....lớn nhất có thể xảy ra khi chúng ta kinh-nghiệm những thử-thách Đức Chúa Trời ban-cho đó là chúng ta trở nên gần gũi hơn với Cha chúng ta và trở nên giống Chúa Giê-xu hơn. Đồi Gô-gô-tha không chỉ là nơi Chúa Giê-xu chết thay tội-lỗi chúng ta, nhưng nó cũng là nơi Ngài thánh-hóa sự chịu-khổ và bởi sự phục-sinh của Ngài, Ngài biến đổi sự chịu-khổ thành vinh-hiển.
Hãy tìm cách làm vinh-hiển Chúa, và Ngài sẽ làm phần còn lại.
Martin Luther đã nói: “Sự chịu-khổ của chúng ta không xứng đáng được gọi là sự chịu-khổ. Khi tôi xem xét những thập-tự giá hoạn-nạn và những cám-dỗ của mình, tôi xấu hổ đến chết khi nghĩ rằng chúng là gì khi so sánh với sự chịu-khổ của Chúa Giê-xu phước hạnh của tôi”
5. Hãy trông-mong đến điều Đức Chúa Trời dành cho bạn (Sa 22:15-24)
Luôn có một “hậu cảnh” đối với những thử-nghiệm của đời sống (Hêb 12:11; IPhi 5:10), vì Đức Chúa Trời không bao giờ lãng phí hoạn-nạn. “Nhưng Chúa biết con đường tôi đi, khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng” (Giop 23:10). Áp-ra-ham đã nhận nhiều phước hạnh từ Đức Chúa Trời vì đức-tin vâng-phục của ông.
Trước hết, ông nhận được một sự phê chuẩn mới từ Đức Chúa Trời (Sa 22:12). Áp-ra-ham mô-tả toàn bộ từng-trải khó khăn này như “sự thờ-phượng” (Sa 22:5) vì đối với ông, điều đó là vậy. Ông vâng-theo ý muốn Đức Chúa Trời và tìm cách làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời khen-ngợi ông. Thật có giá-trị để trải qua những thử-thách nếu cuối cùng Cha có thể phán với chúng ta “được lắm!”
•Ông đã nhận lại một đứa con mới.
Y-sác và Áp-ra-ham đã cùng ở tại bàn thờ, và Y-sác giờ đây là một “của lễ sống” (Rô 12:1-2). Đức Chúa Trời đã ban Y-sác cho Áp-ra-ham, và Áp-ra-ham đã dâng Y-sác lại cho Đức Chúa Trời. Chúng ta phải cẩn thận để những sự ban-cho của Đức Chúa Trời không thay thế Đấng ban cho.
Đức Chúa Trời đã ban-cho Áp-ra-ham những sự bảo-đảm mới (Sa 22:16-18), ông đã nghe những lời-hứa này trước đó nhưng giờ đây chúng mang ý nghĩa mới. Charles Spurgeon thường nói rằng những lời-hứa của Đức Chúa Trời không bao giờ chiếu sáng hơn trong lò lửa hoạn-nạn. Điều mà hai người đã làm trên một bàn thờ vắng vẻ, ngày nào đó sẽ đem phước hạnh đến cho cả thế giới!
Áp-ra-ham cũng biết một danh mới của Đức Chúa Trời (Sa 22:14). Như chúng ta đã hiểu Giê-hô-va Di-rê nghĩa là “Đức Giê-hô-va sẽ được nhìn thấy” hoặc “Đức Giê-hô-va sẽ bảo-đảm (chu-cấp)”.
Đền thờ Do-thái đã được xây trên núi Mô-ri-a (IISu 3:1) và suốt thời gian chức-vụ trên đất của Chúa chúng ta, Ngài được thấy có mặt ở đó. Ngài là Chiên Con thật của Đức Chúa Trời, do Đức Chúa Trời ban để chịu chết thay cho tội-lỗi của thế-gian.
Người sáng lập hội China Inland Mission (Bây giờ là Hội Overseas “Missionary Fellowship” – Hội truyền-giáo Hải ngoại), J. Hudson Taylor, thường treo trong gia đình ông tấm bảng có 2 từ Hê-bơ-rơ trên đó “Ebenezer” (Ê-bên-ê-xe) và “Jehovah-jireh” (Giê-hô-va Di-rê). Chúng có nghĩa là: “Đức Giê-hô-va cứu giúp chúng tôi đến bây giờ” (ISa 7:12) và “Đức Giê-hô-va sẽ bảo-đảm”. Dù nhìn lại đàng sau hay nhìn đến phía trước, Hudson Taylor biết Chúa đang hành động, và ông không có gì để sợ hãi.
Khi về đến nhà, Áp-ra-ham nghe tên mới khác Rê-bê-ca (Sa 22:23), người nữ Đức Chúa Trời dành cho Y-sác. Danh sách tên trong gia đình của anh em Áp-ra-ham có thể đã làm nản lòng một người chỉ có một con trai, nhưng Áp-ra-ham không phiền muộn. Xét cho cùng, ông có lời-hứa của Đức Chúa Trời rằng con cháu của ông sẽ nhiều như sao trên trời và cát bờ biển! (Sa 22:17).
Cuối cùng, Áp-ra-ham đã ra khỏi thử-thách này với một tình yêu sâu sắc hơn đối với Chúa. Chúa Giê-xu cho chúng ta biết về tình yêu sâu sắc hơn này trong Gi 14:21-24 và Phao-lô cầu-nguyện về điều đó trong Êph 3:14-21. Bạn đã kinh-nghiệm tình yêu ấy chưa?
22. KÌA CÔ DÂU ĐẾN! (Sa 24:1-67)
Có vẻ kỳ lạ khi chương dài nhất trong Sáng-thế ký kể câu chuyện về cách một người nam lấy vợ. Mặc dù đó là một chủ-đề quan-trọng, và đây là một câu chuyện dễ thương, nó có đáng chiếm nhiều chỗ như thế không? Chỉ 31 câu được dành cho câu chuyện sáng tạo trong Sa 1:1-31; 67 câu được cho phép để kể lại cách Rê-bê-ca trở thành vợ Y-sác. Vì sao?
Trước hết, chương này nhấn-mạnh sự phân-rẽ. Áp-ra-ham cho biết rõ rằng con trai ông không nên cưới một người nữ Ca-na-an (Sa 24:3). Luật-pháp Môi-se không cho phép người nam Do-thái cưới người nữ ngoại đạo (Phuc 7:1-11). Tín-hữu ngày nay cũng không nên lấy những người không tin Chúa (IICôr 6:14-18; ICôr 7:39-40). Sa 24:1-67 là một sự khích-lệ lớn cho những ai cần có ý muốn của Đức Chúa Trời trong việc chọn lựa một người bạn đời.
Ngày nay, mặc dù chúng ta không sử dụng cách tương tự như đầy tớ Áp-ra-ham, nhưng những nguyên-tắc này vẫn ứng-dụng: Chúng ta phải cần có ý muốn của Đức Chúa Trời, chúng ta phải cầu-nguyện và tìm kiếm sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta phải sẵn sàng vâng-lời và chúng ta phải tỉnh táo đối với điều Đức Chúa Trời sắp làm.
Dĩ nhiên, khi người chồng trong câu chuyện là Y-sác, con yêu dấu của Áp-ra-ham, thì câu chuyện mang ý nghĩa lớn hơn. Xét cho cùng, Y-sác là “mắt xích sống động” trong dây xích phước hạnh mà điểm đỉnh là sự giáng-sinh của Cứu Chúa, Giê-xu Christ; vì vậy bất cứ điều gì xảy ra cho Y-sác đều thuộc tầm quan-trọng cực đi ểm trong kế-hoạch cứu-rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời.
Nhưng chương này vượt hơn lịch-sử để vào lãnh vực thần-học. Nó cho chúng ta một bức tranh về việc Cha trên trời chọn một nàng dâu cho Con Ngài (Mat 22:1-14). Hội thánh được ví sánh với một cô dâu (IICôr 11:2-3; Êph 5:22-23). Và suốt thời đại hiện tại này, Thánh Linh đang kêu-gọi con người tin Đấng Christ và “được gả cho Ngài” (Rô 7:4). Những yếu-tố có liên-quan trong hôn-nhân của Y-sác và Rê-bê-ca, cũng có liên-quan trong hôn-nhân của Đấng Christ và Hội thánh của Ngài. Có 4 yếu-tố trong đó.
1. Ý muốn của cha (Sa 24:1-9)
Áp-ra-ham giờ đây được 140 tuổi (Sa 21:5; Sa 25:20) và sẽ sống thêm 35 năm nữa (Sa 25:7). Mối quan-tâm lớn của ông là trước khi ông chết, ông sẽ kiếm một người vợ cho Y-sác con một của ông. Chỉ khi đó Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện những lời-hứa giao-ước của Ngài để chúc phước cho Áp-ra-ham với nhiều con cháu và ban cho họ Ca-na-an làm di-sản của họ (Sa 12:1-3; Sa 13:14-17; Sa 15:18; Sa 21:12).
Trong thời đó cha mẹ sắp đặt hôn-nhân cho con cái. Người nam với người nữ lấy nhau và sau đó học cách yêu nhau (Sa 24:67). Phần nhiều trên thế giới ngày nay, kiểu mẫu này đã khác.
Chúng ta không biết “đầy-tớ lớn tuổi nhất” này là ai. Nếu đó là Ê-li-ê-se (Sa 15:2), vậy ông chắc đã rất già, những sự-kiện được ghi lại trong Sa 15:21 xảy ra hơn 50 năm trước đó. Áp-ra-ham khiến ông thề 3 điều: (1). Ông sẽ không chọn một người vợ cho Y-sác trong vòng những người nữ Ca-na-an; (2). Ông sẽ chọn vợ trong những bà con của Áp-ra-ham, và (3). Ông sẽ không dẫn Y-sác trở lại xứ trước đây của Áp-ra-ham.
Sau khi biết rằng mình đã giao cho đầy-tớ một nhiệm-vụ khó khăn, Áp-ra-ham cũng dành cho người ấy vài lời khích-lệ (Sa 24:7, 39-41). Đức Chúa Trời đã hướng dẫn và chúc phước cho Áp-ra-ham trong 65 năm và giờ đây sẽ không từ bỏ ông. Hơn nữa, Đức Chúa Trời đã ban-cho Áp-ra-ham một lời-hứa cụ thể rằng dòng dõi ông sẽ hưởng đất; Vì vậy điều này có nghĩa là con trai ông phải có một người vợ sanh con cho ông. Sau cùng, Thiên-sứ của Đức Chúa Trời sẽ đi trước người đầy tớ và hướng dẫn ông đến đúng người nữ ấy.
Áp-ra-ham là người có đức-tin nơi Lời Đức Chúa Trời và biết cách áp-dụng lời ấy vào những hoàn-cảnh và những quyết-định cụ thể. Ông tìm cách vâng-lời Đức Chúa Trời vì đức-tin thật trong đó và bạn sẽ càng có sự hướng dẫn từ đó. Điều này áp dụng cho những quyết định về hôn-nhân, nghề nghiệp, chức-vụ hoặc bất cứ lĩnh-vực nào khác trong đời sống. Nếu chúng ta không tin-cậy Lời Đức Chúa Trời và vâng-theo, Ngài sẽ không hướng dẫn chúng ta (Ch 3:5-6).
Giống như Áp-ra-ham cần một cô dâu cho con trai ông, Đức Chúa Trời là Cha cũng quyết định ban một cô dâu cho Con yêu dấu của Ngài. Vì sao? Không phải vì Chúa Giê-xu cần điều g ì, vì Ngài là Con Đời-Đời của Đức Chúa Trời Tự Hữu, tự đáp-ứng và chẳng cần gì cả. Cô dâu là món quà tình yêu của Cha dành cho Con Ngài. Chúng ta thường nhấn-mạnh rằng Con là món quà tình yêu của Cha dành cho thế-gian (Gi 3:16) và quên rằng Hội thánh là món quà tình yêu của Cha dành cho Con Ngài (Gi 17:2,6,9,11,12,24).
