ả-rập (qua Ích-ma-ên) và những dân tộc được liệt kê trong Sa 25:1-4. Tất cả những ai tin Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế đều là con cháu thuộc linh của Áp-ra-ham (Ga 3:6-9), và đó sẽ là vô số người (Kh 7:9).


Muốn kết quả cho Đức Chúa Trời, chúng ta không cần phải nhờ sức riêng của chính mình để thực hiện nhiệm vụ. Áp-ra-ham và Sa-ra đã thử kế hoạch của riêng họ, và điều đó đã thất bại thảm hại. Chúa Giê-xu đã phán: “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:5). Vance Havner đã viết: “Chúng ta nói rằng chúng ta cậy nơi Thánh Linh, nhưng thực tế chúng tađang cố gắng với những thiết bị của mình đến nỗi nếu lửa không giáng xuống từ trời, chúng ta có thể bật công tắc và tạo ra lửa giả của mình”.


Tôi đã đọc về một mục sư người Ê-cốt đã kiêu ngạo bước lên bục giảng để giảng bài đầu tiên của mình. Anh ta có một trí tuệ xuất sắc, một học vấn tốt, và tự tin khi đối diện với hội chúng đầu tiên của mình. Nhưng anh ta càng giảng dài thì mọi người càng thấy rõ ràng “Đức Giê-hô-va không có trong cơn gió”. Anh ta chấm dứt bài giảng nhanh chóng và từ bục giảng đi xuống với đầu cúi thấp, sự kiêu ngạo của anh ta giờ đây biến mất. Sau đó, một thuộc viên đã nói với anh, “Nếu ông bước lên bục giảng giống như cách ông bước xuống thì ông đã có thể từ bục giảng bước xuống như cách ông đã bước lên”.


Đất.

Giao-ước đời đời của Đức Chúa Trời cũng bao gồm một tài sản đời đời: đất Ca-na-an. Đất này ngày nay là một chiến trường và sẽ luôn là vậy cho đến khi Chúa tái lâm để cai trị. Nhưng nói về giao-ước của Đức Chúa Trời, đất thuộc về Y-sơ-ra-ên.


Quyền sở hữu.

Đất của dân Do-thái hoàn toàn chỉ tùy thuộc vào giao-ước ân-điển của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham: Đức Chúa Trời đã ban đất cho họ. Nhưng sự chiếm hữu và hưởng xứ tùy thuộc vào sự trung tín vâng lời Chúa của họ. Đây là chủ đề cho những sứ-điệp của Môi-se trong sách Phục-truyền.

Hơn 60 lần trong sách đó, Môi-se cho dân sự biết họ sẽ hưởng hoặc chiếm hữu đất, và ít nhất 25 lần, Môi-se nhắc nhở họ rằng đất là một sự ban cho từ Chúa. Danh của Đức Chúa Trời ở đó (Phuc 12:5,11,21), và Ngài sẽ gìn giữ đất để chúc phước cho đất, nếu dân sự Ngài bước đi trong những đường lối của Ngài.


Phần đất duy nhất mà tất cả các trưởng tộc đã sở hữu là hang đá Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, con trai Xô-ha, để trở thành một nơi chôn cất gia đình (Sa 23:1-20; Sa 49:29-31). Gia-cốp cùng gia đình ông đã phải rời xứ và đi đến Ai-cập (Sa 46:1-34), nhưng Đức Chúa Trời đã hứa rằng họ sẽ trở về Ca-na-an tại thời điểm được chỉ định (Sa 15:13-17).


Giô-suê đã dẫn họ vào đất của họ nơi họ chiến thắng các cư dân và dành di sản của họ. Nhưng dân sự đã không ăn ở đúng với giao-ước, nên Đức Chúa Trời đã phải kỷ luật họ trong xứ (Cac 2:10-23). Ngài dấy lên các dân tộc thù địch để đánh bại Y-sơ-ra-ên và đặt họ trong vòng nô lệ. Y-sơ-ra-ên ở trong đất, nhưng họ không điều khiển đất hay vui hưởng đất (Phuc 28:15).


Suốt thời kỳ cai trị của Đa-vít và Sa-lô-môn, dân sự đã vui hưởng di sản của họ và hầu việc Chúa cách trung tín. Nhưng sau khi vương quốc bị chia cắt, Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều suy đồi về thuộc linh (không kể những thời gian chuyển tiếp thỉnh thoảng của sự phục hưng) và kết thúc trong ách nô lệ, A-si-ri đã đánh bại Y-sơ-ra-ên, và Ba-by-lôn chiến thắng Giu-đa.

Đó là lúc Đức Chúa Trời sửa phạt dân sự Ngài ở ngoài đất của họ. Điều đó như thể Ngài phán: “Các ngươi đã làm ô uế đất của ta bằng những hình tượng, vì vậy ta sẽ đặt các ngươi trong một đất ham mê hình tượng. Các ngươi hãy no nê về điều đó! Sau khi các ngươi đã xa đất của mình 70 năm, có thể các ngươi sẽ biết cảm kích điều ta đã ban cho các ngươi”.


Đức Chúa Trời đã cho phép một số người sót lại trở về đất, xây dựng lại thành cùng đền thờ, và phục hồi dân tộc; nhưng nó không bao giờ trở nên một thế lực lớn nữa. Tuy nhiên, dù Y-sơ-ra-ên trung tín hay thất tín, đất vẫn thuộc về họ, và một ngày nào đó họ sẽ thừa hưởng đất và vui hưởng nó vì vinh hiển Đức Chúa Trời.

Danh hiệu của Y-sơ-ra-ên đối với đất là một phần quan trọng trong giao-ước đời đời của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham.


Dấu hiệu.

Trong Sa 17:4 Đức Chúa Trời phán “phần ta đây”,  nhưng trong Sa 17:9 Ngài phán “phần ngươi” (NKJV, NASB, NIV). Phần của Áp-ra-ham trong giao-ước là vâng lời Đức Chúa Trời và đóng dấu mỗi người nam trong nhà ông bằng dấu hiệu của giao-ước. Phép cắt bì không phải là một nghi thức mới, vì các dân tộc khác đã thực hành việc ấy trong thời Áp-ra-ham, nhưng Đức Chúa Trời giờ đây ban cho việc ấy một tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt. Đối với con cháu của Áp-ra-ham, phép cắt bì không phải là một sự lựa chọn, đó là một bổn phận.


Thật quan trọng để chú ý rằng phép cắt bì không phải là một “thánh lễ”. Việc thực hiện nó không mang phước hạnh thuộc linh đối với người nhận. Bé trai 8 ngày tuổi (Lê 12:3) sẽ không hiểu điều gì đang xảy ra, và khi nó lớn lên, nghi thức này sẽ phải được giải thích cho nó. Chính sự vâng phục của cha mẹ là quan trọng; vì nếu họ không vâng lời Đức Chúa Trời trong việc này, con trai họ sẽ bị truất khỏi dân sự mình (Sa 17:14). Dân giao-ước phải mang dấu của giao-ước.


Vì giao-ước của Đức chúa Trời có liên quan đến “con cháu” của Áp-ra-ham, thật thích hợp rằng dấu của giao-ước ở trên bộ phận sinh sản của phái nam. Vì mọi người đều hoài thai trong tội lỗi (Thi 51:5), dấu hiệu đặc biệt này sẽ nhắc nhở họ rằng họ được Đức chúa Trời chấp nhận bởi giao-ước nhân từ của Ngài.

Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã chọn dân Do-thái, không phải dân Do-thái đã chọn Đức Chúa Trời (Phuc 7:1-11), và Ngài đã chọn họ làm một thánh dân. Sự đồi bại đã lan tràn gữa vòng các dân Ca-na-an, và thậm chí là một phần của tôn giáo họ, nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã được “đánh dấu” để biệt riêng với kẻ ác quanh họ.


Tiếc thay, dân Do-thái đã khiến nghi thức này trở nên một phương tiện của sự cứu rỗi. Phép cắt bì là sự bảo đảm rằng bạn đã được Đức Chúa Trời chấp nhận (một số người ngày nay đặt niềm tin sai lầm nơi phép báp-têm, Tiệc Thánh và những nghi thức tôn giáo khác mà có thể rất ý nghĩa nếu được sử dụng đúng đắn).

Họ không nhận ra rằng phép cắt bì tượng trưng cho điều gì đó sâu sắc hơn: mối liên hệ của con người với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn chúng ta “cắt bì tấm lòng chúng ta” và hoàn toàn dâng mình cho Ngài trong sự yêu mến và vâng phục (Phuc 10:16; Phuc 30:6; Giê 4:4; Rô 2:28-29).


Rô 4:9-12 cho biết rõ rằng hoạt động thuộc thể không có liên quan gì với sự cứu rỗi của Áp-ra-ham. Áp-ra-ham đã tin Đức Chúa Trời và nhận sự công bình của Đức Chúa Trời trước khi ông chịu cắt bì (Sa 15:6). Phép cắt bì không phải là phương tiện của sự cứu rỗi nhưng là dấu hiệu về sự biệt riêng của ông với tư cách một người ở trong mối liên hệ giao-ước với Đức Chúa Trời.

Bộ phận Luật pháp trong Hội thánh đầu tiên đã tìm cách biến phép cắt bì và sự vâng phục Luật pháp như một đòi hỏi về sự cứu rỗi cho dân ngoại, nhưng dị giáo này đã bị bác bỏ (Công 15:1-35). Trong thư tín Ga-la-ti, Phao-lô lý luận một cách thuyết phục về sự cứu rỗi chỉ bởi ân-điển.


Tất cả điều này có nghĩa gì đối với tín-hữu Cơ-đốc ngày nay? Ấn chứng của sự cứu rỗi chúng ta không phải là một nghi thức bên ngoài nhưng là sự hiện diện của chứng cớ bên trong, trong thân vị Thánh Linh Đức Chúa Trời (Êph 1:13; Êph 4:30; Rô 8:9, 16). Chúng ta đã kinh nghiệm một “phép cắt bì thuộc linh” (Côl 2:9-12) khiến chúng ta trở nên một phần của “phép cắt bì thật” (Phi 3:1-3).

Khi chúng ta tin Đấng Christ cứu chúng ta, Thánh Linh Đức Chúa Trời thực hiện “cuộc giải phẫu thuộc linh” giúp chúng ta có thể chiến thắng trên những ham muốn của bản chất cũ và đời sống cũ. Phép cắt bì chỉ bỏ đi một phần thân thể, nhưng “phép cắt bì thuộc linh” thật lột bỏ “những tội lỗi của xác thịt” (Côl 2:11) và giải quyết triệt để bản chất tội lỗi.


“Phép cắt bì thuộc linh” này được thực hiện lúc quy đạo khi tội nhân tin nơi Đấng Christ và được Thánh Linh báp-tem vào trong thân của Đấng Christ (ICôr 12:13). Phép báp-têm này đồng nhất hóa tín-hữu với Đấng Christ trong sự chết, chôn, sống lại và thăng thiên của Ngài, và cũng trong phép cắt bì của Ngài (Côl 2:11-12; Lu 2:21). Không phải “phép cắt bì của Môi-se” nhưng chính “phép cắt bì của Đấng Christ” là quan trọng đối với tín hữu Cơ-đốc.


Donald Grey Barnhouse đã nói: “Chúng ta có một bản chất tội lỗi phải được giải quyết bằng dao… Điều phải được giải quyết toàn diện, chớ không phải từng phần”. Trong Đấng Christ, chúng ta có thể “bước đi trong Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt” (Ga 5:16).


Áp-ra-ham lập tức vâng lời Đức Chúa Trời và cho mọi người nam trong gia đình ông dấu hiệu của giao-ước. Chắc chắn khi ông cho họ biết tên mới của ông, ông cũng giải thích ý nghĩa nghi thức này.


3. Sa-ra (Sa 17:15-17)

Tên thứ ba là “Sa-ra”, nghĩa là “công chúa” (chúng ta không biết chắc “Sa-rai” có nghĩa là gì. Một số người nói “chế nhạo” hoặc “tranh luận”. Nó cũng có thể là dạng khác của từ “công chúa”). Vì bà sẽ trở thành mẹ của các vua, điều đó chỉ đúng khi bà được gọi là một công chúa!


Chúng ta không nên đánh giá thấp vị trí của Sa-ra trong kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời. Giống như chồng bà (và tất cả chúng ta), bà có những lỗi lầm; nhưng cũng giống như chồng bà, bà tin cậy Đức Chúa Trời và thực hiện những mục đích của Đức Chúa Trời (Hêb 11:11). Bà không chỉ là mẹ của dân tộc Do-thái (Ês 51:2) nhưng cũng là một tấm gương tốt cho những người vợ Cơ-đốc noi theo (IPhi 3:1-6). Người chồng Cơ-đốc phải đối xử với vợ mình như một công chúa, vì đó là địa vị của người ấy trong Chúa.


Ba dịp cười khác nhau có liên quan đến sự ra đời của Y-sác: Áp-ra-ham đã cười vì vui mừng khi ông nghe vợ ông sẽ sinh đứa con trai được hứa ban (Sa 17:17); Sa-ra đã cười trong sự vô tín khi bà nghe tin này (Sa 18:9-15) và Sa-ra đã cười vì vui mừng khi đứa trẻ ra đời (Sa 21:6-7). Tên Y-sác nghĩa là “nó cười”.


Thiên chức làm mẹ phải được hết sức coi trọng và sự ra đời của một đứa trẻ được chào đón bằng sự vui mừng. Mặc dù Đức Chúa Trời không kêu gọi mọi người nữ lấy chồng, hay mọi người nữ có chồng phải sinh con, nhưng Ngài có một mối quân tâm đặc biệt đối với người mẹ lẫn đứa con (Thi 113:9; Thi 127:3-5; Mat 19:14). Trong một xã hội vị kỷ, có quá nhiều người xem chức làm mẹ như một rào cản và con cái như một gánh nặng. Thật ra, một số người xem con cái như một gánh nặng đến nỗi họ hủy diệt chúng trước khi chúng có một cơ hội để trở thành một phước hạnh.


Tử cung của người mẹ là một nơi chí thánh mà Đức Chúa Trời hành động (Thi 139:13-18). Bi thảm biết bao khi chúng ta biến tử cung đó thành một phần mộ, nơi chí thánh đó thành một nơi hủy diệt.


4. Y-sác (Sa 17:18-22)

Đứa trẻ đầu tiên trong Kinh Thánh được đặt tên trước khi ra đời, đó là Ích-ma-ên (Sa 16:11), và đứa trẻ thứ hai là Y-sác. Như chúng ta sẽ thấy khi chúng ta nghiên cứu Sa 21:1-34), hai đứa trẻ này đại diện cho hai sự sinh ra khác nhau: (1). Ích-ma-ên, sự sinh ra thứ nhất của chúng ta theo xác thịt, và (2). Y-sác sự sinh ra thứ hai của chúng ta bởi Thánh Linh (Gi 3:1-8; Ga 4:21-31) đặc biệt là c.28-29.


Theo quan điểm loài người, chúng ta có thể hiểu vì sao Áp-ra-ham cầu thay cho Ích-ma-ên. Ích-ma-ên là con trai của ông, và cha yêu nó tha thiết. Giờ đây họ đã ở chung với nhau được 13 năm, và Ích-ma-ên đang bước vào tuổi trưởng thành. Phải chăng Đức Chúa Trời sắp lãng phí mọi điều Áp-ra-ham đã đầu tư nơi Ích-ma-ên? Không có tương lai cho cậu bé này sao? Xét cho cùng, việc Ích-ma-ên ra đời không phải là lỗi của cậu bé. Chính Áp-ra-ham và Sa-ra đã phạm tội, không phải cậu bé.


Nhưng theo quan điểm thuộc linh, Ích-ma-ên không thể thay thế Y-sác, hay ngang bằng trong kế hoạch giao-ước của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã hứa chúc phước cho Ích-ma-ên (Sa 16:11) và Ngài đã giữ lời hứa của Ngài (Sa 25:12-16), nhưng những phước hạnh của giao-ước không phải là một phần di sản của Ích-ma-ên. Chỉ một mình Y-sác là người kế nghiệp mọi sự (Sa 25:5-6; Rô 9:6-13).


