...hết, Áp-ra-ham đi từ sự tin cậy đến việc vạch kế hoạch. Áp-ra-ham không có bàn thờ ở Ê-díp-tô, và bạn không thấy ông kêu cầu Chúa để được sự hướng dẫn và giúp đỡ. Khi tôi thi hành chức vụ trong nhóm “Youth for Christ International” (Nhóm Quốc Tế tuổi trẻ cho Đấng Christ), bạn tôi và người cộng sự Pete Quist thường nhắc nhở chúng tôi: “Đức tin là sống mà không lập kế hoạch”.
Khi bạn thôi tin cậy Lời Đức Chúa Trời, bạn bắt đầu cậy vào sự khôn ngoan của loài người, và điều này dẫn đến rắc rối (Ch 3:5-6; ICôr 3:18-20). Áp-ra-ham và Sa-ra đã đem “lẽ thật nửa vời” này theo họ từ U-rơ (Sa 20:13 sử dụng nó ở Ê-díp-tô và Ghê-ra (Sa 20:1-18), và sau đó con trai ông là Y-sác đã áp dụng đi ều đó (Sa 26:1-35). Khi bạn thấy mình lập kế hoạch để thoát khỏi những vấn đề với con người, hãy coi chừng, rắc rối tệ hại hơn sẽ đến!
Ông cũng đi từ sự tin quyết đến sự sợ hãi. Khi bạn ở nơi Đức Chúa Trời chọn, bạn chẳng cần phải sợ hãi, vì đức tin và sự sợ hãi không thể ở trong cùng một tấm lòng (Ês 12:2; Mac 4:40). Sự kính sợ Đức Chúa Trời là sự kính sợ chiến thắng mọi sự sợ hãi (Thi 112:1-10; Ês 8:13), nhưng “sự sợ loài người đem đến một cái bẫy” (Ch 29:25 NKJV). Đức Chúa Trời đã nhiều lần phán: “Ta sẽ” với Áp-ra-ham, nhưng giờ đây Áp-ra-ham nói “họ sẽ” (Sa 12:12). Ông để mắt mình rời khỏi Đức Chúa Trời và nhìn vào con người.
Một thay đổi thứ ba đã xảy ra. Ông dần dần chỉ nghĩ đến mình mà thôi. Ông đã nói dối để điều đó có thể “may mắn cho ta vì cớ ngươi Sa-ra” (Sa 12:13). Là chồng, Áp-ra-ham lẽ ra phải nghĩ đến vợ ông trước tiên chớ không phải bản thân ông (IPhi 3:7; Êph 5:25,28,29). Thật ra, ông không nên đem vợ đến đó trước! Một người chồng ngoài ý muốn Đức Chúa Trời có thể đem đến rắc rối không kể xiết cho vợ và gia đình người ấy.
Điều này dẫn đến một thay đổi thứ tư: Ông đi từ chỗ đem đến phước hạnh đến chỗ đem đến sự xét đoán. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Áp-ra-ham để làm một phước hạnh cho các dân tộc (Sa 12:1-3), nhưng bởi sự bất tuân của Áp-ra-ham, sự xét đoán đã giáng trên Pha-ra-ôn và người nhà ông (Sa 12:17). Điều này cũng xảy ra những năm sau đó ở Ghê-ra (Sa 20:1-18). Nếu bạn muốn đem phước hạnh cho người khác, vậy hãy ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời.
Giô-na đã chạy trốn khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời và gây nên một cơn bão gần như làm chìm con tàu. Giống như Giô-na, Áp-ra-ham đã đánh mất chứng cớ trước những người không tin và đã phải đối diện với sự lúng túng và sự quở trách.
Đức Chúa Trời nhân từ dõi theo tôi tớ Ngài và đem ông ra khỏi một hoàn cảnh khó khăn. Nếu Sa-ra trở thành một trong những người vợ của Pha-ra-ôn, điều gì sẽ xảy đến cho lời hứa về Đấng Cứu Chuộc? Khi chúng ta không để Đức Chúa Trời cai trị, Ngài vẫn tể trị và thực hiện những mục đích của Ngài, nhưng chúng ta trả giá đắt cho sự bất tuân của mình.
Áp-ra-ham đã học bài học này, ăn năn, và “trở lên” khỏi Ai-cập (Sa 13:1). Khi bạn bất tuân ý muốn Đức Chúa Trời, việc đúng đắn duy nhất phải làm là trở lại nơi bạn đã lìa khỏi Ngài và tạo một khởi đầu mới (IGia 1:9). Không có thất bại nào còn mãi trong “trường đức tin”. Áp-ra-ham đã trở lại với trại của ông, bàn thờ và đời sống của một “người bộ hành và khách lạ”.
Một người tình cờ quan sát tình tiết này có thể kết luận: “Điều đã xảy đến cho Áp-ra-ham không hoàn toàn tệ hại. Pha-ra-ôn đã cho Áp-ra-ham nhiều của cải (Sa 12:16; Sa 13:2) và Sa-ra đã được ban cho đầy tớ gái, A-ga (Sa 16:1). Đức Chúa Trời đã tha thứ tội lỗi của Áp-ra-ham, và ông đã bắt đầu trở lại. Vậy, đâu là vấn đề lớn?”
“Vấn đề lớn” đó là mọi thứ Áp-ra-ham đã nhận được ở Ê-díp-tô sau đó đã gây ra rắc rối. Vì của cải lớn của họ, Áp-ra-ham và Lót đã không thể sống chung với nhau và phải phân rẽ (Sa 13:5-6). A-ga, đầy tớ gái người Ai-cập, đã đem sự chia rẽ và buồn rầu vào trong gia đình (Sa 16:1-16). Đã có một sự nếm trải về Ê-díp-tô (thế gian), Lót bắt đầu đo lường mọi sự bằng những gì ông nhìn thấy ở đó (Sa 13:10-11), và điều này dẫn đến sự sa ngã và sự sụp đổ của gia đình ông. Không có ích lợi gì từ sự bất tuân.
Bài học thực tiễn từ mọi điều này đơn giản là đừng bao giờ từ bỏ bàn thờ của bạn. Hằng ở trong mối giao thông với Chúa cho dù hoàn cảnh có thể ra sao. Nếu bạn bất tuân và Đức Chúa Trời kỷ luật bạn, hãy trở lại nơi bạn đã lìa khỏi Ngài và làm cho mọi sự trở nên đúng đắn. Hãy nhớ: “Đời sống Cơ-đốc đắc thắng là một chuỗi những khởi đầu mới”. Đó không phải là một sự biện hộ cho tội lỗi, nhưng đó là một sự khích lệ cho sự ăn năn.
-Sa 13:1-4 xem giải nghĩa Sa 12:10.
3. Sự việc (Sa 13:5-18)
Tôi không biết có bao nhiêu cuộc chiến gia đình đã xảy ra bởi sự tham tiền. Báo chí thường đăng tường thuật về những gia đình tranh chiến trước tòa vì việc gia tài hay một cuộc trúng vé số. Những người từng yêu nhau và vui sống với nhau bắt đầu tấn công nhau chỉ để có tiền, nhưng tiền bạc không thể mua những phước hạnh mà các gia đình hưởng một cách tự do.
Áp-ra-ham có thể đã thất bại hai thử nghiệm đầu tiên, nhưng ông đã vượt qua thử nghiệm thứ ba với thành công lớn. Thử nghiệm này không phải là một thử nghiệm dễ dàng, vì nó có liên quan đến đất đai và của cải; nhưng Áp-ra-ham là tấm gương về điều mà mỗi tín-hữu phải làm khi có những tranh chấp những thứ vật chất.
Áp-ra-ham ham đã quyết định làm một người hòa giải chớ không phải một người gây rối. Vấn đề giữa Áp-ra-ham và Lót không bị gây ra bởi đất đai, nạn đói hay của cải (cả hai người đều giàu có), hay thậm chí những người chăn súc vật của họ (Sa 13:7). Trung tâm của mọi vấn đề là vấn đề trong tấm lòng. Lòng của Lót hướng về của cải và thành công của thế gian, còn Áp-ra-ham chỉ muốn là đẹp lòng Chúa. “Hai người có thể đi cùng với nhau, nếu họ không đồng ý với nhau sao?” (Am 3:3).
Thật tệ hại khi sự tranh chấp này ở giữa vòng anh em (Sa 13:8), nhưng tệ hại hơn, những người ngoại đạo trong xứ đang theo dõi và lắng nghe (Sa 13:7). Khi các Cơ-đốc nhân có những tranh chấp, điều đó gây tai hại cho lời chứng về Chúa.
Trong chức vụ mục sư của tôi, tôi thường thăm viếng những bà con và bạn bè chưa được cứu của những thuộc viên Hội thánh, tìm cách khiến họ quan tâm về những điều thuộc linh, chỉ để khám phá rằng họ biết về mọi “tranh chấp trong Hội thánh” trong thành phố. Không có gì lạ khi Chúa chúng ta cầu nguyện để dân sự Ngài có thể hiệp một, hầu cho thế gian có thể tin (Gi 17:20-23).
Sự hiệp nhất Cơ-đốc tỏa hương thơm và có kết quả (Thi 133:1-3), nhưng sự không đoàn kết khiến cho hương thơm đó trở thành một mùi hôi thối và biến khu vườn thành một hoang mạc.
Gia 3:13-4:10 giải thích lý do Lót là một kẻ gây rối thay vì một người hòa giải: Ông có “sự rắc rối trong lòng.” Ông đi theo sự khôn ngoan của thế gian này (như Áp-ra-ham chú ông đã làm ở Ai-cập) chớ không phải sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Ông tranh chấp với Áp-ra-ham vì ông đã tranh chiến với bản thân, và ông tranh chiến với bản thân vì ông tranh chiến với Đức Chúa Trời. Sự khôn ngoan của thế gian và của cải (của) thế gian dường như đem lại sự thỏa mãn, nhưng cuối cùng chúng đem đến sự thất vọng.
• Sự tham lam – một khao khát vô độ để có nhiều hơn -dẫn đến mọi loại điều ác (ITim 6:10). Để có nhiều tiền hơn, con người sẽ nói dối (Ch 21:6) ngược đãi người khác (Ch 22:16), lừa đảo (Ch 28:8) và thậm chí gây ỷ phiền toái cho gia đình mình (Ch 15:27).
Robert South đã viết: “Sự tham lam là khởi đầu và kết thúc âm mưu của ma quỷ, thói xấu đầu tiên trong bản tính sa đọa hoạt động và thói xấu cuối cùng đi đến chỗ chết.”
Áp-ra-ham đã gây rắc rối ở Ai-cập vì ông ở không đúng chỗ, và Lót đã gây ra rắc rối ở Ca-na-an vì ông ở không đúng chỗ: Lòng ông thật sự ở Ai-cập (Sa 13:10). Theo ICôr 2:14-3:3 chỉ có 3 loại người trong thế gian: người tự nhiên (chưa được cứu), người xác thịt (được cứu nhưng sống cho thế gian: và xác thịt, và người thuộc linh dâng mình cho Đức Chúa Trời). Bạn tìm thấy cả 3 loại ngươi trong Sa 13:1-18: người tự nhiên (Sa 13:13) người xác thịt (Lót) và người thuộc linh (Áp-ra-ham).
• Lót là một người công bình (IIPhi 2:7-8), nhưng không dâng mình cho Chúa. Ông không thể cùng đi với Áp-ra-ham vì Áp-ra-ham là bạn của Đức Chúa Trời (IISu 20:7; Ês 41:8) và Lót là bạn của thế gian (Gia 4:4). Có nhiều sự chia rẽ trong Hội thánh và những tranh chấp trong gia đình được gây ra bởi những Cơ-đốc nhân xác thịt là những người không bước đi với Chúa hay với những tín-hữu khác.
• Áp-ra-ham đã sống vì người khác, chớ không vì bản thân.
Mặc dù ở Ai-cập, Áp-ra-ham đã nghĩ đến bản thân trước tiên (Sa 12:12-13), nhưng khi ông trở lại với bàn thờ của ông ở Ca-na-an, ông đặt Đức Chúa Trời lên trên và kế đến là những người khác. Với tư cách “nhà chính trị cao niên” của trại, Áp-ra-ham có mọi quyền để quyết định vấn đề và bảo Lót điều phải làm, nhưng ông cho Lót sự chọn lựa trước tiên “Hãy yêu nhau cách thân ái bằng tình yêu anh em, trong sự tôn trọng nhau” (Rô 12:10).
Cơ-đốc nhân thuộc linh không khăng khăng đòi những quyền lợi của riêng mình nhưng vui mừng nhường nhịn người khác. Trong những năm cuối của mình, tướng William Booth, người sáng lập “The Salvation Army” (tên một tổ chức từ thiện cứu tế quốc tế sáng lập 1865 ở Anh để giúp những người nghèo khó) đã quá yếu nên không thể tham dự hội nghị thế giới của Army, nhưng ông đã gởi đến những đại biểu một sứ-điệp. Một năm nọ ông đã gởi đến một bức điện chỉ có một chữ “Những người khác”.
Tôi đã được đặc quyền thi hành chức vụ với The Salvation Army ở những khu vực khác nhau trên thế giới, và tôi có thể xác nhận rằng họ xem từ “OTHERS” đó rất nghiêm túc. “Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa” (Phi 2:4).
• Áp-ra-ham đã sống bởi đức tin chớ không bởi ngoại cảnh.
Cho dù Lót đã làm gì, Áp-ra-ham không lo lắng về tương lai ông; vì ông biết rằng mọi sự ở trong tay Chúa. Áp-ra-ham chưa bao giờ đọc Thi 47:4 hay Mat 6:33 nhưng ông đặt cả hai vào sự thực hành bằng đức tin. Ông đã gặp Đức Chúa Trời tại bàn thờ và ông biết rằng mọi sự ở dưới quyền điều khiển. Khi Đức Chúa Trời là ưu tiên trong đời sống của bạn thì ai là người thứ nhì hay cuối cùng không tạo điều gì khác biệt.