Trong những dự-định thiên-thượng về sự vĩnh-cửu, Cha quyết-định cứu những tội-nhân hư-mất bởi ân-điển Ngài, Con đồng ý chịu chết vì tội-lỗi của thế-gian, và Thánh Linh đồng ý áp dụng công việc đó vào đời sống của tất cả những ai sẽ tin. Điều này được bày-tỏ trong Êph 1:1-14 nơi bạn thấy công việc của Đức Chúa Cha (Êph 1:3-6). Đức Chúa Con (Êph 1:7-12) và Đức Thánh Linh (Êph 1:13-14).
Hãy đặc biệt chú ý rằng lý-do cho kế-hoạch cứu-rỗi vĩ đại này là vinh-hiển của Đức Chúa Trời (Êph 1:6, 12, 14). Những ai tin Đấng Christ sẽ là một dân đặc biệt, cơ-nghiệp của Ngài (Êph 1:18) và là cô dâu của Ngài (Êph 5:22-23). Cô dâu của Ngài sẽ đem vinh-hiển đến cho Đấng Christ trên đất và suốt cõi vĩnh-hằng. Một ngày nào đó Chúa Giê-xu sẽ có niềm vui giới thiệu cô dâu của Ngài trong vinh-hiển của Đức Chúa Trời (Hêb 12:2; Giu 1:24).
Lần sau khi bạn có đặc quyền làm-chứng cho Chúa Giê-xu, hãy nhớ rằng bạn đang mời người khác đến với tiệc cưới!
2. Chứng-cớ của người đầy-tớ (Sa 24:10-49)
•Đầy tớ.
Áp-ra-ham và Y-sác đều không đi tìm cô dâu; Nhiệm-vụ được giao cho một đầy-tớ vô danh, người hoàn toàn tận tụy. Tên mà người đầy-tớ này thích dùng để gọi Áp-ra-ham là“chủ tôi”, được ông sử dụng 19 lần trong câu chuyện này. Ông đã sống và phục-vụ chỉ để làm hài-lòng chủ ông, và đó là một gương tốt cho chúng ta noi theo ngày nay.
Người đầy-tớ nhận những mệnh-lệnh từ chủ ông và không thay đổi chúng. Khi ông thề vâng-phục thì ông thật sự chắc chắn như vậy và giữ nó. Dù nhiệm-vụ của ông thành công hay thất bại, người đầy-tớ biết mình sẽ phải tường trình với chủ ông, và ông muốn có thể làm như vậy mà không có sự bẽ bàng (Rô 14:10-12; IGi 2:28).
Nhưng làm thế nào ông sẽ đi kiếm đúng người nữ cho con trai của chủ ông? Người đầy-tớ đã hành động bằng đức-tin nơi Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Y-sác (Sa 24:12). Ông tin lời-hứa của Đức Chúa Trời và tin-cậy sự định-liệu của Đức Chúa Trời để hướng dẫn ông (Sa 24:27). Ông dành thời gian để cầu-nguyện và cầu-xin Đức Chúa Trời giúp đỡ, rồi ông giữ cho mắt mình mở để thấy điều Đức Chúa Trời có thể làm.
Thật ra, trong khi ông cầu-nguyện, Đức Chúa Trời đã ban sự nhậm-lời (Ês 65:24). Người đầy-tớ không bốc đồng nhưng chờ đợi Chúa để thấy điều Ngài có thể làm (Sa 24:21).
“Ai tin sẽ không hành động gấp rút” (Ês 28:16 NKJV).
•Cô dâu.
Trong sự định-liệu của Ngài, Đức Chúa Trời đã đem Rê-bê-ca đến giếng nước ngay khi người đầy-tớ đang cầu-nguyện, và nàng đã làm chính xác điều mà người đầy tớ đã cầu-nguyện. Người đầy-tớ đã làm điều mà Ghi-đê-ôn sẽ làm những năm sau đó, “trải lông chiên” (Cac 6:36-40).
Đây không phải là cách tốt nhất để dân-sự Đức Chúa Trời xác định ý muốn của Đức Chúa Trời, vì những điều kiện chúng ta đặt ra cho Đức Chúa Trời đáp-ứng có thể không ở trong ý muốn Ngài. Chúng ta đang bước đi bởi ngoại-cảnh chớ không bởi đức-tin, và chúng ta có thể đi đến chỗ thử Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã thích ứng chính Ngài trước những nhu-cầu của người đầy-tớ (và Ghê-đê-ôn) và hướng dẫn họ khi họ cầu-xin.
Rê-bê-ca chẳng biết rằng làm một nhiệm-vụ khiêm-nhường cho một khách lạ sẽ khiến nàng trở thành cô dâu của một người giàu có là người ở trong mối liên-hệ giao-ước với Đức Chúa Trời. Nàng sẽ trở thành mẹ của Gia-cốp và Gia-cốp sẽ trở thành tổ-phụ của 12 chi phái Y-sơ-ra-ên! Những năm trước đây, tôi đã đọc một câu trích dẫn của một tác-giả được nhận biết chỉ như “Marsden” và nó đã gắn bó với tôi: “Hãy khiến mọi cơ-hội trở nên một cơ-hội lớn, vì bạn không bao giờ có thể biết khi nào ai đó có thể chọn tiêu-chuẩn của bạn cho một vị trí lớn hơn”.
Người đầy-tớ đang đánh giá Rê-bê-ca để thấy nàng có phải sẽ trở thành một người vợ tốt đối với Y-sác hay không. Ông có thể thấy rằng nàng tử tế, vui vẻ, khiêm-nhường, khỏe mạnh và là một người làm việc siêng năng. Cho 10 con lạc đà uống nước không phải là một công việc dễ dàng! Sau một đoạn đường dài, một con lạc đà khát nước có thể uống 40 ga-lông nước; và Rê-bê-ca đã phải kéo tất cả khoản nước đó bằng tay.
“Nàng là con ai?” (Sa 24:23), là một câu hỏi căn-bản cho bất cứ một người cầu hôn để hỏi. Dĩ nhiên, người đầy tớ quan-tâm về gia đình nàng, nhưng câu hỏi này có một ứng dụng rộng rãi hơn cho tín-hữu Cơ-đốc ngày nay, cả nam lẫn nữ. “Bạn có phải là con cái Đức Chúa Trời? Bạn đã được tái-sinh trong gia đình Đức Chúa Trời chưa?” Quả là một bi kịch khi các tín-hữu lấy những người không tin Chúa và tìm cách lập một gia đình không có phước hạnh trọn-vẹn của Đức Chúa Trời.
•Gia đình.
Rê-bê-ca nhận những món quà của nàng và chạy về nhà để kể cho cha, mẹ và anh của nàng là La-ban (người dường như là chủ trong gia đình) biết rằng một người khách rời rộng cần một nơi để họ qua đêm. Sự tiếp khách là luật đầu tiên của Đông phương, vì vậy gia đình này đi ra để đón vị khách. Tính-cách của La-ban được bày-tỏ trong Sa 24:30.
Ông bị kích thích về những quà tặng đắt giá hơn là đặc quyền bày-tỏ sự hiếu khách đối với một khách lạ. Y-sác và con trai của Rê-bê-ca là Gia-cốp những năm sau đó sẽ khám-phá La-ban thật sự là một kẻ khôn khéo (Sa 29:1-31:55).
Người đầy-tớ không ăn cho đến khi ông đã thực hiện xong nhiệm-vụ của mình (Sa 24:33; Gi 4:32). Ông không nói về chính mình, nhưng về Y-sác và của cải lớn của người. (Đoàn lạc đà 10 con giúp cho biết câu chuyện). Ông kể lại kinh-nghiệm của mình tại giếng nước, và lần đầu tiên Rê-bê-ca phát hiện rằng nàng đã được “đo lường” cho một phần việc mới và thú vị. Nhưng liệu họ sẽ để nàng đi và nàng sẽ vui lòng đi chăng?
Trước khi chúng ta biết câu trả lời cho những câu hỏi đó, chúng ta phải dừng lại để thấy th ế nào người đầy-tớ minh họa về công việc của Thánh Linh trên thế giới ngày nay khi Ngài sử dụng chúng ta để làm-chứng về Chúa Giê-xu Christ (Công 1:8). Ông đã không nói về chính mình nhưng về chủ của ông và sự giàu có của người (Gi 15:26; Gi 16:13-14). Ông đưa ra những bằng-chứng về sự giàu có của chủ ông giống như Thánh Linh ban cho chúng ta “những quả đầu mùa” và “phần thưởng” về sự giàu có thuộc-linh của chúng ta trong Đấng Christ (Êph 1:13-14). Nhưng điều tốt nhất sắp xảy đến!
Công việc của người đầy-tớ không phải là lý luận hay đút lót nhưng đơn giản là làm-chứng về sự cao-trọng của chủ mình. Ông không buộc Rê-bê-ca phải lấy Y-sác, ông chỉ trình-bày cho nàng những sự thật và cơ-hội để thực hiện một quyết định. Mặc dù không có gì sai trái với việc thúc giục người khác được cứu (Công 2:40), nhưng chúng ta phải cẩn thận đừng tìm cách thay thế Thánh Linh là Đấng duy nhất có thể làm công việc lên án trong lòng người (Gi 16:7-11).
3. Sự tự nguyện của cô dâu (Sa 24:50-60)
Mẹ và anh của Rê-bê-ca sẵn sàng để nàng trở thành vợ Y-sác, nhưng họ muốn nàng chờ ít nhất 10 ngày trước khi rời gia đình. Đây là một yêu cầu bình thường, vì cha mẹ muốn dành nhiều thời gian có thể được để ở cạnh nàng và thậm chí để mời các láng giềng chung vui với họ (Sa 31:25-27).
Dĩ nhiên, họ vui-mừng với của cải người đầy-tớ dâng cho họ mà có lẽ là của hồi môn, và chắc chắn họ muốn nghe nhiều hơn về Y-sác và gia đình mà Rê-bê-ca sẽ dự phần với họ.
Như người đầy-tớ không trì hoãn trong việc trình-bày sự thỉnh cầu của mình (Sa 24:33), ông cũng không trì hoãn trong việc hoàn thành nhiệm-vụ mình. Khi Chúa hành động, đó là thời gian cứ đi! Ông đề nghị để họ cho Rê-bê-ca thực hiện sự chọn lựa, và lời đáp của nàng là “Tôi sẽ đi”. Đây là quyết định mà mỗi tội-nhân phải thực hiện nếu người đó muốn “được gả cho Đấng Christ” và dự phần gia đình của Ngài trên trời.
Điều gì thúc đẩy Rê-bê-ca thực hiện quyết định đúng đắn? Nàng đã nghe về Y-sác và tin điều đó. Nàng nhìn thấy chứng-cớ về sự cao-trọng, sự rời rộng và sự giàu có của chàng nên nàng muốn thuộc về chàng trong phần đời còn lại của mình. Nàng chưa từng thấy Y-sác (IPhi 1:3) nhưng điều nàng đã nghe về chàng thuyết phục nàng đi đến Ca-na-an với người đầy-tớ.
Cha mẹ, và bè bạn của nàng có thể trình-bày cho nàng nhiều lý lẽ để chờ đợi hoặc thậm chí nói “Không”. “Con chưa bao giờ thấy người đàn ông này mà!”“Có thể người đầy-tớ này là một kẻ gian!”, “Gần 500 dặm đến nơi Y-sác sống. Đó là một chuyến đi dài!”, “Bạn có thể không bao giờ gặp lại gia đình mình!” Nhưng nàng quyết định thực hiện hành-trình dài khó khăn và trở thành vợ của một người mà nàng chỉ biết bởi lời đồn.