Có một bài học thực tiễn ở đây cho tất cả những ai tìm cách sống bằng đức tin: Khi Đức Chúa Trời chuẩn bị một tương lai rực rỡ cho bạn, đừng bám vào những điều của quá khứ. Ích-ma-ên đại diện cho quá khứ, Y-sác đại diện cho tương lai, .

Ích-ma-ên tượng trưng cho cách xác thịt của con người để thực hiện điều gì đó cho Đức chúa Trời, nhưng Y-sác là một đứa trẻ của phép lạ, được sinh ra bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Ích-ma-ên đã đem sự chia rẽ vào trong gia đình, nhưng Y-sác đem đến tiếng cười. Nếu bạn có một “Ích-ma-ên” trong đời sống bạn, hãy phó thác nó cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có một kế hoạch hoàn hảo, và điều Ngài hoạch định là điều tốt nhất. Điều đó có thể làm bạn đau đớn để từ bỏ những ước mơ ấp ủ của mình, nhưng cách của Đức Chúa Trời luôn là cách đúng đắn.


Army Carmichael, truyền giáo ở Ấn-độ, đã viết cho một người bạn bị bối rối về một từng trải đau đớn: “Tôi sẽ nói điều Cha trên trời của chúng ta đã nói với tôi từ lâu, và vẫn thường nói với tôi: Hãy nhìn trong điều đó một cơ hội để chết”.

Có lẽ chúng ta đều cần cầu nguyện: “Ôi, nguyện Ích-ma-ên đó có thể chết trong tôi!”


Ích-ma-ên không có một tên mới, vì ông đại diện cho xác thịt; và xác thịt không thể thay đổi đươc: “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt” (Gi 3:6) và luôn sẽ là xác thịt. “Tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi” (Rô 7:18).

“Chính Thánh Linh ban sự sống, xác thịt chẳng ích chi” (Gi 6:63 NKJV). Bản chất cũ có thể bị kỷ luật, đè nén, và thậm chí phần nào bị điều khiển, nhưng nó không thể thay đổi được. Cuộc chiến giữa xác thịt và Thánh Linh sẽ tiếp tục cho đến khi chúng ta nhận được thân thể vinh hiển trong sự hiện diện của Chúa (Ga 5:16-26).


Đó là khởi đầu của một ngày mới đối với Áp-ra-ham và Sa-ra, vì Sa-ra sắp có một con trai!

Chúa Giê-xu đã phán: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta, người dã thấy rồi, và mừng rỡ” (Gi 8:56).





18. DƯỜNG NHƯ QUA LỬA (Sa 18:1-19:38)


“Nhờ vào rất ít người, nhiều người chưa bao giờ ở trong lãnh vực xung đột của con người”.


Ngài Winston Churchill đã nói những lời đó với Hạ Viện Anh quốc vào ngày 20/8/1940. Ông nhìn lại năm đầu tiên của cuộc chiến và dâng quà tặng đặc biệt cho các phi công chiến đấu của lực lượng không quân Hoàng gia can đảm những người đang “thay đổi xu hướng của Thế chiến bằng sự can đảm và tận tụy của mình”.


Các công dân Anh quốc biết rằng Không Quân Hoàng gia đang làm việc vì họ, nhưng các công dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ cùng những thành đồng bằng khác không biết rằng ba người – Áp-ra-ham, Lót, và Chúa Giê-xu đã đứng giữa họ và toàn bộ sự hủy diệt.


1. Áp-ra-ham bạn của Đức Chúa Trời (Sa 18:1-33)

Áp-ra-ham được dành cho danh hiệu đặc biệt này trong IISu 20:7; Ês 41:8; Gia 2:23. Và ông là người duy nhất trong Kinh Thánh có danh hiệu đó. Chúa Giê-xu đã gọi La-xa-rơ là bạn Ngài (Gi 11:11) và Ngài gọi là “bạn” đối với tất cả những ai tin nơi Ngài và vâng lời Ngài (Gi 15:13-15).

Là bạn của Ngài, chúng ta có thể dự phần tình yêu và sự thông công của Ngài, và chúng ta có thể biết ý muốn của Ngài. Vance Havner đã viết: “Nếu chúng ta bị một tai họa vô hình đeo đuổi, chúng ta cũng được che chở bởi một người Bạn Vô Hình, kẻ thù của chúng ta vĩ đại nhưng người Bạn Đồng Minh của chúng ta vĩ đại hơn”.


Tình bạn đòi hỏi sự phục vụ, và trong chương này bạn sẽ thấy Áp-ra-ham phục vụ trong 3 lãnh vực khác nhau. Đối với Chúa (Sa 18:1-8), đối với gia đình ông (Sa 18:9-15) và đối với một thế giới hư mất (Sa 18:16-33).


Ông phục vụ với Chúa (Sa 18:1-8).

Mọi sự phục vụ trước tiên phải là đối với Chúa, vì nếu chúng ta không là một phước hạnh đối với Chúa, chúng ta sẽ chẳng bao giờ là một phước hạnh đối với người khác. Điều này đúng đối với các thầy tế-lễ Do-thái (Xu 28:1,3,4,41 Xu 29:1) và đối với các tôi tớ của Đức Chúa Trời trong Hội thánh đầu tiên (Công 13:1-2). “Bất cứ việc gì anh em làm, hãy làm hết lòng, như làm cho Chúa chớ không phải cho người ta…vì anh em hầu việc Đấng Christ” (Côl 3:23-24 NKJV).


Áp-ra-ham đang nghỉ trưa giữa cái nóng của ban ngày thì ông thấy ba vị khách lạ đi tới. Ít người từng đi lại khi mặt trời quá nóng, nên Áp-ra-ham lập tức tò mò và lịch sự. Sự tiếp đãi khách là luật đầu tiên của Đông phương và Áp-ra-ham trung tín vâng theo.


Ba vị khách là Chúa Giê-xu và hai thiên-sứ của Ngài (Sa 18:1, 22; Sa 19:1). Chẳng có gì về sự xuất hiện của họ cho Áp-ra-ham biết họ là ai, nhưng khi ông giao tiếp với họ, ông biết rằng ông đang tiếp đãi những vị khách hoàng gia. Sự phục vụ của ông đối với Chúa đáng được chấp nhận đến nỗi chúng ta ngày nay phải noi gương của ông.


Trước hết, ông hầu việc Chúa cách cá nhân. Hãy nhớ, Áp-ra-ham đã 99 tuổi và là một trưởng tộc giàu có, và ông có thể giao nhiệm vụ này cho quản gia hay một trong số hơn 300 tôi tớ của ông (Sa 14:14). Ngược lại, ông quyết định hầu việc Chúa cách cá nhân.


Ông cũng phục vụ ngay.

Áp-ra-ham lẽ ra có thể phớt lờ họ bằng cách giả vờ ngủ say, hoặc ông có thể mời họ ngồi và chờ cho đến khi ông kết thúc giấc ngủ trưa của mình. Nhưng Áp-ra-ham là người có đức tin, và đức tin không trì hoãn khi nói đến sự phục vụ Chúa.


Chương này nhấn mạnh rằng Áp-ra-ham đã phục vụ Chúa cách nhanh chóng. Ông chạy ra đón các vị khách (Sa 18:2) và lật đật bảo Sa-ra làm bánh (Sa 18:6). Ông chạy đi bắt một con bò con và biết chắc rằng đầy tớ đã nhanh chóng làm thịt (Sa 18:7). Hãy nhớ rằng đây là một ông già chạy quanh giữa cái nóng của ban ngày! Chỉ sau khi đã phục vụ các vị khách của mình thì Áp-ra-ham mới đứng yên (Sa 18:8).


Áp-ra-ham đã phục vụ Chúa cách rời rộng và dâng cho Ngài điều tốt nhất ông có. Sa-ra đã làm bánh từ “bột nguyên chất” (Sa 18:6) còn thịt “mềm và ngon” (Sa 18:7). Không có cặn bã thừa hay thức ăn xoàng dành cho những vị khách quan trọng như thế! Thật là một tương phản với các thầy tế-lễ trong thời của Ma-la-chi, đã không dâng cho Đức Chúa Trời điều tốt nhất của họ (Ma 1:6-14).


Sự phục vụ của Áp-ra-ham được chú ý bởi sự khiêm nhường. Ông quỳ trước các vị khách của mình (Sa 18:2), gọi chính mình là tôi tớ (Sa 18:3, 5) và gọi bữa tiệc chỉ là “một miếng bánh”. Ông phục vụ ba vị khách và rồi đứng gần để sẵn sàng nếu được cần đến. Ông đã cắt ngang một giấc ngủ trưa dễ chịu để trở thành một tôi tớ cho ba vị khách, nhưng bởi sự phục vụ đó, ông đã nhận ra những phước hạnh kỳ diệu cho mình và vợ mình.


Cuối cùng, ông đã phục vụ Chúa với tinh thần cộng tác và cần những sự phục vụ của người khác. Sa-ra đã làm bánh, một đầy tớ đã làm thịt, và chắc chắn những tôi tớ khác đem đến cho Áp-ra-ham bơ và sữa. Nhà truyền giáo D. L. Moody đã nói: “Tôi thà để mười người làm việc hơn là làm việc của mười người” và ông đã đúng.


Qua nhiều năm, tôi đã nghiên cứu tiểu sử của các Cơ-đốc nhân cao trọng, và tôi biết rằng các tôi tớ tận tụy của Đức Chúa Trời khích lệ và truyền cảm hứng cho người khác phục vụ Chúa. D. L. Moody được Đức Chúa Trời sử dụng để tuyển và giúp đỡ nhiều người đồng công, bao gồm cả F. B. Meyer, G. Campbell Morgan, và R. A. Torrey. Paul Rader có một sự phục vụ tương tự trong thế hệ của ông, giúp sản sinh những sự phục vụ vẫn ở cùng chúng ta ngày nay. Khi chúng ta hầu việc chính mình hay chức vụ của mình, công việc của chúng ta hư mất; nhưng khi chúng ta hầu việc Chúa, Ngài ban kết quả lâu dài và dư dật (Gi 12:20-28).


Trước khi rời phân đoạn này, tôi phải nói một lời về tầm quan trọng của sự tiếp đãi Cơ-đốc. Trong thời của những nhà trọ và khách sạn tiện nghi này, chúng ta hiếm khi nghĩ về ý nghĩa của việc tiếp đãi khách (Hêb 13:1-2) nhưng sự tiếp khách là một phần quan trọng của chức vụ Cơ-đốc (Rô 12:13; IPhi 4:9). Thật ra, “được ban cho sự tiếp khách” là một trong những đòi hỏi đối với chức lãnh đạo trong Hội thánh địa phương (ITim 3:2; Tit 1:8). Bằng cách phục vụ người khác trong tình yêu thương, chúng ta hầu việc Chúa Giê-xu là Chúa chúng ta (Mat 25:34-40) và chúng ta đẩy mạnh sự rao truyền lẽ thật của Đức Chúa Trời (IIIGi 1:5-8).


Ông phục vụ vợ mình (Sa 18:9-15;).

Vì Áp-ra-ham trung tín với Chúa, ông trở thành một nguồn phước cho vợ ông và cuối cùng cho gia đình ông (Sa 18:19).

Sa-ra đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho thế giới, và bà đã thực hiện phần của mình (Hêb 11:11; IPhi 3:1-7; Rô 4:18-21). Sa-ra giờ đây đã 89 tuổi, nhưng bà vẫn là một người đàn bà gợi cảm với sự duyên dáng và vẻ đẹp (Sa 20:1-18), một phần vì chồng bà yêu bà và đối xử với bà như công chúa mà bà vốn là vậy.


Chúa đã đến suốt đường từ Thiên Đàng để cho Áp-ra-ham và Sa-ra một thông cáo: vào thời gian này năm tới, Sa-ra sẽ sinh đứa con đã được hứa ban! Tin này thật khó tin đến nỗi Sa-ra cười và nghi vấn rằng một việc như thế có thể xảy ra cho hai người già chăng. Tiếng cười của Áp-ra-ham xuất phát từ đức tin vui mừng (Sa 17:17), nhưng tiếng cười của Sa-ra được tạo ra bởi sự vô tín, cho dù bà tìm cách phủ nhận điều đó.


Dĩ nhiên, khi chúng ta nghi ngờ Đức Chúa Trời, chúng ta đang chất vấn sự chân thật và khả năng của Ngài, Ngài giữ những lời hứa của Ngài chưa? Ngài có quyền năng để làm điều Ngài đã phán sao? Giải đáp cho cả hai câu hỏi là vâng! (Rô 4:20-21).


“Há có điều chi quá khó cho Đức Giê-hô-va chăng?” (Sa 18:14). Dĩ nhiên là không! Nếu bạn cần chứng cớ, vậy hãy lắng nghe Gióp (Giop 42:2) Giê-rê-mi, (Giê 32:17, 27), Thiên-sứ Gáp-ri-ên (Lu 1:37) và Sứ-đồ Phao-lô (Êph 3:20-21). Nếu Đức Chúa Trời lập một lời hứa, bạn có thể biết chắc Ngài có quyền năng để thực hiện nó, và Ngài sẽ vẫn thành tín cho dù chúng ta vô tín (IITim 2:13). Sa-ra cuối cùng đã ăn năn, và cùng với chồng bà, tin cậy Đức Chúa Trời, và Ngài đã ban cho họ đứa con được hứa.


Người chồng phục vụ Chúa sẽ thấy mình phục vụ những người trong gia đình mình, đặc biệt là vợ mình. Người ấy sẽ là một nguồn phước trong gia đình. Khi nghiên cứu Sa 19:1-38, chúng ta sẽ thấy sự tương phản ở trong Lót, một người thế gian không có ảnh hưởng thuộc linh trong gia đình của ông.


Ông đã phục vụ một thế giới hư mất (Sa 18:16-33).

Áp-ra-ham thuộc về nhóm người được chọn của Đức Chúa Trời, được biết là những người cầu thay, những cá nhân như Môi-se, Sa-mu-ên, Ê-li, Giê-rê-mi, các sứ-đồ và Chúa của chúng ta. Thật ra, chức vụ của Chúa chúng ta ở Thiên Đàng hôm nay là chức vụ cầu thay (Rô 8:34), vì vậy chúng ta không bao giờ giống Chúa chúng ta hơn là khi chúng ta cầu thay cho người khác. Chúng ta làm một phước hạnh đối với Chúa và gia đình chúng ta thì chưa đủ; chúng ta cũng phải tìm cách chinh phục một thế giới hư mất và đem tội nhân đến với Chúa Cứu Thế.


Charles Spurgeon đã nói: “Nếu họ (tội nhân hư mất) sẽ không nghe bạn nói, họ không thể ngăn cản sự cầu nguyện của bạn. Họ giễu cợt sự khuyên lơn của bạn chăng? Họ không thể quấy rối sự cầu nguyện của bạn. Có phải họ ở quá xa đến nỗi bạn không thể đến với họ chăng? Lời cầu nguyện của bạn có thể đến với họ. Có phải họ đã tuyên bố rằng họ sẽ không bao giờ lắng nghe bạn nữa, cũng không nhìn mặt bạn chăng? Đừng lo, Đức Chúa Trời có một tiếng nói mà họ phải nghe. Hãy nói với Ngài, và Ngài sẽ khiến họ có cảm xúc.

Dù bây giờ họ đối xử với bạn một cách ác cảm, lấy ác trả cho việc thiện của bạn, hãy bám theo họ bằng những lời cầu nguyện của bạn. Đừng bao giờ để họ hư mất vì thiếu sự thỉnh cầu của bạn” (Metropolitan Pulpit, cuốn 18, tr. 263-264).


Chúa với hai thiên-sứ đã rời trại của Áp-ra-ham và hướng đến Sô-đôm, nhưng Chúa ở lại trong khi các thiên-sứ tiếp tục đi (Sa 18:16,22; Sa 19:1). Trong nửa chương đầu, Áp-ra-ham chạy tới lui, nhưng trong nửa chương cuối ông đứng cung kính trước mặt Chúa và cầu thay cho Lót cùng những người khác ở Sô-đôm. Phước cho những người có sự quân bình!