Lót có một trại nhưng không có bàn thờ (Sa 13:5), nghĩa là ông đã không cầu khẩn Chúa để được khôn ngoan trong việc thực hiện nh ững quyết định (Gia 1:5). Thay vì ngước mắt lên trời, Lót ngước mắt về phía đồng bằng của Giô-đanh (Sa 13:10) và ngừng lại ở đó. Đôi mắt nhìn điều mà tấm lòng yêu thích.
Áp-ra-ham đã đưa Lót ra khỏi chân lý Ai-cập, nhưng ông không thể đem Ai-cập ra khỏi Lót. Quan điểm quyết định hậu quả. Mắt Áp-ra-ham đặt trên thành thánh của Đức Chúa Trời (Hêb 11:13-16), ông tiếp tục bước đi với Chúa và hưởng phước hạnh. Mắt Lót đặt trên những thành tội lỗi của loài người, và ông tiếp tục tiến đến sự thành công của thế gian, sự thất bại thuộc linh và một kết thúc nhục nhã.
Lót có một cơ hội lớn để trở thành người của Đức Chúa Trời khi ông đồng đi với Áp-ra-ham, nhưng chúng ta không đọc về việc Lót xây một bàn thờ hay cầu khẩn Chúa. Trước tiên Lót nhìn về Sô-đôm (Sa 13:10); Rồi ông đi đến Sô-đôm (Sa 13:11-12), và cuối cùng, ông đi vào Sô-đôm (Sa 14:12).
Thay vì làm một khách hành hương tiếp tục hành trình, Lót đi lùi vào trong thế gian và xa cách phước hạnh của Đức Chúa Trời (Thi 1:1). Ông đã “đi qua phía Đông” (Sa 13:11), quay lưng về phía Bê-tên (“nhà của Đức Chúa Trời”) và hướng về A-hi (“sự đổ nát”, xem Sa 12:8). Dân ở Sô-đôm có thể dường như không gian ác đối với Lót, nhưng họ gian ác đối với Đức Chúa Trời, và sự đánh giá của Ngài là tất cả những gì quan trọng.
• Áp-ra-ham để Đức Chúa Trời chọn lựa cho ông.
Sau khi Lót đã ra đi, Áp-ra-ham có cuộc gặp gỡ khác với Chúa (Sa 13:14-18). Lót đã ngước mắt lên và thấy những gì thế gian cho. Giờ đây, Đức Chúa Trời mời Áp-ra-ham ngước mắt lên và xem những gì Thiên Đàng ban cho. Lót chọn một phần xứ mà ông cuối cùng đánh mất, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham toàn xứ vẫn thuộc về ông và con cháu ông. Lót đã nói “Ta sẽ chọn”. Đức Chúa Trời đã phán với Áp-ra-ham: “Ta sẽ ban cho”. Thật là một tương phản!
Lót mất gia đình, nhưng Áp-ra-ham được hứa ban một gia đình đông đúc đến nỗi không thể đếm được. (Hãy nhớ, Áp-ra-ham và Sa-ra đã già và không có con). Lót đang sống cho những điều có thể xảy ra, nhưng Áp-ra-ham tin cậy Đức Chúa Trời cho những điều không thể xảy ra.
“Hãy nhướng mắt lên và nhìn xem” được tiếp theo bởi “Hãy nhấc chân và bước đi” (Sa 13:17). Hãy xác nhận di sản của bạn bằng đức tin! (Gios 1:1-3; Phuc 11:24). Kỷ luật mà ông đã kinh nghiệm khi đi xuống Ai-cập đã dạy Áp-ra-ham tôn trọng những ranh giới, vì vậy giờ đây Đức Chúa Trời có thể giao phó cho ông những chân trời rộng mở. Chính đức tin của bạn nơi Đức Chúa Trời quyết định mức độ phước hạnh của Ngài mà bạn sẽ hưởng.
Khi bạn tin Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa của mình, Đức Chúa Trời ban cho bạn “mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Đấng Christ” (Êph 1:3). Bạn giờ đây có di sản của mình! Tất cả những gì bạn cần làm là dành di sản đó bằng đức tin và lãnh “sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển” (Phi 4:19). Lời Đức Chúa Trời là “di chúc” cho bạn biết bạn giàu có ra sao, và đức tin là chìa khóa mở kho để bạn có thể xác nhận di sản của mình.
• Áp-ra-ham dâng lời tạ ơn Đức Chúa Trời.
Áp-ra-ham không chỉ nhướng mắt, nhìn xem (Sa 13:14), nhấc chân và bước đi (Sa 13:17), nhưng ông cũng dâng tấm lòng để thờ phượng Đức Chúa Trời và cảm tạ Ngài về ơn phước nhơn từ của Ngài. Ông đóng trại từ nơi này sang nơi khác theo như Đức Chúa Trời hướng dẫn ông, và ông đã xây bàn thờ chứng cớ và thờ phượng. Dân ở Sô-đôm kiêu ngạo về sự giàu có của họ (Êxe 16:49), nhưng Áp-ra-ham có của cải thuộc linh mà họ chẳng biết gì (Gi 4:31-34). Ông đang bước đi trong mối giao thông với Đức Chúa Trời, và lòng ông được thỏa mãn.
Sa-tan muốn sử dụng hoàn cảnh, con người và sự việc để cám dỗ bạn và đem đến điều tệ hại nhất trong bạn, nhưng Đức Chúa Trời cũng muốn sử dụng những điều đó để thử nghiệm bạn và đem đến điều tốt nhất trong bạn. Áp-ra-ham đã thất bại hai cuộc thử nghiệm đầu tiên vì ông sử dụng đức tin nơi sự khôn ngoan của loài người thay vì đức tin nơi Lời Đức Chúa Trời. Nhưng ông đã vượt qua cuộc thử nghiệm thứ 3 với nét đặc biệt lớn vì ông để Đức Chúa Trời nắm quyền điều khiển. “Và đây là chiến thắng vượt trên thế gian: đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).
14. ĐỨC TIN LÀ SỰ CHIẾN THẮNG (Sa 14:1-24)
Khi bạn ghi tên trong “trường đức tin”, bạn không bao giờ biết điều gì xảy ra kế tiếp. Một ngày nào đó hãy thăm viếng Áp-ra-ham và bạn thấy ông giải quyết một cuộc tranh chấp về ranh giới. Hãy thăm viếng ông một ngày khác và bạn thấy ông chuẩn bị cho một cuộc chiến. Điều này tại sao như vậy?
Trước tiên, Đức Chúa Trời muốn chúng ta trư ởng thành trong mọi lãnh vực của đời sống nhưng sự trưởng thành không đến dễ dàng, không thể có sự tăng trưởng mà không có thử thách, và không thể có thử thách mà không có sự thay đổi. Nếu hoàn cảnh không bao giờ thay đổi, mọi sự sẽ có thể tiên đoán được; và đời sống càng trở nên có thể đoán trước được, nó càng bày tỏ ít thử thách.
William Culles Bryant đã viết:
“Đừng khóc khi thế giới thay đổi. Nếu nó cứ giữ một tình trạng bền vững không đổi, thì thật sự có nguyên nhân để khóc.”
Khi bạn bước đi trong sự sáng (IGi 1:5-10) bạn có thể thấy điều gì đang xảy ra, và bạn kinh nghiệm sự đa dạng trong đời sống mình. Nhưng trong sự tối tăm, mọi sự có vẻ giống nhau. Không có gì lạ khi những người chưa được cứu (và những tín-hữu sa ngã) quá chán nản và phải luôn tìm lối thoát! Đời sống đức tin bày tỏ những thử thách giữ cho bạn tiếp tục đi và giữ bạn tiếp tục tăng trưởng!
Trong chương này, Áp-ra-ham người có đức tin, thực hiện 3 vai trò đặc biệt: người quan sát (Sa 14:1-12), người đánh trận (c.13-16) và người thờ phượng (c.17-24). Trong cả 3 vai trò Áp-ra-ham đã thực hành đức tin nơi Đức Chúa Trời và thực hiện những quyết định đúng đắn.
1. Áp-ra-ham người quan sát (Sa 14:1-12)
Phân đoạn này ghi lại trận chiến đầu tiên được đề cập trong Kinh Thánh, và nó sẽ không được kể đến ở đây nếu nó không có liên quan đến Áp-ra-ham.
Kinh Thánh ghi lại khá nhiều về lịch sử; nhưng như Tiến sĩ A. T. Pierson đã nói “Lịch sử là câu chuyện của Ngài.” Những gì được viết ra giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách Đức Chúa Trời thực hiện kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Ngài trong thế gian này. Trong Kinh Thánh, những sự kiện lịch sử thường là những cửa sổ cho chân lý thuộc linh.
-5 thành ở đồng bằng Giô-đanh (Sa 14:2; Sa 13:10) đã chịu lệ thuộc các vua của 4 thành phía đông 12 năm (Sa 14:1) và cuối cùng nổi dậy chống lại họ. Dĩ nhiên đây là một sự tuyên chiến; vì vậy 4 vua đã xâm lược đồng bằng Giô-đanh để đem 5 vua vào trong sự lệ thuộc. Theo quan điểm ngày nay của chúng ta, sự xâm lược là một cuộc chạm trán nhỏ, nhưng vào thời đó, nó được xem là một cuộc xung đột quốc tế lớn.
Chắc chắn 5 vua phải có thể đánh bại 4 vua, đặc biệt khi đang chiến đấu “trên đất của họ”. Nhưng quân đội của các thành đồng bằng đã bị các vua xâm lược đánh bại hoàn toàn! Rõ ràng 5 vua thậm chí không biết xứ của mình vì họ đã bị mắc bẫy trong hố bùn (Sa 14:10). Tất cả những gì quân đội họ có thể làm là chạy trốn ở những ngọn đồi.
Khi nhìn lại những đội quân của mình, công tước Wellingor được cho rằng đã nói: “Tôi không biết những người này sẽ có ảnh hưởng gì trên kẻ thù, nhưng họ làm tôi sợ!” Êxe 16:49-50 gợi ý rằng lối sống của dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ không chuẩn bị cho họ về cuộc xung đột (so sánh Êxe 16:49-50; IGi 2:15-17).
Bất cứ mục đích nào các vua có thể có trong cuộc chiến này, Đức Chúa Trời đã nghĩ đến điều gì đó đặc biệt cho Lót: ông đã trở thành một tù binh chiến tranh. Lót đã nhìn xem Sô-đôm và đi đến Sô-đôm (Sa 13:10-13) và giờ đây ông đang sống trong Sô-đôm (Sa 14:12; Thi 1:1). Bạn không thể đoán điều đó từ hạnh kiểm của ông, nhưng Lót là một người công bình (IIPhi 2:6-8). Ông đã thất bại ở đâu?
Trong khi ở Ai-cập với Áp-ra-ham, Lót đã có một nếm trải về thế gian và hưởng thụ nó. Kinh Thánh không ghi rằng Lót từng xây một bàn thờ và tìm kiếm Chúa, như Áp-ra-ham chú ông đã làm. Áp-ra-ham là bạn của Đức Chúa Trời (Gia 2:3), nhưng Lót là bạn của thế gian (Sa 4:4). Đồng thời, Lót sống theo thế gian (Rô 12:2), và khi Sô-đôm thua trận, Lót bị kết án cùng với thế gian (ICôr 11:32). Nếu bạn đồng hóa với thế gian, vậy hãy nghĩ đến việc chịu khổ điều mà thế gian chịu khổ.
Việc Lót bị bắt là cách Đức Chúa Trời kỷ luật ông và nhắc ông nhớ rằng ông không có việc gì để sống trong Sô-đ ôm. Chắc chắn Áp-ra-ham đang trung tín cầu nguyện cho cháu ông để cháu ông có thể biệt riêng mình khỏi thế gian và bắt đầu sống như một “khách lạ và người bộ hành” thật sự. Đức Chúa Trời kỷ luật con cái Ngài vì Ngài yêu họ và muốn điều tốt nhất cho họ (Ch 3:11-12; Hêb 12:1-11). Nếu chúng ta không lắng nghe những lời quở trách của Ngài, vậy Ngài phải gợi sự chú ý của chúng ta cách nào đó, và cách đó thường rất đau đớn.
2. Áp-ra-ham người đánh trận (Sa 14:13-16)
Thái độ của ông Áp-ra-ham không tham dự trong cuộc chiến cho đến khi ông nghe rằng Lót đã bị bắt, và sau đó ông bắt đầu hành động. Áp-ra-ham được biệt riêng, nhưng không cô lập; ông độc lập, nhưng không hờ hững. Thật ra, ông và một số trưởng tộc địa phương đã lập một liên minh chỉ cho những trường hợp khẩn cấp như thế (Sa 14:13).
Ông là “Áp-ra-ham, người Hê-bơ-rơ” (Sa 14:13), nghĩa là “người ngoại cuộc, người không có địa vị vững chắc trong xã hội”. Ông không phải là “Áp-ra-ham người cứng lòng”. Ông là một “người bộ hành và khách lạ ” trong xứ, nhưng đó không phải là cớ để không hành động.
Mặc dù tín-hữu không nên thỏa hiệp với những người chưa được cứu trong những vấn đề về cách ăn ở và chức vụ thuộc linh (IICôr 6:14-7:1), nhưng họ có thể hợp tác khi nói đến việc chăm sóc con người và “đẩy mạnh phúc lợi chung”, khi bạn thấy người khác ở trong sự rắc rối, bạn đừng yêu cầu họ một lời làm chứng trước khi giúp họ (Lu 10:25-37; Ga 6:10). Sự phục vụ đầy hy sinh là một cách bày tỏ tình yêu của Đấng Christ cho người khác (Mat 5:16).
Nếu các Cơ-đốc nhân không mang phần gánh nặng chung của đời sống, làm sao họ có thể là muối của đất và sự sáng của thế gian?
Ví dụ,
- Giô-sép đã hầu việc ở Ai-cập, và Đức Chúa Trời sử dụng ông để duy trì gia đình ông và dân tộc Do-thái.
