....lớn nhất có thể xảy ra khi chúng ta kinh nghiệm những thử thách Đức Chúa Trời ban cho đó là chúng ta trở nên gần gũi hơn với Cha chúng ta và trở nên giống Chúa Giê-xu hơn. Đồi Gô-gô-tha không chỉ là nơi Chúa Giê-xu chết thay tội lỗi chúng ta, nhưng nó cũng là nơi Ngài thánh hóa sự chịu khổ và bởi sự phục sinh của Ngài, Ngài biến đổi sự chịu khổ thành vinh hiển.
Hãy tìm cách làm vinh hiển Chúa, và Ngài sẽ làm phần còn lại.
Martin Luther đã nói: “Sự chịu khổ của chúng ta không xứng đáng được gọi là sự chịu khổ. Khi tôi xem xét những thập tự giá hoạn nạn và những cám dỗ của mình, tôi xấu hổ đến chết khi nghĩ rằng chúng là gì khi so sánh với sự chịu khổ của Chúa Giê-xu phước hạnh của tôi”
5. Hãy trông mong đến điều Đức Chúa Trời dành cho bạn (Sa 22:15-24)
Luôn có một “hậu cảnh” đối với những thử nghiệm của đời sống (Hêb 12:11; IPhi 5:10), vì Đức Chúa Trời không bao giờ lãng phí hoạn nạn. “Nhưng Chúa biết con đường tôi đi, khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng” (Giop 23:10). Áp-ra-ham đã nhận nhiều phước hạnh từ Đức Chúa Trời vì đức tin vâng phục của ông.
Trước hết, ông nhận được một sự phê chuẩn mới từ Đức Chúa Trời (Sa 22:12). Áp-ra-ham mô tả toàn bộ từng trải khó khăn này như “sự thờ phượng” (Sa 22:5) vì đối với ông, điều đó là vậy. Ông vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời và tìm cách làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời khen ngợi ông. Thật có giá trị để trải qua những thử thách nếu cuối c ùng Cha có thể phán với chúng ta “được lắm!”
• Ông đã nhận lại một đứa con mới.
Y-sác và Áp-ra-ham đã cùng ở tại bàn thờ, và Y-sác giờ đây là một “của lễ sống” (Rô 12:1-2). Đức Chúa Trời đã ban Y-sác cho Áp-ra-ham, và Áp-ra-ham đã dâng Y-sác lại cho Đức Chúa Trời. Chúng ta phải cẩn thận để những sự ban cho của Đức Chúa Trời không thay thế Đấng ban cho.
Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham những sự bảo đảm mới (Sa 22:16-18), ông đã nghe những lời hứa này trước đó nhưng giờ đây chúng mang ý nghĩa mới. Charles Spurgeon thường nói rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời không bao giờ chiếu sáng hơn trong lò lửa hoạn nạn. Điều mà hai người đã làm trên một bàn thờ vắng vẻ, ngày nào đó sẽ đem phước hạnh đến cho cả thế giới!
Áp-ra-ham cũng biết một danh mới của Đức Chúa Trời (Sa 22:14). Như chúng ta đã hiểu Giê-hô-va Di-rê nghĩa là “Đức Giê-hô-va sẽ được nhìn thấy” hoặc “Đức Giê-hô-va sẽ bảo đảm (chu cấp)”.
Đền thờ Do-thái đã được xây trên núi Mô-ri-a (IISu 3:1) và suốt thời gian chức vụ trên đất của Chúa chúng ta, Ngài được thấy có mặt ở đó. Ngài là Chiên Con thật của Đức Chúa Trời, do Đức Chúa Trời ban để chịu chết thay cho tội lỗi của thế gian.
Người sáng lập hội China Inland Mission (Bây giờ là Hội Overseas “Missionary Fellowship” – Hội truyền giáo Hải ngoại), J. Hudson Taylor, thường treo trong gia đình ông tấm bảng có hai từ Hê-bơ-rơ trên đó “Ebenezer” (Ê-bên-ê-xe) và “Jehovah-jireh” (Giê-hô-va Di-rê). Chúng có nghĩa là: “Đức Giê-hô-va cứu giúp chúng tôi đến bây giờ” (ISa 7:12) và “Đức Giê-hô-va sẽ bảo đảm”. Dù nhìn lại đàng sau hay nhìn đến phía trước, Hudson Taylor biết Chúa đang hành động, và ông không có gì để sợ hãi.
Khi về đến nhà, Áp-ra-ham nghe tên mới khác Rê-bê-ca (Sa 22:23), người nữ Đức Chúa Trời dành cho Y-sác. Danh sách tên trong gia đình của anh em Áp-ra-ham có thể đã làm nản lòng một người chỉ có một con trai, nhưng Áp-ra-ham không phiền muộn. Xét cho cùng, ông có lời hứa của Đức Chúa Trời rằng con cháu của ông sẽ nhiều như sao trên trời và cát bờ biển! (Sa 22:17).