•Sự ứng-dụng thật rõ ràng cho người chưa được cứu ngày nay.
Họ không nên trì hoãn trong việc thực hiện quyết định của mình đối với Đấng Christ. Đó là một quyết định của đức-tin, dựa trên chứng-cớ do Thánh Linh cung-cấp qua Lời Chúa và sự làm-chứng của Hội thánh. Tội-nhân nào trì hoãn đều ở trong hiểm họa đánh mất cơ-hội thuộc về gia đình Đức Chúa Trời và sống trên Thiên-Đàng (Gi 14:1-6).
“Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng” (Hêb 3:7, 15).
“Kìa, hiện nay là thì thuận tiện, kìa hiện nay là ngày cứu-rỗi” (IICôr 5:2).
Vào cuối buổi nhóm trong một chiến dịch lớn về truyền-giảng Phúc-Âm do ông hướng dẫn ở Fort Worth, Texas, Tiến-sĩ George W. Truett, lúc bấy giờ là mục-sư của Hội thánh First Baptist ở Dallas, đã nói với một hội chúng đông đảo: “Sa-tan không quan tâm nếu người ta đến nhà của Đức Chúa Trời, và đến với những buổi nhóm chung như vầy, chăm chú, trang nghiêm và cảm động sâu sắc, nếu họ chỉ để cho cơ-hội tôn-giáo đi qua, và không tăng-trưởng. Ôi, khả năng đáng sợ, đó là cơ-hội tôn-giáo có thể đến rồi đi qua, và những điều cao-trọng nhất của linh-hồn bị đánh mất và mất mãi-mãi” (A Request for Soul –một nhu-cầu cho linh-hồn, tr.362). Thật là khả năng đáng sợ!
Một thế kỷ rưỡi trước đó, Charles Spurgeon đã nói với hội chúng của ông ở Luân-đôn: “Mười ngày có vẻ không quá dài, nhưng chúng có thể là mười ngày quá trễ. Một ngày dường như không nhiều, nhưng một ngày có thể là một ngày quá trễ, và một ngày quá trễ là quá trễ mãi-mãi. Vâng, một phút quá trễ là một cõi vĩnh-hằng quá trễ!” (Metropolitan Tabernacle Pulpit, cuốn 13 tr. 533).
Toàn bộ câu chuyện cho thấy rõ Đức Chúa Trời đã chọn Rê-bê-ca cho Y-sác, vì sự dẫn dắt lo-liệu của Ngài được nhìn thấy mỗi bước đường. Nhưng Rê-bê-ca đã phải thực hiện sự chọn lựa của nàng về Y-sác, không có mâu thuẫn giữa quyền tối-cao thiên-thượng (kế-hoạch của Đức Chúa Trời) và trách-nhiệm của con người (sự chọn lựa của con người).
Thật ra, Chúa Giê-xu đã dạy cả 2 điều trong một nhận định. “Phàm những kẻ Cha cho Ta sẽ đến cùng Ta (quyền tối-cao thiên-thượng), kẻ đến cùng Ta (trách-nhiệm của loài người) thì Ta không bỏ ra ngoài đâu” (Gi 6:37).
“Tôi có phải là người được chọn của Đức Chúa Trời?” Không phải là câu hỏi mà tội-nhân hư-mất nên hỏi, lời khuyên “Hãy chú ý cho chắc về sự Chúa kêu-gọi và chọn lựa mình” được viết cho các tín-hữu (IIPhi 1:10) không phải cho tội-nhân hư-mất. Câu hỏi mà tội-nhân hư-mất nên hỏi là “Tôi phải làm gì để được cứu?” (Công 16:30; Công 2:37). Và câu trả lời là “Hãy tin Đức Chúa Giê-xu” (Công 16:31). Khi Đức Chúa Trời phán với bạn, đó là lúc để đáp-ứng và đặt đức-tin bạn nơi Đấng Christ (Ês 55:6-7).
Frank Boreham đã viết: “Chúng ta thực hiện những quyết định của mình, rồi sau đó những quyết định của chúng ta trở lại và đặt để chúng ta. Từ giây phút rời gia đình mình (Sa 35:8), Rê-bê-ca ở dưới sự chăm-sóc lo-liệu đặc biệt của Đức Chúa Trời và giờ đây nàng là một phần trong kế-hoạch ly kỳ sẽ đem sự cứu-rỗi đến cho cả thế giới (Sa 12:1-3). Nếu nàng ở lại Mê-sô-bô-ta-mi và lấy một trong số những người nam địa phương, chúng ta sẽ không bao giờ nghe về nàng nữa.”
4. Sự nghênh đón của chú rễ (Sa 24:61-67)
Những lạc đà có thể đi khoảng 25 dặm một ngày và có thể đi hết 60 dặm, nếu chúng phải đi, người đi bộ trung bình đi khoảng 20 dặm một ngày. Một đoàn lạc đà mười con với những tùy tùng và bảo vệ, có thể dễ dàng thực hiện chuyến đi từ Hếp-rôn đến Mê-sô-bô-ta-mi và trở về (khoảng 900 dặm) chưa đầy hai tháng. Người đầy-tớ là loại người không cho phép sự trì hoãn và nôn nóng hoàn thành nhiệm-vụ của mình một cách thành công. Chắc chắn Áp-ra-ham và Y-sác đang cầu-nguyện cho ông và nhiệm-vụ của ông, và những lời cầu-nguyện của họ đã được nhậm lời.
Y-sác là hình ảnh của Chúa Giê-xu Christ qua sự ra đời kỳ diệu của ông (Sa 21:1-34) qua sự sẵn sàng vâng-phục cha và phó sự sống mình (Sa 22:1-24). Chúng ta để ý rằng Sa 22:19 không cho chúng ta biết rằng ông đã cùng cha trở về từ núi Mô-ri-a, mặc dù chắc chắn như vậy (Sa 22:5). Sự bỏ sót này gợi ý sự thăng-thiên của Chúa chúng ta: Ngài đã trở về với sự vinh-hiển và chờ thời gian tiếp nhận cô dâu của Ngài (ITês 4:13-18).
Y-sác không sống với cha ông vào thời gian đó nhưng ở miền Nam Hếp-rôn, sẵn sàng để lập gia đình riêng của ông. Y-sác được nhận biết bởi những giếng nước (Sa 24:62; Sa 25:11; Sa 26:17-33) giống như Áp-ra-ham được nhận biết bởi những bàn thờ. Nước là một phương-tiện quý báu và phải được bảo vệ cẩn thận.
Tên của giếng nước sẽ là một sự khích-lệ cho Y-sác khi ông chờ đợi sự trở về của người đầy-tớ: “Giếng của Đấng Hằng Sống đoái xem tôi” ( Sa 16:14). Nếu Đức Chúa Trời chăm-sóc A-ga và đáp ứng những nhu-cầu của bà, chắc chắn Ngài sẽ chăm sóc Y-sác và ban người vợ ông cần để duy trì dòng dõi Mết-si-a. Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời hằng sống Đấng nhìn xem mọi sự và ho ạch định mọi điều vì vinh-hiển Ngài và vì ích lợi của con cái Ngài.
Sa 24:63 gợi ý rằng Y-sác là một người trầm lặng, hay suy gẫm, người thường suy nghĩ những điều thuộc về Chúa trong nơi vắng vẻ (Thi 1:2). Vợ ông là mẫu người hoạt động, vì vậy sẽ có một sự quân-bình tốt đẹp trong gia đình họ. Hai người nhìn nhau từ xa, và Rê-bê-ca đã xuống lạc đà để nàng có thể đi bộ gặp chàng. Vào thời đó, nếu người nữ cỡi con thú trong sự hiện diện của người nam xa lạ, bị xem là vi phạm phép xã giao. Nàng cũng mang mạng che mặt dài, là dấu hiệu về sự thùy mị và đầu-phục của nàng.
Thật ý nghĩa khi Y-sác gặp cô dâu của ông “lối chiều” (Sa 24:63), vì khi Chúa Giê-xu đến rước Hội thánh Ngài, đó sẽ là thời kỳ của sự tối tăm thuộc-linh (Rô 13:11-14). Giống như một ngày mới hiện ra đối với Rê-bê-ca, sự đến của Chúa Giê-xu Christ cũng sẽ mở ra một ngày mới cho dân-sự Ngài (ITês 5:1-11)
Nhưng sự gặp mặt đó có liên-quan nhiều hơn là tiếp nhận cô dâu của chàng rễ. Người đầy-tớ cũng báo cáo về chính ông trước con trai của chủ ông (Sa 24:66). Khi Chúa Giê-xu Christ đến rước Hội thánh Ngài, sẽ không chỉ có một tiệc cưới vui-mừng (Kh 19:1-9) mà cũng có một ngôi xét-đoán long trọng (Rô 14:10-13; IICôr 5:9-10) nơi những công việc của chúng ta sẽ được xem xét và những phần thưởng được ban ra (ICôr 3:13-15; ICôr 4:1-5).
Với Y-sác, đó là “tình yêu ở cái nhìn đầu tiên”, nhưng Chúa Giê-xu Christ đã thấy gì nơi chúng ta để Ngài sẽ cần chúng ta làm cô dâu của Ngài? Chúng ta là những tội nhân chống nghịch không có vẻ đẹp hay tài trí gì để khoe khoang, nhưng Chúa Giê-xu đã yêu chúng ta và chết thay chúng ta (Rô 5:6-8).
Rê-bê-ca đã nhận một số quà tặng của Y-sác, nhưng giờ đây nàng là của riêng chàng, nàng có mọi sự chàng có. Đời sống của họ là một, và điều đó cũng vậy đối với Đấng Christ và Hội thánh của Ngài (Êph 5:21-23).
Đây hơn hẳn một câu chuyện tình yêu ngẫu nhiên, bình dị. Nó có thể là câu chuyện tình yêu của bạn hôm nay nếu bạn tin Chúa Giê-xu Christ và nói “Tôi sẽ đi!”
Nếu bạn đã thuộc về Chúa Giê-xu Christ, vậy hãy giống như người đầy-tớ trung-tín và cho những người khác biết tin mừng về cuộc hôn-nhân và lễ cưới vinh-hiển sắp đến. Hãy mời họ nói “Tôi sẽ đi!”
23. MỘT KỲ ĐỂ CHẾT! (Sa 23:1-20 Sa 25:1-11)
Vua Sa-lô-môn đã nói: “Danh tiếng hơn dầu quý giá, ngày chết hơn ngày sinh” (Tr 7:1). Ông nói rằng sự chết tốt hơn sự sinh ra; Vì, xét cho cùng, chúng ta phải được sinh ra trước khi chúng ta có thể chết.
Quan-điểm của Sa-lô-môn là tên được dành cho bạn lúc sinh ra giống như dầu thơm, và bạn phải gìn giữ nó như thế cho đến khi bạn chết. Khi bạn nhận tên của mình lúc sinh ra, không ai biết bạn sẽ làm nên điều gì từ tên đó; Nhưng lúc chết, tên đó hoặc tỏa hương thơm hoặc hôi thối. Nếu tên ấy tỏa hương thơm lúc chết, thì người ta có thể vui mừng; Vì trước khi chết, không điều gì có thể thay đổi nó. Vì vậy, đối với một người có danh tiếng, ngày chết hơn ngày sinh.
Tên của Áp-ra-ham với Sa-ra đã tỏa hương thơm trong sự sống, sự chết và vẫn tỏa hương thơm hôm nay. Trong những chương này, chúng ta gặp Áp-ra-ham với Sa-ra ở cuối con đường của sự sống, và chúng ta học từ họ ý nghĩa của việc chết trong đức-tin.