- Nê-hê-mi đã hầu việc một vua ngoại đạo, nhưng Đức Chúa Trời sử dụng quyền hạn và những nguồn tài nguyên của vua ấy để giúp Nê-hê-mi có thể xây lại Giê-ru-sa-lem.
- Ê-xơ-tê là một người nữ Do-thái đã lấy một vua người ngoại, và Đức Chúa Trời sử dụng bà để bảo vệ dân Do-thái khỏi sự hủy diệt gần như chắc chắn.
- Đa-ni-ên ở Ba-by-lôn chưa bao giờ thỏa hiệp với những lời kết tội dành cho ông, nhưng ông đã giúp nhiều vua và được Đức Chúa Trời đại dụng. Chúng ta có thể hợp tác với những người khác nhau ở những lúc khác nhau để đạt những mục đích khác nhau, nhưng chúng ta phải luôn ý thức về bổn phận của mình để làm vinh hiển Đức Chúa Trời.
Áp-ra-ham đã đối xử với cháu của ông bằng tình yêu, cả khi ông cho Lót quyền lựa chọn đất đầu tiên (Sa 13:9) và khi ông liều mạng để cứu Lót. Lót đã không tử tế với Áp-ra-ham, và Áp-ra-ham có mọi cớ để cho cháu ông chịu những hậu quả đau đớn của những quyết định dại dột của mình. Nhưng Lót là “anh em” của ông (Sa 14:16), vì vậy Áp-ra-ham đã thực hành tình yêu anh em và thắng điều ác bằng điều thiện (Rô 12:17-21; Ga 6:1-2).
• Quân đội của ông.
Dù là người của sự hòa bình, Áp-ra-ham đã được chuẩn bị cho cuộc chiến, Ông không đánh trận từ những động cơ ích kỷ để tư lợi, ông đánh trận vì ông yêu Lót và muốn giúp Lót. Khi bạn xem xét những đặc điểm của quân đội Áp-ra-ham, bạn thấy điều gì cần có trong lĩnh vực thuộc linh để có sự chiến thắng thế gian.
a. Họ được sinh ra trong nhà của ông (c.14).
Nói về mặt thuộc linh, điều này nhắc chúng ta rằng “Hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời thì thắng hơn thế gian” (IGi 5:4). Sự sinh ra đầu tiên của chúng ta khiến chúng ta trở thành con cháu của A-đam, và ông là người thất bại, nhưng sự sinh ra lần thứ hai của chúng ta khiến chúng ta trở thành con cái Đức Chúa Trời, và Chúa Giê-xu là Đấng Chiến Thắng. Ngài đã thắng mọi kẻ thù (Êph 1:19-23), “và Ngài chia sẻ chiến thắng của Ngài với tất cả những ai sẽ tin cậy Ngài. Và đây là chiến thắng vượt trên thế gian: đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).
b. Họ được trang b ị (c.14).
Còn có nhiều hơn là lòng nhiệt thành và sự can đảm để thắng một cuộc chiến. Bạn cũng phải có sự trang bị hữu hiệu. Chiến sĩ Cơ-đốc phải mang toàn bộ áo giáp của Đức Chúa Trời và sử dụng những vũ khí thuộc linh Đức Chúa Trời đã cung cấp (Êph 6:10-18). Những vũ khí của chúng ta mang tính thuộc linh, không phải tính xác thịt (IICôr 10:3-5), và chúng ta sử dụng chúng trong quyền năng của Thánh Linh, Lời Đức Chúa Trời và sự cầu nguyện là hai vũ khí hữu hiệu nhất (Công 6:4), và chúng ta phải sử dụng chúng bằng đức tin. Như bài hát nổi tiếng bày tỏ điều đó. “Hãy mặc lấy áo giáp Tin Lành / mỗi bộ phận được mang với sự cầu nguyện”.
c. Họ được huấn luyện (c.14).
Cho dù sự trang bị của họ tốt đẹp thế nào, nếu các chiến sĩ không được huấn luyện, họ sẽ dễ dàng bị đánh bại. Một trong những mục đích của Hội thánh địa phương là huấn luyện dân sự Đức Chúa Trời cách sử dụng Kinh Thánh hữu hiệu, cách cầu nguyện, cách nhận biết kẻ thù, và cách làm theo những mệnh lệnh như chiến sĩ trong đội quân của Đấng Christ.
Bạn càng biết rõ Kinh Thánh, bạn càng được trang bị tốt hơn để đánh trận (IITim 3:16-17). Vị chỉ huy sự cứu rỗi của bạn muốn huấn luyện bạn và “khiến anh em nên trọn vẹn” (Hêb 13:20-21), từ Hy-lạp nghĩa là “trang bị cho một đội quân”. Nếu chúng ta thất bại trong trận chiến, đó không phải là lỗi của sự trang bị hay chến lược của Vị chỉ huy. Có gì đó không ổn với các chiến sĩ.
d. Họ tin nơi người lãnh đạo của mình.
Áp-ra-ham và các đồng minh của ông đã đi 120 dặm để thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ trên bốn vua, và họ giành một chiến thắng hoàn toàn. Rõ ràng Áp-ra-ham có những hướng dẫn từ Chúa, vì vậy toàn bộ việc làm là một chiến thắng của đức tin. Sự ứng dụng thuộc linh thật rõ ràng: Nếu dân sự Đức Chúa Trời muốn đánh bại kẻ thù mình, họ phải tin cậy Chúa và vâng theo những mệnh lệnh của Ngài. Đây là cách Giô-suê đã chinh phạt Đất Hứa và Đa-vít đã đánh bại những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên, và đây là cách Hội thánh phải đánh trận ngày nay.
e. Họ được hiệp nhất.
Không có ba quân đội với ba lãnh đạo. Chỉ có một quân đội, và Áp-ra-ham đảm trách. Nếu dân sự Đức Chúa Trời ngày nay được hiệp nhất trong sự yêu thương, họ sẽ giành được những chiến thắng dường bao! Chúng ta hát “giống như một đội quân mạnh mẽ / chuyển động Hội thánh Đức Chúa Trời”. Nhưng Hội thánh chẳng giống một quân đội, đặc biệt khi nói về kỷ luật về việc hành quân cùng nhau. Một người bạn mục sư đã nói: “Rắc rối với Hội thánh đó là có quá nhiều tướng và không đủ lính!”
f. Họ chỉ có mục đích: Mục đích của họ không phải là thù riêng hay tư lợi (Sa 14:22-23), nhưng là chiến thắng kẻ thù để những người bị bắt có thể được tự do. Một chiến sĩ hai lòng chắc chắn sẽ thất bại. “Khi một người đi ra trận, thì chẳng còn lấy việc đời làm lụy mình, làm vậy đặng đẹp lòng kẻ chiêu mộ mình” (IITim 2:4).
Khi bạn nhớ A-can (Gios 7:1-26), Sam-sôn (Cac 13:1-16:32), và Sau-lơ (ISa 15:35), bạn thấy nhận định này đúng ra sao.
Thành quả của ông Áp-ra-ham và các đồng minh của ông mạnh mẽ đến nỗi họ đã đuổi theo kẻ thù 100 dặm, giải thoát mọi kẻ bị bắt và thu tất cả các chiến lợi phẩm. Phải chăng Áp-ra-ham và người cháu trần tục của ông đã có một cuộc nói chuyện dài khi họ trở về? Phải chăng Lót đã giữ những lời hứa mà ông đã lập trong khi ông ở trong nguy hiểm? Ông có thực hiện bất cứ lời hứa nào với Áp-ra-ham không?
Chúng ta không thể trả lời những câu hỏi đó, nhưng chúng ta biết điều này. Sự sửa phạt của Chúa và sự nhân từ của Chúa trong việc giải cứu Lót đều không đem đến ích lợi gì cho ông. Sự nhân từ của Đức Chúa Trời lẽ ra phải dẫn ông đến sự ăn năn (Lê 15:14-19; Rô 2:4), nhưng thay vì ăn năn, Lót đã trở lại Sô-đôm. Lẽ ra ông có thể hiệp với Áp-ra-ham, nhưng ông quyết định trở lại với tội lỗi.
Alexander Whyte đã viết trong tác phẩm cổ điển của ông“Bible Characters” (Những nhân vật của Kinh Thánh) rằng: “Áp-ra-ham là cha của những người trung tín, và Lót, cháu ông, là cha của tất cả những ai khó được cứu.” Một số người sẽ được cứu “dường như qua lửa” (ICôr 3:15), nh ưng tốt hơn là nên có “một lối vào rộng rãi” trong nước đời đời của Chúa (IIPhi 1:11).
3. Áp-ra-ham người thờ phượng (Sa 14:17-24)
Một cuộc chiến mới: Đôi khi bạn đối diện với những hiểm họa lớn nhất sau khi bạn đã thắng một cuộc chiến. Chính sau khi chiếm thành Giê-ri-cô mà lòng tự tin của Y-sơ-ra-ên đã dẫn họ vào sự thất bại ở thành A-hi (Gios 7:1-26). Và sau thành công của mình trên núi Cạt-mên, Ê-li đã khiếp vía và chạy trốn trong sự sợ hãi (IVua 19:1-21). Không có gì ngạc nhiên khi mục sư thánh thiện người Ê-cốt Andrew Bonar (1810-1892) đã nói: “Chúng ta hãy cảnh giác sau chiến thắng cũng như trước cuộc chiến.”
Khi Áp-ra-ham từ trận chiến trở về, ông được hai vua ra đón: Bê-ra, vua Sô-đôm (“cháy”) và Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem (“hòa bình”). Bê-ra trao cho Áp-ra-ham mọi chiến lợi phẩm để đổi lại dân sự, còn Mên-chi-xê-đéc cho Áp-ra-ham bánh và rượu. Áp-ra-ham từ chối đề nghị của Bê-ra nhưng chấp nhận bánh và rượu của Mên-chi-xê-đéc và trao cho ông phần m ười của chiến lợi phẩm. Tất cả mọi điều này mang tính biểu tượng và trình bày một số chân lý thuộc linh quan trọng mà bạn phải hiểu và áp dụng ngày nay.
Áp-ra-ham đã phải chọn lựa giữa hai vua là những người đại diện cho hai lối sống trái ngược. Sô-đôm là một thành gian ác (Sa 13:13; Êxe 16:49-50), và Bê-ra đại diện cho quyền thống trị hệ thống thế gian này với sự mời gọi của nó đối với xác thịt (Êph 2:1-3). Bê-ra nghĩa là “món quà”, gợi ý rằng thế gian mong đợi lòng trung thành của bạn. Nhưng Sô-đôm nghĩa là “cháy”, vì vậy hãy cẩn thận cách bạn chọn lựa! Nếu bạn quỳ trước Bê-ra, mọi sự bạn sống vì nó sẽ bốc cháy một ngày nào đó. Đó là điều đã xảy đến với Lót!
Mên-chi-xê-đéc nghĩa là “vua công bình” và Sa-lem nghĩa là “hòa bình”. Hêb 7:1-28 và Thi 110:1-7 đều liên hệ Mên-chi-xê-đéc với Chúa Giê-xu Christ. “Vua hòa bình” và “Vua Công bình” (Thi 85:10). Giống như Mên-chi-xê-đéc trong thời Áp-ra-ham, Chúa Giê-xu Christ là Vua - Thầy tế-lễ của chúng ta ở trên trời, giúp chúng ta có thể hưởng sự công bình và sự bình an khi chúng ta hầu việc Ngài (Ês 32:17; Hêb 12:11). Chắc chắn chúng ta có thể thấy nơi bánh và rượu một sự nhắc nhở về sự chết của Chúa thay cho chúng ta tr ên thập tự giá.
Vì vậy, khi Áp-ra-ham từ chối Bê-ra và chấp nhận Mên-chi-xê-đéc, ông đang lập một nhận định về đức tin, nói rằng: “Hãy đem thế gian đi, nhưng hãy cho tôi Chúa Giê-xu.” Lót lẽ ra nên thực hiện quyết định tương tự, nhưng ông quyết định trở lại với đời sống thỏa hiệp của mình.
Vì sao sẽ sai lầm để Áp-ra-ham nhận chiến lợi phẩm? Xét cho cùng, ông đã chẳng liều mạng mình và mạng của các gia nhân ông để đánh bại các vua xâm lược và giải cứu những tù nhân đó sao? Nói về lý, Áp-ra-ham có mọi quyền đối với chiến lợi phẩm nhưng về mặt đạo đức, chúng ở ngoài những giới hạn. Nhiều điều trên thế gian này là hợp lý đối với tòa án nhưng sai về đạo đức đối với dân sự Đức Chúa Trời.
Hơn nữa trước khi Áp-ra-ham có thể nhận chiến lợi phẩm, ông phải đồng ý trả dân Sô-đôm về với vua họ là người đã nói: “Hãy giao người cho ta” (Sa 14:21). Giống như Đức Chúa Trời muốn sử dụng thân thể con người vì vinh hiển Ngài (Rô 12:1-2; ICôr 6:19-20), thì kẻ thù cũng muốn sử dụng thân thể con người cho những mục đích xấu xa (Rô 6:12-13). Thật vậy, kẻ thù đã nói: “Hãy trao thân thể ngươi cho ta” với Giô-sép (Sa 39:1-23) và Đa-ni-ên (Da 1:21), nhưng họ đã nói “không!”. Nhưng khi kẻ thù nói lời tương tự với Sam-sôn (Cac 16:1-32), Đa-vít (IISa 11:1-27) và Giu-đa (Gi 13:27), họ đã nói “vâng!” Và quả là một cái giá họ đã trả!
Áp-ra-ham không chấp nhận đề nghị của vua Bê-ra. Ngược lại, dường như Áp-ra-ham đã cho mọi người được ông giải cứu cơ hội để đến với ông và tin cậy Đức Chúa Trời hằng sống chân thật. Áp-ra-ham là một trưởng tộc mạnh mẽ, và các láng giềng của ông biết về trại và bàn thờ của ông. Nhưng không có biểu hiện nào cho thấy bất cứ ai trong họ (kể cả gia đình của Lót) chấp nhận lời mời của ông. Ngoại trừ Lót và hai con gái ông, họ đều đã bỏ mạng trong sự hủy diệt thành Sô-đôm.