Cuối cùng, Áp-ra-ham đã ra khỏi thử thách này với một tình yêu sâu sắc hơn đối với Chúa. Chúa Giê-xu cho chúng ta biết về tình yêu sâu sắc hơn này trong Gi 14:21-24 và Phao-lô cầu nguyện về điều đó trong Êph 3:14-21. Bạn đã kinh nghiệm tình yêu ấy chưa?
22. KÌA CÔ DÂU ĐẾN! (Sa 24:1-67)
Có vẻ kỳ lạ khi chương dài nhất trong Sáng-thế ký kể câu chuyện về cách một người nam lấy vợ. Mặc dù đó là một chủ đề quan trọng, và đây là một câu chuyện dễ thương, nó có đáng chiếm nhiều chỗ như thế không? Chỉ 31 câu được dành cho câu chuyện sáng tạo trong Sa 1:1-31; 67 câu được cho phép để kể lại cách Rê-bê-ca trở thành vợ Y-sác. Vì sao?
Trước hết, chương này nhấn mạnh sự phân rẽ. Áp-ra-ham cho biết rõ rằng con trai ông không nên cưới một người nữ Ca-na-an (Sa 24:3). Luật-pháp Môi-se không cho phép người nam Do-thái cưới người nữ ngoại đạo (Phuc 7:1-11). Tín-hữu ngày nay cũng không nên lấy những người không tin Chúa (IICôr 6:14-18; ICôr 7:39-40). Sa 24:1-67 là một sự khích lệ lớn cho những ai cần có ý muốn của Đức Chúa Trời trong việc chọn lựa một người bạn đời.
Ngày nay, mặc dù chúng ta không sử dụng cách tương tự như đầy tớ Áp-ra-ham, nhưng những nguyên tắc này vẫn ứng dụng: Chúng ta phải cần có ý muốn của Đức Chúa Trời, chúng ta phải cầu nguyện và tìm kiếm sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta phải sẵn sàng vâng lời và chúng ta phải tỉnh táo đối với điều Đức Chúa Trời sắp làm.
Dĩ nhiên, khi người chồng trong câu chuyện là Y-sác, con yêu dấu của Áp-ra-ham, thì câu chuyện mang ý nghĩa lớn hơn. Xét cho cùng, Y-sác là “mắt xích sống động” trong dây xích phước hạnh mà điểm đỉnh là sự giáng sinh của Cứu Chúa, Giê-xu Christ; vì vậy bất cứ điều gì xảy ra cho Y-sác đều thuộc tầm quan trọng cực điểm trong kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời.
Nhưng chương này vượt hơn lịch sử để vào lãnh vực thần học. Nó cho chúng ta một bức tranh về việc Cha trên trời chọn một nàng dâu cho Con Ngài (Mat 22:1-14). Hội thánh được ví sánh với một cô dâu (IICôr 11:2-3; Êph 5:22-23). Và suốt thời đại hiện tại này, Thánh Linh đang kêu gọi con người tin Đấng Christ và “được gả cho Ngài” (Rô 7:4). Những yếu tố có liên quan trong hôn nhân của Y-sác và Rê-bê-ca, cũng có liên quan trong hôn nhân của Đấng Christ và Hội thánh của Ngài. Có 4 yếu tố trong đó.
1. Ý muốn của cha (Sa 24:1-9)
Áp-ra-ham giờ đây được 140 tuổi (Sa 21:5; Sa 25:20) và sẽ sống thêm 35 năm nữa (Sa 25:7). Mối quan tâm lớn của ông là trước khi ông chết, ông sẽ kiếm một người vợ cho Y-sác con một của ông. Chỉ khi đó Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện những lời hứa giao-ước của Ngài để chúc phước cho Áp-ra-ham với nhiều con cháu và ban cho họ Ca-na-an làm di sản của họ (Sa 12:1-3; Sa 13:14-17; Sa 15:18; Sa 21:12).
Trong thời đó cha mẹ sắp đặt hôn nhân cho con cái. Người nam với người nữ lấy nhau và sau đó học cách yêu nhau (Sa 24:67). Phần nhiều trên thế giới ngày nay, kiểu mẫu này đã khác.
Chúng ta không biết “đầy tớ lớn tuổi nhất” này là ai. Nếu đó là Ê-li-sê-se (Sa 15:2), vậy ông chắc đã rất già, những sự kiện được ghi lại trong Sa 15:21 xảy ra hơn 50 năm trước đó. Áp-ra-ham khiến ông thề 3 điều: (1). Ông sẽ không chọn một người vợ cho Y-sác trong vòng những người nữ Ca-na-an; (2). Ông sẽ chọn vợ trong những bà con của Áp-ra-ham, và (3). Ông sẽ không dẫn Y-sác trở lại xứ trước đây của Áp-ra-ham.