Người cầu thay phải biết Chúa một cách cá nhân và vâng phục ý muốn Ngài. Chúng ta phải gần với Chúa đủ để học “những sự kín nhiệm” của Ngài và biết cầu nguyện về điều gì (Am 3:7; Thi 25:14). Những lời của Chúa “Ta biết người” (Sa 18:19) nghĩa là “Ta đã chọn người, và người là bạn thiết của ta” (Gi 15:15). Áp-ra-ham biết về tương lai của Sô-đôm hơn chính những công dân Sô-đôm kể cả Lót. Chính tín-hữu được biệt riêng là người chia sẻ những sự kín nhiệm của Đức Chúa Trời.


Sa-ra và các đầy tớ giúp Áp-ra-ham khi ông chuẩn bị một bữa ăn cho các vị khách, nhưng nói đến chức vụ cầu thay, Áp-ra-ham phải hầu việc một mình, Áp-ra-ham đã đến gần Chúa (Gia 4:8) và từ Hê-bơ-rơ nghĩa là “đến tòa án để biện hộ một vụ kiện”. Áp-ra-ham nặng lòng vì Lót và gia đình của Lót, cũng như vì những tội nhân hư mất trong ba thành đồng bằng, và ông phải chia sẻ gánh nặng đó với Chúa.


Lời cầu nguyện của Áp-ra-ham không dựa trên sự thương xót của Đức Chúa Trời nhưng dựa trên sự công bình của Đức Chúa Trời. “Đấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?” (Sa 18:25; Phuc 32:4). Một Đức Chúa Trời công bằng và thánh khiết không thể hủy diệt những tín-hữu công bình với kẻ vô tín gian ác, và Lót là một tín-hữu (IIPhi 2:6-9) dù những hành động và lời nói của ông dường như đi ngược với thực tế.


Thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ rất gian ác (Sa 13:13), vì dân của các thành này đã bị chìm đắm trong những hành động tình dục trái với tự nhiên (Sa 19:5; Giu 1:7; Rô 1:27). Các từ “sodomy” và “sodomize” là những từ đồng nghĩa cho những hành động tình dục đồng giới. Những người này không tìm cách che giấu tội lỗi họ (Ês 3:9). Họ cũng sẽ không ăn năn (Giê 23:14).

Sự hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ cách bất ngờ được sử dụng trong Kinh Thánh như một ví dụ về sự xét đoán công bình của Đức Chúa Trời đối với tội nhân (Ês 1:9; Ês 3:9; Ca 4:6; So 2:9; IIPhi 2:6) và Chúa Giê-xu đã sử dụng nó như một sự cảnh cáo cho những người trong thời kỳ cuối cùng (Lu 17:28-32).


Nhưng tại sao Áp-ra-ham muốn Đức Chúa Trời tha cho những con người gian ác đó? Tốt hơn là họ phải bị diệt khỏi mặt đất! Dĩ nhiên, mối quan tâm đầu tiên của Áp-ra-ham là vì Lót và gia đình ông. Thật ra, Áp-ra-ham đã giải cứu dân Sô-đôm chỉ vì cớ Lót (Sa 14:12-16), dù không ai trong những công dân này dường như cảm kích điều ông đã làm cho họ. Họ đều quay về ngay với lối sống cũ và không để ý sự cảnh cáo của Đức Chúa Trời.


Nhưng thậm chí không kể hoàn cảnh của Lót (và ông không nên sống ở Sô-đôm ngay từ đầu), Áp-ra-ham không muốn thấy tất cả những người đó chết và hư mất mãi mãi. Đức Chúa Trời “không muốn cho một người nào chết mất” (IPhi 3:9) và Ngài “muốn cho mọi người được cứu” (ITim 2:4). “Ta chẳng vui về sự chết của kẻ ác, nhưng vui khi kẻ ác xây bỏ đường lối mình và được sống” (Êxe 33:11).

Vấn đề không phải là con người phạm loại tội lỗi nào, dù một số tội lỗi tệ hại hơn những tội khác, “vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô 6:23) và bên kia sự chết đó là một địa ngục đời đời… Người cầu thay phải có lòng thương xót và một mối quan tâm sâu sắc về sự cứu rỗi cho người hư mất, dù tội lỗi của họ có thể ra sao (Sa 9:1-3; Sa 10:1).


Chúng ta không nên có ý tưởng rằng Áp-ra-ham đã lý luận với Chúa, vì ông đã không làm vậy. Ông rất khiêm nhường trước mặt Chúa khi ông trình bày duyên cớ mình (Sa 18:27, 30-32). Áp-ra-ham biết chắc rằng có ít nhất mười tín-hữu trong thành.


Đừng bao giờ đánh giá thấp tầm quan trọng thậm chí của một số ít tín-hữu. Số ít như mười người sẽ cứu cả một thành khỏi sự hủy diệt! Nếu Lót chỉ đem gia đình của ông đến đức tin nơi Chúa, sự xét đoán sẽ được hủy bỏ, sự làm chứng cá nhân của bạn ngày nay thật quan trọng đối với Đức Chúa Trời, dù bạn có thể cảm thấy ý nghĩa ra sao.


2. Lót, bạn của thế gian (Sa 19:1-28)

Chương này ghi lại những hậu quả đáng buồn về sự suy sụp thuộc linh của Gióp, sau đó Lót biến khỏi hiện trường trong khi câu chuyện của Áp-ra-ham tiếp tục (IGi 2:17). Áp-ra-ham là bạn của Đức Chúa Trời, nhưng Lót là bạn của thế gian (Gia 4:4) và những tương phản giữa hai người này thật dễ thấy.


Vị trí (Sa 19:1).

Khi những vị khách bất ngờ trên trời đến thăm Áp-ra-ham, ông ở cửa trại mình; nhưng Lót đang ngồi tại cửa thành gian ác. Áp-ra-ham là một người bộ hành và khách lạ, chỉ đi qua đời này, nhưng Lót dần dần đã từ bỏ trại mình và định cư trong Sô-đôm. Thay vì để mắt nơi thành trên trời (Sa 11:10, 14-16), Lót nhìn về Sô-đôm và bắt đầu bước đi bởi ngoại cảnh (Sa 13:10-11). Sau đó ông dời trại đến gần Sô-đôm (Sa 13:12), và cuối cùng ông đi vào Sô-đôm (Sa 14:12). Vị trí của Lót ở cửa thành cho thấy ông là một người có quyền hạn nào đó, vì đó là nơi công việc chung được giải quyết (Ru 4:1).


Nếu Lót đi đến Sô-đôm vì Đức Chúa Trời hướng dẫn ông, việc ông ở đó sẽ thực hiện những mục đích thiên thượng. Xét cho cùng, Đức Chúa Trời đã đặt Giô-sép ở Ê-díp-tô, Đa-ni-ên ở Ba-by-lôn và Ê-xơ-tê ở Ba-tư, và sự hiện diện của họ trở thành một phước hạnh. Tính trần tục không phải là một vấn đề về địa lý học nhưng là vấn đề về thái độ của tấm lòng (IGi 2:15-17). Lòng của Lót ở Sô-đôm trước khi thân thể ông đến đó. Chắc chắn, ông dành tình yêu đầu tiên của mình cho thế gian, khi ông đến Ai-cập với Áp-ra-ham, (Sa 13:1, 10) và ông chưa bao giờ thắng hơn nó.


 Thời gian (Sa 19:2).

Đó là buổi trưa khi Chúa và các Thiên-sứ của Ngài thăm viếng Áp-ra-ham (Sa 18:1), nhưng đó là buổi chiều khi các Thiên-sứ vào Sô-đôm. Áp-ra-ham đang “bước đi trong sự sáng” trong khi Lót “bước đi trong sự tối tăm” (IGi 1:5-10).


 Các vị khách (Sa 19:1).

Chỉ có hai Thiên-sứ thăm viếng Lót, vì Chúa không thể giao thông với Lót và gia đình ông như Ngài đã giao thông với Áp-ra-ham và Sa-ra. Dù Lót là một tín-hữu, đời sống của ông là thế đến nỗi Chúa không cảm thấy “thoải mái” khi đến với ông. Chính tín-hữu được biệt riêng là người vui hưởng sự bước đi và mối liên hệ mật thiết với Chúa (IICôr 6:14-18; Gi 14:21-24).

Học giả Hy-lạp Kenneth Wuest đã dịch lời cầu nguyện của Phao-lô trong Êph 3:17 “đến nỗi Đấng Christ cuối cùng có thể ngự vào và cảm thấy tự nhiên hoàn toàn trong lòng anh em bởi đức tin anh em” (WUEST). Không giống Áp-ra-ham, Lót không có trại hay bàn thờ, và Chúa không thể giao thông với ông.


Sự tiếp khách (Sa 19:2-11).

Lót gọi mình là “tôi tớ nhưng bạn không thấy ông lật đật chuẩn bị một bữa ăn như Áp-ra-ham đã làm; ông cũng không đứng để xem mình có thể thực hiện sự phuc vụ nào khác. Nhưng việc những người nam trong thành đến trước cửa vì những mục đích đồi bại là đỉnh điểm của buổi chiều này (“Hãy đem họ ra cho chúng ta hầu cho chúng ta có thể giao hợp với họ” là bản dịch NIV của Sa 19:5).

Lót sẵn sàng hy sinh hai con gái chưa chồng của ông cho sự thèm khát của đám người này (Ca 19:1-30), nhưng các Thiên-sứ đã can thiệp. Điều gì xảy ra cho những giá trị cá nhân của Lót khi hiến những con gái của mình để làm thỏa mãn thèm khát nhục dục của một đám đông? (Trái lại, Áp-ra-ham sẽ dâng con trai ông cho Chúa).


Những sứ-điệp (Sa 19:12-13).

Sứ-điệp của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham là một sứ-điệp vui mừng, ông và Sa-ra sẽ có đứa con trai đươc hứa ban trong vòng một năm. Nhưng sứ-điệp dành cho Lót đáng kinh sợ: Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt Sô-đôm và mọi thứ trong đó! Đức Chúa Trời sẽ tha cho thành nếu các Thiên-sứ tìm thấy mười người tin, nhưng vì điều đó không thể xảy ra, Đức Chúa Trời đã đầy lòng thương xót giải cứu những tín-hữu mà các Thiên-sứ tìm thấy (Sa 19:16). Sứ-điệp của Đức Chúa Trời cho thế gian hư mất là sự xét đoán sẽ đến, nhưng lời hứa của Ngài cho những người thuộc về Ngài là Ngài sẽ giải cứu họ (ITês 5:1-11; IIPhi 2:4-10).


Ảnh hưởng (Sa 19:14).

Vì cớ đức tin và sự vâng lời của mình, Áp-ra-ham là một phước hạnh cho gia đình ông và cho cả thế giới. Vì sự trần tục của mình, Lót không có ảnh hưởng thuộc linh trong thành hay trong gia đình ông. Các con gái của ông đã lập gia đình cùng với chồng của họ đã cười ông và từ chối rời thành.

Thậm chí vợ ông quá yêu mến Sô-đôm đến nỗi bà phải nhìn lần cuối, và cái nhìn đó đã giết chết bà (Sa 19:26; Lu 17:32). Hai con gái chưa chồng của Lót đi với ông ra khỏi thành, nhưng họ dừng lại trong một cái hang, làm cho cha họ say rượu và phạm tội loạn luân với ông. Sau khi lìa khỏi Áp-ra-ham, Lót đã để cho tính cách của mình sa đọa, và ảnh hưởng của ông suy sụp theo.


Những thái độ (Sa 17:15-26).

Lần đầu tiên Đức Chúa Trời giải cứu lót, ông là một tù binh chiến tranh Sa 14:12, 16), và ông đã trở về ngay trong Sô-đôm. Kinh nghiệm đau đớn đó lẽ ra phải cảnh cáo ông rằng ông đã ở ngoài ý muốn Đức Chúa Trời, nhưng nếu Gióp đã nghe lời cảnh cáo, ông chắc chắn không chú ý nó.

Giờ đây Chúa phải dùng tay nắm lấy Gióp và cưỡng chế kéo ông ra khỏi Sô-đôm! Trước hết, Lót nấn ná, rồi ông lý luận, sau đó ông nài xin được phép đi theo cách của ông. Thay vì biết ơn sự thương xót của Đức Chúa Trời và vâng lời những vị giải cứu mình, Lót đã kháng cự họ và gây khó khăn cho họ. Ngược lại, Áp-ra-ham đã vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời thậm chí đến mức độ dâng con trai của ông.


Những hậu quả (Sa 19:27-38).

Kết quả của việc Chúa thăm viếng Áp-ra-ham là một hy vọng và sự hứng thú mới khi Áp-ra-ham và Sa-ra vui mừng biết trước sự ra đời của một con trai. Tuy nhiên, Lót đã mất tất cả khi Sô-đôm bị hủy diệt, và chính ông được cứu “dường như qua lửa” (ICôr 3:15). Các con gái của ông sinh ra hai con trai, mà con cháu của họ sẽ là kẻ thù đối với dân tộc Do-thái.

Áp-ra-ham nhìn thấy các thành đồng bằng bị hủy diệt (Thi 91:8) và biết rằng Đức Chúa Trời đã không tìm thấy mười người công bình. Nhưng Đức Chúa Trời đã giải cứu Lót vì cớ Áp-ra-ham (Sa 19:29). Đó toàn bộ là một vấn đề về ân-điển và sự thương xót của Đức Chúa Trời (Sa 19:19).


Lót đã sống theo thế gian (Rô 12:2).

Tất cả những gì ông sống vì chúng đã đi theo làn khói và bị chôn trong đống tro tàn nơi nào đó ở khu vực quanh Biển Chết. Lót là một sự cảnh cáo cho mọi tín-hữu để đừng yêu mến thế gian, trở nên thân thiết với thế gian hay bị ô uế bởi thế gian (Gia 1:27) vì ngày tính sổ cuối cùng sẽ đến.


3. Chúa Giê-xu, Bạn của tội nhân (Sa 19:1-28)

Mặc dù đúng là sự hủy diệt Sô-đôm với Gô-mô-rơ là một ví dụ về sự xét đoán công bình của Đức Chúa Trời (Giu 1:7), cũng đúng là tình yêu của Đức Chúa Trời đối với tội nhân hư mất được nhìn thấy rõ ràng trong câu chuyện. Chúa Giê-xu chắc chắn không tán thành lối sống của dân Sô-đôm nhưng Ngài đến để cứu tội nhân giống như những người trong Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Mat 9:9-17). Khi thi hành chức vụ trên đất, Ngài được biết là “Bạn của người thâu thuế và kẻ có tội” (Mat 11:19). Và đúng vậy.


Hãy xem xét tình yêu của Chúa đối với dân trong các thành gian ác của đồng bằng. Trước hết, Ngài nhẫn nhục đối với họ khi Ngài nhìn xem tội lỗi họ (Sa 4:10). Như máu của A-bên từ đất kêu lên thể nào thì tội lỗi của dân sự cũng kêu lên từ các thành gian ác thể ấy. Đức Chúa Trời nhẫn nhục và giữ lại sự xét đoán của Ngài để tội nhân sẽ có thời gian ăn năn (IIPhi 3:1-9).


Chúa không chỉ nhẫn nhục, Ngài còn sẵn sàng lắng nghe sự cầu thay của Áp-ra-ham và xem xét việc tha cho Sô-đôm nếu có mười người công bình. Khi đến lúc các thành phải bị đốt, Ngài sai các Thiên-sứ Ngài giải cứu Lót và gia đình ông dù mười người công bình không thể được tìm thấy! “Nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa” (Rô 5:20). Lót xứng đáng được giải cứu chăng? Dĩ nhiên là không! Nhưng có ai trong chúng ta xứng đáng được cứu khỏi cơn thạnh nộ hầu đến? Dĩ nhiên là không!


Điều kỳ diệu nhất đó là Chúa Giê-xu Christ đã chết thay cho tội nhân ở Sô-đôm và Gô-mô-rơ! “Vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ một lần vì tội lỗi, là Đấng Công Bình thay cho kẻ không công bình, để Ngài có thể đem chúng ta đến với Đức Chúa Trời” (IPhi 3:18 NKJV).