• Một phước hạnh mới.
Mên-chi-xê-đéc có điều gì đó tốt hơn để ban cho Áp-ra-ham: phước hạnh của “Đức Chúa Trời rất cao, là chủ của trời và đất.” Áp-ra-ham đã sống bởi phước hạnh của Chúa, chớ không phải sự đút lót của thế gian. Ông không muốn bất cứ ai nghĩ rằng thế gian đã làm cho ông giàu có. Thậm chí một vật nhỏ như dây giày cũng có thể ảnh hưởng đến cách ăn ở của ông! Có quá nhiều tôi tớ Đức Chúa Trời đã làm suy yếu lời chứng của họ bằng cách chấp nhận sự tán tụng và những món quà từ người thế gian. Bạn không thể cùng lúc vừa là một tôi tớ của Đức Chúa Trời vừa là một người nổi danh trong thế gian.
Mên-chi-xê-đéc đã gặp Áp-ra-ham sau cuộc chiến để làm cho ông mạnh mẽ vì sự chiến thắng. Chúa biết những cám dỗ chúng ta đương đầu sau khi chúng ta đã đánh bại kẻ thù. Áp-ra-ham đã gặp Chúa trước cuộc chiến và hứa không nhận gì cho bản thân từ những chiến lợi phẩm của chiến thắng. Ông chỉ có một mục đích khi ông lãnh đạo đội quân của mình, và Đức Chúa Trời đã ban cho ông chiến thắng.
Áp-ra-ham không áp đặt những nhận thức của ông trên các đồng minh của ông A-ne, Ếch-côn và Mam-rê (Sa 14:24). Nếu họ muốn nhận phần chiến lợi phẩm, đó là việc của họ, và ông sẽ không chỉ trích họ. Ông cũng không mong họ dâng phần mười cho Mên-chi-xê-đéc. Áp-ra-ham là một người bộ hành và khách lạ, còn các đồng minh của ông là người thế gian có hạnh kiểm được điều khiển bởi một tập hợp những tiêu chuẩn khác. “Người khác có thể bạn không thể”.
Sa 14:20 là sự đề cập đầu tiên về việc dâng phần mười trong Kinh Thánh. Dâng phần mười là dâng cho Đức Chúa Trời 10% tiền bạc, nông sản hoặc thú vật (từ Hê-bơ-rơ là “mười”). Khi chúng ta dâng phần mười, chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời làm chủ mọi sự và chúng ta là những quản gia biết ơn về của cải Ngài.
Dân Do-thái đã dâng phần mười hằng năm cho Chúa (Lê 27:30-33) cũng như phần mười mỗi năm thứ 3 cho người nghèo (Phuc 26:12-15). Họ cũng có thể dâng phần mười của 90% còn lại cho “của dâng về lễ hội” đặc biệt để vui hưởng ở Giê-ru-sa-lem (Phuc 12:5-19).
Việc dâng phần mười đã xảy ra trước luật Môi-se, vì không chỉ Áp-ra-ham đã dâng phần mười, mà Gia-cốp cũng vậy (Sa 28:22). Vì lý do này, nhiều Cơ-đốc nhân tin rằng dân sự Đức Chúa Trời ngày nay phải bắt đầu việc dâng hiến của mình bằng phần mười. Một chấp sự tin kính có lần đã nói với tôi: “Nếu dân Do-thái thời Cựu-ước ở dưới luật pháp đã có thể dâng phần mười, Cơ-đốc nhân thời Tân-ước dưới ân-điển phải dâng nhiều hơn biết bao!”. Kế hoạch dâng hiến thời Tân-ước được phác thảo trong IICôr 8:1-9:27 nhưng việc dâng phần mười là một vị trí tốt để khởi đầu.
Chúng ta phải cẩn thận dâng hiến vì sự tin kính của tấm lòng chúng ta, chớ không phải như một “của hối lộ” cho những phước hạnh của Đức Chúa Trời. R. G. Le Tourneau, cố kỹ nghệ gia Cơ-đốc nổi tiếng và là người nhân đức, đã từng nói: “Nếu bạn dâng phần mười vì nó có lợi nó sẽ không có lợi!”
Nhưng Áp-ra-ham cho chúng ta một gương tốt về sự dâng hiến. Ông đã đem những món quà của mình cho Chúa Giê-xu Christ qua con người của Mên-chi-xê-đéc (Hêb 7:1-10). Chúng ta đừng dâng phần mười và c ủa dâng hiến của mình cho nhà thờ, mục sư hay các thuộc viên của ban tài chính. Nếu sự dâng hiến của chúng ta là một hành động thờ phượng thật, chúng ta sẽ dâng cho Chúa và vì lý do đó, chúng ta cần dâng điều tốt nhất của mình (Ma 1:6-8).
Ở một trong những Hội thánh tôi làm mục sư, chúng tôi đã không nhận tiền dâng hiến vào những chúa nhật nhưng cung cấp những chiếc hộp đặc biệt ở lối ra trước và sau các lễ thờ phượng.
Một chú bé ngày kia tham quan Hội thánh đã hỏi bạn mình rằng những cái hộp được làm gì, và bạn cậu cho cậu biết “Đó là nơi chúng ta đặt tiền dâng của chúng ta.”
Cậu khách hỏi: “Điều gì xảy ra với tiền này?”
Cậu bé kia đáp: “Tôi nghĩ họ trao nó cho ông Eastep” (Tiến sĩ D. B. Eastep là mục sư lúc đó).
Càng bối rối hơn, chú bé hỏi: “ À, ông Eastep làm gì với nó?”
Lần này cậu bé đã sẵn sàng: “Tôi không biết ông ấy làm thế nào với nó, nhưng ông ấy dâng nó cho Đức Chúa Trời!”
Khi mục sư tin kính làm việc trước tôi nghe câu chuyện đó, ông cười một cách vui vẻ.
Ông biết (cũng như chúng ta đều biết) rằng mỗi người thờ phượng phải đem những món quà của mình đến cho Chúa và dâng hiến từ một tấm lòng biết ơn. Mọi dân sự Đức Chúa Trời đều là những thầy tế-lễ và có thể đem những của lễ của mình đến cho Ngài (IPhi 2:5, 9).
Áp-ra-ham đã sẵn sàng trong việc dâng hiến của mình. Những nguyên tắc về chức quản gia của ông cố định vững chắc trong lòng ông nên không có lý do gì để trì hoãn.
Ông cũng quân bình trong việc dâng hiến của mình, một phương sách được Phao-lô khích lệ (ICôr 16:1-2). Việc dâng phần m ười là một vị trí tốt để khởi đầu; nhưng khi Chúa chúc phước, chúng ta phải gia tăng tỷ lệ đó nếu chúng muốn thực hành loại “dâng hiến rời rộng” được mô tả trong IICôr 8:1-9:27.
Áp-ra-ham đã dâng hiến vì ông yêu mến Đức Chúa Trời và muốn nhận biết sự vĩ đại cùng sự nhân từ của Ngài. Thật là một tương phản giữa “Đức Chúa Trời chí cao” và các hình tượng ngoại đạo! Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham là Đấng dựng nên trời và đất (Sa 14:19; Ês 40:1-30). Ngài xứng đáng được mọi sự thờ phượng và ngợi khen của mọi dân Ngài!
Trước cuộc chiến, Áp-ra-ham đã giơ tay lên bởi đức tin trong một lời thề nguyện long trọng trước Đức Chúa Trời rằng ông sẽ không nhận gì từ chiến lợi phẩm. Ông chỉ có một tấm lòng và tâm trí duy nhất khi ông lãnh đạo đội quân (Mat 6:24).
Suốt cuộc chiến Áp-ra-ham đã vận dụng gươm của ông bằng đức tin và tin cậy Đức Chúa Trời về chiến thắng.
Sau cuộc chiến, bởi đức tin Áp-ra-ham đã khép kín bàn tay mình trước vua Sô-đôm nhưng mở tay trước vua Sa-lem, nhận bánh và rượu, rồi dâng phần mười.
“Và đây là chiến thắng vượt trên thế gian: đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV).
Chú ý: Bạn có thể nghiên cứu thêm về Mên-chi-xê-đéc trong “Be Confident” (Hãy có lòng tin quyết), giải nghĩa thơ Hê-bơ-rơ, và “sự dâng hiến rời rộng” được giải thích trong “Be encouraged” (Hãy can đảm), giải nghĩa thơ IICô-rinh-tô.
15. ĐÊM TĂM TỐI CỦA LINH HỒN (Sa 15:1-21)
“Một người thật sự kính sợ Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài, có thể ở trong một hoàn cảnh tăm tối, không có ánh sáng, và người ấy có thể bước đi nhiều ngày, nhiều năm trong hoàn cảnh đó…”
Nhà thần học Thanh giáo Thomas Goodwin (1600-1679) đã viết như thế và tiên-tri Ê-sai đồng ý với ông: “Ai trong các ngươi kính sợ Đức Giê-hô-va? Ai vâng theo tiếng của tôi tớ Ngài? Ai đi trong tối tăm và không có sự sáng? Người ấy hãy tin cậy danh Đức Giê-hô-va và nương nhờ Đức Chúa Trời mình” (Ês 50:10 NKJV).
Có những lúc Cơ-đốc nhân tận tụy nhất cũng cảm thấy “ở trong sự tối tăm” và không biết vì sao Đức Chúa Trời dường như quá xa. Suốt cuộc nổi dậy Boxer Rebellion, Hội Truyền Giáo China Inland Mission đã chịu khổ rất nhiều; và J. Hudson Taylor, người sáng lập hội, đã nói với một người bạn “Tôi không thể đọc; tôi không thể suy nghĩ, tôi thậm chí không thể cầu nguyện, nhưng tôi có thể tin cậy.” Đó là một thời kỳ tối tăm, nhưng Đức Chúa Trời cuối cùng đã ban ánh sáng.
Áp-ra-ham đã có một kinh nghiệm mà những người hướng dẫn thuộc linh gọi là “đêm tăm tối của linh hồn”. Thuật ngữ này đến từ một tác phẩm cổ điển thuộc linh thế kỷ 16 có tựa đề “St. John of the Cross” (Thánh Giăng của thập tự giá). Dựa trên những cảnh đêm tối được mô tả trong Nhã-ca, sách cho biết thể nào con cái Đức Chúa Trời bước vào tình yêu và đức tin sâu sắc hơn bằng cách kinh nghiệm sự tối tăm tạm thời và dường như là sự xa cách với Đức Chúa Trời. Đó không phải là một điều dễ dàng để kinh nghiệm, nhưng đôi lúc nó cần thiết.
1. Sự an toàn của Áp-ra-ham (Sa 15:1)
Lắng nghe chính mình. Chương trước tập trung về những hành động của Áp-ra-ham nhưng chương này đề cập đến những cảm xúc của ông, kể cả “cơn kinh hãi về sự tối tăm lớn” (Sa 15:12). Người có đức tin cũng là người có những cảm xúc, và những cảm xúc không nên bị coi thường hay bỏ qua. Nhiều Cơ-đốc nhân chính thống có khuynh hướng nhấn mạnh về tinh thần với ý chí và đánh giá thấp những cảm xúc, nhưng đây là một sai lầm nghiêm trọng có thể dẫn đến một đời sống bất quân bình.
Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và điều này kể đến những cảm xúc của chúng ta. Mặc dù thật thiếu khôn ngoan khi tin cậy những cảm xúc của bạn và bỏ qua tâm trí của bạn, hay để những cảm xúc của bạn vượt khỏi sự kiểm soát; Nhưng cũng thiếu khôn ngoan khi phủ nhận và đè nén những cảm xúc của bạn rồi trở thành một rô-bốt tôn giáo.
Trong Thi-thiên, Đa-vít và những tác giả khác đã cho Đức Chúa Trời biết một cách thành thật họ cảm thấy thế nào về Ngài, chính bản thân họ, và những hoàn cảnh của họ, và đây là một gương tốt đề chúng ta noi theo. Chúa Giê-xu là một con người thật, và Ngài công khai b ày tỏ những cảm xúc vui mừng, buồn rầu, cơn giận thánh khiết và tình yêu của Ngài.
Nhưng giờ đây cuộc chiến đó đã thành công, vậy tại sao Áp-ra-ham sợ hãi? Trước hết, ông là con người, và những cảm xúc của chúng ta có thể “tan vỡ” sau một thời gian hiểm họa và khó khăn lớn. Điều này giúp phải thích lý do Ê-li quá nản lòng sau chiến thắng Ba-anh trên núi Cạt-mên (IVua 19:1-21). Sau đỉnh núi thì đến thung lũng.
Một yếu tố khác là khả năng 4 vua có thể trở lại với quân tiếp viện và tấn công trại quân của Áp-ra-ham. Áp-ra-ham biết rằng các vua Đông phương không nhận thất bại một cách nhẹ nhàng hay để cho sự thù hằn tan biến nhanh chóng. Và giả sử nếu Áp-ra-ham bị giết? Điều gì sẽ xảy ra cho giao-ước và lời hứa của Đức Chúa Trời?
Lắng nghe Đức Chúa Trời. Bạn chắc chắn phải “lắng ghe những cảm xúc của mình” và thành thật về chúng. Bác sĩ tâm thần Da-vid Viscott viết: “khi một người gánh vác trách nhiệm đối với những cảm xúc của mình, người ấy gánh vác trách nhiệm đối với thế giới của mình.”
Nhưng đừng dừng lại ở đó; Hãy để thời gian lắng nghe Đức Chúa Trời, và tiếp nhận những lời khích lệ của Ngài. Đây là lần đầu tiên trong Kinh Thánh bạn tìm thấy nhóm từ “có lời Đức Giê-hô-va”. Nó được sử dụng hơn 100 lần trong Cựu-ước, Đức tin chiến thắng sự sợ hãi là đức tin nơi Lời Chúa, chớ không phải niềm tin nơi những cảm xúc.
• Đức Chúa Trời phán với bạn Ngài bằng tên (Gi 10:3).