Sau khi biết rằng mình đã giao cho đầy tớ một nhiệm vụ khó khăn, Áp-ra-ham cũng dành cho người ấy vài lời khích lệ (Sa 24:7, 39-41). Đức Chúa Trời đã hướng dẫn và chúc phước cho Áp-ra-ham trong 65 năm và giờ đây sẽ không từ bỏ ông. Hơn nữa, Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham một lời hứa cụ thể rằng dòng dõi ông sẽ hưởng đất; Vì vậy điều này có nghĩa là con trai ông phải có một người vợ sanh con cho ông. Sau cùng, Thiên-sứ của Đức Chúa Trời sẽ đi trước người đầy tớ và hướng dẫn ông đến đúng người nữ ấy.
Áp-ra-ham là người có đức tin nơi Lời Đức Chúa Trời và biết cách áp dụng lời ấy vào những hoàn cảnh và những quyết định cụ thể. Ông tìm cách vâng lời Đức Chúa Trời vì đức tin thật trong đó và bạn sẽ càng có sự hướng dẫn từ đó. Điều này áp dụng cho những quyết định về hôn nhân, nghề nghiệp, chức vụ hoặc bất cứ lĩnh vực nào khác trong đời sống. Nếu chúng ta không tin cậy Lời Đức Chúa Trời và vâng theo, Ngài sẽ không hướng dẫn chúng ta (Ch 3:5-6).
Giống như Áp-ra-ham cần một cô dâu cho con trai ông, Đức Chúa Trời là Cha cũng quyết định ban một cô dâu cho Con yêu dấu của Ngài. Vì sao? Không phải vì Chúa Giê-xu cần điều gì, vì Ngài là Con Đời Đời của Đức Chúa Trời Tự Hữu, tự đáp ứng và chẳngcần gì cả. Cô dâu là món quà tình yêu của Cha dành cho Con Ngài. Chúng ta thường nhấn mạnh rằng Con là món quà tình yêu của Cha dành cho thế gian (Gi 3:16) và quên rằng Hội thánh là món quà tình yêu của Cha dành cho Con Ngài (Gi 17:2,6,9,11,12,24).
Trong những dự định thiên thượng về sự vĩnh cửu, Cha quyết định cứu những tội nhân hư mất bởi ân-điển Ngài, Con đồng ý chịu chết vì tội lỗi của thế gian, và Thánh Linh đồng ý áp dụng công việc đó vào đời sống của tất cả những ai sẽ tin. Điều này được bày tỏ trong Êph 1:1-14 nơi bạn thấy công việc của Đức Chúa Cha (Êph 1:3-6). Đức Chúa Con (Êph 1:7-12) và Đức Thánh Linh (Êph 1:13-14).
Hãy đặc biệt chú ý rằng lý do cho kế hoạch cứu rỗi vĩ đại này là vinh hiển của Đức Chúa Trời (Êph 1:6, 12, 14). Những ai tin Đấng Christ sẽ là một dân đặc biệt, cơ nghiệp của Ngài (Êph 1:18) và là cô dâu của Ngài (Êph 5:22-23). Cô dâu của Ngài sẽ đem vinh hiển đến cho Đấng Christ trên đất và suốt cõi vĩnh hằng. Một ngày nào đó Chúa Giê-xu sẽ có niềm vui giới thiệu cô dâu của Ngài trong vinh hiển của Đức Chúa Trời (Hêb 12:2; Giu 1:24).
Lần sau khi bạn có đặc quyền làm chứng cho Chúa Giê-xu, hãy nhớ rằng bạn đang mời người khác đến với tiệc cưới!
2. Chứng cớ của người đầy tớ (Sa 24:10-49)
• Đầy tớ.
Áp-ra-ham và Y-sác đều không đi tìm cô dâu; Nhiệm vụ được giao cho một đầy tớ vô danh, người hoàn toàn tận tụy. Tên mà người đầy tớ này thích dùng để gọi Áp-ra-ham là“chủ tôi”, được ông sử dụng 19 lần trong câu chuyện này. Ông đã sống và phục vụ chỉ để làm hài lòng chủ ông, và đó là một gương tốt cho chúng ta noi theo ngày nay.
Người đầy tớ nhận những mệnh lệnh từ chủ ông và không thay đổi chúng. Khi ông thề vâng phục thì ông thật sự chắc chắn như vậy và giữ nó. Dù nhiệm vụ của ông thành công hay thất bại, người đầy tớ biết mình sẽ phải tường trình với chủ ông, và ông muốn có thể làm như vậy mà không có sự bẽ bàng (Rô 14:10-12; IGi 2:28).