Đấng Christ chịu chết không phải vì người tốt, bởi không có ai cả. Ngài đã chịu chết vì người bất kính (Rô 5:6) và tội nhân (Rô 5:8). Có thể chúng ta đã không phạm những tội lỗi tương tự như dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ nhưng chúng ta là tội nhân giống như vậy, và nếu không có đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ chúng ta không thể được cứu khỏi sự xét đoán hầu đến.


Hoàn cảnh ngày nay chẳng khác gì. Chúa Giê-xu vẫn là Bạn của tội nhân và sẽ cứu tất cả những ai đến với Ngài trong sự ăn năn và đức tin thật. Ngài vẫn có những người cầu thay và những chứng nhân sẽ cầu nguyện và cho tội nhân hư mất biết rằng Chúa Giê-xu đã chết thay cho họ và họ có thể thực hiện một khởi đầu mới nếu họ tin nơi Ngài.


Cư dân các thành đồng bằng đã không có ý niệm rằng họ sẽ thức dậy sáng hôm đó là ngày cuối cùng của đời họ (Sa 19:23). Đời sống đang tiếp diễn như thường lệ, và rồi lửa giáng xuống (Lu 17:26-30).


Khi sự xét đoán xảy đến, bạn sẽ giống như Áp-ra-ham và không phải lo lắng về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời chăng? Hay giống như Lót, bạn sẽ được cứu “dường như qua lửa”? Hay giống như dân Sô-đôm, bạn sẽ hư mất đời đời?


“Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được, hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần! Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng, hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào” (Ês 55:6-7).





19. ÁP-RA-HAM NGƯỜI LÁNG GIỀNG (Sa 20:1-21:22-34)


G. K.Chesterton đã viết: “Chúng ta tạo ra bạn bè và kẻ thù của chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời chỉ định người láng giềng kế bên chúng ta”. Ai đó đã định người láng giềng là “một người có thể vào nhà bạn trong một phút, nhưng phải mất hai giờ đồng hồ để khiến người ấy đi ra”.

Những người láng giềng có thể là một nguồn phước hạnh lớn và thậm chí trở thành gần gũi với chúng ta hơn một số bà con của chúng ta Sa-lô-môn đã khuyên “Một người xóm giềng gần còn hơn anh em xa” (Ch 27:10). Tuy nhiên, những người láng giềng có những lúc có thể là một vấn đề cho dù đó là, tín-hữu hoặc người vô tín. Thật ra, chúng ta có thể là một vấn đề cho những người láng giềng của mình!


Chúng ta thường nghĩ đến Áp-ra-ham như một người luôn thực hiện những thành tích lớn của đức tin, và chúng ta quên rằng đời sống hằng ngày của ông có một đời sống thông thường. Ông phải chăm sóc một người vợ mang thai và một đứa con trai nhỏ, và ông cần quản lý bầy chiên với bầy gia súc lớn và giải quyết những tranh chấp hằng ngày và thực hiện những quyết định quan trọng.


Thêm vào đó, có những người láng giềng cần đối phó như A-bi-mê-léc, vua Ghê-ra. Qua những giao tiếp của Áp-ra-ham với các láng giềng của ông, vị trưởng tộc này trước tiên được nhìn thấy như một người gây rối (Sa 20:1-18) và sau đó như một người hòa giải (Sa 21:22-34). Khi chúng ta nghiên cứu hai kinh nghiệm này, chúng ta có thể học cách liên hệ tích cực với những người ở ngoài đức tin và làm những chứng nhân tốt hơn cho họ (Côl 4:5; ITês 4:12; ITim 3:7).


1. Áp-ra-ham người gây rối (Sa 20:1-18)

Nếu bạn không biết Áp-ra-ham là ai, và bạn đọc chương này lần đầu tiên ai trong số hai người đàn ông bạn sẽ nói là tín-hữu? Dĩ nhiên không phải là Áp-ra-ham, người nói dối! A-bi-mê-léc là người đã bày tỏ sự chính trực, A-bi-mê-léc là người được Đức Chúa Trời ngăn trở phạm tội. Điều Áp-ra-ham đã làm là ích kỷ, nhưng A-bi-mê-léc đáp ứng bằng sự đại lượng. Nếu bất cứ ai đã bày tỏ tính cách xuất sắc, thì đó là A-bi-mê-léc chớ không phải Áp-ra-ham “bạn của Đức Chúa Trời”.


Nhưng trước khi bạn rút ra những kết luận không xác đáng, hãy dành thời gian xem xét những sự thật được bày tỏ trong sự kiện này. Những thất bại của Áp-ra-ham đầy bi thảm, nhưng từ đó chúng ta học một bài học quý báu giúp chúng ta trong bước đường đức tin của mình.


Những tín-hữu cũng phạm tội.

Chương này sẽ là một sự bối rối cho chúng ta ngoại trừ một điều. Kinh Thánh cho biết sự thật về tất cả mọi người, và điều đó kể cả dân sự của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh không che giấu sự thật rằng Nô-ê đã say sưa và lõa thể (Sa 9:20-23), hay Môi-se đã nổi giận (Dân 20:1-13) hoặc Đa-vít đã phạm tội tà dâm và âm mưu giết chết một chiến sĩ dũng cảm (IISa 11:1-27). Phi-e-rơ đã chối Chúa ba lần (Mat 26:69-75) và Ba-na-ba sa ngã trong giáo lý sai lầm.


Những điều này được ghi lại, không phải để khuyến khích chúng ta phạm tội, nhưng để cảnh cáo chúng ta hãy coi chừng tội lỗi. Xét cho cùng, nếu những con người cao trọng có đức tin này đã bất tuân Chúa, vậy chúng ta “những thánh-đồ bình thường” càng phải thật cẩn thận! “Vậy thì, ai tưởng mình đứng vững, hãy chú ý, kẻo ngã” (ICôr 10:12 NKJV).


Vì sao Áp-ra-ham phạm tội?

Trước hết, dù Áp-ra-ham có một bản chất tội lỗi, ông đã được xưng công bình bởi đức tin (Sa 15:6). Đức Chúa Trời đã ban cho ông một tên mới (từ “Áp-ram” đến “Áp-ra-ham”), nhưng điều đó không thay đổi bản chất cũ của ông.

“Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật họ không ở trong chúng ta” (IGi 1:8). Vì sự ngự trị của Đức Thánh Linh (Ga 4:6) và công việc của Đấng Christ trên thập tự giá (Rô 6:1-23), tín-hữu có thể có sự chiến thắng trên bản chất cũ, nhưng điều này không tự động mà có. Chúng ta phải bước đi trong Thánh Linh nếu chúng ta hy vọng đắc thắng sự cám dỗ.


Điều đó dẫn đến một sự xem xét thứ hai: Áp-ra-ham đã đi vào “địa phận kẻ thù”. Sau khi sống ở Hếp-rôn (“tình bạn”) có lẽ 20 năm, sau đó ông quyết định đi đến xứ Phi-li-tin. Ghê-ra chỉ ở trong quốc gia Phi-li-tin, nhưng nó vẫn là một nơi nguy hiểm để ở. Có lẽ chính sự hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ đã khiến Áp-ra-ham muốn dời đi, nhưng dù động cơ của ông là gì, quyết định này không phải là một quyết định khôn ngoan.

Thật vậy Áp-ra-ham đã không đi xuống Ai-cập như ông làm trước đó (Sa 12:1-20). Ông vẫn ở trong những giới hạn của xứ mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho ông, nhưng sự di chuyển của ông đặt ông trong một vị trí nguy hiểm. “Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi bước vào sự cám dỗ” (Mat 26:11 NKJV).


Sau khi đến Ghê-ra, Áp-ra-ham bắt đầu bởi ngoại cảnh chớ không bởi đức tin, vì ông bắt đầu sợ hãi (Sa 20:11). Sự sợ hãi của con người và đức tin nơi Đức Chúa Trời không thể ở cùng trong một tấm lòng. “Sự sợ loài người đem đến một cái bẫy, nhưng ai tin cậy nơi Đức Giê-hô-va được an toàn” (Ch 29:25 NKJV). Áp-ra-ham đã quên rằng Đức Chúa Trời của ông là “Đức Chúa Trời Toàn Năng” (Sa 17:1) Đấng có thể làm bất cứ việc gì (Sa 18:14) và là Đấng đã lập giao-ước để chúc phước cho Áp-ra-ham và Sa-ra.


Nhưng nguyên nhân cơ bản về sự thất bại của Áp-ra-ham là sự thật đáng buồn rằng ông và Sa-ra đã không xét đoán tội lỗi này khi họ đối phó với nó trong Ai-cập (Sa 12:10-20). Họ đã thừa nhận tội lỗi mình với Pha-ra-ôn và xưng nhận nó với Đức Chúa Trời, nhưng việc nó xuất hiện lần nữa cho thấy rằng họ không xét đoán tội lỗi và từ bỏ nó (Ch 28:13). Thật ra, tội lỗi này đã trở nên tệ hại hơn; vì giờ đây Sa-ra dự phần trong việc nói dối (Sa 20:5). Một gia đình gắn liền với nhau bởi sự giả dối thì thật tồi tệ.


Một sự thừa nhận tội lỗi cách dễ dãi không giống như một sự xưng nhận tội lỗi cách đau khổ (Thi 51:17). Nếu thái độ của chúng ta là đúng đắn, chúng ta sẽ ghét tội lỗi mình, kinh tởm chính mình vì đã phạm tội (Êxe 6:9; Êxe 36:31), khinh miệt chính ký ức về tội lỗi của mình. Những người nhớ đến tội lỗi của họ với sự thích thú và “hưởng chúng lần nữa” trong tâm trí mình thì chưa bao giờ xét đoán tội lỗi họ hay nhìn xem tội lỗi họ thật sự ghê tởm ra sao.

Cha của tâm lý học người Mỹ, William James, đã viết “Đối với người xưng nhận những sự giả dối đã qua và những sự thật đã bắt đầu”.


Áp-ra-ham và Sa-ra đã tự thuyết phục họ tin rằng họ không nói dối gì cả. Đó chỉ là một “sự thật nửa vời” (Sa 20:12) và những sự thật nửa vời không bị xem là gian ác như những lời nói dối thẳng thừng. Chúng tệ hại hơn! F. B. Meyer đã viết: “Một sự giả dối có ở động cơ cũng hoàn toàn nhiều như ở tại những lời nói thực sự”. Một sự thật nửa vời có sự thật vừa đủ trong nó để khiến nó trở nên có vẻ hợp lý và có sự lừa dối vừa đủ trong nó để khiến nó trở nên nguy hiểm.


Vì vậy, những tín-hữu có phạm tội, nhưng điều đó không hủy diệt đức tin của họ hay hủy hoại sự cứu rỗi của họ, dù điều đó có thể làm mất uy tín lời chứng của họ. Áp-ra-ham vẫn là con cái Đức Chúa Trời dù sự làm chứng của ông cho Chúa đã bị suy yếu trầm trọng. Tuy nhiên, A-bi-mê-léc ở trong một vị trí nguy hiểm hơn Áp-ra-ham, vì A-bi-mê-léc ở dưới án của sự chết (Sa 20:3, 7).


A-bi-mê-léc là một người chính trực, và khi Đức Chúa Trời phán với ông, ông vâng lời. Ông có nhiều phẩm chất tốt, nhưng ông không phải là một tín-hữu, và vì vậy ông là một người chết (Êph 2:1-3). Điều này không phải để đánh giá thấp tính gian ác của tội lỗi Áp-ra-ham, vì một tín-hữu không nên làm điều Áp-ra-ham đã làm. Nhưng Áp-ra-ham và A-bi-mê-léc có hai địa vị khác nhau trước mặt Đức Chúa Trời: một người được cứu và người kia hư mất.


Vì vậy, bất cứ người chưa được cứu nào muốn sử dụng Sa 20:1-18 làm “vũ khí” chống lại tín-hữu (“các người đều là những kẻ giả hình!”), nên xem xét địa vị thuộc linh của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu người chưa được cứu chấp nhận điều Kinh Thánh nói về Áp-ra-ham rằng ông đã nói dối, vậy họ cũng phải chấp nhận điều Kinh Thánh nói về họ: Họ chết trong những sự vi phạm và tội lỗi mình. Mặc cho sự bất tuân của ông. Áp-ra-ham được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng A-bi-mê-léc bị chối từ và ở dưới sự kết án thiên thượng (Gi 3:18-21). Đức Chúa Trời đã quở phạt Áp-ra-ham, nhưng Ngài kết án A-bi-mê-léc.


Khi tín-hữu phạm tội, họ chịu khổ. Charles Spurgeon đã nói: “Đức Chúa Trời không cho phép con cái Ngài phạm tội một cách thành công”. Khi chúng ta cố tình bất tuân Đức Chúa Trời, chúng ta chịu khổ vì những hậu quả của tội lỗi mình và vì bàn tay quở phạt của Đức Chúa Trời nếu chúng ta không ăn năn và đầu phục (Hêb 12:5-11).

Đức Chúa Trời trong ân-điển Ngài sẽ tha thứ tội lỗi chúng ta (IGi 1:5-10); Nhưng trong quyền tối cao của Ngài, Đức Chúa Trời phải để cho tội lỗi sinh ra một mùa gặt đáng buồn (Ga 6:7). Hãy đọc Thi 32:1-11; Thi 51:1-19 để thấy điều đã xảy đến cho Đa-vít về mặt thuộc thể và thuộc linh vì ông không ăn năn và xưng nhận tội lỗi mình với Chúa.


Chỉ mất một vài giây để Áp-ra-ham nói dối, nhưng sự nói dối đó hơn cả những âm thanh và hơi thở trong gió. Sự nói dối đó đã trở thành một hạt giống được gieo trồng rồi lớn lên và mang lại trái đắng. Đức Chúa Trời ghét sự nói dối (Ch 6:17; 12:22). Ngài là một Đức Chúa Trời của chân lý (Phuc 32:4), Thần Ngài là Thần của Chân lý (Gi 14:7) và Lời Ngài là Lời của Chân lý (Gia 1:18). Mathew Henry đã viết: “Một cái lưỡi nói dối chỉ được một chốc lát. Sự thật là con của thời gian, và đúng lúc nó sẽ lộ ra”.


Một lời nói dối này đã khiến Áp-ra-ham trả cái giá gì? Trước hết, nó gây tổn thất cho tính cách của ông. Phillips Brooks đã nói: “Mục đích của đời sống là gây dựng tính cách qua sự thật”. Đức Chúa Trời không chỉ “cứu linh hồn” và đem con người đến Thiên Đàng.

Qua hoạn nạn và thử thách của đời sống, Ngài đang khiến những người được cứu trở nên càng giống Chúa Giê-xu Christ và bởi đó làm vinh hiển chính Ngài. Áp-ra-ham đã thôi hỏi: “Cái gì đúng?” để bắt đầu hỏi: “Cái gì an toàn?” và điều này dẫn đến sự sa ngã của ông. Một khi muối đã mất vị của nó, làm sao bạn phục hồi nó?


Ông cũng đánh mất lời chứng của mình.

Làm sao Áp-ra-ham có thể nói với những láng giềng ngoại đạo của ông về Đức Chúa Trời của chân lý khi chính ông nói dối? Lót đã đánh mất chứng cớ của mình ở Sô-đôm, và Áp-ra-ham đánh mất chứng cớ của mình ở Ghê-ra. James Strahan đã viết trong tác phẩm “Hebrew Ideals” (những quan niệm Hê-bơ-rơ_Kregel, 1982, trang 141): “Gương của một người xấu có ít ảnh hưởng trên người tốt. Nhưng gương xấu của một người tốt, nổi bật trong địa vị và vững chắc trong tiếng tăm, có một sức mạnh to lớn đối với điều ác”.


Hãy hình dung Áp-ra-ham nhục nhã ra sao khi A-bi-mê-léc gọi ông đến, giáp mặt ông và quở trách ông. Đầu phục sự quở trách của một người anh chị em Cơ-đốc cũng đủ khó khăn, nhưng chấp nhận sự quở trách của một người chưa được cứu đòi hỏi sự thành thật và khiêm nhường rất lớn. “Đối cùng ta, ngươi đã làm những việc không nên làm đó” (Sa 20:9). Những lời nói đó làm đau đớn sâu sắc! Cơ-đốc nhân phải cẩn thận cách mình liên hệ với những người “ngoại” (Côl 4:5; ITês 4:12).