1. Sự qua đời của một công chúa (Sa 23:1-20)
Sa-ra đã làm một người vợ tốt đối với Áp-ra-ham và một người mẹ tốt đối với Y-sác. Vâng, bà đã có những lỗi lầm, như tất cả chúng ta đều có; Nhưng Đức Chúa Trời đã gọi bà là một công chúa (Sa 17:15) và liệt-kê bà cùng với những nam nữ anh hùng đức-tin (Hêb 11:11). Sứ-đồ Phi-e-rơ đã kể tên bà như một gương tốt cho những người vợ Cơ-đốc noi theo (IPhi 3:1-6) và Phao-lô đã dùng bà để minh họa ân-điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của tín-hữu (Ga 4:21-31).
•Nước mắt của Áp-ra-ham (Sa 23:1-2).
Rất thường trong chức-vụ mục-sư của tôi, tôi đã nghe những người có thiện ý nhưng thiếu hiểu biết đã nói với những bè bạn hoặc bà con đau buồn. “Nào đừng khóc!” Đó là lời khuyên rất tầm thường, vì Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta có khả năng để khóc và Ngài mong chúng ta khóc. Ngay cả Chúa Giê-xu cũng đã khóc (Gi 11:35).
Sự đau buồn là một trong những sự ban-cho của Đức Chúa Trời để giúp chữa lành những tấm-lòng tan vỡ khi những người mà chúng ta yêu mến bị cất khỏi chúng ta trong sự qua đời. Phao-lô không bảo các Cơ-đốc nhân Tê-sa-lô-ni-ca đừng khóc; ông cẩn thận bảo họ đừng buồn rầu “như những người khác không có hy-vọng” (ITês 4:13-18). Sự đau buồn của một tín-hữu phải khác với sự đau buồn của một người vô-tín.
Áp-ra-ham yêu vợ ông, và sự qua đời của bà là một kinh-nghiệm đau đớn đối với ông. Ông bày tỏ tình yêu và sự đau buồn của mình bằng cách khóc. Đây là những giọt nước mắt được ghi lại đầu tiên trong Kinh Thánh, và những giọt nước mắt sẽ không chấm dứt cho đến khi Đức Chúa Trời lau chúng trong vinh-hiển (Kh 21:4). Dù là một người có đức-tin, Áp-ra-ham không cảm thấy những giọt nước mắt của ông là một chứng-cớ của sự vô-tín.
Sa-ra đã chết trong đức-tin (Hêb 11:11, 13), vì vậy Áp-ra-ham biết rằng bà ở trong sự chăm-sóc của Chúa. Trong Cựu-ước, rất ít điều được bày-tỏ về đời sau, nhưng người thuộc về Đức Chúa Trời biết rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận họ khi họ chết (Thi 73:24).
Vance Havner quá cố có một người vợ tên Sa-ra. Ngay sau cái chết bất ngờ của bà, tôi đã ở cùng với Tiến-sĩ Havner tại trường Kinh Thánh Moody, và tôi đã nói lời chia buồn với ông.
Khi chúng tôi gặp nhau trong phòng ăn, tôi nói với ông “Tôi lấy làm tiếc khi nghe ông đã mất người vợ thân yêu”.
Ông cười và đáp: “Con trai ơi, khi anh biết cái gì đó ở đâu, anh không mất nó”.
Đối với tín-hữu, “ra khỏi thân thể” nghĩa là “ở với Chúa” (Phi 1:21-23; IICôr 5:1-8). Vì vậy Cơ-đốc nhân không tiếp cận sự chết bằng nỗi sợ hãi) “Phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa… để họ có thể nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau” (Kh 14:13).
Sự chết của kẻ ác được mô tả sống động trong Giop 18:1-21, và đó quả là một bức tranh đáng sợ! Khi kẻ ác chết, điều đó giống như thổi tắt một ngọn đèn (Giop 18:5-6), bẫy một con thú hay một con chim (Giop 18:7-10), bắt một phạm-nhân (Giop 18:11-14) hoặc nhổ bỏ một cây (Giop 18:18-21). Quả là một sự khác biệt khi bạn biết Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế của bạn và là “sự sống lại và sự sống” (Gi 11:25-26; IITim 1:10).
•Lời-chứng của Áp-ra-ham (Sa 18:15-21).
Chúng ta không thể than khóc mãi về những người đã chết của chúng ta; Có một lúc khi chúng ta phải chấp nhận điều đã xảy ra, đối diện với đời sống, và thực hiện những bổn-phận của mình đối với người sống và người chết. Vì không phải là một công dân của đất (Hêb 11:13), Áp-ra-ham phải yêu-cầu một nơi chôn vợ ông. Sự thật là Áp-ra-ham đã làm chủ toàn đất. Đức Chúa Trời đã ban đất cho ông, nhưng không có cách nào ông có thể thuyết phục các láng giềng của mình tin về điều đó.
Giống như Áp-ra-ham, dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay là “người bộ-hành và khách-lạ” trong đời hiện tại này (IPhi 1:1 2:11). Chúng ta sống trong những “lều” (IICôr 5:1-8), mà ngày nào đó sẽ bị tháo dỡ khi chúng ta đi đến sự vinh-hiển. Khi Phao-lô viết “kỳ qua đời của ta gần rồi” (IITim 4:6), ông sử dụng một từ quân đội nghĩa là “hạ trại và di chuyển”. Thân thể hiện tại của chúng ta là tạm thời, nhưng một ngày nào đó chúng ta sẽ nhận một thân thể vinh-hiển giống như thân thể Chúa Giê-xu hiện nay đang có ở thiên-đàng (Phi 3:20-21; IGi 3:1-3).
Dân trong xứ gọi Áp-ra-ham là “một hoàng tử hùng mạnh” (Sa 23:6) mà theo tiếng Hê-bơ-rơ là “một hoàng tử có Đức Chúa Trời”. Ông có một lời-chứng tốt giữa vòng họ, và họ tôn-trọng ông. Dù thế-gian này không phải là quê hương của chúng ta, chúng ta phải cẩn thận với tư cách người bộ hành và khách lạ để có một lời-chứng tốt trước những người ở ngoài đức-tin (ITês 4:12; Côl 4:5; IPhi 2:11).
Dân Hếch này không thờ-phượng Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, nhưng họ tôn-trọng Áp-ra-ham và đức-tin của ông. Thật ra, họ đã đề-nghị với ông sử dụng một trong những ngôi mộ của họ (Sa 23:6). Nhưng Áp-ra-ham chối từ.
Thật là một điều kỳ diệu trong lúc đau buồn khi con cái Đức Chúa Trời có một chứng cớ mạnh mẽ trước những người hư-mất. Có một sự buồn rầu tự nhiên mà mọi người mong chúng ta biểu-lộ, nhưng cũng có một ân phước siêu nhiên mà Đức Chúa Trời ban cho để chúng ta có thể có sự vui-mừng giữa cơn buồn rầu. Người chưa được cứu có thể xác định sự khác biệt, và điều này cho chúng ta cơ-hội chia-sẻ tin mừng của Phúc-Âm.
•Cách xử trí của Áp-ra-ham (Sa 23:7-16).
Ở phương Đông thời đó, hầu hết những giao dịch mua bán được thực hiện tại cửa thành (Sa 23:10) có những người làm-chứng (Sa 23:7). Việc đi đến một giá cuối cùng cho một mảnh đất thường đòi hỏi nhiều về sự mặc cả và lịch sự cung-kính mà đôi khi che đậy sự tham lam và mưu-đồ. Nhưng Áp-ra-ham cởi mở và thành thật trong yêu-cầu của ông. Ông muốn mua hang đá Mặc-bê-la của Ép-rôn, là người ở trong đám đông lúc bấy giờ.
Theo phong tục của Đông phương, Ép-rôn đề-nghị dâng cho Áp-ra-ham không chỉ hang đá mà còn cả cánh đồng nơi có hang đá. Dĩ nhiên, đây chỉ là một thủ đoạn khôn khéo của ông ta, vì ông không có ý định cho đi một mảnh đất quý giá, đặc biệt cho một người giàu có như Áp-ra-ham. Nhưng câu trả lời của Ép-rôn cho Áp-ra-ham 2 thông tin: Ép-rôn muốn bán nhưng ông muốn bán cả cánh đồng chớ không chỉ hang đá.
Ép-rôn đã dồn Áp-ra-ham vào góc tường, và ông biết điều đó. Sa-ra phải được chôn sớm, và Ép-rôn biết mình có mảnh đất duy nhất đáp-ứng những nhu-cầu của Áp-ra-ham. Vì vậy, Áp-ra-ham đồng ý mua hang đá và cả cánh đồng thậm chí trước khi Ép-rôn định giá. Đó thật sự là sống bởi đức-tin! Giá của Ép-rôn quá cao, nhưng Áp-ra-ham đã trả giá đó và nhận lấy bất động sản cho chính mình.
Trong Công 7:15-16, Ê-tiên dường như mâu thuẫn với sự ghi chép trong Sáng-thế ký bằng cách nói rằng Áp-ra-ham đã mua mảnh đất này của Hê-mô và nó nằm ở Si-chem hơn là ở Hếp-rôn (Sa 23:19). Nhưng chắc chắn hai mộ địa khác nhau này đều được nhìn thấy ở đây. Dường như Áp-ra-ham đã mua một mộ địa thứ hai của Hê-mô ở Si-chem và Gia-cốp đã phải mua lại nó những năm sau đó (Sa 33:18-19). Vì Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đã đi lại khá nhiều, sẽ khó khăn cho những cư dân của xứ theo dõi họ và tài-sản thật sự của gia đình họ.
Trong những giao dịch mua bán của chúng ta với người thế gian, chúng ta phải cẩn thận duy trì sự thành thật với chính trực và đặt sự làm chứng về Chúa trước lợi ích tiền bạc, Áp-ra-ham biết rằng Ép-rôn đã gài bẫy ông và thật dại dột để mặc cả về giá như những người Đông phương thích làm.
•Ngôi mộ của Áp-ra-ham (Sa 23:17-20).
Nhóm từ chính trong chương này, được sử dụng 7 lần, đó là “hãy chôn người chết (của chúa đi)” bà Sa-ra đã qua đời, Áp-ra-ham bày tỏ sự tôn-trọng đối với thân xác bà và muốn dành cho nó một sự chôn cất thích đáng. Đây là kiểu mẫu đối với dân-sự của Đức Chúa Trời suốt Kinh Thánh. Người Do-thái thời Cựu-Ước và Cơ-đốc nhân thời Tân-Ước đều không hỏa táng người chết của họ.
Đúng hơn, họ rửa xác, bọc trong vải sạch có hương liệu, và đặt xác dưới đất hay trong mộ. Mặc dù có thể có một số trường hợp khi sự hỏa táng là cách tốt hơn để giải quyết xác chết, đa số Cơ-đốc nhân thích việc chôn cất hơn. Đây là cách thân thể của Chúa chúng ta được giải quyết sau sự chết của Ngài (Mat 27:57-61), và Phao-lô dường như dạy về sự chôn cất trong ICôr 15:35-46.
Khi Áp-ra-ham mua hang đá Mặc-bê-la làm phần mộ, ông đang thực hiện một nhận định về đức tin trước mọi người có mặt ở đó. Ông không đem Sa-ra trở về quê hương trước đó của họ ở U-rơ nhưng chôn bà trong xứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông cùng con cháu ông. Ông không lơ là với x ác chết nhưng dành cho nó một sự chôn cất thích đáng theo quan-điểm về sự sống lại đã được hứa ban. Khi Đức Chúa Trời cứu chúng ta, Ngài cứu cả con người, không chỉ “linh-hồn”. Thân thể có một tương lai, và sự chôn cất làm-chứng cho đức-tin của chúng ta nơi sự tái-lâm của Đấng Christ cùng sự sống lại của thân thể.