Nhưng làm thế nào ông sẽ đi kiếm đúng người nữ cho con trai của chủ ông? Người đầy tớ đã hành động bằng đức tin nơi Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Y-sác (Sa 24:12). Ông tin lời hứa của Đức Chúa Trời và tin cậy sự định liệu của Đức Chúa Trời để hướng dẫn ông (Sa 24:27). Ông dành thời gian để cầu nguyện và cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ, rồi ông giữ cho mắt mình mở để thấy điều Đức Chúa Trời có thể làm. Thật ra, trong khi ông cầu nguyện, Đức Chúa Trời đã ban sự nhậm lời (Ês 65:24). Người đầy tớ không bốc đồng nhưng chờ đợi Chúa để thấy điều Ngài có thể làm (Sa 24:21). “Ai tin sẽ không hành động gấp rút” (Ês 28:16 NKJV).
• Cô dâu.
Trong sự định liệu của Ngài, Đức Chúa Trời đã đem Rê-bê-ca đến giếng nước ngay khi người đầy tớ đang cầu nguyện, và nàng đã làm chính xác điều mà người đầy tớ đã cầu nguyện. Ngư ời đầy tớ đã làm điều mà Ghi-đê-ôn sẽ làm những năm sau đó, “trải lông chiên” (Cac 6:36-40).
Đây không phải là cách tốt nhất để dân sự Đức Chúa Trời xác định ý muốn của Đức Chúa Trời, vì những điều kiện chúng ta đặt ra cho Đức Chúa Trời đáp ứng có thể không ở trong ý muốn Ngài. Chúng ta đang bước đi bởi ngoại cảnh chớ không bởi đức tin, và chúng ta có thể đi đến chỗ thử Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã thích ứng chính Ngài trước những nhu cầu của người đầy tớ (và Ghê-đê-ôn) và hướng dẫn họ khi họ cầu xin.
Rê-bê-ca chẳng biết rằng làm một nhiệm vụ khiêm nhường cho một khách lạ sẽ khiến nàng trở thành cô dâu của một người giàu có là người ở trong mối liên hệ giao-ước với Đức Chúa Trời. Nàng sẽ trở thành mẹ của Gia-cốp và Gia-cốp sẽ trở thành tổ phụ của 12 chi phái Y-sơ-ra-ên! Những năm trước đây, tôi đã đọc một câu trích dẫn của một tác giả được nhận biết chỉ như “Marsden” và nó đã gắn bó với tôi: “Hãy khiến mọi cơ hội trở nên một cơ hội lớn, vì bạn không bao giờ có thể biết khi nào ai đó có thể chọn tiêu chuẩn của bạn cho một vị trí lớn hơn”.
Người đầy tớ đang đánh giá Rê-bê-ca để thấy nàng có phải sẽ trở thành một người vợ tốt đối với Y-sác hay không. Ông có thể thấy rằng nàng tử tế, vui vẻ, khiêm nhường, khỏe mạnh và là một người làm việc siêng năng. Cho 10 con lạc đà uống nước không phải là một công việc dễ dàng! Sau một đoạn đường dài, một con lạc đà khát nước có thể uống 40 ga-lông nước; và Rê-bê-ca đã phải kéo tất cả khoản nước đó bằng tay.
“Nàng là con ai?” (Sa 24:23) là một câu hỏi căn bản cho bất cứ một người cầu hôn để hỏi. Dĩ nhiên, người đầy tớ quan tâm về gia đình nàng, nhưng câu hỏi này có một ứng dụng rộng rãi hơn cho tín-hữu Cơ-đốc ngày nay, cả nam lẫn nữ. “Bạn có phải là con cái Đức Chúa Trời? Bạn đã được tái sinh trong gia đình Đức Chúa Trời chưa?” Quả là một bi kịch khi các tín-hữu lấy những người không tin Chúa và tìm cách lập một gia đình không có phước hạnh trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
• Gia đình.
Rê-bê-ca nhận những món quà của nàng và chạy về nhà để kể cho cha, mẹ và anh của nàng là La-ban (người dường như là chủ trong gia đình) biết rằng một người khách rời rộng cần một nơi để họ qua đêm. Sự tiếp khách là luật đầu tiên của Đông phương, vì vậy gia đình này đi ra để đón vị khách. Tính cách của La-ban được bày tỏ trong Sa 24:30.
Ông bị kích thích về những quà tặng đắt giá hơn là đặc quyền bày tỏ sự hiếu khách đối với một khách lạ. Y-sác và con trai của Rê-bê-ca là Gia-cốp những năm sau đó sẽ khám phá La-ban thật sự là một kẻ khôn khéo (Sa 29:1-31:55).
Người đầy tớ không ăn cho đến khi ông đã thực hiện xong nhiệm vụ của mình (Sa 24:33; Gi 4:32). Ông không nói về chính mình, nhưng về Y-sác và của cải lớn của người. (Đoàn lạc đà 10 con giúp cho biết câu chuyện). Ông kể lại kinh nghiệm của mình tại giếng nước, và lần đầu tiên Rê-bê-ca phát hiện rằng nàng đã được “đo lường” cho một phần việc mới và thú vị. Nhưng liệu họ sẽ để nàng đi và nàng sẽ vui lòng đi chăng?