Ông mất sự phục vụ của mình, bởi thay vì làm một nguồn phước (Sa 12:1-3), ông là nguyên nhân của sự xét đoán. Không có đứa trẻ nào ra đời suốt thời gian Áp-ra-ham lưu lại trong Ghê-ra (Sa 12:17-18). Khi một con cái của Đức Chúa Trời đi ra ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời, kỷ luật của Đức Chúa Trời thường đi theo. Giô-na đã gây ra một cơn bão gần như làm chìm tàu (Gion 1:1-17), A-can đã đem đến sự thất bại cho quân đội (Gios 7:1-26) và Đa-vít đã đem đến sự buồn rầu cho gia đình ông (IISa 12:10).


Áp-ra-ham gần như mất Sa-ra và Y-sác.

 Trong thời đó, một vị vua có quyền đem vào hậu cung của ông người nữ độc thân nào đẹp ý ông. A-bi-mê-léc tưởng Sa-ra là một người nữ độc thân nên bắt bà. Và nếu không vì sự can thiệp của Đức Chúa Trời, vua sẽ có những quan hệ bình thường với bà. Điều vua đã làm đe dọa kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời, nên Chúa phải hành động để bảo vệ Sa-ra và Y-sác. Bất cứ khi nào chúng ta làm điều gì đó buộc Đức Chúa Trời phải can thiệp cách kỳ diệu, chúng ta đang thử Đức Chúa Trời và việc thử Đức Chúa Trời là tội lỗi (Phuc 6:16; Mat 4:7).


Có lẽ một trong những hậu quả đáng buồn nhất của tội lỗi Áp-ra-ham là việc Y-sác lập lại tội lỗi đó những năm sau này (Sa 26:7-11). Thật đáng buồn khi tội lỗi của chúng ta ảnh hưởng đến người ngoài cuộc, nhưng vẫn đáng buồn hơn khi tội lỗi chúng ta được sao chép lại trong gia đình chúng ta. Thật ra, lời nói dối của Y-sác tệ hại hơn lời nói dối của cha ông vì Sa-ra thật sự là em cùng cha khác mẹ của Áp-ra-ham, còn Rê-bê-ca chỉ là bà con của Y-sác.


Khi tín-hữu phạm tội, họ bị Đức Chúa Trời kỷ luật cho tới khi họ đi đến vị trí ăn năn và xưng nhận. Sự kỷ luật này chẳng thú vị, nhưng nó có ích lợi, và cuối cùng nó sinh ra sự vui mừng và sự thánh khiết cho vinh hiển của Đức Chúa Trời.


Tín-hữu phạm tội có thể được tha thứ và phục hồi.

Mặc dù Đức Chúa Trời không che chở cho tội lỗi của Áp-ra-ham, nhưng Ngài thật sự che chở Áp-ra-ham và điều khiển những hoàn cảnh để tôi tớ Ngài không bị thất bại hoàn toàn. Thật ra, Đức Chúa Trời đã gọi Áp-ra-ham là một tiên-tri và cho biết rõ rằng sự cầu thay của Áp-ra-ham là điều duy nhất có giá trị giữa A-bi-mê-léc và sự chết (Sa 20:7). Việc Đức Chua Trời đáp lời cầu nguyện của Áp-ra-ham cho A-bi-mê-léc là chứng cớ Áp-ra-ham đã xưng nhận tội lỗi mình và Chúa đã tha thứ cho ông (Thi 66:18-20).


Đức Chúa Trời không từ chối con cái Ngài khi họ phạm tội bất cứ điều gì như một bậc cha mẹ từ chối đứa con trai, hay gái bất tuân (Ês 49:13-16). Áp-ra-ham được xưng công bình bởi đức tin và có một địa vị công bình trước mặt Đức Chúa Trời (Rô 4:1-5). Sự xưng công bình không thay đổi. Chúng ta được tiếp nhận trong Chúa Giê-xu Christ dù bản chất chúng ta là gì (IICôr 5:17, 21; Êph 1:6).

Dĩ nhiên, việc chúng ta được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời nghĩa là sẽ có một thay đổi trong đời sống chúng ta, vì “đức tin không có việc làm thì chết” (Gia 2:20). Nhưng địa vị của chúng ta trong Đấng Christ (sự xưng công bình) không bị thay đổi bởi hành động của chúng ta trên đất (sự thánh hóa).


Điều quan trọng là chúng ta giải quyết tội lỗi mình cách khiêm nhường và thành thật, xưng nhận nó với Đức Chúa Trời, xét đoán nó, từ bỏ nó và tuyên bố những lời hứa của Ngài về sự tha thứ (IGi 1:9; Mi 7:18-19; Ês 55:6-13). Áp-ra-ham và Sa-ra đã thực hiện một khởi đầu mới và bạn cũng có thể làm vậy.


2. Áp-ra-ham người hòa giải (Sa 20:1-18; 21:22-34)

Thề (Sa 21:22-24).

Bốn năm có thể đã trôi qua kể từ những sự kiện của Sáng-thế ký 20, và suốt thời gian đó, rõ ràng Đức Chúa Trời đã chúc phước cho Áp-ra-ham và Sa-ra. Bất cứ khi nào một tín-hữu được phục hồi sự giao thông với Chúa, Đức Chúa Trời có thể chúc phước trở lại. Mục đích của kỷ luật là sự phục hồi, và mục đích của sự phục hồi là sự phục vụ và phước hạnh. Không chỉ sự giàu có của Áp-ra-ham gia tăng, nhưng Y-sác đã ra đời, và “đứa con của phép lạ” này chắc là một chủ đề quan trọng của cuộc nói chuyện giữa vòng những láng giềng.


A-bi-mê-léc là một danh hiệu chức vụ hơn là một tên riêng, vì vậy chúng ta không thể biết chắc rằng A-bi-mê-léc của tình tiết này có phải chính là người trước đó đã quở trách Áp-ra-ham hay không. Việc ông muốn sự bảo đảm về lòng trung thành của Áp-ra-ham cho thấy sự lừa dối của vị trưởng tộc đã dẫn đến một sự thiếu tin cậy của các láng giềng ông. Họ muốn sự bảo đảm rằng Áp-ra-ham sẽ “chơi ngay thẳng” với họ vì ông là một người có quyền thế như vậy.


Quả là một lời chứng: “Đức Chúa Trời ở cùng ngươi trong mọi việc ngươi làm” (Sa 21:22 NKJV). Áp-ra-ham không cho phép một sự sa ngã đức tin làm tê liệt ông, ông làm hòa với Đức Chúa Trời và thực hiện một khởi đầu mới.

James Strahan đã nói: “con người không nên bị xét đoán bởi sự hiện diện hoặc sự vắng mặt của những lỗi lầm, nhưng bởi phương hướng của đời sống họ” (Hebrew Ideals – Những quan niệm Hê-bơ-rơ, tr.142). Đức Chúa Trời sẵn sàng chúc phước khi chúng ta ở trong vị trí của phước hạnh (Thi 1:1-3).


Trong lúc sống ở Hếp-rôn, Áp-ra-ham đã liên minh với một số lãnh đạo địa phưong (Sa 14:13), vì vậy không có vấn đề với việc ký kết hiệp ước với A-bi-mê-léc. Điều đó không làm tổn thương lời chứng của Áp-ra-ham.

Dân sự Đức Chúa Trời hợp tác với những người khác nhau ở những thời điểm khác nhau vì những mục đích khác nhau, và tín-hữu sáng suốt biết khi nào sự liên minh nào không ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời.


Quở trách (Sa 21:25-26).

Nước vẫn là một phương tiện rất quý giá trong xứ thánh. Ngày nay, những phương pháp tưới tiêu khác nhau được sử dụng, nhưng trong thời Áp-ra-ham, rất cần thiết để đào giếng và bảo vệ chúng cẩn thận. Nếu bạn không bảo vệ giếng của mình, kẻ thù bạn có thể chiếm lấy nó hoặc lấp nó (Sa 26:18). Một số tôi tớ của A-bi-mê-léc đã chiếm giếng nước của Áp-ra-ham, vì vậy hiệp ước giữa hai người đã không đem lại nhiều ích lợi.


Áp-ra-ham đã làm điều đúng và đối chất với người láng giềng của ông bằng những sự thật, nhưng A-bi-mê-léc tuyên bố rằng ông không biết gì cả về điều đó. Ông đang nói thật chăng? Chỉ Đức Chúa Trời mới biết, nhưng Áp-ra-ham bảo đảm rằng vấn đề này sẽ không bao giờ xuất hiện lần nữa.


Làm chứng (Sa 21:27-32).

Từ Hê-bơ-rơ “thề” nghĩa là “trói buộc bởi bảy điều” và từ “thề” (saba) với từ “bảy” (seba) rất tương tự. Lần này hai người đi xa hơn việc chỉ đưa ra lời thề của họ: họ lập một giao-ước có liên quan đến việc giết những thú vật (Sa 21:27; Sa 15:9-10). Khi Áp-ra-ham và A-bi-mê-léc bước đi giữa xác của các sinh tế; Thực vậy, ông đang nói: “Nguyện Đức Chúa Trời làm cho chúng ta và nhiều hơn nữa nếu chúng ta không giữ giao-ước với nhau”. Đây là một vấn đề nghiêm túc.


Nhưng Áp-ra-ham đã đi một bước xa hơn. Ông lựa ra bảy con chiên cái rất quý giá làm bằng chứng sống động rằng ông đã đào giếng và nước thuộc về ông. Ông dâng những con chiên cho A-bi-mê-léc là người sau đó sẽ bảo vệ chúng cẩn thận. Chúng giống như những “biên nhận” bảo đảm rằng Áp-ra-ham là chủ cái giếng nước. Tên của giếng (Bê-e-sê-ba nghĩa là “cái giếng thề nguyện”) là chứng cớ khác cho việc giao dịch. Cả hai người đã thề giữ gìn giao-ước, và vấn đề được giải quyết.


Toàn bộ việc giao dịch này liên quan đến ba yếu tố: của lễ (Sa 21:27), lời chứng (Sa 21:28-30) và lời hứa (Sa 21:31-32). Bạn tìm thấy những yếu tố tương tự này trong giao-ước của Đức Chúa Trời với chúng ta qua Chúa Giê-xu Christ, như được phác họa trong Hêb 10:1-18.

- Thứ nhất có sự hy sinh của Chúa Giê-xu Christ trên thập tự giá (Hêb 10:1-14).

- Sau đó, là sự làm chứng của Thánh Linh trong lòng tín-hữu (Hêb 10:15), và cuối cùng là lời hứa trong Lời Đức Chúa Trời (Hêb 10:16-18).

Giao-ước của Áp-ra-ham với A-bi-mê-léc chỉ đảm bảo sự sở hữu một cái giếng cung cấp nước để duy trì sự sống. Giao-ước của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài bảo đảm rằng chúng ta có nước hằng sống ban sự sống đời đời cho tất cả những ai sẽ tin cậy Chúa Cứu Thế!


 Trồng cây (Sa 21:33).

Cây này (hoặc cây thánh liễu) cũng là một phần của giao-ước, môt chứng cớ cho những lời hứa Áp-ra-ham và A-bi-mê-léc đã lập. Cây thánh liễu là một cây giống như bụi cây có gỗ cứng và lá xanh. Khi xây dựng một ốc đảo, Áp-ra-ham chắc chắn quan tâm về sinh thái (nước và cây), nhưng thậm chí hơn nữa, ông đang bày tỏ chứng cớ về điều Đức Chúa Trời đã làm cho ông. Ông đã vượt qua một kinh nghiệm khó khăn trong đời sống để lại một số phước hạnh cho người khác, Ông giống như những người bộ hành được mô tả trong Thi 84:6 những người đã vượt qua trũng Ba-ca (“khóc lóc”) và khiến nó trở thành một nơi có nguồn suối sẽ làm những người khác sảng khoái.


Thờ phượng (Sa 21:33).

Bạn có thể đi theo hành trình của Áp-ra-ham bằng cách tìm những giếng nước ông đã đào và những bàn thờ đã xây (Sa 12:7-8; Sa 13:4, 18). Ông không xấu hổ khi xây bàn thờ trong sự hiện diện của các láng giềng ông và dân sự thờ phượng của ông trước Chúa. Một danh mới cho Đức Chúa Trời được giới thiệu ở đây: El Olam, “Đức Chúa Trời Hằng Hữu.” Áp-ra-ham đã biết Elo Elyon (“Đức Chúa Trời Toàn năng, Đức Chúa Trời toàn quyền” Sa 17:1), nhưng giờ đây ông có một danh mới để sử dụng trong sự thờ phượng của ông. Thật quan trọng khi chúng ta đi qua đời sống mà chúng ta học biết càng nhiều về Đức Chúa Trời để chúng ta có thể thờ phượng Ngài tốt hơn.


Thật là một sự khích lệ để biết “Đức Chúa Trời Hằng Hữu”! Những giếng nước sẽ biến mất, những cây sẽ bị đốn, những chiên tơ sẽ lớn lên và chết, những bàn thờ sẽ sụp đổ, và những hiệp ước sẽ tàn lụi, nhưng Đức Chúa Trời Hằng Hữu sẽ tồn tại. Đức Chúa Trời Hằng Hữu này đã lập môt giao-ước đời đời với Áp-ra-ham và con cháu ông (Sa 17:7,13,19) và Ngài đã ban cho họ xứ Ca-na-an làm một sở hữu đời đời (Sa 17:8; Sa 48:4). Khi Áp-ra-ham đối diện với những năm sắp đến, ông biết rằng Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi và “ở dưới cánh tay đời đời” (Phuc 33:27).


Chờ đợi (Sa 21:34) “nhiều ngày” của câu này có thể nghĩa là 10-15 năm, vì Y-sác đã là một người trẻ tuổi khi ông đi cùng Áp-ra-ham đến núi Mô-ri-a (Sa 22:1-24). Đó chắc là một thời gian bình an đối với Áp-ra-ham, Sa-ra với Y-sác, và là một thời gian hạnh phúc lớn khi họ nhìn xem đứa con trai yêu quý của mình lớn lên. Họ chẳng biết cuộc thử nghiệm lớn đặt phía trước họ, nhưng Đức Chúa Trời đang chuẩn bị cho họ và họ sẽ sẵn sàng.





20. “MỘT KỲ ĐỂ KHÓC, MỘT KỲ ĐỂ CƯỜI” (Sa 21:1-21 Ga 4:21-31)


Mục sư người Ê-cốt George Morrison đã nói: “Đời sống Cơ-đốc là một vùng đất có những đồi và thung lũng” dựa trên cơ sở của (Phuc 11:11). Sa-lô-môn đã bày tỏ ý niệm tương tự khi ông viết trong (Tr 3:4) rằng “Có kỳ khóc và có kỳ cười”. Thiên Đàng là nơi của sự vui mừng không dứt, địa ngục là nơi của sự đau khổ không dứt, nhưng trong lúc chúng ta ở đây trên đất, chúng ta phải nghĩ đến cả sự vui mừng và buồn rầu, tiếng cười và giọt lệ. Bạn không thể có những ngọn đồi mà không có những thung lũng.


Điều này đặc biệt đúng đối với đời sống gia đình, vì cùng những người đã đem đến cho chúng ta niềm vui cũng có thể đem đến cho chúng ta sự buồn rầu những mối liên hệ có thể trở nên căng thẳng và rồi thay đổi trong một đêm, và chúng ta không biết điều gì đã xảy ra cho một gia đình hạnh phúc. Một Châm-ngôn Trung quốc nói: “không gia đình nào có thể treo bảng hiệu ‘không có vấn đề gì ở đây”.


Sự ra đời của Y-sác trong gia đình họ đã đem đến sự buồn rầu lẫn niềm vui cho Áp-ra-ham và Sa-ra. Khi bạn nhìn xem những người có liên quan trong sự kiện quan trọng này, bạn có thể học một số bài học quý giá về giáo lý Cơ-đốc căn bản và cách sống đời sống Cơ-đốc.


