8. HÃY LẮNG NGHE TIẾNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Xu 19:1-20:21)
Khi...
...Đức Chúa Trời phán với Môi-se ở bụi gai cháy, Ngài ban-cho ông một lời-hứa đầy khích-lệ: “Khi ngươi đem dân-sự ra khỏi Ai-cập, các ngươi sẽ hầu-việc Đức Chúa Trời trên núi này” (Xu 9:12 NKJV). Lời-hứa đó giờ đây đã được ứng-nghiệm. Dân Do-thái đang ở tại núi Si-nai, “núi của Đức Chúa Trời”, (c.1 Xu 4:27; Xu 18:5; Xu 24:13), và sẽ cắm trại ở đó trong 7 tháng tiếp theo [70]. Đức Chúa Trời đã cứu-chuộc dân-sự Ngài, và giờ đây Ngài sẽ tuyên-bố họ thuộc về Ngài và sẽ bắt đầu một mối liên-hệ giao-ước với họ (Xu 19:1-24:17) y như lời Ngài đã hứa (Xu 6:6-7).
Có ít nhất 8 lần [71] Môi-se đã xin phép Pha-ra-ôn để dắt dân-sự vào đồng vắng nơi họ có thể thờ-phượng Đức Giê-hô-va, và mỗi lần như thế Pha-ra-ôn đều từ chối. Nhưng giờ đây Y-sơ-ra-ên sẽ gặp Đức Chúa Trời của họ tại núi thánh và thờ-phượng Ngài. Nhiều việc kỳ diệu đã xảy ra tại Si-nai ngày ấy, nhưng việc vĩ đại nhất đó là dân-sự Đức Chúa Trời đã nghe tiếng của Đức Chúa Trời phán trực tiếp v ới họ.
“Có việc nào lớn như việc này đã xảy ra, hay người ta có nghe việc gì giống như vậy chăng? Có dân-tộc nào khác nghe tiếng Đức Chúa Trời phán ra từ lửa như các ngươi đã nghe mà còn sống chăng?” (Phuc 4:33; Phuc 5:23-27).
Khi Đức Chúa Trời phán với dân-sự Ngài, thì bởi ân-điển, Ngài đã kêu-gọi họ đến một đời sống rất đặc biệt.
1. Một đời sống trưởng-thành (Xu 19:1-4)
Nếu tự-do không dẫn đến sự trưởng-thành, vậy chúng ta sẽ đi đến chỗ bị giam cầm trong một ách nô-lệ còn tồi tệ hơn điều chúng ta đã có trước đó, một ách nô-lệ từ bên trong chớ không phải từ bên ngoài. Bị một đốc công Ai-cập bắt làm nô-lệ cũng đủ tồi tệ, nhưng sẽ tồi tệ hơn khi một người tự nô-lệ hóa mình và trở nên đốc công của chính mình.
Môi-se đã đi lên núi để gặp Đức Chúa Trời, và ông đã đi xuống để chia-sẻ với dân-sự điều Đức Chúa Trời đã dạy bảo ông [72] Hình ảnh của sự trưởng-thành mà Đức Chúa Trời sử dụng là hình ảnh của chim ưng, mang con nó trên đôi cánh và dạy cho chúng sự tự-do tuyệt vời của việc bay lượn. Môi-se đã sử dụng hình ảnh tương tự trong bài ca ông dạy cho dân Y-sơ-ra-ên vào lúc cuối đời của ông. Hãy đọc kỹ (Phuc 32:10-12). Loài chim ưng đã dạy chúng ta điều gì về một đời sống trưởng-thành? [73]
Vào giai đoạn nào đó trong sự phát triển của chim ưng con, những chim ưng cha mẹ đã phá vỡ chiếc tổ ấm cúng và buộc những chim ưng con phải bay lên. Những chú chim con có thể chẳng lo-lắng khi rời bỏ chiếc tổ an-toàn, nhưng chúng phải học cách bay nếu chúng muốn thực hiện những mục-đích của mình trong cuộc đời. Những chim lớn ở gần các chim non, và nếu chim non rơi xuống thì chim mẹ sẽ mang chúng trên đôi cánh mạnh mẽ của mình cho đến khi chim non biết cách sử dụng đôi cánh của chúng, lướt trên những luồng khí, và tận hưởng những khả năng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng.