Trước khi chúng ta biết câu trả lời cho những câu hỏi đó, chúng ta phải dừng lại để thấy thế nào người đầy tớ minh họa về công việc của Thánh Linh trên thế giới ngày nay khi Ngài sử dụng chúng ta để làm chứng về Chúa Giê-xu Christ (Công 1:8). Ông đã không nói về chính mình nhưng về chủ của ông và sự giàu có của người (Gi 15:26; Gi 16:13-14). Ông đưa ra những bằng chứng về sự giàu có của chủ ông giống như Thánh Linh ban cho chúng ta “những quả đầu mùa” và “phần thưởng” về sự giàu có thuộc linh của chúng ta trong Đấng Christ (Êph 1:13-14). Nhưng điều tốt nhất sắp xảy đến!
Công việc của người đầy tớ không phải là lý luận hay đút lót nhưng đơn giản là làm chứng về sự cao trọng của chủ mình. Ông không buộc Rê-bê-ca phải lấy Y-sác, ông chỉ trình bày cho nàng những sự thật và cơ hội để thực hiện một quyết định. Mặc dù không có gì sai trái với việc thúc giục người khác được cứu (Công 2:40), nhưng chúng ta phải cẩn thận đừng tìm cách thay thế Thánh Linh là Đấng duy nhất có thể làm công việc lên án trong lòng người (Gi 16:7-11).
3. Sự tự nguyện của cô dâu (Sa 24:50-60)
Mẹ và anh của Rê-bê-ca sẵn sàng để nàng trở thành vợ Y-sác, nhưng họ muốn nàng chờ ít nhất mười ngày trước khi rời gia đình. Đây là một yêu cầu bình thường, vì cha mẹ muốn dành nhiều thời gian có thể được để ở cạnh nàng và thậm chí để mời các láng giềng chung vui với họ (Sa 31:25-27).
Dĩ nhiên, họ vui mừng với của cải người đầy tớ dâng cho họ mà có lẽ là của hồi môn, và chắc chắn họ muốn nghe nhiều hơn về Y-sác và gia đình mà Rê-bê-ca sẽ dự phần với họ.
Như người đầy tớ không trì hoãn trong việc trình bày sự thỉnh cầu của mình (Sa 24:33), ông cũng không trì hoãn trong việc hoàn thành nhiệm vụ mình. Khi Chúa hành động, đó là thời gian cứ đi! Ông đề nghị để họ cho Rê-bê-ca thực hiện sự chọn lựa, và lời đáp của nàng là “Tôi sẽ đi”. Đây là quyết định mà mỗi tội nhân phải thực hiện nếu người đó muốn “được gả cho Đấng Christ” và dự phần gia đình của Ngài trên trời.
Điều gì thúc đẩy Rê-bê-ca thực hiện quyết định đúng đắn? Nàng đã nghe về Y-sác và tin điều đó. Nàng nhìn thấy chứng cớ về sự cao trọng, sự rời rộng và sự giàu có của chàng nên nàng muốn thuộc về chàng trong phần đời còn lại của mình. Nàng chưa từng thấy Y-sác (IPhi 1:3) nhưng điều nàng đã nghe về chàng thuyết phục nàng đi đến Ca-na-an với người đầy tớ.
Cha mẹ, và bè bạn của nàng có thể trình bày cho nàng nhiều lý lẽ để chờ đợi hoặc thậm chí nói “Không”. “Con chưa bao giờ thấy người đàn ông này mà!”“Có thể người đầy tớ này là một kẻ gian!”, “Gần 500 dặm đến nơi Y-sác sống. Đó là một chuyến đi dài!”, “Bạn có thể không bao giờ gặp lại gia đình mình!” Nhưng nàng quyết định thực hiện hành trình dài khó khăn và trở thành vợ của một người mà nàng chỉ biết bởi lời đồn.
• Sự ứng dụng thật rõ ràng cho người chưa được cứu ngày nay.
Họ không nên trì hoãn trong việc thực hiện quyết định của mình đối với Đấng Christ. Đó là một quyết định của đức tin, dựa trên chứng cớ do Thánh Linh cung cấp qua Lời Chúa và sự làm chứng của Hội thánh. Tội nhân nào trì hoãn đều ở trong hiểm họa đánh mất cơ hội thuộc về gia đình Đức Chúa Trời và sống trên Thiên Đàng (Gi 14:1-6).
“Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng” (Hêb 3:7, 15).
“Kìa, hiện nay là thì thuận tiện, kìa hiện nay là ngày cứu rỗi” (IICôr 5:2).