Tuy nhiên, phải được chỉ rõ ràng sự sống lại không phải là “sự xây dựng lại”. Đức Chúa Trời sẽ không tập hợp lại bụi đất của thân thể và phục-hồi thân thể thành trạng-thái trước đây của nó. Đức Chúa Trời hứa ban cho chúng ta một thân thể mới! Trong ICôr 15:35-38, Phao-lô cho biết rõ rằng có sự liên tục chớ không phải sự đồng nhất giữa thân thể cũ và thân thể mới.
Ông minh họa phép-lạ này bằng việc gieo một hạt giống. Hạt giống chết và hư-mất, nhưng từ đó sinh ra một bông hoa xinh đẹp hoặc hạt lúa nào đó. Có sự liên tục chớ không phải sự đồng nhất; cùng một hạt giống không ra từ đất, nhưng cái gì đã ra thì đã ra từ hạt giống đã được gieo. Sự chôn của Cơ-đốc nhân mang chứng-cớ rằng chúng ta tin nơi sự sống lại trong tương lai.
Khi bạn đi đến phần kết của Sáng-thế ký, bạn thấy rằng mộ phần ở Mặc-bê-la hoàn toàn đông đủ. Sa-ra được chôn ở đó, và rồi đến Áp-ra-ham, Y-sác, Rê-bê-ca và Lê-a (Sa 49:29-31). Và sau đó Gia-cốp dự phần với họ (Sa 50:13). Sáng-thế ký kết thúc với một ngôi mộ đông đủ, nhưng 4 sách Phúc-Âm kết thúc với một ngôi mộ trống rỗng! Chúa Giê-xu đã chiến thắng sự chết và cất đi cái nọc của nó (ICôr 15:55-58). Bởi chiến thắng của Ngài, chúng ta không phải sợ sự chết hay âm-ty.
Áp-ra-ham làm chủ toàn xứ, nhưng mảnh đất duy nhất hợp pháp thuộc về ông là một ngôi mộ. Nếu Chúa Giê-xu không tái-lâm để cất chúng ta lên trời, mảnh đất duy nhất mà mỗi chúng ta sẽ làm chủ ở đời này sẽ chỉ là một phần đất trong nghĩa trang! Chúng ta sẽ không đem gì theo; chúng ta sẽ bỏ tất cả ở đằng sau (ITim 6:7). Nhưng nếu chúng ta đang đầu tư vào những điều đời-đời chúng ta có thể gởi nó đi trước (Mat 6:19-34). Nếu chúng ta sống bởi đức-tin, vậy chúng ta có thể chết bởi đức-tin, và khi bạn chết bởi đức-tin, bạn có một tương lai tuyệt diệu.
Vào 11/1858 nhà truyền-giáo John Paton đã ghé vào quần đảo New Hebrides để thiết lập một công việc phục-vụ giữa vòng dân bản xứ. Vào 12/2/1859, vợ ông sinh m ột con trai, và vào 3/3 vợ ông chết. Mười bảy ngày sau, đứa bé chết. Paton đã nói: “Nếu không có Chúa Giê-xu và mối giao-thông mà Ngài đã ban cho tôi ở đó, tôi chắc đã mất trí và chết bên cạnh phần mộ đơn độc đó”.
Nhưng chúng ta không buồn rầu như những người không có hy-vọng! Chúng ta đã được tái-sinh vào “một sự trông-cậy sống bởi sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ từ trong kẻ chết” (IPhi 1:3 NKJV) và chúng ta “đang chờ đợi sự trông-cậy hạnh phước đó, và sự hiện ra vinh-hiển của Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa Giê-xu Christ của chúng ta” (Tit 2:13).
2. Sự qua đời của một tộc-trưởng (Sa 23:1-20) (Sa 25:1-11)
Sau khi một người chết, chúng ta đọc lời cáo-phó, và sau sự chôn cất, chúng ta đọc di-chúc. Chúng ta hãy làm điều đó với Áp-ra-ham.
•Lời cáo-phó của Áp-ra-ham (Sa 25:7-8).
Ông chết ở “tuổi già tốt lành” như Chúa đã hứa với ông (Sa 15:15). Ông đã đồng đi với Đức Chúa Trời một thế kỷ (Sa 12:4) và là “bạn của Đức Chúa Trời” (Gia 2:23). Tuổi cao là “tốt lành” nếu bạn có phước hạnh của Chúa trên đời sống mình (Ch 16:31).
Mặc cho sự hư-nát và yếu đuối về thể chất, bạn có thể vui hưởng sự hiện diện của Ngài và làm theo ý muốn Ngài cho đến cuối cùng (IICôr 4:16-5:8).
Giống như Sa-ra trước ông, Áp-ra-ham đã “chết trong đức tin”. Trong 100 năm, ông là một khách-lạ và người bộ-hành trên đất, tìm kiếm một quê hương trên trời, và giờ đây những khao khát của ông đã được thực hiện (Hêb 13:13-16). Đời sống ông không phải là một đời sống dễ chịu, nhưng ông đã bước đi bởi đức-tin từng ngày từng giờ, và Chúa đã giúp ông vượt qua khó khăn. Mỗi khi Áp-ra-ham quên Chúa, ông trở lại với Ngài và bắt đầu lần nữa, và Chúa đã ban-cho ông một khởi đầu mới.
•Ông cũng chết ở “tuổi cao tác lớn” (Sa 25:8).
Điều này gợi ý hơn cả một số lượng thời gian; Nó gợi ý một chất lượng của đời sống. James Strahan dịch câu đó là “thỏa mãn với đời sống” (Hebrew Ideals - tr. 197). Áp-ra-ham người có sự thịnh vượng và thành công đến cuối cùng, đã hoàn thành bức tranh về tuổi già được trình-bày trong Thi 92:12-15. Thật ít người kinh-nghiệm niềm vui và sự thỏa lòng khi họ đến tuổi già! Khi họ nhìn lại, có sự nuối tiếc; khi họ nhìn phía trước với sự sợ hãi; và khi họ nhìn quanh với sự phàn nàn.
Một người dí dỏm vô danh tuyên-bố rằng anh ta thích “ở trên ngọn đồi” hơn ở dưới. Nhưng sự chết không phải là mối đe dọa đối với người tin Chúa Giê-xu và sống bởi Lời Ngài. Tuổi già có thể là một thời gian của sự kinh-nghiệm phong phú trong Chúa và những cơ-hội kỳ diệu để chia-sẻ về Ngài với thế-hệ kế tiếp (Thi 48:13-14; Thi 78:5-7). Sau đó khi sự chết đến, bạn đi gặp Chúa với sự tin quyết đầy vui-mừng.
Đức Chúa Trời hứa rằng: “Áp-ra-ham sẽ qua đời trong bình-an” (Sa 15:15) và đúng vậy. Nhà thơ Dylan Thomas người xứ Wales đã viết rằng “Tuổi già sẽ nóng cháy và mê sảng vào cuối ngày”, nhưng đó không phải là con đường của Cơ-đốc nhân đi đến tuổi già hay sự chết. Áp-ra-ham đã được cứu bởi đức-tin (Sa 15:6), vì vậy ông đã được “hòa thuận với Đức Chúa Trời” (Rô 5:1). Ông đã bước đi trong con đường của sự công-bình “hòa thuận với Đức Chúa Trời” (Rô 5:1). Ông đã bước đi trong con đường của sự công-bình, nên ông kinh-nghiệm sự bình-an của Đức Chúa Trời (Ês 32:17). Đức Chúa Trời đã hướng dẫn ông một thế kỷ, sẽ không từ bỏ ông lúc cuối cùng (Sa 46:4).
Giống như mọi điều khác trong đời sống, để thành công trong tuổi già, bạn phải bắt đầu làm việc ngay từ lúc trẻ. Đó là lời khuyên Sa-lô-môn đưa ra trong Tr 12:1-14. Chương này mô-tả một số vấn-đề thuộc thể không tránh khỏi của tuổi già, nhưng nó cũng nhấn-mạnh rằng một đời sống tin-kính khởi đầu trong tuổi trẻ là một sự đầu tư có những phần lợi dồi dào khi đời sống đi đến kết thúc.
Nhóm từ “được quy về nơi tổ-tông” (Sa 25:8) không có nghĩa là “được chôn với gia đình”, vì thân thể Sa-ra là thân thể duy nhất trong ngôi mộ gia đình. Đây là sự xuất hiện đầu tiên về nhóm từ này trong Kinh Thánh, và nó có nghĩa là đi đến địa-phận của người chết, chỉ về số phận của linh-hồn chớ không phải thể xác (Gia 2:26). Từ Cựu-Ước chỉ về địa-phận của người chết là “Shoel” (âm-phủ), từ tương đương trong Tân-Ước là “hades” (âm-phủ). Đó là “nhà”tạm của linh-hồn người chết đang chờ đợi sự sống lại (Kh 20:11-15).
Nhà vĩnh-cửu cho người được cứu là Thiên-Đàng, và đối với kẻ hư-mất, đó là địa-ngục. Lu 16:19-31 cho thấy âm-phủ có hai khu vực vào, được phân cách bởi một vực thẳm lớn, và người được cứu ở trong một nơi phước hạnh trong khi kẻ hư-mất ở trong một nơi của sự đau đớn. Có thể Chúa Giê-xu đã cất âm-phủ khỏi địa-phận thiên-đường khi Ngài trở về trời trong vinh-hiển (Êph 4:8-10). Phần hình phạt của âm-phủ sẽ được trút ra tại sự sống lại trước sự xét-đoán của tòa lớn trắng (Kh 20:11-16). Đối với kẻ hư-mất, âm-phủ là nhà tù, còn địa-ngục là trại cải tạo.
Một ngày nào đó, bạn sẽ được “quy về nơi tổ-tông mình”. Nếu dân-sự Đức Chúa Trời là dân của bạn trong sự sống, vậy bạn sẽ ở cùng họ sau khi qua đời trong gia đình mà Chúa Giê-xu giờ đây đang chuẩn bị (Gi 14:1-6). Nếu gia đình Cơ-đốc không phải là “dân” của bạn, vậy bạn sẽ ở với đám đông đang đi đến địa-ngục; Và điều đó được mô-tả trong Kh 21:8, 20. Bạn nên thực hiện sự lựa chọn đúng đắn vì cõi vĩnh-hằng là đời-đời.
•Di-chúc của A-ra-ham (Sa 25:1-6).
Áp-ra-ham đã để lại của cải vật chất cho gia đình ông và của cải thuộc-linh cho toàn thế giới, tất cả những ai sẽ tin nơi Chúa Giê-xu.
Khi Đức Chúa Trời tái tạo sức lực tự nhiên của Áp-ra-ham để sinh Y-sác, Ngài không cất đi sức lực đó, và Áp-ra-ham đã có thể lấy vợ lần nữa và có gia đình khác. Tuy nhiên, ông đã có một sự phân biệt giữa 6 con trai này với con trai ông là Y-sác; và Y-sác là sự lựa chọn của Đức Chúa Trời để duy trì dòng dõi giao-ước. Những con trai của Kê-tu-ra nhận đươc những quà tặng, nhưng Y-sác nhận của thừa kế và những phước hạnh của giao-ước.
Tất cả những ai tin Chúa Giê-xu đều “cũng như Y-sác, là con của lời-hứa” (Ga 4:28). Điều này nghĩa là chúng ta có phần trong di-chúc của Áp-ra-ham! Ông đã để lại gì cho chúng ta?