1. Áp-ra-ham và Sa-ra: Đức tin và lời hứa (Sa 21:1-7)

Sa-ra đã mang gánh nặng không con nhiều năm, một gánh nặng thật sự trong nền văn hóa vào thời đó. Người ta chắc đã cười khi họ nghe rằng tên của chồng bà là Áp-ra-ham, “Cha của nhiều dân tộc”. Ông là cha của một con trai, Ích-ma-ên, nhưng điều đó còn quá xa đối với nhiều dân tộc, và Sa-ra chưa bao giờ sinh con. Nhưng giờ đây, mọi sự sỉ nhục của bà đã chấm dứt, và họ vui mừng về sự ra đời của con trai họ.


Nhưng sự ra đời của Y-sác có liên quan nhiều hơn niềm vui của cha mẹ, vì sự ra đời của ông có nghĩa là sự làm trọn lời hứa của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham, Ngài hứa khiến ông trở nên một dân tộc lớn sẽ chúc phước cho cả thế giới (Sa 12:1-3). Sau đó Ngài nhiều lần hứa ban đất Ca-na-an cho con cháu Áp-ra-ham (Sa 17:7) và làm cho họ thêm nhiều (Sa 13:15-17).

Áp-ra-ham sẽ là tổ phụ của con cháu được hứa ban (Sa 15:4), và Sa-ra (không phải là A-ga) sẽ là mẹ (Sa 17:19; Sa 18:9-15). Sự ra đời của Y-sác nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời giữ những lời hứa của Ngài, theo cách của Ngài, và trong thì giờ của Ngài. Mặc cho những thất bại đôi lúc của họ, Áp-ra-ham và Sa-ra tin Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời tôn trọng đức tin của họ (Hêb 11:8-11).


Sự ra đời của Y-sác cũng có nghĩa là phần thưởng của sự kiên nhẫn. Áp-ra-ham và Sa-ra đã phải chờ 25 năm để con trai họ ra đời, vì “bởi đức tin và sự kiên nhẫn mà (chúng ta) được hưởng lời hứa” (Hêb 6:12; Hêb 10:30).

Việc tin cậy những lời hứa của Đức Chúa Trời không chỉ cho bạn một phước hạnh lúc cuối cùng, nhưng còn ban cho bạn một phước hạnh trong lúc bạn chờ đợi. Giống như những vận động viên Thế vận hội phát triển những kỹ năng của họ khi họ tập dợt gian khổ từ lâu trước sự kiện lớn, thì con cái Đức Chúa Trời cũng tăng trưởng trong sự tin kính và đức tin khi họ chờ đợi sự ứng nghiệm những lời hứa của Đức Chúa Trời.

Đức tin là một cuộc hành trình, và mỗi nơi đến hạnh phúc là khởi đầu của một hành trình mới. Khi Đức Chúa Trời muốn xây dựng sự kiên nhẫn của chúng ta, Ngài ban cho chúng ta những lời hứa, giáng cho chúng ta những thử thách, và bảo chúng ta tin cậy Ngài (Gia 1:1-8).


Sự ra đời của Y-sác chắc chắn là sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời. Đó là một lý do vì sao Đức Chúa Trời trì hoãn quá lâu: Ngài muốn Áp-ra-ham và Sa-ra “tê liệt hoàn toàn” để sự ra đời của đứa con sẽ là một phép lạ của Đức Chúa Trời chớ không phải là một kỳ công của bản chất con người (Rô 4:17-21). Áp-ra-ham và Sa-ra đã kinh nghiệm quyền năng phục sinh của Đức chúa Trời trong đời sống họ vì họ đã đầu phục Ngài và tin lời Ngài. Đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời lay động quyền năng của Đức Chúa Trời (Êph 3:20-21; Phi 3:10) “vì không lời nào từ Đức Chúa Trời sẽ vô hiệu lực” (Lu 1:37 ASV).


Cuối cùng, sự ra đời của Y-sác là một bước hướng đến sự thực hiện mục đích của Đức Chúa Trời. Sự cứu chuộc một thế giới hư mất trong tương lai tùy thuộc vào một bé trai nhỏ xíu! Y-sác sẽ sanh Gia-cốp, và từ Y-sơ-ra-ên Đấng Mê-si-a được hứa ban sẽ ra đời. Trải qua bao thế kỷ, một số “mắt xích sống động” trong chuỗi lời hứa dường như vô nghĩa và yếu ớt, nhưng chúng giúp thực hiện những mục đích của Đức Chúa Trời.


Bạn có thể không biết điều bạn làm thật sự có quan trọng đối với Đức Chúa Trời và công việc Ngài trên thế giới này hay không, nhưng nó quan trọng nếu bạn trung tín tin cậy Lời Ngài và làm theo ý muốn Ngài. Lần sau khi bạn cảm thấy thất bại và nản lòng, hãy nhớ đến Áp-ra-ham và Sa-ra. Đức Chúa Trời giữ những lời hứa của Ngài và ban cho bạn quyền năng bạn cần để làm điều Ngài muốn bạn làm. Dù bạn có thể phải chờ đợi bao lâu, bạn có thể tin cậy Đức Chúa Trời thực hiện những mục đích của Ngài.


2. Y-sác và Ích-ma-ên: Thánh Linh và xác thịt (Sa 21:8-11)

Trong (Ga 4:28-29) Phao-lô cho biết rõ rằng Ích-ma-ên đại diện cho sự sinh ra thứ nhất của tín-hữu (xác thịt) và Y-sác đại diện cho sự sinh ra thứ hai (Thánh Linh). Ích-ma-ên “sanh ra theo xác thịt” vì Áp-ra-ham chưa “chết” và vẫn có thể sanh một con trai (Sa 16:1-16). Y-sác “sanh ra theo Thánh Linh” vì vào thời điểm đó cha mẹ ông đều “chết” và chỉ quyền năng Đức Chúa Trời mới có thể đem đến sự thụ thai và sự sinh con. Ích-ma-ên được sinh ra trước vì những điều tự nhiên đến trước những điều thuộc linh (ICôr 15:46).


Khi bạn tin Chúa Giê-xu Christ, bạn kinh nghiệm một sự ra đời kỳ diệu từ Đức Chúa Trời (Gi 1:11-19), và đó là công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời (Gi 3:1-8). Áp-ra-ham đại diện cho đức tin, và Sa-ra đại diện cho ân-điển (Ga 4:24-26), vì vậy Y-sác được sinh ra “nhờ ân-điển… bởi đức tin” (Êph 28-9). Đây là cách duy nhất một tội nhân hư mất có thể bước vào gia đình của Đức Chúa Trời (Gi 3:16-18).


Đáng chú ý rằng, trong sự ghi chép của Kinh Thánh, Đức Chúa Trời thường khước từ con đầu lòng và chấp nhận con thứ hai, Ngài khước từ Ca-in và chọn A-bên (Sa 4:1-15). Ngài khước từ Ích-ma-ên, con đầu lòng của Áp-ra-ham và chọn Y-sác, Ngài bỏ qua Ê-sau, con đầu lòng của Y-sác và chọn Gia-cốp (Rô 9:8-13).

Vậy Ngài chọn Ép-ra-im thay cho Ma-na-se (Sa 48:1-22). Ở Ai-cập, Chúa kết án mọi con đầu lòng (Xu 11:1-12:51) và chỉ tha cho những ai “được sinh ra hai lần” vì họ được bảo vệ bởi đức tin trong huyết chiên con.


Y-sác là hình ảnh con cái Đức Chúa Trời không chỉ qua sự ra đời của ông nhưng cũng qua niềm vui ông đem đến. Y-sác nghĩa là “cười” và lần này đó không phải là tiếng cười của sự vô tín (Sa 18:9-15). Trong những ví dụ được ghi ở Lu 15:1-32 Chúa Giê-xu nhấn mạnh niềm vui là kết quả khi tội nhân hư mất ăn năn và đến với Chúa. Người chăn chiên vui mừng khi tìm thấy con chiên lạc của mình, và người đàn bà vui mừng khi tìm thấy đồng bạc mất. Họ đều mời bạn hữu mình cùng vui với họ. Người cha vui mừng khi đứa con trai hoang đàng của ông trở về nhà, và ông mời những láng giềng dự một bữa tiệc để họ có thể dự phần trong niềm vui của ông. Thậm chí có sự vui mừng trên Thiên Đàng khi tội nhân trở lại với Đức Chúa Trời (Lu 15:7, 10).


Không chỗ nào chúng ta đọc rằng Ích-ma-ên tạo nên sự vui mừng lớn trong gia đình Áp-ra-ham. Áp-ra-ham yêu con trai ông và muốn điều tốt nhất cho con (Sa 17:18). Từ trước khi ra đời, Ích-ma-ên đã là một nguồn phiền phức đau đớn (Sa 16:1-16), và sau khi trưởng thành ông thậm chí gây ra mâu thuẫn lớn hơn trong gia đình (Sa 21:9). Bản chất cũ không thể sinh ra trái của Thánh Linh, cho dù nó cố gắng ra sao (Ga 5:16-26).


Hãy chú ý một sự so sánh thứ ba giữa Y-sác và con cái Đức Chúa Trời: Ông lớn lên và được cai sữa (Sa 21:8). Sự sinh mới không phải là cuối cùng, nhưng là khởi đầu, và tín-hữu phải sống bởi Lời Đức Chúa Trời và tăng trưởng về thuộc linh (Mat 4:4; ICôr 3:13; Hêb 5:12-14; IPhi 2:1-3; IIPhi 3:18). Khi chúng ta trưởng thành trong Chúa, chúng ta phải “bỏ những điều trẻ con” (ICôr 13:9-11) và để Đức Chúa Trời “cho chúng ta cai sữa” (Thi 131:1-3) khỏi những sự giúp đỡ tạm thời những gì có thể trở nên những trở ngại lâu dài.


Người mẹ cho đứa con cai sữa vì bà yêu con và muốn nó tự do lớn lên mà không lệ thuộc bà. Nhưng đứa con nghĩ rằng những hành động của mẹ như một sự chối từ và ghét bỏ. Đứa con bám vào những tiện nghi của quá khứ khi người mẹ tìm cách khích lệ đứa con tăng trưởng và bước vào những thử thách của tương lai. Sẽ đến lúc trong mọi đời sống Cơ-đốc khi những món đồ chơi phải được thay thế bằng những dụng cụ và sự an toàn ích kỷ phải được thay thế bằng sự phục vụ bất vụ lợi (Gi 12:23-26).


Giống như mọi con cái Đức Chúa Trời, Y-sác kinh nghiệm sự bắt bớ (Sa 21:9; Ga 4:29). Ích-ma-ên rõ ràng là một đứa con vâng lời cho đến khi Y-sác bước vào gia đình, và rồi “xác thịt” bắt đầu chống lại “Thánh Linh”. Người ta thường nói rằng bản chất cũ không biết Luật pháp này, nhưng bản chất mới không cần luật pháp, và điều này chắc chắn được minh họa qua hai con trai của Áp-ra-ham.


Trẻ con Do-thái thường được cai sữa vào khoảng ba tuổi, vì vậy Ích-ma-ên có thể đã mười bảy tuổi vào lúc đó (Sa 16:16). Quả thật là một sự kiêu ngạo khi một thiếu niên mười bảy tuổi quấy rầy một cậu bé chỉ ba tuổi! Nhưng Đức Chúa Trời phán rằng Ích-ma-ên sẽ trở nên “một con lừa rừng của một người” (Sa 16:12 NIV), và lời tiên đoán đã trở thành sự thật. Xác thịt và Thánh Linh xung đột nhau và sẽ luôn như vậy cho đến khi chúng ta gặp Chúa (Ga 5:16-26).


Giống như Y-sác, khi bạn được sinh bởi Thánh Linh, bạn được sanh ra vốn giàu có (Sa 21:10). Y-sác là người thừa kế mọi thứ cha ông có, và con cái Đức Chúa Trời là “kẻ kế tự của Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ” (Rô 8:17). Áp-ra-ham chăm sóc Ích-ma-ên trong khi cậu bé ở gia đình, nhưng “Áp-ra-ham cho Y-sác hết thảy gia tài mình” (Sa 25:5).


Cuối cùng, Y-sác được sinh ra tự do trong khi Ích-ma-ên là con trai của một nô lệ (Ga 4:22). Sự tự do là một trong những chủ đề chính ở sách Ga-la-ti (Ga 5:1) và là một trong những phước hạnh chính trong đời sống Cơ-đốc (Ga 4:34). Dĩ nhiên sự tự do Cơ-đốc không có nghĩa là tình trạng vô chính phủ; vì đó là loại nô lệ tệ hại nhất. Nó có nghĩa là sự tự do để sống và làm mọi điều Đức Chúa Trời dành cho chúng ta trong Chúa Giê-xu Christ.

Phillip Brooks đã nói: “không người nào trên đời này đạt được tự do khỏi bất cứ sự nô lệ nào ngoại trừ bằng cách bước vào một sự phục vụ cao hơn”. Và sự phục vụ cao hơn” đó là sự đầu phục Chúa Giê-xu cách cá nhân. Không ai tự do hơn con cái Đức Chúa Trời là người vui mừng trong ý muốn của Đức Chúa Trời và làm theo ý muốn đó từ tấm lòng.


3. Sa-ra và A-ga: Ân-điển và Luật-pháp (Sa 21:9-13)

Sa-ra đã sai lầm khi bà bảo Áp-ra-ham cưới A-ga (Sa 16:1-2), nhưng bà đúng khi bà bảo Áp-ra-ham cho A-ga và Ích-ma-ên ra khỏi trại. Sứ-đồ Phao-lô đã nhìn thấy trong sự kiện này một hình bóng có liên quan đến Luật-pháp của Môi-se và Ân-điển của Đức Chúa Trời (Ga 4:21-31). Sa-ra đại diện cho ân-điển (Giê-ru-sa-lem trên trời) và A-ga đại diện cho Luật pháp (Giê-ru-sa-lem dưới đất chịu sự nô lệ). Bài học đơn giản là con cái Đức Chúa Trời phải sống dưới những phước hạnh của ân điển chớ không dưới ách nô lệ của luật-pháp.


Những mâu thuẫn trong gia đình Áp-ra-ham có thể được giải quyết bốn cách. Y-sác có thể bị đem đi, nhưng điều đó có nghĩa là chối từ những lời hứa của Đức Chúa Trời và mọi điều Đức Chúa Trời đã hoạch định cho tương lai. Y-sác và Ích-ma-ên có thể sống chung với nhau, nhưng điều đó sẽ có nghĩa là sự mâu thuẫn thường trực. Bản chất của Ích-ma-ên có thể được thay đổi để khiến ông dễ chịu hơn, nhưng điều đó đòi hỏi một phép lạ. “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt” (Gi 3:6), và đó sẽ luôn là xác thịt. Giải pháp duy nhất là cho Ích-ma-ên với mẹ ông ra khỏi trại và khiến Y-sác trở nên người thừa kế duy nhất.


Khi bạn xem xét những sự thật về A-ga, bạn sẽ hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa Luật-pháp và Ân-điển trong đời sống Cơ-đốc nhân.


- Trước hết, A-ga là vợ thứ hai của Áp-ra-ham. Nàng được thêm vào bên cạnh Sa-ra. Tương tự, Luật-pháp được “thêm vào” bên cạnh những lời hứa đã tồn tại của Đức Chúa Trời và có tính tạm thời (Ga 3:19, 24-25). Đức ChúaTrời không bắt đầu bằng Luật-pháp; Ngài bắt đầu bằng Ân-điển.

Mối liên hệ của Ngài với A-đam và Ê-va được dựa trên Ân-điển, không phải Luật-pháp, dù Ngài đã thử nghiệm họ bằng phương tiện của một sự hạn chế đơn giản (Sa 2:15-17). Sự cứu chuộc Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập là một hành động của Ân-điển Đức Chúa Trời, cũng như sự định liệu của Ngài, những sinh tế và chức tế-lễ vậy. Trước khi Môi-se ban Luật-pháp, Y-sơ-ra-ên đã ở trong một mối liên hệ giao-ước với Đức Chúa Trời (“được gả cho Đức Chúa Trời”) bởi những lời hứa của Ngài với các thánh tổ (Xu 19:1-8).