Vào cuối buổi nhóm trong một chiến dịch lớn về truyền giảng Phúc-Âm do ông hướng dẫn ở Fort Worth, Texas, Tiến sĩ George W. Truett, lúc bấy giờ là mục sư của Hội thánh First Baptist ở Dallas, đã nói với một hội chúng đông đảo: “Sa-tan không quan tâm nếu người ta đến nhà của Đức Chúa Trời, và đến với những buổi nhóm chung như vầy, chăm chú, trang nghiêm và cảm động sâu sắc, nếu họ chỉ để cho cơ hội tôn giáo đi qua, và không tăng trưởng. Ôi, khả năng đáng sợ, đó là cơ hội tôn giáo có thể đến rồi đi qua, và những điều cao trọng nhất của linh hồn bị đánh mất và mất mãi mãi” (A Request for Soul –một nhu cầu cho linh hồn, tr.362). Thật là khả năng đáng sợ!
Một thế kỷ rưỡi trước đó, Charles Spurgeon đã nói với hội chúng của ông ở Luân-đôn: “Mười ngày có vẻ không quá dài, nhưng chúng có thể là mười ngày quá trễ. Một ngày dường như không nhiều, nhưng một ngày có thể là một ngày quá trễ, và một ngày quá trễ là quá trễ mãi mãi. Vâng, một phút quá trễ là một cõi vĩnh hằng quá trễ!” (Metropolitan Tabernacle Pulpit, cuốn 13 tr. 533).
Toàn bộ câu chuyện cho thấy rõ Đức Chúa Trời đã chọn Rê-bê-ca cho Y-sác, vì sự dẫn dắt lo liệu của Ngài được nhìn thấy mỗi bước đường. Nhưng Rê-bê-ca đã phải thực hiện sự chọn lựa của nàng về Y-sác, không có mâu thuẫn giữa quyền tối cao thiên thượng (kế hoạch của Đức Chúa Trời) và trách nhiệm của con người (sự chọn lựa của con người). Thật ra, Chúa Giê-xu đã dạy cả hai điều trong một nhận định. “Phàm những kẻ Cha cho Ta sẽ đến cùng Ta (quyền tối cao thiên thượng), kẻ đến cùng Ta (trách nhiệm của loài người) thì Ta không bỏ ra ngoài đâu” (Gi 6:37).
“Tôi có phải là người được chọn của Đức Chúa Trời?” Không phải là câu hỏi mà tội nhân hư mất nên hỏi, lời khuyên “Hãy chú ý cho chắc về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình” được viết cho các tín-hữu (IIPhi 1:10) không phải cho tội nhân hư mất. Câu hỏi mà tội nhân hư mất nên hỏi là “Tôi phải làm gì để được cứu?” (Công 16:30; Công 2:37). Và câu trả lời là “Hãy tin Đức Chúa Giê-xu” (Công 16:31). Khi Đức Chúa Trời phán với bạn, đó là lúc để đáp ứng và đặt đức tin bạn nơi Đấng Christ (Ês 55:6-7).
Frank Boreham đã viết: “Chúng ta thực hiện những quyết định của mình, rồi sau đó những quyết định của chúng ta trở lại và đặt để chúng ta. Từ giây phút rời gia đình mình (Sa 35:8), Rê-bê-ca ở dưới sự chăm sóc lo liệu đặc biệt của Đức Chúa Trời và giờ đây nàng là một phần trong kế hoạch ly kỳ sẽ đem sự cứu rỗi đến cho cả thế giới (Sa 12:1-3). Nếu nàng ở lại Mê-sô-bô-ta-mi và lấy một trong số những người nam địa phương, chúng ta sẽ không bao giờ nghe về nàng nữa.”
4. Sự nghênh đón của chú rễ (Sa 24:61-67)
Những lạc đà có thể đi khoảng 25 dặm một ngày và có thể đi hết 60 dặm, nếu chúng phải đi, người đi bộ trung bình đi khoảng 20 dặm một ngày. Một đoàn lạc đà mười con với những tùy tùng và bảo vệ, có thể dễ dàng thực hiện chuyến đi từ Hếp-rôn đến Mê-sô-bô-ta-mi và trở về (khoảng 900 dặm) chưa đầy hai tháng. Người đầy tớ là loại người không cho phép sự trì hoãn và nôn nóng hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách thành công. Chắc chắn Áp-ra-ham và Y-sác đang cầu nguyện cho ông và nhiệm vụ của ông, và những lời cầu nguyện của họ đã được nhậm lời.
Y-sác là hình ảnh của Chúa Giê-xu Christ qua sự ra đời kỳ diệu của ông (Sa 21:1-34) qua sự sẵn sàng vâng phục cha và phó sự sống mình (Sa 22:1-24). Chúng ta để ý rằng Sa 22:19 không cho chúng ta biết rằng ông đã cùng cha trở về từ núi Mô-ri-a, mặc dù chắc chắn như vậy (Sa 22:5). Sự bỏ sót này gợi ý sự thăng thiên của Chúa chúng ta: Ngài đã trở về với sự vinh hiển và chờ thời gian tiếp nhận cô dâu của Ngài (ITês 4:13-18).