Trước hết, Áp-ra-ham để lại cho chúng ta một chứng-cớ rõ ràng về sự cứu-rỗi bởi đức-tin. Phao-lô đã trích dẫn gương của ông trong Rô 4:1-5 liên-hệ điều đó với kinh-nghiệm của Áp-ra-ham trong Sa 15:1-21. Áp-ra-ham không thể được cứu bằng cách giữ Luật-pháp, vì Luật-pháp vẫn chưa được ban ra.
Ông không thể được cứu bởi nghi thức về phép cắt-bì, vì Đức Chúa Trời đã tuyên-bố ông là công-bình từ trước khi Áp-ra-ham đã được cứu bởi đức-tin và chỉ bởi đức-tin (Hêb 11:1-40; Ga 3:1-29).
Nhưng Áp-ra-ham cũng để lại cho chúng ta tấm gương về một đời sống trung-tín. Gia-cơ đã dùng Áp-ra-ham để minh họa tầm quan-trọng của việc chứng-tỏ đức-tin của chúng ta bằng việc làm của chúng ta (Gia 2:14-26). Bất cứ nơi đâu Áp-ra-ham đi, ông đều cắm trại và xây bàn thờ, và ông đã để cho dân trong xứ biết rằng ông là một người thờ-phượng Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống. Khi dâng Y-sác trên bàn thờ, Áp-ra-ham đã chứng-tỏ đức-tin ông nơi Đức Chúa Trời và tình yêu của ông đối với Đức Chúa Trời. Ông được cứu không phải bởi việc làm, nhưng ông đã bày-tỏ đức-tin của ông bằng việc làm của ông.
Từ Áp-ra-ham, chúng ta học cách bước đi bởi đức-tin. Thật vậy, ông đã có những vấp ngã đôi lúc về đức-tin. Nhưng bản-chất tổng quát của đời sống ông đã chứng-minh đức-tin nơi Lời Đức Chúa Trời. “Bởi đức-tin, Áp-ra-ham…vâng-lời” (Hêb 11:8). Charles Spurgeon đã nói: “Phần cốt lõi, bản-chất của đức-tin nằm trong điều này: ngã mình trên những lời-hứa”.
Nhà soạn nhạc và chỉ huy quá cố Leonard Bernstein đã nói với một người phỏng vấn, “Tôi tin nơi mọi sự, bất cứ điều gì mà bất cứ ai tin, vì tôi tin nơi con người. Nói cách khác, tôi tin nơi niềm tin. Tôi tin nơi đức-tin” (Marstro: Encounters With Conductors of today – Nhà soạn nhạc đại tài: những cuộc chạm trán với các chỉ huy của hôm nay – của Helena Matheopoulos: Harper & Row 1982, tr. 7).
Nhưng “đức-tin nơi đức-tin” không giống như đức-tin nơi Đức Chúa Trời, vì nó không có nền-tảng. Nó đang xây dựng trên cát (Mat 7:24-27). Đức-tin thật là đáp-ứng vâng-phục của chúng ta đối với Lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán, chúng ta nghe Ngài và tin và chúng ta làm điều Ngài bảo chúng ta làm. Áp-ra-ham với Sa-ra đã nắm giữ những lời-hứa của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời đã ban thưởng cho đức-tin của họ.
Áp-ra-ham đã cho thế giới món quà của dân-tộc Do-thái. Và chính nhờ dân Do-thái mà chúng ta có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời và Lời Đức Chúa Trời cùng sự cứu-rỗi của Đức Chúa Trời (Gi 4:22). Nó vượt hơn sự hiểu biết của chúng ta về cách thể nào bất cứ ai cũng có thể là anti-xê-mít khi dân Do-thái đã ban cho thế giới quá nhiều và chịu khổ quá nhiều trên thế giới này. Đáng tiếc rằng dân Do-thái nghĩ mối liên-hệ của họ với Áp-ra-ham đã cứu họ (Mat 4:7-12; Gi 8:33-59), nhưng họ chẳng khác gì với dân ngoại chưa được cứu, là những người nghĩ mình sẽ đến Thiên-Đàng vì cha mẹ hoặc ông bà họ là những Cơ-đốc nhân (Gi 1:11-18).
Cuối cùng, vì cớ Áp-ra-ham, chúng ta có một Chúa Cứu Thế. Trong câu đầu tiên của Tân-Ước (Mat 1:1), tên của Áp-ra-ham được nối tiếp với tên của Đa-vít và Chúa Giê-xu Christ! Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng qua ông cả thế giới sẽ được phước (Sa 12:1-3), và Ngài đã giữ lời-hứa đó. Vấn-đề là Hội thánh không nói cho cả thế giới biết rằng Chúa Giê-xu thật sự là “Cứu Chúa của thế-gian” (Gi 4:42). Chúng ta đang giữ tin mừng cho chính mình khi mà chúng ta phải làm mọi việc có thể để cả thế giới biết.
Có thể chỉ có Áp-ra-ham và Sa-ra trong kế-hoạch cứu-chuộc vĩ đại của Đức Chúa Trời, nhưng bạn và tôi có nhiệm-vụ của mình để thực hiện trong ý muốn của Đức Chúa Trời (Êph 2:10). Hôm nay, bạn đang viết lời cáo-phó của mình và chuẩn bị “di-chúc” của mình về di-sản thuộc-linh của bạn.
Hôm nay, bạn đang sẵn sàng cho giai đoạn cuối cùng trong hành trình của đời sống.
Có phải bạn đang thực hiện những sự chuẩn bị tốt đẹp?
C ó phải bạn đang sống bởi đức tin?
Nếu bạn sống bởi đức-tin, vậy giống như Áp-ra-ham bạn sẽ VÂNG LỜI
24. CHA NÀO, CON NẤY – HẦU NHƯ VẬY (Sa 25:1-26:35)
Y-sác là con trai của một người cha nổi tiếng (Áp-ra-ham) và là cha của một con trai nổi tiếng (Gia-cốp), và vì những lý do đó mà ông đôi khi được xem như một người bình thường giữa vòng các trưởng tộc. So với những thành tích của Áp-ra-ham và Gia-cốp, đời sống của Y-sác dường như bình thường và cũ kỹ. Dù Y-sác sống lâu hơn Áp-ra-ham hoặc Gia-cốp, chỉ 6 chương trong sách Sáng-thế ký được dành cho cuộc đời của ông, và chỉ có 1 câu trong Hêb 11:9.
Y-sác là một người yên lặng và trầm tư, thích rút lui và bỏ đi hơn là đối đầu với kẻ thù. Suốt quãng đời dài của mình, ông không đi xa nhà. Áp-ra-ham đã thực hiện cuộc hành trình dài từ Cha-ran đến Ca-na-an, và thậm chí đến Ê-díp-tô, còn Gia-cốp đã đến Ha-ran để cưới vợ, nhưng Y-sác dùng trọn cuộc đời trưởng thành của mình để đi lòng vòng trong xứ Ca-na-an. Nếu có một người Trung Đông xưa tương tự với những người giàu trong thời đại của chúng ta chuyện di chuyển bằng mày bay thì Y-sác sẽ không dự phần với họ.
Tuy nhiên, trên thế giới này có nhiều Y-sác hơn là có những Áp-ra-ham hoặc Gia-cốp, và những người này có những đóng góp quan-trọng cho xã hội và cho Hội thánh, dù cho họ không nhìn thấy tên mình trên những hộp đèn hay thậm chí trong tập-san Hội thánh. Hơn nữa, Y-sác là một phần sống động trong kế-hoạch thiên-thượng mà cuối cùng tạo ra dân-tộc Do-thái, cống hiến cho chúng ta Kinh Thánh và đem Chúa Giê-xu vào thế-gian, và điều đó chẳng có gì phải hổ thẹn.
•Y-sác không phải là một thất bại, ông chỉ khác biệt.
Xét cho cùng, con người trong mỗi thế-hệ phải tìm thấy chính mình và là chính mình chớ không phí đời mình để tìm cách bắt chước tổ-tiên một cách mù quáng. Bác-sĩ tâm-thần Erich Fromm đã viết trong tác-phẩm “Escape from freedom” (Thoát khỏi tự do): “Con người được sinh ra bình-đẳng, nhưng họ cũng được sinh ra khác nhau”. Khám phá sự duy nhất của mình và sử dụng nó cho vinh-hiển của Đức Chúa Trời là thử thách tạo nên bản-chất đời sống. Tại sao là một sự bắt chước rẻ tiền khi mà bạn có thể là một nguyên gốc có giá-trị?
Không thế-hệ nào tồn tại một mình, vì mỗi thế-hệ mới được tiếp nối với những thế-hệ đi trước. Y-sác được tiếp nối với Áp-ra-ham và Sa-ra bởi mối dây ràng buộc không thể bị bỏ qua hay dễ dàng bị phá vỡ. Chúng ta hãy nhìn xem một số mối dây đó và khám-phá điều chúng dạy chúng ta về đời sống đức-tin của riêng chúng ta hôm nay.
1. Ông nhận gia tài của cha mình (Sa 25:1-18)
Áp-ra-ham nhìn nhận những người con khác của ông bằng cách cho họ những món quà và sai họ đi, bởi đó biết chắc họ không thể hất chân Y-sác với tư cách người thừa-kế hợp pháp. Cùng với của cải dư dật của cha mình (Sa 13:2; Sa 23:6), Y-sác cũng thừa hưởng những phước hạnh giao-ước mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham và Sa-ra (Sa 12:1-3; Sa 13:14-18; Sa 15:1-6). Y-sác có cha mẹ tin nơi Đức Chúa Trời và tìm cách làm đẹp lòng Ngài dù đôi lúc có những lỗi lầm.
Con trai đầu lòng của Áp-ra-ham là Ích-ma-ên (chương 16) không được chọn làm đứa con của lời hứa và người thừa-kế những phước hạnh giao-ước. Đức Chúa Trời hứa ban cho Ích-ma-ên và khiến người trở nên một dân-tộc lớn, và Ngài đã giữ lời-hứa (Sa 17:20-21; Sa 25:12-16). “Nhưng ta sẽ lập giao-ước ta cùng Y-sác” (Sa 17:21 KJV cũng xem Rô 9:6-13). Ích-ma-ên đã có mặt trong tang lễ của cha mình (Sa 25:9), nhưng ông không được kể đến trong di-chúc của cha ông.
Ích-ma-ên mô tả người “tự nhiên” hoặc chưa được cứu (ICôr 2:14), là người ở ngoài đức-tin và thù địch với những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Nhưng Y-sác mô tả những người đã tin-cậy Chúa Giê-xu và kinh-nghiệm sự tái sinh kỳ diệu bởi quyền-năng Đức Chúa Trời (IPhi 1:22-23).
“Hỡi anh em, giờ đây chúng ta cũng như Y-sác, là con của lời hứa” (Ga 4:28 KJV).
Ích-ma-ên sinh ra là một tôi-tớ, nhưng Y-sác sinh ra đã tự do (Sa 4:21-31; Sa 5:1-2). Ích-ma-ên sinh ra nghèo nàn, nhưng Y-sác sinh ra đã giàu có. Mọi tín-hữu tin nơi Chúa Giê-xu đều dự phần tất cả những phước hạnh của Thánh Linh trong Đấng Christ (Êph 1:3) và là một phần cơ-nghiệp vinh-hiển của Đấng Christ (c.11, 18).
Từ lúc sinh ra, chúng ta đều lệ-thuộc vào thế-hệ trước để chăm-sóc chúng ta cho đến khi chúng ta có thể chăm-sóc cho mình. Chúng ta cũng mang ơn những thế-hệ đi trước đã bảo vệ và truyền lại cho chúng ta tri thức, kỹ năng, truyền-thống, và văn hóa là những điều hết sức quan-trọng đối với đời sống hằng ngày. Hãy tưởng tượng đời sống sẽ ra sao nếu mỗi thế-hệ đều phải nghĩ ra bảng chữ cái, phát minh việc in ấn, khám phá điện năng hoặc thiết kế bánh xe!