Khi tôi còn là một cậu bé, tôi thường đi mua sắm thay mẹ tôi; và những người bán hàng trong các cửa hàng sẽ gọi tôi bằng tên và hỏi về gia đình của tôi. Khi cha mẹ tôi đến ngân hàng, những thủ quỹ thường biết họ là ai và chào hỏi họ. Với rất ít sự ngoại lệ, những người bán hàng tôi gặp ngày nay xem tôi chỉ như một con số trong máy vi tính. Dường như không thể tin được, nhưng Đức Chúa Trời Đấng đặt tên và đếm mọi ngôi sao, cũng biết tên bạn và quan tâm về những nhu cầu của bạn (Thi 147:3-4).
Đây cũng là lần đầu tiên bạn tìm thấy những từ làm cho vững tâm “đừng sợ” trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời lập lại những từ đó với Y-sác (Sa 26:24), Gia-cốp (Sa 46:3) và thường với dân Y-sơ-ra-ên (Xu 14:13; Xu 20:20; Dân 14:9; Phuc 1:21). Những lời hứa “đừng sợ” trong Ê-sai thật tốt lành để đọc và suy gẫm khi bạn thấy mình đối phó với sự sợ hãi (Ês 41:10,13,14; Ês 43:1,5; Ês 44:2, 8).
Phương thuốc của Đức Chúa Trời cho sự sợ hãi của Áp-ra-ham là nhắc ông nhớ Ngài là ai? “Ta là cái thuẫn của ngươi, và là phần thưởng rất lớn của ngươi” (Sa 15:1). Lời nói “TA LÀ” của Đức Chúa Trời hoàn toàn thích hợp cho lời nói “tôi không phải là” của con người.
“Hãy yên lặng, và biết rằng ta là Đức Chúa Trời” (Thi 46:10). Đời sống của bạn chỉ lớn như đức tin của bạn và đức tin của bạn chỉ lớn như Đức Chúa Trời của bạn. Nếu bạn dành mọi thời gian để nhìn chính mình, bạn sẽ nản lòng, nhưng nếu bạn nhìn Đức Chúa Trời bằng đức tin, bạn sẽ được khích lệ.
Đức Chúa Trời là cái thuẫn và phần thưởng của chúng ta là sự bảo vệ và là nguồn chu cấp của chúng ta. Áp-ra-ham không cần phải lo lắng về cuộc chiến khác, vì Chúa sẽ bảo vệ ông. Và ông không cần phải hối tiếc vì mất của cải do vua Sô-đôm ban cho mình vì Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho ông trong những phương diện lớn hơn nhiều. Đây là điều ở Cựu-ước tương đương với Mat 6:33; Phi 4:19.
Sự bảo vệ và chu cấp là những phước hạnh mà thế gian đang tìm kiếm và những chính trị gia đang hứa hẹn khi nào họ nắm quyền. Các ứng cử viên đề nghị với những cử tri sự bảo vệ khỏi chiến tranh, cùng hiểm họa trên đường phố cũng như sự chu cấp việc làm, sự chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và tuổi già.
Một số lời hứa đã được giữ đúng, nhưng nhiều lời hứa đã bị quên lãng. Đức Chúa Trời toàn năng là Đấng duy nhất có thể đề nghị với bạn sự bảo vệ cùng sự chu cấp và giữ những lời hứa của Ngài. “Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời là mặt trời và cái khiên; Đức Giê-hô-va sẽ ban ân-điển và vinh hiển. Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho ai ăn ở ngay thẳng” (Thi 84:11).
2. Người thừa kế của Áp-ra-ham (Sa 15:2-6)
• Hỏi (Sa 15:2-3). Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng con cháu của ông sẽ nhiều như bụi đất (Sa 13:16) và họ sẽ đem phước hạnh đến cho cả thế gian (Sa 12:1-3). Nhưng Áp-ra-ham và Sa-ra vẫn chưa có con, và nếu Áp-ra-ham chết, người thừa kế duy nhất mà ông có là “quản gia” của ông: Ê-li-ê-se. (Người ấy có thể là người đầy tớ được đề cập trong Sa 24:2). Lót không còn ở trong bức tranh này, và những bà con khác của Áp-ra-ham ở Mê-sô-bô-ta-mi cách xa 500 dặm. Điều gì đã xảy ra cho lời hứa này?
Mối quan tâm của Áp-ra-ham không phải chỉ cho bản thân ông và vợ ông, dù giống như mọi cặp vợ chồng ở Đông phương, họ muốn có con cái. Mối quan tâm của ông là v ì sự thực hiện kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho cả thế giới. Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch vinh hiển, và Ngài lập một lời hứa nhân từ, nhưng Đức Chúa Trời dường như không làm gì cả! Áp-ra-ham với Sa-ra đang trở nên già hơn, và thời gian đang hết.
Một trong những bài học cơ bản trong “trường đức tin” là: ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ phải được thực hiện theo cách của Đức Chúa Trời và trong giờ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không mong Áp-ra-ham và Sa-ra tính toán làm sao để có một người thừa kế. Tất cả những gì Ngài yêu cầu là họ sẵn sàng để Ngài có thể thực hiện những mục đích của Ngài trong và qua họ. Điều mà Áp-ra-ham và Sa-ra không nhận ra là Đức Chúa Trời đang chờ đợi để họ “tê liệt hoàn toàn” hầu cho chỉ một mình Đức Chúa Trời sẽ nhận quyền thế và vinh hiển.
Thật tốt để chia sẻ những mối quan tâm của bạn với Chúa, thậm chí dù điều bạn muốn nói dường như chứng tỏ sự vô tín hoặc sự thiếu kiên nhẫn trong lòng bạn. Đức Chúa Trời không làm ngơ đối với những vấn đề của bạn hoặc không quan tâm về những cảm xúc của bạn. Ngài đã không quở trách Áp-ra-ham. Ngược lại, Ngài cho ông những sự bảo đảm ông cần. “Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em” (IPhi 5:7).
• Nhìn xem (Sa 15:4-5).
Đức Chúa Trời cho biết rõ ràng chỉ một mình Áp-ra-ham sẽ là cha của người kế tự trong tương lai. Quyền kế tự tùy thuộc vào quyền làm con (Rô 8:14-17). Sau đó Đức Chúa Trời bảo đảm với Áp-ra-ham một cách kịch tính rằng người này sẽ là tổ phụ của nhiều con cháu đến nỗi không ai có thể đếm được. Thậm chí khi đời sống tăm tối, bạn vẫn có thể thấy những ngôi sao. Ai đó đã nói chí lý: “Khi quan điểm ảm đạm, hãy cố gắng nhìn lên”. Áp-ra-ham đã nhìn quanh tìm cách giải quyết vấn đề của ông, nhưng cách giải quyết nằm trong hành động nhìn lên.
Có khoảng 30.000 ngôi sao được liệt kê trong bảng mục lục “General Catalog” được các nhà thiên văn học sử dụng, nhưng người ta ước tính có 100 tỉ ngôi sao nữa! Đức Chúa Trời không nói rằng Áp-ra-ham sẽ có nhiều con cháu số lượng như vậy, nhưng Ngài nói rằng giống như những ngôi sao, sẽ có quá nhiều đến nỗi không thể đếm được. Dù Áp-ra-ham nhìn xuống bụi đất (Sa 13:14) hay nhìn lên những ngôi sao (Sa 15:5), ông sẽ nhớ lại lời hứa của Đức Chúa Trời và có sự tin quyết. Lời hứa này đã được lặp lại cho Áp-ra-ham (Sa 22:17) và được tái xác nhận với Y-sác (Sa 26:4).
• Tin (Sa 15:6).
Những lời hứa không gây ích lợi gì cho chúng ta trừ khi chúng ta tin và hành động dựa trên chúng. Áp-ra-ham đã tin cậy lời hứa của Đức Chúa Trời (Sa 12:1-3) và chứng minh điều đó bằng cách rời quê hương và đi đến Ca-na-an (Hêb 11:8). Nhưng Sa 15:6 là sự đề cập đầu tiên trong Kinh Thánh về đức tin của Áp-ra-ham. Đó là Gi 3:16 của Cựu-ước, và vì lý do này, những tác giả Tân-ước sử dụng nó để minh họa sự cứu rỗi bởi đức tin.
Chỉ có 5 từ trong bản gốc (nguyên bản hy Bá lai) ở Sa 15:6, nhưng chúng chứa đựng ý nghĩa phong phú biết bao. Câu này được trích dẫn ba lần trong Tân-ước. Ga 3:6; Rô 4:3; Gia 2:23. Ba từ chính là: “tin”, “kể là” và “công bình”.
Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, theo nghĩa đen là “Áp-ra-ham đã nói: Lạy Đức Chúa Trời, A-men!”. Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “tin” nghĩa là “dựa toàn bộ sức nặng của bạn lên”. Áp-ra-ham nương dựa hoàn toàn nơi lời hứa với Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời của lời hứa. Chúng ta không được cứu bởi tạo lời hứa với Đức Chúa Trời, nhưng bởi tin lời hứa của Đức Chúa Trời. Trong Phúc-âm Giăng, được viết để cho con người biết làm thế nào để được cứu (Gi 20:31), từ “tin” được sử dụng gần 100 lần. Sự cứu rỗi là món quà ân-điển của Đức Chúa Trời, và nó được tiếp nhận bằng đức tin (Êph 2:8-9).
Nhu cầu lớn nhất của Áp-ra-ham là gì? Sự công bình. Đây là nhu cầu lớn nhất của con người trên thế giới chúng ta ngày nay, vì “mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô 3:29).
“Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không” (Rô 3:23). “Ngoan đạo” thì chưa đủ, Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta có sự công bình trọn vẹn, nếu không Ngài sẽ không để chúng ta bước vào Thiên Đàng.
Áp-ra-ham đã tiếp nhận sự công bình này như thế nào? Ông tin Chúa, và sự công bình được kể cho ông. “kể cho” nghĩa là “đặt vào tài khoản của ai”. Trên thập tự giá, tội lỗi của chúng ta được đặt vào tài khoản của Chúa Giê-xu “bị kể vào hàng kẻ dữ” (Ês 53:12) khi Ngài chịu hình phạt lẽ ra thuộc về chúng ta (Ês 53:6). Khi bạn tin Ngài, sự công bình của Ngài được đặt vào tài khoản của bạn (IICôr 5:21) và bạn được công bình và được tha thứ trước mặt một Đức Chúa Trời thánh khiết.
Áp-ra-ham chứng tỏ đức tin của ông bởi những việc làm của ông khi ông dâng Y-sác trên bàn thờ (Gia 2:14-24). Áp-ra-ham được cứu không phải bởi vâng lời Đức Chúa Trời hay thậm chí hứa vâng lời Đức Chúa Trời; nhưng sự vâng lời của ông được chứng minh bởi đức tin của ông. Tội nhân được cứu không phải bởi đức tin cộng với việc làm, nhưng bởi một đức tin hành động.
Hãy dành thời gian đọc Ga 3:1-29; Rô 4:1-25; Gia-2:1-26. Và bạn sẽ thấy Áp-ra-ham minh họa sự cứu rỗi bởi đức tin ra sao. Trong Ga 3:1-29 Phao-lô tập trung vào “tin”. Trong Rô 4:1-25 ông đề cập “kể là” và trong Gia 2:1-26 Gia-cơ giải thích “sự công bình”.
Cần có ba chương Tân-ước để bày tỏ một câu!
Sự trả lời cho nỗi sợ hãi của Áp-ra-ham là sự hiện diện của Đức Chúa Trời: TA LÀ. Sự trả lời cho mối quan tâm của Áp-ra-ham về người thừa kế là lời hứa của Đức Chúa Trời: TA SẼ. Đức Chúa Trời sẽ trả lời mối quan tâm thứ ba của Áp-ra-ham ra sao?
3. Xứ của Áp-ra-ham (Sa 15:7-21)
• Lời xác nhận (Sa 15:7).
Đức Chúa Trời đã cho Áp-ra-ham biết rằng Ngài sẽ ban xứ Ca-na-an cho ông cùng con cháu ông (Sa 12:7; Sa 13:15, 17), và giờ đây Ngài tái xác nhận lời hứa đó. Xứ là một phần quan trọng của giao-ước, vì chính trong đất Y-sơ-ra-ên mà vở kịch thiên thượng của “lịch sử về sự cứu rỗi” đã được diễn ra. Xứ Y-sơ-ra-ên cũng sẽ là sân khấu cho cảnh cuối cùng của vở kịch khi Đấng Mê-si-a tái lâm để cai trị đất.
Trải qua các thế kỷ, Y-sơ-ra-ên là một dân tộc không có xứ, và dường như những lời hứa giao ước sẽ không được thực hiện. Vào năm 1932, nhà bình luận người Anh G. Campbell Morgan đã viết: “Giờ đây tôi hoàn toàn tin rằng sự dạy dỗ của toàn bộ Kinh Thánh đó là không có tương lai cho Y-sơ-ra-ên với tư cách một dân trên đất” (This was his faith - Đây là đức tin của ông, tr. 290). Rồi đến ngày 14/5/1948 và là sự tái sinh của dân tộc Y-sơ-ra-ên! Như Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham và ban Đấng Mê-si-a, Ngài cũng sẽ giữ lời hứa của Ngài và phục hồi xứ cho dân sự Ngài.
• Sự bảo đảm (Sa 15:8-12).
Câu hỏi của Áp-ra-ham không phải là một dấu hiệu của sự vô tín, nhưng là một đề nghị về một bằng chứng của sự bảo đảm. Ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông đứa con trai đã hứa, nhưng đất đang ở trong tay của mười dân tộc ngoại đạo (Sa 15:19-21). Áp-ra-ham làm chủ đất là một việc, nhưng con cháu ông làm sao sẽ chiếm hữu đất để họ có thể vui hưởng?
Điều được mô tả trong Sa 15:9-17 vào thời đó được biết như “cắt một giao-ước”. Nghi lễ long trọng này đòi hỏi sự chết của thú vật và sự ràng buộc con người với một lời hứa. Những người lập giao-ước sẽ giết nhiều thú vật và mổ xác, đặt nửa con mỗi bên đối nhau trên đất. Rồi các bên sẽ bước đi giữa những phần vật sinh tế trong sự tuyên bố rằng, nếu họ không giữ lời của mình, họ đáng lãnh cùng số phận như những thú vật (Giê 34:18-19).