Y-sác không sống với cha ông vào thời gian đó nhưng ở miền Nam Hếp-rôn, sẵn sàng để lập gia đình riêng của ông. Y-sác được nhận biết bởi những giếng nước (Sa 24:62; Sa 25:11; Sa 26:17-33) giống như Áp-ra-ham được nhận biết bởi những bàn thờ. Nước là một phương tiện quý báu và phải được bảo vệ cẩn thận.
Tên của giếng nước sẽ là một sự khích lệ cho Y-sác khi ông chờ đợi sự trở về của người đầy tớ: “Giếng của Đấng Hằng Sống đoái xem tôi” ( Sa 16:14). Nếu Đức Chúa Trời chăm sóc A-ga và đáp ứng những nhu cầu của bà, chắc chắn Ngài sẽ chăm sóc Y-sác và ban người vợ ông cần để duy trì dòng dõi Mết-si-a. Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời hằng sống Đấng nhìn xem mọi sự và hoạch định mọi điều vì vinh hiển Ngài và vì ích lợi của con cái Ngài.
Sa 24:63 gợi ý rằng Y-sác là một người trầm lặng, hay suy gẫm, người thường suy nghĩ những điều thuộc về Chúa trong nơi vắng vẻ (Thi 1:2). Vợ ông là mẫu người hoạt động, vì vậy sẽ có một sự quân bình tốt đẹp trong gia đình họ. Hai người nh ìn nhau từ xa, và Rê-bê-ca đã xuống lạc đà để nàng có thể đi bộ gặp chàng. Vào thời đó, nếu người nữ cỡi con thú trong sự hiện diện của người nam xa lạ, bị xem là vi phạm phép xã giao. Nàng cũng mang mạng che mặt dài, là dấu hiệu về sự thùy mị và đầu phục của nàng.
Thật ý nghĩa khi Y-sác gặp cô dâu của ông “lối chiều” (Sa 24:63), vì khi Chúa Giê-xu đến rước Hội thánh Ngài, đó sẽ là thời kỳ của sự tối tăm thuộc linh (Rô 13:11-14). Giống như một ngày mới hiện ra đối với Rê-bê-ca, sự đến của Chúa Giê-xu Christ cũng sẽ mở ra một ngày mới cho dân sự Ngài (ITês 5:1-11)
Nhưng sự gặp mặt đó có liên quan nhiều hơn là tiếp nhận cô dâu của chàng rễ. Người đầy tớ cũng báo cáo về chính ông trước con trai của chủ ông (Sa 24:66). Khi Chúa Giê-xu Christ đến rước Hội thánh Ngài, sẽ không chỉ có một tiệc cưới vui mừng (Kh 19:1-9) mà cũng có một ngôi xét đoán long trọng (Rô 14:10-13; IICôr 5:9-10) nơi những công việc của chúng ta sẽ được xem xét và những phần thưởng được ban ra (ICôr 3:13-15; ICôr 4:1-5).
Với Y-sác, đó là “tình yêu ở cái nhìn đầu tiên”, nhưng Chúa Giê-xu Christ đã thấy gì nơi chúng ta để Ngài sẽ cần chúng ta làm cô dâu của Ngài? Chúng ta là những tội nhân chống nghịch không có vẻ đẹp hay tài trí gì để khoe khoang, nhưng Chúa Giê-xu đã yêu chúng ta và chết thay chúng ta (Rô 5:6-8).
Rê-bê-ca đã nhận một số quà tặng của Y-sác, nhưng giờ đây nàng là của riêng chàng, nàng có mọi sự chàng có. Đời sống của họ là một, và điều đó cũng vậy đối với Đấng Christ và Hội thánh của Ngài (Êph 5:21-23).
Đây hơn hẳn một câu chuyện tình yêu ngẫu nhiên, bình dị. Nó có thể là câu chuyện tình yêu của bạn hôm nay nếu bạn tin Chúa Giê-xu Christ và nói “Tôi sẽ đi!”
Nếu bạn đã thuộc về Chúa Giê-xu Christ, vậy hãy giống như người đầy tớ trung tín và cho những người khác biết tin mừng về cuộc hôn nhân và lễ cưới vinh hiển sắp đến. Hãy mời họ nói “Tôi sẽ đi!”
23. MỘT KỲ ĐỂ CHẾT! (Sa 23:1-20 Sa 25:1-11)
Vua Sa-lô-môn đã nói: “Danh tiếng hơn dầu quý giá, ngày chết hơn ngày sinh” (Tr 7:1). Ông nói rằng sự chết tốt hơn sự sinh ra; Vì, xét cho cùng, chúng ta phải được sinh ra trước khi chúng ta có thể chết.