Phần quan trọng nhất trong di-sản của Y-sác không phải là của cải vật chất dư dật mà cha ông đã để lại cho ông. Di-sản quan-trọng nhất của Y-sác là của cải thuộc-linh từ cha và mẹ ông: Nhận biết và tin-cậy Đức Chúa Trời chân-thật hằng sống và làm một phần trong những phước hạnh giao-ước mà Đức Chúa Trời đã nhân từ ban cho Áp-ra-ham, Sa-ra và con cháu họ. Bi thảm thay khi con cháu của những tín-hữu Cơ-đốc tin kính quay lưng với di-sản thuộc-linh vô giá của họ, và giống như Ích-ma-ên với Ê-sau, họ sống cho thế-gian và xác thịt thay vì cho Chúa!
2. Ông cầu nguyện với Đức Chúa Trời của cha mình (Sa 25:19-34)
Sáng-thế ký là một ghi chép về 10 “thế-hệ” nối tiếp nhau. Các thế-hệ đến rồi đi, nhưng Chúa vẫn tồn tại và không bao giờ thay đổi. “Lạy Chúa Ngài là nơi ở của chúng tôi qua mọi thế-hệ” (Thi 90:1 NKJV).
•Một gia đình tận tụy (c.19-20).
Khi Y-sác 40 tuổi, Đức Chúa Trời chọn Rê-bê-ca làm vợ ông (chương 24, Sa 25:20) và chúng ta có mọi lý do để tin rằng họ đều tận tụy cho Chúa và cho nhau. Sự ghi chép cho thấy rằng Rê-bê-ca là người năng nổ hơn trong những việc có liên-quan đến vấn-đề gia đình, nhưng có thể đó chính là loại người vợ Y-sác c ần.
Dù Y-sác có thể phạm lỗi lầm nào với tư cách một người chồng và một người cha; điều này phần nhiều là đúng: khi là một người trẻ tuổi, ông đã vui lòng đặt mình trên bàn thờ để vâng-lời cha ông và để làm đẹp lòng Chúa (Sa 22; Rô 12:1-2).
•Một gia đình thất vọng (Sa 25:21).
Y-sác và Rê-bê-ca đã chờ 20 năm để có một gia đình, nhưng không đứa con nào ra đời. Toàn bộ sách Sáng-thế ký nhấn-mạnh quyền tối-cao của Đức Chúa Trời và sự khôn-ngoan về “những trì hoãn” của Ngài. Áp-ra-ham và Sa-ra đã phải chờ 25 năm để Y-sác ra đời, Gia-cốp đã phải lao động 14 năm để có 2 người vợ, và Giô-sép đã phải chờ hơn 20 năm trước khi ông làm hòa với các anh em của mình. Thời gian của chúng ta ở trong tay Ngài (Thi 81:15) và sự định giờ của Ngài chẳng bao giờ sai.
Giống như Áp-ra-ham, Y-sác là một người cầu-nguyện: Vì vậy ông cầu-nguyện với Chúa thay cho người vợ son sẻ của ông. Y-sác có mọi quyền để cầu xin Đức Chúa Trời cho con cái vì cớ những lời-hứa giao-ước mà Chúa đã lập với cha mẹ ông, những lời-hứa mà Y-sác đã nghe được lập lại trong nội bộ gia đình và ông tin những lời-hứa đó. Nếu Rê-bê-ca vẫn son sẻ, làm sao dòng dõi Áp-ra-ham có thể trở thành một phước hạnh cho cả thế giới? (Sa 12:1-3; Sa 13:16; Sa 15:5; Sa 17:6).
Người ta thường nói rằng mục-đích của sự cầu-nguyện không phải là để ý muốn của chúng ta được thực hiện trên trời nhưng là để ý muốn Đức Chúa Trời được thực hiện dưới đất. Dù mọi cặp vợ chồng Do-thái đều muốn có con cái, nhưng Y-sác không cầu-nguyện cách ích kỷ. Ông quan-tâm đến kế-hoạch của Đức Chúa Trời về việc thực hiện giao-ước của Ngài và chúc phước cho cả thế giới qua Đấng Mê-si-a được hứa ban (Sa 3:15; Sa 12:1-3).
Lời cầu-nguyện thật nghĩa là quan-tâm đến ý muốn Đức Chúa Trời, không phải những nhu-cầu của riêng chúng ta, và tuyên-bố những lời-hứa của Đức Chúa Trời qua Lời Ngài. Chúa đã đáp lời cầu-nguyện của Y-sác và giúp Rê-bê-ca có thể thụ thai.
• Một gia đình khốn khổ (Sa 25:22-23).
Vấn-đề này chẳng bao lâu đã dẫn đến vấn đề khác, vì sự mang thai của Rê-bê-ca là một sự mang thai khó khăn: hai đứa bé trong bụng bà vật lộn với nhau. Từ Hê-bơ-rơ nghĩa là “xô đẩy hoặc lấn áp”, gợi ý rằng những chuyển động của thai nhi không bình thường. Vì Rê-bê-ca không biết Chúa có tìm cách phán với bà điều gì chăng, nên bà đi dò hỏi, Y-sác may mắn có một người vợ không những biết cách cầu-nguyện mà còn muốn hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời cho chính bà và con cái bà.
Trong lịch-sử cứu-rỗi, việc thụ thai và sinh con là một sự-kiện thiên định có những kết quả ý nghĩa. Điều này đúng đối với sự ra đời của Y-sác (chương 18, 21), 12 con trai của Gia-cốp (Sa 29:30; Sa 30:24), Môi-se (Xu 1:1-22), Sa-mu-ên (ISa 1:1-2, 36), Đa-vít (Ru 4:17-22) và Chúa Giê-xu Christ của chúng ta (Ga-la-ti 4:4-5). Sự thụ thai, sự ra đời và sự chết là những chỉ định thiêng-liêng, không phải là những tình cờ của con người, là một phần trong kế-hoạch khôn-ngoan và đầy yêu-thương của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài (Thi 116:15; Thi 139:13-16).
Hãy hình dung sự ngạc nhiên của Rê-bê-ca khi bà biết rằng hai đứa trẻ sẽ chiến đấu với nhau cả đời chúng! Mỗi đứa con sẽ tạo ra một nước, và 2 nước (Ê-đôm và Y-sơ-ra-ên) sẽ tranh chiến, nhưng đứa nhỏ sẽ làm chủ đứa lớn. Giống như Đức Chúa Trời đã chọn Y-sác, đứa con thứ, chớ không phải Ích-ma-ên, con đầu lòng, thì Ngài cũng chọn Gia-cốp, con thứ, chớ không phải Ê-sau, con đầu lòng. Việc đứa nhỏ sẽ cai-trị đứa lớn mâu thuẫn với truyền-thống và lô-gíc loài người, nhưng Đức Chúa Trời tối cao đã thực hiện sự lựa chọn này (Rô 9:10-12), và Đức Chúa Trời không bao giờ phạm sai lầm.
•Một gia đình chia rẽ (Sa 25:24-28).
Ê-sau có thể nghĩa là “nhiều lông”. Ông cũng có biệt danh là “Ê-đôm” nghĩa là “đỏ”, chỉ về lông đỏ và món canh đậu màu đỏ mà Gia-cốp đã bán cho ông (c.25, 30). Hai cậu bé sinh đôi không chỉ trông khác nhau mà còn khác về nhân cách. Ê-sau là một người hoạt động ngoài trời khoẻ mạnh, một thợ săn thành công, trong khi Gia-cốp là một “cậu ấm”.
Bạn sẽ nghĩ rằng Y-sác yêu mến Gia-cốp, vì họ đều thích những công việc trong nhà, nhưng Gia-cốp là người Rê-bê-ca yêu mến. Rê-bê-ca là người mẹ tháo vát biết điều gì sắp xảy ra trong gia đình và có thể xoay sở những cách để đạt được điều bà nghĩ là tốt nhất.
Thật đáng tiếc khi những gia đình chia-rẽ vì cha mẹ và con cái đặt những ham muốn cá nhân mình lên trên ý muốn Đức Chúa Trời. Y-sác thích ăn thịt rừng ngon do Ê-sau đem về nhà, một sự việc sẽ quan-trọng trong lịch sử gia đình sau đó (chương 27). Y-sác, người trầm lặng, đã thực hiện những ước mơ của ông qua Ê-sau, con người can-đảm, và rõ ràng đã bỏ qua sự thật rằng con trai lớn của ông cũng là một người trần tục (3). Liệu Y-sác có biết rằng Ê-sau đã đánh mất quyền trưởng nam? Câu chuyện không cho chúng ta biết. Nhưng ông thật biết rằng Đức Chúa Trời đã chọn con trai nhỏ lên trên con trai lớn.
Một người bạn của tôi giữ một tấm thiếp dưới mặt kiếng trên bàn làm việc của ông có ghi: “Đức tin là sống mà không vạch kế hoạch”. Gia-cốp có thể đã sử dụng tấm thiếp đó. Trước khi ra đời, ông đã được Đức Chúa Trời chọn để nhận quyền trưởng nam và sự chúc phước; vì vậy ông không cần phải vạch kế-hoạch và lợi dụng anh mình. Có lẽ Gia-cốp đã thấy nhiều chứng cớ rằng Ê-sau không quan-tâm những điều thuộc-linh, một thái-độ đã khiến Ê-sau không thích hợp để nhận sự chúc phước và thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời. Có lẽ Gia-cốp và mẹ ông thậm chí đã bàn luận vấn-đề này.
Tên “Gia-cốp” đến từ một từ Hê-bơ-rơ (yaaqob) nghĩa là “nguyện Đức Chúa Trời bảo vệ” nhưng vì nó nghe như từ “aqeb” (gót chân) và “aqab” (“quan sát từ phía sau” hoặc “bắt kịp”), nên tên ông trở thành một biệt danh: “nắm gót” hoặc “lừa dối”.
Trước khi ra đời, Gia-cốp và Ê-sau đã chiến đấu, và lúc ra đời, Gia-cốp đã nắm gót chân của anh mình. Hành động sau này được giải thích để có nghĩa rằng Gia-cốp sẽ gây cớ vấp ngã cho anh mình và lợi dụng anh mình. Lời tiên-đoán đã đúng.
Việc Đức Chúa Trời quyết định ban những phước hạnh giao-ước cho Gia-cốp không miễn trừ cho bất cứ ai trong gia đình khỏi những bổn-phận của họ đối với Chúa. Họ đều chịu trách-nhiệm về hành động của mình, vì quyền tối-cao thiêng-liêng không hủy hoại trách nhiệm của con người. Thật ra, biết rằng chúng ta là những người được chọn của Đức Chúa Trời nghĩa là chúng ta có một trách-nhiệm lớn hơn để làm theo ý muốn của Ngài.
3. Ông đối diện với những cám dỗ của cha ông (Sa 26:1-11)
Đức tin thật luôn được thử-nghiệm, bởi những cám-dỗ trong chúng ta hoặc những thử thách quanh ta (Gia 1:1-18), vì một đức-tin mà không thể được thử-nghiệm thì không thể tin-cậy được. Đức Chúa Trời thử-nghiệm chúng ta để đem lại điều tốt nhất trong chúng ta, nhưng Sa-tan cám dỗ chúng ta để đem lại điều tệ hại nhất trong chúng ta.