• Nhưng kinh nghiệm của Áp-ra-ham lại khác.
Ông giết các thú vật, đặt chúng trên đất, và trải qua thời gian còn lại trong ngày để đuổi những con chim ăn mồi bị hấp dẫn bởi thịt và huyết. Khi mặt trời lặn, Áp-ra-ham rơi vào một cơn ngủ mê, và rồi Đức Chúa Trời hiện ra với ông và phán với ông. Nhưng chỉ một mình Đức Chúa Trời đi qua giữa những phần vật sinh tế! (Sa 15:17). Chính Đức Chúa Trời đã lập những lời hứa với Áp-ra-ham, không phải Áp-ra-ham đã lập những lời hứa với Đức Chúa Trời. Không có những điều kiện thêm vào; giao ước của ân-điển đến từ tấm lòng rời rộng của Đức Chúa Trời.
• Sự biết trước (Sa 15:13-21).
Từ “Cơn kinh hãi về sự tối tăm lớn” Áp-ra-ham nghe những điều khoản của giao-ước Đức Chúa Trời và khám phá kế hoạch của Đức Chúa Trời cho dân tộc (Sa 15:13-15,16,17), bản thân ông (Sa 15:15) và cho đất đai (Sa 15:18-21).
• Dân tộc (Sa 15:13-14,16-17).
Gia-cốp và gia đình ông đã đến Ai-cập để được Giô-sép bảo vệ. Và ở đó họ trở nên một dân hùng mạnh (Sa 46:1-34; Xu 1:1-22).
Đến Ai-cập như những vị khách được tôn trọng, dân Do-thái cuối cùng trở thành một sự đe dọa, vì vậy Pha-ra-ôn đã biến họ thành nô lệ và làm họ khổ sở nhiều (Xu 1:11-12). Có lẽ khói (Sa 15:17) là một tượng trưng về hoạn nạn của dân tộc ở Ai-cập (Phuc 4:20). Sự tàn ác của Pha-ra-ôn đã không thể tiêu diệt dân tộc vì Đức Chúa Trời có những kế hoạch cho tuyển dân của Ngài. Đức Chúa Trời đã xét đoán Ai-cập bằng mười tai họa và sau đó giúp Môi-se có thể lãnh đạo dân sự một cách chiến thắng (Xu 5:1-15:27).
Những sự kiện và thì giờ của chúng ở trong tay Đức Chúa Trời. Bốn trăm năm ở Sa 15:13 chỉ về toàn bộ thời gian Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập, từ khi Gia-cốp đến cho tới khi rời khỏi Ai-cập. Đó là một con số chẵn, vì Xu 12:40 đưa ra 430 năm (Công 7:6).
Vì sao Đức Chúa Trời chờ quá lâu để giải cứu dân Ngài? Vì Đức Chúa Trời nhẫn nhục với các dân tộc ở Ca-na-an và trì hoãn sự xét đoán, hầu họ có thể có nhiều thời gian hơn để ăn năn (IIPhi 3:8-9; Mat 23:32). Những ai lên án Y-sơ-ra-ên (và Đức Chúa Trời) về cách dân Ca-na-an bị đối xử, dường như đều quên rằng Đức Chúa Trời đã cho họ bao thế kỷ để ăn năn về sự gian ác của họ.
Áp-ra-ham (Sa 15:15) “Tuổi già tốt lành” của Áp-ra-ham là 175 năm (Sa 25:7), nghĩa là ông đã đồng đi với Đức Chúa Trời một thế kỷ (Sa 12:4). Bất chấp những thất bại thỉnh thoảng của Áp-ra-ham ông đã thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời và đem phước hạnh đến cho toàn thế giới. Lời hứa này từ Đức Chúa Trời chắc đã cho Áp-ra-ham và Sa-ra sự yên ủi lớn suốt những lúc khó khăn, cũng như những lời hứa ở Phi 1:6 và Êph 2:10 yên ủi dân sự Đức Chúa Trời ngày nay.
• Đất (Sa 15:18-21).
Vào đầu cuộc hành hương của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời đã phán với ông: “Ta sẽ chỉ cho ngươi đất” (Sa 12:1). Sau đó Ngài phán: “Ta sẽ ban nó cho ngươi” (Sa 13:15-17). Nhưng giờ đây Lời Ngài là “Ta đã ban đất này cho con cháu ngươi” (Sa 15:18 NASB). Giao-ước của Đức Chúa trời trở thành một vấn đề chắc chắn: Đất thuộc về con cháu Áp-ra-ham qua Y-sác.
Sa-lô-môn đã thực hiện quyền cai trị trên một miền rộng lớn (IVua 4:21; Thi 72:8), nhưng Y-sơ-ra-ên đã không chiếm hữu toàn đất đó. Các vua chỉ nhận biết quyền tối cao của Sa-lô-môn và nạp cống vật cho ông. Khi Chúa Giê-xu Christ cai trị từ ngôi Đa-vít (Mat 19:28; Lu 1:32), đất Y-sơ-ra-ên sẽ đạt đến kích thước đầy đủ do Đức Chúa Trời đã hứa.
Giao-ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham bền vững dù Y-sơ-ra-ên tin điều gì. Giao-ước này vô điều kiện; sự thực hiện của nó không tùy thuộc vào đức tin hay sự trung tín của con người. Trong bản chất tương tự, giao-ước mới do Chúa Giê-xu Christ thiết lập là đáng tin cậy, dù con người chấp nhận hay không. Những ai đặt đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ đều bước vào giao ước đó và tiếp nhận sự cứu rỗi đời đời (Hêb 5:9; Hêb 9:12) một di sản đời dời (Hêb 9:15) và sự vinh hiển đời đời (IPhi 5:10).
Khi Áp-ra-ham quan tâm về chính mình, Đức Chúa Trời bảo đảm với ông bằng cách phán “TA LÀ!” Khi ông quan tâm về người thừa kế, ông nghe Đức Chúa Trời phán “TA SẼ!”. Mối quan tâm của ông về đất được đáp ứng bởi Lời Đức Chúa Trời “Ta đã ban!”
Trong Chúa Giê-xu Christ, Đức Chúa Trời ban những lời bảo đảm tương tự như thế cho dân sự Ngài hôm nay.
Áp-ra-ham đã tin Đức Chúa Trời.
Bạn có tin chăng?
(Để có sự nghiên cứu chi tiết hơn về Ga 3:1-29, hãy xem “Be Free” (Hãy tự do). Rô 4:1-25 đươc giải thích trong “Be right” (Hãy công bình). Chủ đề về đức tin và việc làm trong Gia 2:1-26 được đề cập trong “Be Mature”(Hãy trưởng thành). Những tên sách này được Victor Books xuất bản. )
16. HÃY COI CHỪNG NHỮNG KHÚC QUANH! (Sa 16:1-16)
Trở về thập niên 60, vợ tôi và tôi đã hưởng một kỳ nghỉ ngắn ở dải đồi thấp xinh đẹp của rặng núi Appalachian. Khi chúng tôi bắt đầu lái xe về nhà, bà ấy nói: “Chúng ta hãy đi đường phía bên này. Nó có vẻ thú vị”
Thú vị! Nó đã trở thành một trong những con đường nông thôn tồi tệ nhất mà chúng tôi từng gặp phải, kể cả một số con đường chúng tôi đã thấy trên những khu vực công tác ở hải ngoại. Không có ổ gà nào; chúng đều là những cái hố. Và trong khi xe của tôi văng bụi lên, sự thiếu kiên nhẫn của tôi làm tăng sự tức giận của tôi, khi chúng tôi cẩn thận cua một đường vòng, chúng tôi kết luận rằng ít người đã đi con đường này. Vì ở đó trước mặt chúng tôi là hai con rùa, nhàn nhã đi dạo ở một trong hai vết đường mòn giữ lấy bạn trên đường.
Khi chúng ta cuối cùng đạt đến nền văn minh và một con đường lát, tôi nghĩ đến nhận định mà Vance Havner thường nói: “Khúc quanh luôn tệ hại hơn đường chính.”
Sa 16:1-16 ghi lại một khúc quanh đau đớn mà Áp-ra-ham và Sa-ra đã thực hiện trong cuộc hành hương của họ, một khúc quanh đã đem đến xung đột không những trong gia đình họ mà còn trên thế giới. Điều mà các nhà báo gọi là “cuộc xung đột Ả-rập _ Y-sơ-ra-ên” đã khởi đầu ngay ở đây.
Nhưng ý nghĩa câu chuyện này vượt lên trên lịch sử với những hậu quả ngày nay. Đối với dân sự Đức Chúa Trời, đó là một bài học tốt về việc bước đi bởi đức tin và chờ đợi Đức Chúa Trời thực hiện những lời hứa của Ngài theo cách của Ngài và trong thì giờ của Ngài. Khi bạn nghiên cứu những giai đoạn trong từng trải của Áp-ra-ham và Sa-ra, bạn sẽ thấy nguy hiểm ra sao khi cậy nơi sự khôn ngoan của riêng mình.
1. Chờ đợi (Sa 16:1a)
Áp-ra-ham giờ đây đã 85 tuổi. Ông đã bước đi với Đức Chúa Trời được 10 năm và học một số bài học quý giá về đức tin. Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham và Sa-ra một đứa con nhưng không cho họ biết khi nào đứa trẻ sẽ ra đời. Đó là một thời gian chờ đợi, và đa số mọi người không thích chờ đợi. Nhưng chính bởi “đức tin và lòng nhịn nhục mà (chúng ta) được hưởng lời hứa” (Hêb 6:12).
Đức Chúa Trời có thời gian biểu hoàn hảo cho tất cả mọi điều Ngài muốn làm. Xét cho cùng, sự kiện này không phải chỉ là sự ra đời của thêm một em bé. Đó là phần kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời cho cả thế giới. Tuy nhiên, khi Sa-ra chờ đợi điều gì đó xảy ra, bà trở nên thiếu kiên nhẫn.
Vì sao Đức Chúa Trời trì hoãn quá lâu? Ngài muốn Áp-ra-ham và Sa-ra “tê liệt hoàn toàn”về mặt thể chất (Hêb 11:12) để chỉ một mình Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển. Ở tuổi 85, Áp-ra-ham vẫn tráng kiện đủ để sinh một đứa con cho A-ga; Vì vậy thời gian cho đứa trẻ của phép lạ vẫn chưa đến. Bất cứ điều gì được làm thật sự bởi đức tin thì đều được làm vì vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô 4:20) chớ không vì sự ca tụng của loài người.
Một ý chí chờ đợi Chúa là bằng chứng khác cho thấy bạn đang bước đi bằng đức tin. “Ai tin sẽ chẳng gấp rút” (Ês 28:16). Phao-lô đã trích dẫn câu này trong Rô 10:1 và mở rộng ý nghĩa của nó: “kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn” (cùng một Đức Chúa Trời đã thần cảm Ê-sai và cả Phao-lô, và Ngài có quyền tạo những thay đổi này). Bất cứ khi nào chúng ta thôi tin cậy Đức Chúa Trời, chúng ta bắt đầu “gấp rút” trong hướng sai lầm và đi đến chỗ hổ thẹn.
Một bằng chứng thứ ba của đức tin đó là bạn đang hành động theo thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời. “Như vâỵ, đức tin đến bởi sự nghe, và sự nghe đến bởi Lời Đức Chúa Trời” (Rô 10:17). Bạn có thể hành động bởi đức tin, và biết rằng Đức Chúa Trời sẽ chúc phước nếu bạn vâng theo điều Đức Chúa Trời phán trong Lời Ngài. Hêb 11:1-40 ghi lại những hành động mạnh mẽ của những người nam người nữ bình thường dám tin những lời hứa của Đức Chúa Trời và vâng theo những điều răn của Ngài.
Cuối cùng, bất cứ khi nào bạn hành động bằng đức tin, Đức Chúa Trời sẽ ban sự vui mừng và bình an trong đời sống bạn. “Xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin” (Rô 15:13) Xung đột có thể bao vây bạn, nhưng bạn sẽ có sự bình an và vui mừng của Đức Chúa Trời trong bạn.
Vậy, đây là những chứng cớ của đức tin thật theo tinh thần Kinh Thánh: (1). bạn sẵn sàng chờ đợi; (2). bạn chỉ quan tâm về vinh hiển của Đức Chúa Trời; (3). bạn vâng theo Lời Đức Chúa Trời, và 4. bạn có sự vui mừng và bình an của Đức Chúa Trời ở trong lòng. Trong khi Áp-ra-ham và Sa-ra chờ đợi, Đức Chúa Trời gia tăng đức tin với sự kiên nhẫn của họ và xây dựng tính cách (Gia 1:1-4). Rồi điều gì đó đã xảy ra đặt Áp-ra-ham và Sa-ra trên một khúc quanh đau đớn.
2. Vạch kế hoạch (Sa 16:1-4a)
Sa-ra biết rằng bà không có khả năng sinh con nhưng chồng bà vẫn có khả năng sinh con. Đức Chúa Trời đã gọi Áp-ra-ham một cách rõ ràng là cha của người kế nghiệp được hứa ban, nhưng Ngài chưa xác định người mẹ. Theo lô-gic, đó sẽ là vợ của Áp-ra-ham, nhưng có lẽ Đức Chúa Trời có những kế hoạch khác. Sa-ra đang “suy đoán” kế hoạch của Đức Chúa Trời, và đây là một việc làm nguy hiểm.
Hãy nhớ, đức tin thật đặt cơ sở trên Lời Đức Chúa Trời (Rô 10:17) chớ không dựa trên sự khôn ngoan của loài người (Ch 3:5-6), vì “đức tin là sống mà không vạch kế hoạch”. Sa-ra đã nói “Có lẽ”. Bà không nói “Chúa đã phán vậy!” Đức Chúa Trời đã bảo Áp-ra-ham “phải biết chắc” (Sa 15:13) nhưng Sa-ra không có sự xác tín như vậy để bà đặt cơ sở cho những hành động của mình trên đó.