Quan điểm của Sa-lô-môn là tên được dành cho bạn lúc sinh ra giống như dầu thơm, và bạn phải gìn giữ nó như thế cho đến khi bạn chết. Khi bạn nhận tên của mình lúc sinh ra, không ai biết bạn sẽ làm nên điều gì từ tên đó; Nhưng lúc chết, tên đó hoặc tỏa hương thơm hoặc hôi thối. Nếu tên ấy tỏa hương thơm lúc chết, thì người ta có thể vui mừng; Vì trước khi chết, không điều gì có thể thay đổi nó. Vì vậy, đối với một người có danh tiếng, ngày chết hơn ngày sinh.
Tên của Áp-ra-ham với Sa-ra đã tỏa hương thơm trong sự sống, sự chết và vẫn tỏa hương thơm hôm nay. Trong những chương này, chúng ta gặp Áp-ra-ham với Sa-ra ở cuối con đường của sự sống, và chúng ta học từ họ ý nghĩa của việc chết trong đức tin.
1. Sự qua đời của một công chúa (Sa 23:1-20)
Sa-ra đã làm một người vợ tốt đối với Áp-ra-ham và một người mẹ tốt đối với Y-sác. Vâng, bà đã có những lỗi lầm, như tất cả chúng ta đều có; Nhưng Đức Chúa Trời đã gọi bà là một công chúa (Sa 17:15) và liệt kê bà cùng với những nam nữ anh hùng đức tin (Hêb 11:11). Sứ-đồ Phi-e-rơ đã kể tên bà như một gương tốt cho những người vợ Cơ-đốc noi theo (IPhi 3:1-6) và Phao-lô đã dùng bà để minh họa ân-điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của tín-hữu (Ga 4:21-31).
• Nước mắt của Áp-ra-ham (Sa 23:1-2).
Rất thường trong chức vụ mục sư của tôi, tôi đã nghe những người có thiện ý nhưng thiếu hiểu biết đã nói với những bè bạn hoặc bà con đau buồn. “Nào đừng khóc!” Đó là lời khuyên rất tầm thường, vì Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta có khả năng để khóc và Ngài mong chúng ta khóc. Ngay cả Chúa Giê-xu cũng đã khóc (Gi 11:35).
Sự đau buồn là một trong những sự ban cho của Đức Chúa Trời để giúp chữa lành những tấm lòng tan vỡ khi những người mà chúng ta yêu mến bị cất khỏi chúng ta trong sự qua đời. Phao-lô không bảo các Cơ-đốc nhân Tê-sa-lô-ni-ca đừng khóc; ông cẩn thận bảo họ đừng buồn rầu “như những người khác không có hy vọng” (ITês 4:13-18). Sự đau buồn của một tín-hữu phải khác với sự đau buồn của một người vô tín.
Áp-ra-ham yêu vợ ông, và sự qua đời của bà là một kinh nghiệm đau đớn đối với ông. Ông bày tỏ tình yêu và sự đau buồn của mình bằng cách khóc. Đây là những giọt nước mắt được ghi lại đầu tiên trong Kinh Thánh, và những giọt nước mắt sẽ không chấm dứt cho đến khi Đức Chúa Trời lau chúng trong vinh hiển (Kh 21:4). Dù là một người có đức tin, Áp-ra-ham không cảm thấy những giọt nước mắt của ông là một chứng cớ của sự vô tín.
Sa-ra đã chết trong đức tin (Hêb 11:11, 13), vì vậy Áp-ra-ham biết rằng bà ở trong sự chăm sóc của Chúa. Trong Cựu-ước, rất ít điều được bày tỏ về đời sau, nhưng người thuộc về Đức Chúa Trời biết rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận họ khi họ chết (Thi 73:24).
Vance Havner quá cố có một người vợ tên Sa-ra. Ngay sau cái chết bất ngờ của bà, tôi đã ở cùng với Tiến sĩ Havner tại trường Kinh Thánh Moody, và tôi đã nói lời chia buồn với ông.
Khi chúng tôi gặp nhau trong phòng ăn, tôi nói với ông “Tôi lấy làm tiếc khi nghe ông đã mất người vợ thân yêu”.
Ông cười và đáp: “Con trai ơi, khi anh biết cái gì đó ở đâu, anh không mất nó”.
Đối với tín-hữu, “ra khỏi thân thể” nghĩa là “ở với Chúa” (Phi 1:21-23; IICôr 5:1-8). Vì vậy Cơ-đốc nhân không tiếp cận sự chết bằng nỗi sợ hãi) “Phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa… để họ có thể nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau” (Kh 14:13).
Sự chết của kẻ ác được mô tả sống động trong Giop 18:1-21, và đó quả là một bức tranh đáng sợ! Khi kẻ ác chết, điều đó giống như thổi tắt một ngọn đèn (Giop 18:5-6), bẫy một con thú hay một con chim (Giop 18:7-10), bắt một phạm nhân (Giop 18:11-14) hoặc nhổ bỏ một cây (Giop 18:18-21). Quả là một sự khác biệt khi bạn biết Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế của bạn và là “sự sống lại và sự sống” (Gi 11:25-26; IITim 1:10).