- Thứ hai, A-ga là một đầy tớ. Phao-lô đã hỏi trong Ga 3:19 “Vậy thì làm sao có Luật pháp?” và ông đưa ra câu trả lời. Luật-pháp là đầy tớ của Đức Chúa Trời (“thầy giáo” hoặc “gia sư”) để giữ cho dân tộc Y-sơ-ra-ên non trẻ ở dưới sự điều khiển và chuẩn bị cho họ về sự đến của Đấng Cứu Chuộc (Ga 3:24-25; Ga 4:1-5). Luật-pháp bày tỏ nhu cầu của chúng ta về Ân-điển, và Ân-điển giải cứu chúng ta hoàn toàn khỏi những công việc của Luật-pháp (Rô 3:20, 28).


Một sự thật thứ ba rõ ràng: A-ga chưa bao giờ được xem là sinh con. Luật pháp không thể ban cho điều mà chỉ có Chúa Giê-xu Christ mới có thể ban cho: sự sống (Ga 3:21), sự công bình (Ga 2:21), Thánh Linh (Ga 3:2) hoặc một di sản đời đời (Ga 3:18). Mọi phước hạnh này chỉ đến “nhờ Ân-điển (Sa-ra)… bởi đức tin (Áp-ra-ham)” (Êph 2:8-9).


Điều này dẫn đến một sự thật thứ tư: A-ga sinh ra một tôi tớ. Nếu bạn quyết định sống dưới Luật-pháp, vậy bạn trở nên con của A-ga, một tôi tớ, vì Luật-pháp sinh ra sự nô lệ chớ không phải sự tự do. Cuộc chiến đầu tiên về giáo lý mà Hội thánh phải chiến đấu là về chính vấn đề này, và nó được xác định rằng tội nhân được cứu hoàn toàn nhờ ân-điển, không kể đến việc giữ Luật-pháp của Môi-se (Công 15:1-32). Những người theo chủ nghĩa luật-pháp trong Hội thánh ngày nay đang biến những đứa con thành tôi tớ và thay thế sự tự do bằng sự nô lệ (Ga 4:1-11), nhưng Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta đến sự tự do! (Ga 5:1).


A-ga bị đuổi ra.

Không có sự thỏa hiệp. Nàng bị đuổi ra hoàn toàn và mãi mãi, đem theo Ích-ma-ên. Thay vì đè nén xác thịt, Luật-pháp khuấy động xác thịt (Rô 7:7-12) vì “sức mạnh của tội lỗi là Luật-pháp” (ICôr 15:56). Tín-hữu không cần phải đặt chính mình dưới loại luật-pháp tôn giáo nào đó để trở nên giống Đấng Christ, vì họ đã trọn vẹn và đầy đủ trong Đấng Christ (Côl 2:8-23) và có Thánh Linh giúp họ chiến thắng tội lỗi (Rô 8:1-4).


Cuối cùng, A-ga không bao giờ kết hôn lần nữa. Đức Chúa Trời đã ban Luật-pháp Ngài chỉ cho dân tộc Do-thái và không bao giờ ban nó cho dân ngoại hoặc cho Hội thánh. Chín trong số mười điều răn được trích dẫn trong các thư tín làm sự ứng dụng cho các tín-hữu ngày nay, và chúng ta phải vâng theo; Nhưng chúng ta không buộc phải vâng theo các luật nghi lễ đã được ban ra chỉ cho Y-sơ-ra-ên (Rô 13:8-10).

Phao-lô khẳng định rằng chính tình yêu làm trọn Luật-pháp. Khi chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời và yêu mến lẫn nhau, chúng ta muốn vâng lời Đức Chúa Trời, và trong quyền năng Thánh Linh, chúng ta làm điều đúng đắn.


Trước khi rời phân đoạn này, chúng ta nên chú ý rằng có một “sự sử dụng Luật-pháp một cách hợp pháp” (ITim 1:1-11). Mặc dù luật-pháp không thể cứu chúng ta hoặc thánh hóa chúng ta, nó thật sự bày tỏ sự thánh khiết của Đưc Chúa Trời và sự kinh khiếp của tội lỗi. Phần nghi thức của luật-pháp minh họa con người và công việc của Chúa Giê-xu Christ.

Luật-pháp là một chiếc gương giúp chúng ta nhìn thấy tội lỗi mình (Gia 1:21-25), nhưng bạn đừng rửa mặt mình trong gương! Luật-pháp cũng là một chiếc guơng bày tỏ vinh hiển của Chúa Giê-xu Christ; Và khi chúng ta suy gẫm về Ngài, chúng ta có thể được biến đổi để trở nên giống Ngài hơn (IICôr 3:18). Bất cứ hệ thống tôn giáo nào dẫn bạn vào sự nô lệ đều không ca ngợi Phúc-Âm trong Tân-ước của ân-điển Đức Chúa Trời (IICôr 3:17; Gi 8:31-36).


4. Đức Chúa Trời và A-ga: lời hứa và sự lo liệu (Sa 21:12-21)

Thật “đau lòng” (Sa 21:11-12) để Áp-ra-ham nói lời từ biệt với con trai ông, nhưng đây là mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, và ông phải vâng theo. Ông không nhận ra rằng sự vâng lời của ông là sự chuẩn bị cho một cuộc thử nghiệm thậm chí lớn hơn khi ông sẽ phải đặt Y-sác trên bàn thờ. Từ được dịch là “buồn lòng” nghĩa là “rung động mạnh mẽ”, giống như những bức màn bay trong gió. Áp-ra-ham xúc động sâu sắc và có thể có một chút phật ý về sự thay đổi những sự kiện này.


Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không từ bỏ A-ga và Ích-ma-ên, vì Ích-ma-ên là con trai của Áp-ra-ham, bạn Đức Chúa Trời (Sa 21:13). Nếu Ích-ma-ên và A-ga có bất cứ ác cảm nào đối với Áp-ra-ham, họ chắc chắn sai lầm. Mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ là vì cớ sự thành tín của Ngài đối với Áp-ra-ham. Chúa tái khẳng định lời hứa của Ngài rằng Ích-ma-ên sẽ trở thành một dân tộc lớn (Sa 21:13, 18; Sa 17:20), và Ngài đã giữ lời hứa của Ngài (Sa 25:12-16). Thế giới Ả-rập là một thế lực, đáng kể ngày nay, và tất cả khởi đầu với Ích-ma-ên.


Mặc dù cho những bức tranh trong một số báo của trường chúa nhật và các sách truyện Kinh Thánh, Ích-ma-ên là một thiếu niên chớ không phải một đứa trẻ khi sự kiện này xảy ra. Từ được dịch là “đứa trẻ” có thể chỉ về một thai nhi (Xu 21:22), trẻ sơ sinh (Xu 1:17-18), con trẻ (IVua 17:21-23), hoặc thậm chí thanh niên (Xu 12:8-14; Da 1:4). Trong trường hợp này, nó chỉ về một cậu con trai ít nhất 15 tuổi.


Ích-ma-ên và A-ga đã đi lạc trong đồng vắng, nước của họ đã cạn, và họ rơi vào sự tuyệt vọng, kinh nghiệm này hoàn toàn khác với lần đầu tiên A-ga gặp Đức Chúa Trời trong đồng vắng (Sa 16:7). Mười sáu năm trước đó, nàng đã tìm thấy một suối nước, nhưng giờ đây nằng chẳng thấy hy vọng gì cả.

Rõ ràng A-ga đã quên những lời hứa Đức Chúa Trời đã lập có liên quan đến con trai nàng. Nhưng Ích-ma-ên chắc đã nhớ những lời hứa đó, vì cậu kêu cầu Chúa để được giúp đỡ. Đức Chúa Trời nghe tiếng kêu khóc của cậu bé và giải cứu họ vì cớ Áp-ra-ham.


Rất thường trong những thử thách của đời sống, chúng ta không nhìn thấy những sự chu cấp thiên thượng do Đức Chúa Trời thực hiện cho chúng ta, và chúng ta quên những lời hứa Ngài đã lập với chúng ta. Chúng ta mở tay ra để nhận điều chúng ta nghĩ mình cần thay vì xin Ngài mở mắt chúng ta để thấy điều chúng ta có. Câu trả lời cho hầu hết những vấn đề ở rất gần, nếu chúng ta có mắt để nhìn (Gi 6:1-13; Gi 21:1-6).


A-ga chắc chắc là một bức tranh về nhiều người túng thiếu trên thế giới ngày nay: lang thang, mệt mỏi, đói khát, mù lòa và rơi vào tuyệt vọng. Chúng ta cần phải nói cho họ biết tin mừng rằng nước sự sống đã có sẵn và giếng nước không ở xa! (Gi 4:10-14; Gi 7:37-39). Đức Chúa Trời nhân từ và rời rộng với tất cả những ai kêu cầu Ngài, vì cớ Con yêu dấu của Ngài, Chúa Giê-xu Christ.


Horatius Bonar đã viết những lời sau đây:

Tôi nghe tiếng Chúa Giê-xu phán:

“Hãy nhìn xem, Ta ban nước Hằng Sống tự do,

Hỡi những kẻ khát,

Hãy cúi xuống, uống và được sống

Tôi đến với Chúa Giê-xu, và uống

Dòng nước ban sự sống đó;

Cơn khát của tôi đã hết, linh hồn tôi sống lại

Và giờ đây tôi sống trong Ngài.”

“Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống” (Gi 7:37).

“Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không” (Kh 22:17).

-22-34; xem giải nghĩa Sa 20:1-18.





21. CUỘC THỬ NGHIỆM LỚN HƠN HẾT (Sa 22:1-24)


Lời trên đồng hồ của một nhà thờ lớn ghi rằng:

“Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười và khóc,

Thời gian bò đi.

Khi là một thanh niên, tôi mơ và nói,

Thời gian bước đi,

Khi tôi trở thành một người đàn ông đủ trưởng thành,

Thời gian chạy đi.

Và sau đó, khi tôi trở nên già hơn,

Thời gian bay đi.

Chẳng bao lâu, tôi sẽ thấy trong lúc tiếp tục đi,

Thời gian đã mất.”


Vào tuổi 75, Áp-ra-ham đã ghi tên vào “Trường Đức tin”. Giờ đây ông đã trên 100 tuổi, nhưng vẫn có những từng trải làm căng thẳng linh hồn. Chúng ta không bao giờ quá già để đối diện với những thử thách, đánh những cuộc chiến mới và học những chân lý mới. Khi chúng ta thôi học, chúng ta thôi tăng trưởng, và khi chúng ta thôi tăng trưởng, chúng ta ngừng sống.


Arthur Schopenhauer đã viết: “bốn mươi năm đầu của đời sống cho chúng ta bản văn, và ba mươi năm kế tiếp cung cấp phần giải nghĩa”. Đối với tín-hữu Cơ-đốc, bản văn là Ha 2:4 “Người công bình thì sống bởi đức tin mình”.

Bài bình luận” đang được viết ra khi chúng ta lắng nghe Đức Chúa Trời và vâng theo những chỉ dẫn của Ngài từng ngày từng giờ. Đáng buồn mà nói, một số người không hiểu cả bản văn lẫn phần giải nghĩa và đời sống họ chấm dứt trước khi họ thật sự bắt đầu sống.


Sáng-thế ký 22 ghi lại cuộc thử nghiệm lớn nhất mà Áp-ra-ham từng đối diện. Thật vậy, nó cũng giới thiệu một bức tranh xinh đẹp về sự hy sinh của Chúa chúng ta tại đồi Gô-gô-tha. Nhưng bài học chính là đức tin vâng phục chiến thắng mọi thử thách của đời sống. Áp-ra-ham dạy chúng ta cách đối diện và giải quyết những cuộc thử nghiệm vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Hãy xem xét 5 chỉ dẫn đơn giản.


1. Hãy nghĩ đến những cuộc thử nghiệm từ Đức Chúa Trời (Sa 22:1-2)

Trong “Trường Đức Tin”, chúng ta phải có những cuộc thử nghiệm thường kỳ, nếu không, chúng ta sẽ không bao giờ biết mình ở đâu về mặt thuộc linh. Áp-ra-ham đã dự phần những cuộc thử nghiệm ngay từ đầu. Đầu tiên là “cuộc thử nghiệm gia đình” khi ông phải lìa những người thân yêu của mình và bước ra bằng đức tin để đi đến một xứ mới (Sa 11:27-12:5). Cuộc thử nghiệm này tiếp theo bởi “cuộc thử nghiệm về nạn đói” mà Áp-ra-ham đã thất bại vì ông nghi ngờ Đức Chúa Trời và đi xuống Ai-cập để có sự giúp đỡ (Sa 12:10-13:4).


Một khi trở về trong xứ, Áp-ra-ham đã vượt qua “cuộc thử nghiệm về mối thông công” khi ông cho Lót sự chọn lựa đầu tiên trong việc sử dụng đồng cỏ (Sa 13:5-18). Ông cũng vượt qua “cuộc thử nghiệm về chiến trận” khi ông đánh bại các vua (Sa 14:1-16) và “cuộc thử nghiệm về của cải” khi ông nói “không” với của cải Sô-đôm (Sa 14:17-24). Nhưng ông đã thất bại “cuộc thử nghiệm về việc làm cha” khi Sa-ra mất kiên nhẫn với Đức Chúa Trời và gợi ý để Áp-ra-ham có con bởi A-ga (Sa 16:1-14). Khi đến lúc cho Ích-ma-ên ra đi, Áp-ra-ham đã vượt qua “cuộc thử nghiệm chia tay” dù điều đó làm tan vỡ lòng ông (Sa 21:14-21).


Không phải mọi từng trải khó khăn trong đời sống nhất thiết là một cuộc thử nghiệm cá nhân từ Đức Chúa Trời. (Dĩ nhiên bất cứ từng trải nào cũng có thể trở nên một cuộc thử nghiệm hoặc một sự cám dỗ, tùy thuộc vào cách chúng ta đối phó với nó. (Gia 1:12-16). Đôi lúc sự bất tuân của chính chúng ta tạo nên sự đau đớn hoặc sự thất vọng, như khi Áp-ra-ham đi đến Ai-cập (Sa 12:10) và đến Ghê-ra (Sa 20:1-18).

Đôi khi, những tổn thương của chúng ta chỉ là một phần trong đời sống bình thường của con người. Khi chúng ta trở nên già hơn, bạn bè và những người thân yêu dời đi hoặc thậm chí chết, đời sống thay đổi quanh ta, và chúng ta phải trải qua những sự điều chỉnh đau lòng.


Hãy học cách phân biệt giữa những thử thách và cám dỗ.

Những sự cám dỗ đến từ những ham muốn bên trong chúng ta (Gia 1:12-16) trong khi những thử thách đến từ Chúa Đấng có một mục đích đặc biệt để thực hiện. Những sự cám dỗ do ma quỷ sử dụng để đem lại những điều tồi tệ nhất trong chúng ta, nhưng những thử thách do Đức Thánh Linh sử dụng để đem lại những điều tốt nhất trong chúng ta (Sa 1:1-6). Những sự cám dỗ có vẻ hợp lý trong khi những thử thách dường như rất vô lý. Vì sao Đức Chúa Trời ban cho Áp-ra-ham một con trai và sau đó bảo Áp-ra-ham giết nó?


Mọi tín-hữu đều đối diện với những cám dỗ tương tự để phạm tội (ICôr 10:13), nhưng không phải mọi tín-hữu đều kinh nghiệm những thử thách tương tự của đức tin. Những thử nghiệm của Đức Chúa Trời được đo đạc cho mỗi con cái Đức Chúa Trời, và mỗi từng trải là duy nhất. Đức Chúa Trời chưa bao giờ yêu cầu Lót đối diện với những thử nghiệm mà Áp-ra-ham đã đối diện. Vì sao? Lót đang bị cám dỗ bởi thế gian và xác thịt và chưa bao giờ đạt đến vị trí trưởng thành mà Áp-ra-ham đã đạt được.

Theo một ý nghĩa nào đó, đó là một lời khen khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một cuộc thử nghiệm. Nó cho thấy Đức Chúa Trời muốn “đề bạt chúng ta” trong “Trường Đức Tin”. Đức Chúa Trời không bao giờ ban một thử nghiệm cho đến khi nào Ngài biết chúng ta sẵn sàng cho cuộc thử nghiệm đó.