Hơn nữa, Sa-ra không quan tâm về vinh hiển của Đức Chúa Trời; mục đích duy nhất của bà là “hầu cho tôi có thể có con nhờ nó” (Sa 16:2).
Có lẽ có một ngụ ý về sự thất vọng đối với Đức Chúa Trời và thậm chí là sự đổ lỗi cho Đức Chúa Trời khi bà nói: “Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ” (Sa 16:2).
Người ta thường nói rằng những sự trì hoãn của Đức Chúa Trời không phải là những sự từ chối của Đức Chúa Trời, nhưng Sa-tan thì thầm với chúng ta ”Đức Chúa Trời đang từ chối ngươi! Nếu Ngài yêu ngươi, mọi việc sẽ khác! Hãy trách cứ Ngài!” (Sa 3:1-6).
Việc Áp-ra-ham lấy A-ga làm vợ lẽ hoàn toàn hợp pháp theo luật lệ hôn nhân thời đó. Những năm sau, Gia-cốp sẽ cưới những người hầu của các bà vợ ông, Bi-la và Xinh-ba, mỗi người cho ông hai con trai. Hơn nữa, kế hoạch dường như thành công, vì A-ga đã thụ thai. Xét cho cùng, có lẽ Sa-ra đã đúng.
Nhưng không phải mọi việc hợp pháp hay có vẻ thành công đều được tán thành bởi ý muốn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chưa bao giờ chấp nhận A-ga là vợ của Áp-ra-ham; Thiên-sứ của Đức Giê-hô-va đã gọi nàng là “đòi của Sa-ra” (Sa 16:8). Sau đó nàng bị gọi là “con đòi này với con nó” (Sa 21:10), chớ không phải “vợ và con của Áp-ra-ham”. Tại sao? Vì “điều chi không bởi đức tin là tội lỗi” (Rô 14:23). Đức Chúa Trời khước từ toàn bộ công việc, vì Ngài đã nghĩ đến điều gì đó tốt hơn cho Áp-ra-ham và Sa-ra.
Khi bạn nhìn lại bốn chứng cớ của đức tin theo tinh thần Kinh Thánh đã được giải thích ở trên, bạn có thể thấy rằng Áp-ra-ham và Sa-ra đã không vượt qua cuộc thử nghiệm. Họ không sẵn sàng chờ đợi Chúa nhưng lao về phía trước với những kế hoạch riêng của họ. Họ hành động chỉ để làm thỏa mãn chính mình chớ không phải để làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Họ không vâng theo Lời Chúa, và điều họ đã làm chắc chắn không đem lại niềm vui và sự bình an cho lòng họ hoặc gia đình họ.
Nhà tiểu thuyết người Ê-cốt George Mac Donald đã đúng khi ông nói: “Trong bất cứ điều gì con người làm mà không có Đức Chúa Trời, con người phải thất bại thảm hại, hoặc thành công một cách thảm hại hơn.” Điều này dẫn chúng ta đến giai đoạn thứ ba trong kinh nghiệm “khúc quanh” của Áp-ra-ham và Sa-ra.
3. Tranh chiến (Sa 16:4b-6)
Khi bạn đi theo sự khôn ngoan của thế gian, bạn sẽ đi đến chỗ tranh chiến giống như thế gian (Gia 3:13-18). Trong mọi sự tranh chiến, những tranh chiến gia đình là đau đớn nhất và khó giải quyết nhất. Nếu A-ga vẫn có thái độ của một đầy tớ, mọi việc có thể đã khác; nhưng nàng trở nên kiêu ngạo, và điều này chọc tức bà chủ của nàng (Ch 30:21-23).
Phao-lô đã hỏi: “Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại c ậy xác thịt mà làm cho trọn?” (Ga 3:3), và bạn thấy điều này được minh họa trong gia đình của Áp-ra-ham. Ông và Sa-ra đã khởi đầu trong Thánh Linh khi họ đặt đức tin nơi Chúa, nhưng giờ đây họ quay sang xác thịt để được sự giúp đỡ, và một số việc làm của xác thịt đang bắt đầu xuất hiện (Ga 5:19-21). Áp-ra-ham, Sa-ra và A-ga tranh chiến nhau vì họ đã tranh chiến với Chúa, và họ tranh chiến với Chúa vì họ đã có những ham muốn ích kỷ tranh chiến trong lòng họ (Gia 4:1-10).
Việc đầu tiên họ phải làm là xây một bàn thờ, thờ phượng Chúa và cho Ngài biết những vấn đề của họ. Họ phải xưng nhận tội lỗi mình và tiếp nhận sự tha thứ nhân từ của Ngài. Một khi bạn thôi tranh chiến với Đức Chúa Trời và với chính mình, bạn sẽ có một thời gian dễ chịu hơn để không tranh chiến với người khác. Bước kế tiếp hướng đến sự hòa thuận với người khác là hòa thuận với Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, thay vì thành thật đối diện với tội lỗi mình, mỗi người trong cuộc đời chọn một cách cư xử khác; và điều này chỉ làm cho mọi sự trở nên tồi tệ hơn. Giải pháp của Sa-ra là trách cứ chồng bà và ngược đãi đầy tớ của bà khi bà trút cơn giận của mình. Bà dường như quên rằng bà là người trước tiên đã đưa ra đề nghị về hôn nhân.
- Giải pháp của Áp-ra-ham là nhượng bộ vợ ông và từ bỏ cương vị lãnh đạo thuộc linh trong gia đình. Lẽ ra ông phải có lòng thương xót đối với một người đầy tớ cô thế, là người đang có thai, nhưng ông cho phép Sa-ra ngược đãi nàng. Đáng ra ông phải gọi họ đến trước bàn thờ, nhưng ông đã không làm.
- Giải pháp của A-ga là chạy trốn vấn đề, một chiến thuật chúng ta đã biết từ A-đam và Ê-va (Sa 3:8). Tuy nhiên, bạn sớm khám phá rằng bạn không thể giải quyết những vấn đề bằng cách chạy trốn. Áp-ra-ham đã học điều đó khi ông chạy đến Ai-cập (Sa 12:10). Có sự bình an trong gia đình một thời gian ngắn nhưng đó không phải là “sự bình an của Đức Chúa Trời.” Đó chỉ là một sự hòa hoãn tạm thời, dễ tan vỡ mà chẳng bao lâu sẽ thất bại.
4. Đầu phục (Sa 16:7-16)
Gi 4:10 giải thích lý do Cơ-đốc nhân tranh chiến và cách Cơ-đốc nhân có thể ở trong sự hòa thuận. Những cuộc chiến giữa vòng chúng ta phát sinh vì chúng ta vâng theo ba kẻ thù của mình thế gian (Gia 4:4), xác thịt (Gia 4:1) và ma quỷ (Gia 4:7). Làm sao chúng ta mong mình hòa thuận với Đức Chúa Trời và với người khác nếu chúng ta đang sống cho kẻ thù! “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy hãy phục Đức Chúa Trời” (Gia 4:6-7).
• A-ga đã phải đầu phục Đức Chúa Trời (Sa 16:7-14).
Đây là sự xuất hiện đầu tiên của thiên-sứ của Đức Giê-hô-va trong Kinh Thánh, Đấng thường được nhận biết là Chúa Giê-xu Christ của chúng ta.
Trong Sa 16:10 thiên-sứ đã hứa làm điều mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm và trong Sa 16:13 A-ga gọi thiên-sứ này là “Đức Chúa Trời”.
Những cuộc thăm viếng trước kỳ hiện thân này của Chúa Giê-xu Christ trên đất là để đáp ứng những nhu cầu đặc biệt và để thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt. Việc Con Đức Chúa Trời đã mặc lấy một thân xác tạm thời, lìa Thiên Đàng, và giáng xuống để giúp đỡ một đầy tớ gái bị ruồng bỏ, chắc chắn bày tỏ ân-điển và tình yêu của Ngài. Những tôi tớ của Ngài là Áp-ra-ham và Sa-ra đã phạm tội với Chúa và với A-ga, nhưng Chúa không từ bỏ họ.
Thiên-sứ gọi nàng là “đòi của Sa-ra”, gợi ý rằng Đức Chúa Trời đã không chấp nhận cuộc hôn nhân của nàng với Áp-ra-ham. Rõ ràng A-ga đang trên đường trở về Ai-cập thì nàng gặp thiên-sứ, nhưng Đức Chúa Trời bảo nàng trở lại với trại của Áp-ra-ham và đầu phục bà chủ của nàng. Điều đó sẽ cần có một đức tin lớn, vì Sa-ra đã ngược đãi A-ga trước đó và có thể làm điều ấy lần nữa.
Sau đó Đức Chúa Trời cho nàng biết rằng nàng mang thai một con trai mà nàng phải đặt tên là Ích-ma-ên (“Đức Chúa Trời nghe”). Mặc dù sẽ không phải là người thừa kế của Áp-ra-ham về những phước hạnh của giao-ước, Ích-ma-ên sẽ vẫn vui hưởng những phước hạnh từ Đức Chúa Trời vì ông là con trai của Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời đã hứa làm cho con cháu của Ích-ma-ên thêm nhiều và khiến họ trở nên những dân tộc lớn (Sa 21:18; Sa 25:12-18), và Ngài đã làm điều đó, vì Ích-ma-ên là người sáng lập các dân Ả-rập.
Ích-ma-ên sẽ là “một con lừa rừng” (Sa 16:12), không phải là một mô tả quá tâng bốc. Nó đồng nhất hóa ông với đồng vắng nơi ông sống bằng kỹ năng của mình với tư cách một người bắn cung (Sa 21:20-21; Gi 24:5). Nó cũng bày tỏ bản tính độc lập và hay gây gỗ của ông.
Ông sẽ là một người bị thù ghét, sống “trong sự thù địch với mọi anh em mình” (Sa 16:12 NIV). Mặc dù chúng ta không nên áp dụng những điểm này cho mọi con cháu của Ích-ma-ên, nhưng sự thù địch hằng bao thế kỷ giữa dân Do-thái và dân Ả-rập quá nổi tiếng đến độ không thể bị bỏ qua. Các dân tộc Ả-rập là những dân độc lập, cư ngụ trong những xứ sa mạc và chống lại sự xâm lấn của các dân tộc khác, đặc biệt là Ysơ-ra-ên và các đồng minh của họ.
Kinh nghiệm ở đồng vắng của A-ga đã đem nàng mặt đối m ặt với Đức Chúa Trời và dạy nàng một số chân lý quan trọng về Ngài. Nàng biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống Đấng nhìn thấy chúng ta và nghe những lời than khóc của chúng ta khi chúng ta bị tổn thương. Tên của cái giếng nước nghĩa là “Giếng của Đấng hằng sống và đoái xem tôi.” Ngài là một Đức Chúa Trời riêng tư, quan tâm về những người bị hành hạ và những thai nhi. Ngài biết tương lai và chăm sóc những ai sẽ tin cậy Ngài.
• A-ga đã trở về và đầu phục Sa-ra.
Chắc chắn nàng đã xin lỗi về việc kiêu ngạo, xem thường bà chủ, và chạy trốn. Nàng tin cậy Đức Chúa Trời bảo vệ nàng với con trai nàng và chăm sóc họ trong những năm sắp đến. Hãy đầu phục Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài thực hiện những việc vì ích lợi của bạn và vì vinh hiển của Ngài.
Sa-ra đã phải đầu phục Đức Chúa Trời. Sa-ra cảm thấy ra sao khi A-ga trở về trại và thuật lại rằng Đức Chúa Trời đã nói chuyện với nàng? Đức Chúa Trời đã dành thời gian cho một đầy tớ nghèo hèn ư?
Đức Chúa Trời quan tâm về đứa con của một đầy tớ gái sao? Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã chăm sóc cho một người Ai-cập chăng? Vâng, vì đứa con của người Ai-cập đó có Áp-ra-ham là cha, và Đức Chúa Trời có một giao-ước với Áp-ra-ham. Sự ghi chép không cho chúng ta biết Sa-ra đã đáp ứng ra sao, nhưng dường như bà đã chấp nhận A-ga và lời tường thuật của nàng, rồi đưa nàng trở lại vị trí đầy tớ của bà. Sa-ra đã không ngược đãi nàng nữa, vì xét cho cùng, Đức Chúa Trời đang quan sát!
Áp-ra-ham đã phải đầu phục Đức Chúa Trời. Trong toàn bộ tình tiết này, Áp-ra-ham đóng một vai trò khá tiêu cực. Ông đã để Sa-ra thuyết phục ông cưới A-ga, rồi ông đã cho phép Sa-ra ngược đãi A-ga và đuổi nàng ra khỏi trại. Rõ ràng, Áp-ra-ham đã không giúp đỡ A-ga bằng bất cứ cách nào. Sau đó, ông đã thu xếp việc ấy (Sa 21:9). Nhưng khi con trai ông ra đời, Áp-ra-ham nhìn nhận nó và đặt cho nó cái tên Đức Chúa Trời đã chỉ định.
Cả Áp-ra-ham và Sa-ra đã phải học cách sống với những sai lầm của mình. Chắc chắn Áp-ra-ham đã vui mừng nhìn xem đ ứa con trai lớn lên, và lòng người già đầy tình yêu dành cho nó (Sa 17:18). Nhưng Áp-ra-ham biết rằng Ích-ma-ên sẽ không phải là một phần mãi mãi trong gia đình giao-ước. Giải pháp của Đức Chúa Trời đối với “vấn đề Ích-ma-ên” không phải là trách mắng Áp-ra-ham, Sa-ra hay A-ga, nhưng là ban đứa con khác trong gia đình Y-sác. Ích-ma-ên đã không gây bất cứ phiền phức nào cho Áp-ra-ham và Sa-ra cho đến khi Y-sác lớn lên; khi ấy cậu bắt đầu tạo ra những vấn đề (Sa 21:1-11).