Ở hình thức này hay hình thức khác, mỗi thế hệ mới phải kinh nghiệm những thử thách tương tự như những thế hệ đi trước, để khám phá rằng kẻ thù không thay đổi và bản chất con người không cải thiện. Áp-ra-ham được đề cập 8 lần trong chương này, và bạn tìm thấy từ “cha” 6 lần. Y-sác là con của cha ông. Abraham Lincoln đã đúng: “Chúng ta không thể thoát khỏi lịch sử”
•Cám-dỗ bỏ chạy (Sa 26:1-6).
Khi Áp-ra-ham vào Ca-na-an, ông thấy một cơn đói kém trong xứ và đối diện với cuộc thử-nghiệm nghiêm túc đầu tiên về đức-tin (Sa 12:10; Sa 13:4). Giải pháp của ông là từ bỏ nơi Đức Chúa Trời đã chọn cho ông, nơi của sự vâng-lời, và chạy đến Ê-díp-tô, do đó đã nêu một gương xấu cho con cháu ông là những người có xu hướng bắt chước ông. Nơi an-toàn nhất giữa thế-gian là ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời, vì ý muốn của Đức Chúa Trời bao giờ cũng dẫn chúng ta đến nơi mà ân-điển Ngài ban cho chúng ta. Sự vô tín hỏi: “Làm sao tôi có thể thoát ra khỏi điều này?”, trong khi đức tin hỏi: “Tôi có thể rút ra được gì từ điều này?”
Khi Y-sác đối diện với vấn-đề về nạn đói, ông quyết định đi đến Ghê-ra, thủ phủ của Phi-li-tin, và nhận sự giúp đỡ từ A-bi-mê-léc. Y-sác và Rê-bê-ca có lẽ sống tại La-chai-roi thời bấy giờ (Sa 25:11) nghĩa là họ đã đi khoảng 75 dặm hướng Đông Bắc để đến Ghê-ra. Thậm chí sau khi đến Ghê-ra, Y-sác và Rê-bê-ca có thể đã bị cám-dỗ để đi về phía Nam đến Ê-díp-tô, dù Đức Chúa Trời đã cảnh-cáo họ đừng xét đến khả năng đó.
Đức Chúa Trời cho phép Y-sác ở lại trong Phi-li-tin và hứa ban phước cho ông. Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng con cháu ông sẽ thêm lên thật nhiều và ngày nào đó sẽ làm chủ mọi vùng đất đó. Vì vậy Y-sác có quyền ở đó theo như Đức Chúa Trời cho phép (Sa 12:2-3; Sa 13:16; Sa 15:5; Sa 17:3-8; Sa 22:15-18). Đức Chúa Trời đã chúc phước cho Y-sác vì cớ Áp-ra-ham (Sa 25:5, 24), cũng như Ngài đã chúc phước cho các tín-hữu hôm nay vì cớ Chúa Giê-xu Christ.
Chúng ta không bao giờ có thể thành công chạy thoát khỏi những thử thách vì Đức Chúa Trời quyết định rằng con cái Ngài phải học những bài học về đức-tin bằng cách chạy khỏi sự khó khăn, vì “hoạn-nạn sanh sự nhịn-nhục, sự nhịn-nhục sanh tính-cách” (Rô 5:3-4 NKJV). Giống như Đa-vít, chúng ta có thể ước mong mình có “đôi cánh như bồ câu” để có thể “bay đi và yên nghỉ” (Thi 55:6 NKJV), nhưng nếu chúng ta được vậy, chúng ta hãy luôn là những bồ câu trong khi Đức Chúa Trời muốn chúng ta “bay lên bằng đôi cánh như chim ưng” (Ês 40:31 KJV).
•Cám-dỗ nói dối (Sa 26:7-11).
Y-sác có thể chạy trốn khỏi nạn đói, nhưng khi ông đặt mình trong một hoàn-cảnh không lối thoát, ông đã phải quay sang sự lừa dối để tự bảo vệ mình. Áp-ra-ham đã phạm tội-lỗi tương tự này 2 lần, một lần ở Ê-díp-tô (Sa 12:14-20) và một lần ở Phi-li-tin (chương 20). Hãy nhớ, đức-tin là sống mà không vạch kế-hoạch và việc nói dối dường như là một trong những cách ưa thích của con người để thoát khỏi trách-nhiệm.
Y-sác được hỏi về người đàn bà đi cùng ông và giống như Áp-ra-ham cha ông trước đó, ông nói bà là em gái của ông. Nhưng khi A-bi-mê-léc nhìn thấy Y-sác âu yếm Rê-bê-ca, ông biết là vợ của Y-sác. Vì sao Y-sác nói dối? Vì ông sợ đám người ngoại đạo sẽ giết ông để đoạt người vợ xinh đẹp của ông. Sự nói dối của ông là bằng chứng về sự vô-tín của ông, vì nếu ông đã tuyên-bố lời hứa giao-ước khi ông cầu-nguyện xin con cái (Sa 25:21), tại sao ông không thể tuyên-bố lời hứa giao-ước tương tự đó để bảo vệ chính ông và vợ ông?
Nhà thơ Anh quốc John Dryden đã viết: “Sự thật là nền móng của mọi tri thức và là chất xi măng của mọi xã hội”. Khi con người không giữ lời nói của mình, những nền móng của xã hội bắt đ ầu lay động và mọi sự bắt đầu đổ vỡ. Gia đình hạnh phúc, tình bạn bền vững, kinh doanh phát đạt, chính thể vững chắc và Hội thánh hiệu quả đều tùy thuộc vào sự thật vì sự thành công của chúng ta. Nhà truyền giáo người Mỹ Phillips Brooks đã nói: “Sự thật luôn mạnh mẽ, dù nó có vẻ yếu đuối ra sao, và sự giả dối luôn yếu đuối, dù nó có vẻ mạnh mẽ thế nào; Sự thật là xi-măng, sự giả dối là nước vôi”.
Khi thấy mình ở trong sự khó khăn, Y-sác bị cám-dỗ để chạy trốn và nói dối, và chúng ta ngày nay đối diện sự cám-dỗ tương tự này. Y-sác đã chịu thua sự cám-dỗ và bị khám-phá ra. Thật là một ngày đáng buồn khi những người chưa quy đạo như A-bi-mê-léc đã công khai vạch trần những tôi-tớ của Đức Chúa Trời về việc nói dối. Quả là một sự bẽ bàng cho mục-đích của sự thật!
4. Ông đào lại những giếng nước của cha ông (Sa 26:12-33)
Y-sác thừa hưởng những bầy chiên và gia súc của cha ông, ông đã sống một đời sống du-mục, nhưng giờ đây là người thừa kế giàu có đã định-cư và trở nên một nông dân, ở tại Ghê-ra, “một thời gian dài” (c.8).
•Phước hạnh (Sa 26:12-14).
Y-sác với những người láng giềng của ông có quyền sử dụng cùng một vùng đất, và họ phụ thuộc vào cùng ánh sáng mặt trời và mưa, nhưng những mùa gặt của Y-sác nhiều hơn những mùa gặt của họ và bầy chiên cùng bầy gia súc của ông sinh sản dư dật hơn. Bí quyết ư? Đức Chúa Trời đã giữ lời-hứa của Ngài và ban phước cho Y-sác trong mọi việc ông làm (c.3-5). Đức Chúa Trời sẽ ban một phước hạnh tương tự cho Gia-cốp những năm sau đó (chương 31).
Nhưng Y-sác là một người lừa dối! Làm sao Đức Chúa Trời có thể ban phước cho ai đó xưng mình là một tín-hữu nhưng cố tình nói dối với những người láng giềng không tin Chúa? Vì Đức Chúa Trời luôn thành tín với giao-ước Ngài và giữ những lời-hứa của Ngài (IITim 2:11-13); và điều kiện duy nhất để Đức Chúa Trời gắn bó với lời-hứa của Ngài về sự chúc phước đó là Y-sác ở trong xứ chớ không đi đến Ê-díp-tô.
Đức Chúa Trời cũng chúc phước cho Y-sác vì đời sống và đức-tin của Áp-ra-ham (Sa 26:5) cũng như Ngài chúc phước cho chúng ta vì cớ Chúa Giê-xu Christ. Chúng ta sẽ không bao giờ biết cho đến khi chúng ta đến Thiên-Đàng rằng có bao nhiêu phước hạnh của chúng ta đã là “những phần lãi” từ những sự đầu tư thuộc-linh được thực hiện bởi những người bạn và dòng dõi tin-kính đã đi trước.
•Mâu thuẫn (Sa 26:14-17).
Mặc dù có những phước hạnh về vật chất, Y-sác vẫn chịu khổ vì sự nói dối của ông, vì những phước hạnh ông nhận đã đem đến những gánh nặng và những cuộc chiến cho đời sống ông. Nhìn thấy của cải dư dật của ông, dân Phi-li-tin ghen tị với ông và quả quyết ông là một mối đe dọa cho sự an-toàn của họ. Một hoàn-cảnh tương tự sẽ xảy ra khi dân Do-thái nhiều lên trong Ê-díp-tô (Xu 1:8). “Phước lành của Đức Giê-hô-va làm cho giàu có, Ngài chẳng thêm sự đau lòng gì lẫn vào” (Ch 10:22).
Nếu Y-sác không nói dối về vợ ông, Đức Chúa Trời sẽ không kỷ luật ông nhưng ban cho ông sự hòa-bình với những người láng giềng của ông (Sa 16:7). Tuy nhiên, vì tội-lỗi của mình, những phước hạnh vật chất của Y-sác đã gây rắc rối cho ông.
Dân Phi-li-tin tìm cách khiến Y-sác rời khỏi xứ họ và định cư đâu đó, và để khuyến khích điều này, họ đã lấp những cái giếng của Áp-ra-ham và cướp đi khỏi bầy chiên cùng bầy gia súc của Y-sác nguồn nước mà chúng hết sức cần. Nước là một điều quý giá ở vùng Cận Đông, và những cái giếng thích hợp là cần thiết nếu bạn muốn thành công trong xứ. Khủng hoảng xảy đến khi vua ra lệnh cho Y-sác dời đi, và Y-sác vâng-lời.
•Sự tìm kiếm (Sa 26:18-22).
Dù Y-sác đi đâu, kẻ thù vẫn theo ông, và tịch thu những giếng nước của cha ông với những giếng mới mà các tôi-tớ của Y-sác đã đào. Tìm thấy một cái giếng có “nước mạnh” (c.19) là một phước hạnh đặc biệt, vì nó bảo đảm nước trong luôn luôn, nhưng dân Phi-li-tin cũng giành giếng đó. Tên của những giếng mới do tôi tớ của Y-sác đào bày tỏ những vấn đề ông có với những người láng giềng của mình, vì “Ê-sét” nghĩa là “tranh giành” và “Si-na” nghĩa là căm ghét, nhưng Kê-hô-bốt nghĩa là “rộng rãi” vì Y-sác cuối cùng đã tìm thấy một nơi mà ông được để yên và có đủ chỗ cho trại cùng bầy chiên và bầy gia súc của ông.
Mỗi khi Áp-ra-ham có vấn-đề với con người, ông đều can-đảm đối diện với họ và giải quyết vấn-đề, dù đó là Lót cháu ông (Sa 13:5-18), các vua xâm lấn (chương 14), A-ga và Ích-ma-ên (Sa 21:9) hay dân Phi-li-tin (c.22). Nhưng Y-sác là người khiêm tốn muốn tránh sự chạm trán. Vì là một người hành hương, ông có thể dời trại mình và làm một người hòa giải.
Trong mọi hoàn-cảnh khó khăn của đời sống, cần phải có sáng suốt để biết Đức Chúa Trời có muốn chúng ta làm người chạm trán như Áp-ra-ham hay người hòa giải như Y-sác hay không; Vì Đức Chúa Trời có thể chúc phước và sử dụng cả 2 trường hợp.