Bác sĩ tâm thần M. Scott Peck đã viết: “Đời sống khó khăn, một khi chúng ta thật sự biết rằng đời sống là khó khăn một khi chúng ta thật sự hiểu và chấp nhận nó vậy đời sống không còn khó khăn nữa” (The Road Less Traveled, Con đường ít được đi qua, tr.15). Đó là bài học đầu tiên chúng ta phải học: Hãy nghĩ đến những thử thách từ Đức Chúa Trời, vì đời sống Cơ-đốc không phải dễ dàng.


2. Hãy tập trung vào những lời hứa, không phải những lời giải thích (Sa 22:3-5)

Bà Guyon người Pháp thần bí đã viết: “Trong sự khởi đầu của đời sống thuộc linh, nhiệm vụ khó khăn nhất của chúng ta là chịu đựng người láng giềng của chúng ta. Trong tiến trình của nó, là chịu đựng chính chúng ta, và lúc kết thúc của nó, là chịu đựng Đức Chúa Trời”.

Đức tin của chúng ta không thật sự được thử nghiệm cho đến khi Đức Chúa Trời bảo chúng ta chịu đựng điều dường như không thể chịu đựng nổi, làm điều dường như vô lý, và trông chờ điều dường như không thể xảy ra. Khi bạn nhìn xem Giô-sép trong tù, Môi-se và Y-sơ-ra-ên tại Biển Đỏ, Đa-vít trong hang đá, hoặc Chúa Giê-xu nơi đồi Gô-gô-tha, bài học như nhau: chúng ta sống bởi những lời hứa, không phải bởi những lời giải thích.


Hãy xem xét yêu cầu của Đức Chúa Trời vô lý ra sao.

Y-sác là con một của Áp-ra-ham và tương lai của giao-ước tùy thuộc nơi ông. Y-sác là một đứa con của phép lạ, món quà của Đức Chúa Trời ban cho Áp-ra-ham và Sa-ra để đáp ứng đức tin của họ. Áp-ra-ham với Sa-ra rất yêu Y-sác và đã xây dựng toàn bộ tương lai quanh ông. Khi Đức Chúa Trời bảo Áp-ra-ham dâng con trai ông, Ngài thử nghiệm đức tin, hy vọng và tình yêu của Áp-ra-ham; và dường như Đức Chúa Trời đang xóa sạch mọi điều Áp-ra-ham và Sa-ra đã sống vì nó.


Khi Đức Chúa Trời giáng một thử thách cho chúng ta, đáp ứng đầu tiên của chúng ta thường là “Vì sao, thưa Chúa?” và sau đó “Tại sao là tôi?” Ngay tức khắc, chúng ta muốn Đức Chúa Trời cho chúng ta những lời giải thích.

Dĩ nhiên, chúng ta không biết rằng Đức Chúa Trời có những lý do để ban những cuộc thử nghiệm – có lẽ để tinh luyện đức tin chúng ta (IPhi 1:6-9) hoặc hoàn thiện tính cách chúng ta (Gia 1:1-4) hay thậm chí bảo vệ chúng ta khỏi tội lỗi (IICôr 12:7-10). Nhưng chúng ta không hiểu những điều này áp dụng cho chúng ta ra sao. Việc chúng ta yêu cầu Cha chúng ta những lời giải thích gợi ý rằng chúng ta không thể biết chính mình như phải biết hoặc biết Đức Chúa Trời như phải biết.


Áp-ra-ham nghe lời Đức Chúa Trời và lập tức vâng theo bằng đức tin. Ông biết rằng ý muốn Đức Chúa Trời không bao giờ mâu thuẫn với lời hứa của Đức Chúa Trời, nên ông nắm giữ lời hứa “Dòng dõi ngươi sẽ được lưu danh do nơi Y-sác” (Sa 21:12). Áp-ra-ham tin rằng dù Đức Chúa Trời cho phép ông giết con trai ông, Ngài có thể khiến Y-sác sống lại từ cõi chết (Hêb 11:17-19). Đức tin không đòi hỏi những lời giải thích; Đức tin dựa trên những lời hứa.


Áp-ra-ham bảo hai đầy tớ, “Ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia đặng thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai ngươi” (Sa 22:5). Vì ông tin Đức Chúa Trời, Áp-ra-ham không chú ý đến việc đem về một xác chết! Điều đó cho thấy Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài khi ông không biết ở đâu (Hêb 11:8), khi ông không biết khi nào (Hêb 11:9-10), khi ông không biết ra sao (Hêb 11:11-12) và khi ông không biết tại sao (Hêb 11:17-19).


3. Hãy tin cậy nơi sự định liệu của Đức Chúa Trời (Sa 22:6-14)

Hai nhận định bày tỏ sự nhấn mạnh của phân đoạn này “Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu” (Sa 22:8), và “Giê-hô-va Di-rê” (Sa 22:14), nghĩa là “Đức Giê-hô-va sẽ bảo đảm điều đó”, tức là “Đức Giê-hô-va sẽ chu cấp”. Khi leo lên núi Mô-ri-a cùng con trai mình, Áp-ra-ham tin quyết rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp ứng mọi nhu cầu.


Áp-ra-ham có thể tin cậy nơi điều gì? Ông chắc chắn không thể cậy nơi những cảm xúc của mình, vì chắc hẳn có sự đau đớn khủng khiếp bên trong khi ông dự định giết con mình trên bàn thờ. Ông yêu con ông, nhưng ông cũng yêu Đức Chúa Trời của ông và muốn vâng lời Ngài.


Áp-ra-ham cũng không hề cậy nơi người khác. Sa-ra đang ở nhà, và hai đầy tớ cùng đi với ông đã trở về trại. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời về những bạn bè và người trong gia đình có thể giúp chúng ta mang những gánh nặng của chúng ta, nhưng có một số thử thách trong đời sống mà chúng ta phải đối diện một mình. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể thấy điều Cha chúng ta thật sự có thể làm cho chúng ta!


Áp-ra-ham có thể tin cậy nơi lời hứa và sự định liệu của Chúa. Ông đã kinh nghiệm quyền năng phục sinh của Đức Chúa Trời qua chính thân thể ông (Rô 4:19-21), vì vậy ông biết rằng Đức Chúa Trời có thể khiến Y-sác sống lại từ cõi chết nếu đó là kế hoạch của Ngài. Rõ ràng không có sự sống lại nào đã xảy ra trước thời gian đó, vì vậy, Áp-ra-ham đang thực hành đức tin lớn nơi Đức Chúa Trời.


Theo Êph 1:19-20 và Êph 3:20-21 tín-hữu ngày nay có quyền năng phục sinh của Đấng Christ sẵn có trong thân thể của chính họ khi họ đầu phục Phúc-Âm của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể biết “quyền phép sự sống lại của Ngài” (Phi 3:10) khi chúng ta đối diện với những đòi hỏi và thử thách hằng ngày của đời sống. Khi hoàn cảnh có vẻ vô vọng, hãy tự hỏi: “Có gì quá khó đối với Chúa chăng?” (Sa 18:19) và nhắc nhở chính mình: “Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng Christ ban sức cho tôi” (Phi 4:13 NKJV).


Đức Chúa Trời thật đã định liệu của lễ cần thiết, và một con chiên đực thay thế Y-sác trên bàn thờ (Sa 22:13). Áp-ra-ham khám phá một danh mới cho Đức Chúa Trời. “Giê-hô-va Di-rê” có thể được dịch “Đức Giê-hô-va sẽ bảo đảm điều đó”. Nhận định “Nó sẽ được nhìn thấy trên núi của Đức Giê-hô-va” giúp chúng ta hiểu một số chân lý về sự định liệu của Chúa.


Chúa chu cấp cho những nhu cầu của chúng ta ở đâu? Ở nơi hoạch định của Ngài. Áp-ra-ham đang ở chỗ đúng, nên Đức Chúa Trời có thể đáp ứng những nhu cầu của ông. Chúng ta không có quyền trông chờ sự chu cấp của Đức Chúa Trời nếu chúng ta không ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời.


Khi nào Đức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu của chúng ta? Chỉ khi chúng ta có nhu cầu chớ không phải một phút trước đó. Khi bạn đem những thỉnh cầu của mình đến ngôi ơn phước, Đức Chúa Trời đáp lời bằng sự thương xót và ân-điển “trong giờ có cần” (Hêb 4:6). Đôi khi, dường như Đức Chúa Trời chờ cho đến phút cuối cùng để ban sự giúp đỡ, nhưng điều đó chỉ đến từ quan điểm con người. Đức Chúa Trời không bao giờ chậm trễ.


Đức Chúa Trời chu cấp cho chúng ta thế nào? Trong những cách thường là hoàn toàn tự nhiên. Đức Chúa Trời không sai đến một Thiên-sứ với một của lễ. Ngài chỉ cho phép một con chiên đực vướng trong một bụi cây vào lúc Áp-ra-ham cần có và ở một nơi Áp-ra-ham có thể đặt tay trên nó. Tất cả những gì Áp-ra-ham cần là một con vật, vì vậy Đức Chúa Trời không ban một bầy chiên.


Đức Chúa Trời ban sự chu cấp của Ngài cho ai? Cho những ai tin cậy Ngài và vâng theo những chỉ dạy của Ngài. Khi chúng ta làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, chúng ta có quyền trông chờ sự chu cấp của Đức Chúa Trời. Một chấp sự trong Hội thánh đầu tiên nơi tôi làm mục sư, thường nhắc nhở chúng tôi: “khi công việc của Đức Chúa Trời được thực hiện theo cách của Đức Chúa Trời, nó sẽ không thiếu sự ủng hộ của Đức Chúa Trời”. Đức Chúa Trời không buộc phải chúc phước cho những ý tưởng hoặc dự án của tôi, nhưng Ngài buộc phải hổ trợ công việc của Ngài nếu nó được thực hiện theo cách của Ngài.


Tại sao Đức Chúa Trời chu cấp cho mọi nhu cầu của chúng ta? Vì vinh hiển vĩ đại của danh Ngài! “Danh Cha được tôn thánh!” là lời cầu xin đầu tiên trong Bài cầu nguyện của Chúa (Mat 6:9-13), và nó điều khiển mọi lời cầu xin khác. Đức Chúa Trời được vinh hiển trên núi Mô-ri-a vì Áp-ra-ham với Y-sác đã làm theo ý muốn của Chúa và làm vinh hiển Chúa Giê-xu Christ. Chúng ta phải dừng lại để xem xét chân lý quan trọng này.


4. Hãy tìm cách làm vinh hiển Đấng Christ (Sa 22:6-14)

Trong giờ thử nghiệm, thật dễ để chỉ nghĩ về những nhu cầu và gánh nặng của mình; Ngược lại, chúng ta phải tập trung vào việc qui vinh hiển cho Chúa Giê-xu Christ. Chúng ta thường hỏi: “Làm sao tôi có thể thoát ra khỏi điều này?” thay vì “Tôi có thể rút ra gì từ điều này để sẽ tôn cao Chúa?” Đôi lúc chúng ta lãng phí những hoạn nạn của mình bằng cách xao lãng hoặc phớt lờ những cơ hội bày tỏ Chúa Giê-xu Christ cho những người khác đang theo dõi chúng ta vượt qua lò lửa.


Nếu từng có hai người chịu khổ bày tỏ Chúa Giê-xu Christ, thì đó là Áp-ra-ham và Y-sác trên núi Mô-ri-a, kinh nghiệm của họ là một bức tranh về Cha, Con và thập tự giá, và là một trong những điển hình đẹp đẽ nhất về Đấng Christ được tìm thấy bất cứ nơi đâu trong Cựu-ước. Chúa Giê-xu đã phán với dân Do-thái: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta, người đã thấy rồi và mừng rỡ” (Gi 8:56).

Qua sự ra đời kỳ diệu của Y-sác, Áp-ra-ham đã thấy ngày ra đời của Đấng Christ, và qua hôn lễ của Y-sác (Sa 24:1-67), ông nhìn thấy ngày ngự đến của Đấng Christ vì có vợ mới của Ngài. Nhưng trên núi Mô-ri-a, khi Y-sác sẵn sàng dâng mình trên bàn thờ, Áp-ra-ham nhìn thấy ngày chết và phục sinh của Đấng Christ. Có nhiều chân lý về sự chuộc tội được nhìn thấy qua sự kiện này.


Cha và Con cùng hành động.

Nhóm từ cảm động “Cả hai cha con đồng đi” được tìm thấy hai lần trong câu chuyện (Sa 22:6, 8). Qua sự làm chứng về Phúc-Âm của chúng ta, chúng ta thường nhấn mạnh tình yêu của Cha đối với tội nhân hư mất (Gi 3:16) và tình yêu của Con đối với những kẻ Ngài chết thay cho (IGi 3:16), nhưng chúng ta không để ý rằng Cha và Con yêu nhau. Chúa Giê-xu là “Con yêu dấu” của Cha (Mat 3:17) và Con đã nói: “Nhưng thế gian có thể biết rằng ta yêu mến Cha” (Gi 14:31). Áp-ra-ham đã không giữ lại con ông (Sa 22:16) và Cha đã không tiếc Con Ngài nhưng “vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho” (Rô 8:32).


Con phải chịu chết.

Áp-ra-ham mang theo một con dao và một cây đuốc, cả hai là dụng cụ của sự chết. Con dao sẽ kết thúc sự sống thuộc thể của Y-sác, và lửa sẽ đốt củi trên bàn thờ nơi thân thể ông nằm đó. Trong trường hợp của Y-sác, một vật thay thế đã chết thay ông; nhưng không ai có thể thay thế Chúa Giê-xu trên thập tự giá.

Ngài là sinh tế duy nhất cuối cùng và trọn vẹn có thể cất tội lỗi của thế gian. Đức Chúa Trời đã chu cấp một con chiên đực, nhưng Y-sác đã hỏi về một chiên con. Câu trả lời cho câu hỏi: “Chiên con ở đâu?” được Giăng Báp-tít đưa ra: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Gi 1:29).


Trong Kinh Thánh, lửa thường tượng trưng cho sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (Phuc 4:24; Phuc 9:3; Hêb 12:29). Thập tự giá là công cụ của sự chết, nhưng tại đồi Gô-gô-tha, Chúa Giê-xu đã trải qua nhiều hơn cả sự chết. Ngài đã trải qua sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của thế gian. Y-sác không cảm nhận dao hoặc lửa, nhưng Chúa Giê-xu cảm nhận cả hai. Người cha yêu thương của Y-sác có mặt ngay ở đó, nhưng Chúa Giê-xu đã bị Cha Ngài từ bỏ khi Ngài trở nên tội lỗi vì chúng ta, (Mat 27:45-46; IICôr 5:21). Thật là tình yêu tuyệt diệu!


Con đã mang gánh của tội lỗi.

Thật thú vị rằng củi được đề cập 5 lần trong câu chuyện và Y-sác đã không bắt đầu mang củi cho đến khi ông đến núi Mô-ri-a. Củi không phải là một bức tranh về thập tự giá, vì Chúa Giê-xu đã không mang thập tự giá Ngài suốt đường đến Gô-gô-tha. Củi dường như mô tả gánh nặng của tội lỗi mà Chúa Giê-xu đã mang thay chúng ta (IPhi 2:24). Áp-ra-ham lấy củi và “để củi trên Y-sác con ông” (Sa 22:6), và “Đức Giê-hô-va đã chất trên Ngài (Chúa Giê-xu) tội lỗi của hết thảy chúng ta” (Ês 53:6). Lửa đốt củi như một bức tranh về sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi.


Con được khiến sống lại từ cõi chết.

Y-sác đã không thực sự chết, nhưng “theo nghĩa bóng” (Hêb 11:19 NKJV) ông đã chết và được khiến sống lại từ cõi chết. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã thật sự chết, bị chôn, và được sống lại cách khải hoàn.

Thật thú vị rằng Áp-ra-ham đã trở về với hai đầy tớ (Sa 22:19), nhưng không điều gì được nói về Y-sác.

Thật ra, Y-sác không được đề cập cho đến khi ông được nhìn thấy gặp cô dâu của ông (Sa 24:62). Mặc dù rõ ràng là Y-sác đã không trở về nhà với cha ông, kiểu mẫu Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta rằng biến cố kế tiếp theo lịch của Đức Chúa Trời là sự tái lâm của Chúa Giê-xu Christ để đón rước vợ mới của Ngài, là Hội thánh.




HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page