Như chúng ta sẽ thấy trong những chương sau, tất cả những điều này có ý nghĩa thần học sâu sắc đối với tín-hữu Cơ-đốc ngày nay.
Khi bạn nhìn lại chương này, bạn sẽ thấy rằng nhiều bản văn chính từ sách Rô-ma được minh họa bởi điều được ghi chép ở đây.
“Điều chi không bởi đức tin là tội lỗi” (Rô 14:23).
Hãy biết chắc rằng những kế hoạch và hành động của bạn có thể vượt qua bốn “thử nghiệm của đức tin” được phác thảo ở trên. Con người có thể đồng ý với bạn, và Luật pháp có thể bảo vệ bạn, nhưng nếu Đức Chúa Trời không chúc phước cho bạn, đừng làm điều đó! Hãy để Đức Chúa Trời thực hiện ý muốn của Ngài theo cách của Ngài và trong giờ của Ngài. Sa-ra đã tìm cách chạy trước Đức Chúa Trời, và bà đã tạo ra những vấn đề mà vẫn ở cùng chúng ta hôm nay.
“Những kẻ nhận ân-điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật sẽ cai trị trong sự sống” (Rô 5:17). Trong Sa 15:1-21, ân-điển để cai trị qua sự công bình vì cớ đức tin của Áp-ra-ham (Sa 15:6) và Áp-ra-ham đã cai trị trong cuộc sống vì vinh hiển Đức Chúa Trời.
Nhưng ông đã từ bỏ ngôi vị trong đoạn 16 và tội lỗi bắt đầu cai trị. Sự vô tín, sự thiếu kiên nhẫn, sự giận dữ, sự kiêu ngạo và sự hờ hững đã nắm quyền trong gia đình của Áp-ra-ham và gần như hủy hoại gia đình. Dân sự Đức Chúa Trời là vua và thầy tế-lễ (Kh 1:6), những người sẽ “cai trị trong sự sống” bằng cách đầu phục Chúa Giê-xu Christ (Rô 6:11-14).
“Nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân-điển lại càng dư dật hơn nữa” (Sa 5:20). Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời đồng ý với tội lỗi hay sự phạm tội đầy dẫy đó là chìa khóa cho ân-điển dư dật (Sa 6:1-7).
Đúng hơn, nó có nghĩa là ân-điển của Đức Chúa Trời lớn hơn tội lỗi con người và có thể thực hiện điều tốt nhất của Đức Chúa Trời thậm chí khi con người làm điều tồi tệ nhất của mình. Trong ân-điển, Đức Chúa Trời nhìn thấy A-ga chạy trốn đến Ai-cập; Ngài đến với nàng và đáp ứng những nhu cầu của nàng. Ngài khiến nàng trở nên mẹ của một dân tộc lớn. Dĩ nhiên, Ngài làm điều đó vì Áp-ra-ham, nhưng giao-ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham là một giao-ước của ân-điển.
Theo quan điểm con người, “khúc quanh” này là một bi kịch đem kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời đến chỗ bế tắc. Tuy nhiên, hãy xem xét quan điểm thiên thượng. Đức Chúa Trời không bao giờ bị bị lối. Khi con người không chịu đặt mình dưới sự cai trị của Ngài, Ngài tể trị, và Ngài luôn thực hiện những mục đích của Ngài.
Sa-tan muốn chúng ta nghĩ rằng “những khúc quanh của sự bất tuân” phải trở nên con đường vĩnh viễn cho phần còn lại của đời sống ch úng ta; nhưng đây là một sự giả dối. Giống như Áp-ra-ham và Sa-ra, chúng ta có thể xưng nhận tội lỗi mình, tiếp nhận sự tẩy thanh của Đức Chúa Trời (IGi 1:19) và sau đó học cách sống với những sai lầm của mình. Vâng, sẽ có sự đau đớn và hối tiếc, nhưng ân-điển của Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ đắc thắng.
George Morrison đáng được trích dẫn lẫn nữa: “Đời sống Cơ-đốc đắc thắng là một chuỗi những khởi đầu mới.”
17. CÓ GÌ TRONG MỘT CÁI TÊN? (Sa 17:1-27)
Ở thời điểm nào đó trong sự học vần của bạn, có thể bạn đã đọc “Romeo và Juliet” của Shakespeare; và bạn khám phá trong cảnh hai câu trích dẫn nổi tiếng đó: “Có gì trong một cái tên? Điều mà ta gọi là một hoa hồng bằng bất cứ từ ngữ nào khác sẽ tỏa hương ngọt ngào như vậy.”
Juliet nói những lời đó khi nàng tự nói với mình trên ban công, không biết rằng Romeo đang lắng nghe ở dưới. Nàng đang suy gẫm về việc nàng thuộc về dòng họ Capullet và chàng thuộc về dòng họ Montagues đối địch, và sự ra đời tình cờ đó đã ngăn cản họ lấy nhau. Hai cái tên đã tạo ra sự khác biệt nào? Dù tên chàng là gì, Romeo vẫn là tình yêu của nàng!
Không kể Shakespeare, nếu bạn hỏi một nhân vật Kinh Thánh câu hỏi: “Có gì trong một cái tên?” Người ấy sẽ đáp “Tất cả! Tên chúng ta rất quan trọng!” Những cái tên có thể ghi lại điều gì đó có ý nghĩa về sự ra đời của con người (Sa 29:31-30:24) hoặc về kinh nghiệm nào đó làm thay đổi đời sống. Gia-cốp đã được đổi tên là Y-sơ-ra-ên sau một đêm vật lộn với Đức Chúa Trời (Sa 32:24-32), và Si-môn nhận cái tên Phi-e-rơ (đá) khi ông gặp Chúa Giê-xu Christ (Gi 1:40-42).Những tên được định cho những em bé sắp ra đời thậm chí mang những sứ điệp (Sa 16:11; Mat 1:18-25).
Trong chương này, bạn sẽ khám phá 4 tên mới và một tên sẽ luôn cũ vì nó không thể thay đổi được.
1. Đức Chúa Trời toàn năng (Sa 17:1-2)
• Sự mạc khải.
Tên Hê-bơ-rơ “El Shaddai” (Shuh-DYE) và đây là lần đầu tiên nó xuất hiện trong Kinh Thánh. “Shaddai” được dịch là “Toàn năng (Almighty)” 48 lần trong Cựu-ước. Trong Tân-ước, từ Hy-lạp tương đương được sử dụng trong IICôr 6:18; IICôr 1:8; IICôr 4:8; IICôr 11:17; IICôr 15:3; IICôr 16:7, 14; IICôr 19:6, 15; IICôr 21:22.
Nó được dịch là “Toàn năng (Almighty)” ngoại trừ trong Kh 19:6 (omnipotent).
“El” là danh của Đức Chúa Trời nói về quyền năng, nhưng “Shaddai” nghĩa là gì? Các học giả không đồng ý với nhau. Một số người nói nó đến từ Hê-bơ-rơ có nghĩa “mạnh”, số khác đưa ra một từ có nghĩa là “núi” hoặc “ngực”. Theo ẩn dụ thì núi là một “ngực” nhô lên từ đồng bằng, và chắc chắn nó là một biểu tượng của sức mạnh. Nếu chúng ta kết hợp nhiều tư tưởng này, chúng ta có thể nói rằng “El Shaddai” là danh của “Đức Chúa Trời toàn năng toàn quyền Đấng có thể làm bất cứ việc gì và đáp ứng bất cứ nhu cầu nào.”
Nhưng vì sao Đức Chúa Trời mạc khải danh này cho Áp-ra-ham tại thời điểm này, sau 13 năm yên lặng? Vì Đức Chúa Trời sẽ cho bạn Ngài biết rằng Sa-ra sẽ có một con trai. Chúa muốn Áp-ra-ham biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời Đấng toàn năng toàn quyền và không điều gì quá khó đối với Ngài. Đức Chúa Trời phán “Ta sẽ” mười hai lần trong chương này; Ngài sắp làm những việc kỳ diệu.
Sau cuộc chiến của Áp-ra-ham với bốn vua, Đức Chúa Trời đến với ông như một người đánh trận và cho ông biết Ngài là “thuẫn” của ông. Khi Áp-ra-ham băn khoăn về việc ông từ chối của cải Sô-đôm, Đức Chúa Trời cho ông biết Ngài là “phần thưởng rất lớn” của ông (Sa 15:1). Giờ đây khi Áp-ra-ham và Sa-ra “tê liệt hoàn toàn” Đức Chúa Trời bảo đảm với họ rằng Ngài đủ khả năng hơn để đem đến sự sinh con kỳ diệu. Đức Chúa Trời đến với chúng ta trong những phương diện chúng ta cần Ngài nhất.
• Trách nhiệm.
Sự mạc khải luôn đem đến trách nhiệm. Hê-nóc và Nô-ê đã đồng đi với Đức Chúa Trời (Sa 5:22; Sa 6:8-9), nhưng Áp-ra-ham phải đi trước mặt Đức Chúa Trời, đó là sống trong sự nhận biết rằng mắt Đức Chúa Trời luôn ở trên ông (Hêb 4:13). Từ “trọn vẹn” không có nghĩa là “không có tội” vì đó sẽ là mục tiêu không thể đạt được cho bất cứ ai (IVua 8:46).
Từ này nghĩa là “một lòng, không chỗ trách, thành thật, t ận tụy với Chúa hoàn toàn”. Trong Xu 12:5 từ này chỉ về “một của lễ trọn vẹn” không tì vít. Đó là một sự kêu gọi về tính chính trực.
Điều này không gợi ý rằng dân sự Đức Chúa Trời phải giải quyết bất cứ điều gì chưa đến mức phấn đấu, để phù hợp với ý muốn Đức Chúa Trời. Alexander Maclaren đã viết: “Bị thất bại bởi sự khao khát đạt những điều chưa đạt được thì có phước hơn là trì trệ trong sự hài lòng thấp hèn với kiến thức cục bộ. Thà leo lên, mặt hướng về đỉnh núi không thể đến được, hơn là nằm thoải mái trong những thung lũng màu mỡ” (Expositions of Holy Scripture Những bình luận về Kinh Thánh, cuốn 1 trang 120, Baker Book House, 1974).
Bí quyết của một sự bước đi trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời là một sự thờ phượng Đức Chúa Trời cách cá nhân. Giống như Áp-ra-ham, mọi tín hữu phải phủ phục trước mặt Chúa và phó thác mọi sự cho Ngài. Nếu Ngài là “El Shaddai Đức Chúa Trời toàn năng”, vậy chúng ta là ai mà chống lại ý muốn của Ngài?
• Mối liên hệ.
Nhóm từ “giao-ước ta” được sử dụng chín lần trong chương này và định rõ mối liên hệ của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham. Đây không phải là giao-ước khác, không giống giao-ước Đức Chúa Trời đã thiết lập với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3; Sa 15:1-21). Nó là một sự tái khẳng định về giao-ước đó, với sự thêm vào quan trọng về phép cắt bì, dấu hiệu và ấn chứng của giao-ước.
Đức Chúa Trời một lần nữa hứa làm cho dòng dõi Áp-ra-ham thêm nhiều cho dù ông và vợ ông chưa có con. Con cháu ông sẽ “như bụi trên đất” (Sa 13:16) và như sao trên trời (Sa 15:5). Hai sự so sánh này đất và trời gợi ý rằng Áp-ra-ham sẽ có một dòng dõi về thuộc thể, dân Do-thái (Mat 3:9) và một dòng dõi về thuộc linh bao gồm tất cả những ai tin nơi Chúa Giê-xu Christ (Ga 3:26-29).
2. Áp-ra-ham (Sa 17:3-14, 23-27)
Dân sự. “Áp-ra-ham”nghĩa là “cha cao quý”, “Áp-ra-ham” nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”. Khi Áp-ra-ham cho dân sự trong trại của ông biết rằng ông đã có một tên mới, một số người chắc đã cười và nói: “Cha của nhiều dân tộc ư! Thế nào, ông ta và vợ ông ta quá già để có thể có con!”. Dù ông nhìn dưới chân hay nhìn lên trời, hoặc bất cứ khi nào có ai gọi tên ông, Áp-ra-ham được nhắc nhở về lời hứa nhân từ của Đức Chúa Trời để ban cho ông nhiều con cháu.
Hãy nhớ rằng con cháu của Áp-ra-ham không chỉ bao gồm dân Do-thái, mà cũng kể đến thế giới Ả-rập (qua Ích-ma-ên) và những dân tộc được liệt kê trong Sa 25:1-4. Tất cả những ai tin Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế đều là con cháu thuộc linh của Áp-ra-ham (Ga 3:6-9), và đó sẽ là vô số người (Kh 7:9).
Muốn kết quả cho Đức Chúa Trời, chúng ta không cần phải nhờ sức riêng của chính mình để thực hiện nhiệm vụ. Áp-ra-ham và Sa-ra đã thử kế hoạch của riêng họ, và điều đó đã thất bại thảm hại. Chúa Giê-xu đã phán: “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Gi 15:5). Vance Havner đã viết: “Chúng ta nói rằng chúng ta cậy nơi Thánh Linh, nhưng thực tế chúng tađang cố gắng với những thiết bị của mình đến nỗi nếu lửa không giáng xuống từ trời, chúng ta có thể bật công tắc và tạo ra lửa giả của mình”.
Tôi đã đọc về một mục sư người Ê-cốt đã kiêu ngạo bước lên bục giảng để giảng bài đầu tiên của mình. Anh ta có một trí tuệ xuất sắc, một học vấn tốt, và tự tin khi đối diện với hội chúng đầu tiên của mình. Nhưng anh ta càng giảng dài thì mọi người càng thấy rõ ràng “Đức Giê-hô-va không có trong cơn gió”. Anh ta chấm dứt bài giảng nhanh chóng và từ bục giảng đi xuống với đầu cúi thấp, sự kiêu ngạo của anh ta giờ đây biến mất. Sau đó, một thuộc viên đã nói với anh, “Nếu ông bước lên bục giảng giống như cách ông bước xuống thì ông đã có thể từ bục giảng bước xuống như cách ông đã bước lên”.