Chim ưng con là ví-dụ minh họa cho 3 khía-cạnh của sự tự-do: sự tự-do được ra khỏi (chúng được ra khỏi tổ, điều mà đối với chúng ta là sự cứu-chuộc); sự tự-do ở bên trong (chúng ở nhà trên không, đối với chúng ta đó là sự trưởng-thành), và sự tự-do được đến (chúng có thể được thực hiện những mục-đích trong đời sống, điều mà đối với chúng ta là chức-vụ).
Sự tự-do thật có nghĩa là chúng ta được giải cứu khỏi việc làm những điều xấu xa, chúng ta có thể làm được những điều tốt đẹp, và chúng ta đang thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời trên đất.
Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời thì Ai-cập là một lò lửa hoạn-nạn đối với Y-sơ-ra-ên (Phuc 4:20; IVua 8:51; Giê 11:4), nhưng dân Do-thái thường xem Ai-cập như một “cái tổ” nơi mà ít nhất họ cũng có được lương thực, có chỗ nương thân và sự an-ninh (Xu 16:1-3; Dân 11:1-9). Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi Ai-cập vì Ngài có điều khác tốt đẹp hơn để họ vui hưởng và thực hiện, nhưng điều này có nghĩa là họ phải “thử-nghiệm đôi cánh của mình” và phải trải qua những cơn đau đớn trước khi họ thực sự trưởng-thành.
Khi chúng ta trưởng-thành trong Chúa, cuộc sống là những cánh cửa mở tiếp nối nhau, đưa đến ngày càng nhiều cơ-hội cho sự tự-do có trách-nhiệm. Nhưng nếu chúng ta không để Đức Chúa Trời hoàn thiện con người chúng ta thì cuộc sống sẽ trở thành một hàng rào sắt giam hãm chúng ta.
Một đứa bé sẽ được an-toàn và dễ chịu trong tử cung của người mẹ, nhưng đến thời điểm nào đó đứa bé đó phải được sinh ra để bước vào một thế giới mới mẻ và khắc nghiệt của sự tăng-trưởng và chín chắn. Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, “những bước ngoặt” của cuộc sống đã đưa đến những sự tự-do mới; sự tự-do này làm nảy sinh những đặc quyền và những trách-nhiệm mới: có thể tự bước đi thay vì được bồng ẵm; chạy xe đạp, rồi lái xe hơi, làm việc và kiếm tiền; học cách để sử dụng tiền cách khôn-ngoan; kết bạn; lập gia đình; nuôi dạy con cái; nghỉ hưu. Ở mỗi “bước ngoặt”, chúng ta phải mất đi điều gì đó khi chúng ta đạt được điều gì đó, và đây chính là cách thức hoạt động của quá trình trưởng-thành.
Mỗi khi dân Do-thái phàn-nàn về cách Đức Chúa Trời đã đối-xử với họ và mong mỏi được trở lại Ai-cập là họ đang hành động như con trẻ, vì vậy Đức Chúa Trời phải kỷ luật họ. Câu nói mà tôi đã trích dẫn trước đó của George Morrison cần được trích dẫn lại lần nữa: “Chỉ cần một đêm để đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, nhưng phải mất 40 năm để đem Ai-cập ra khỏi Y-sơ-ra-ên”. Chúa phải mất bao lâu để khiến chúng ta có thể bay, hay phải chăng chúng ta là những chim non không muốn bị làm cho kinh sợ?
2. Một đời sống có phẩm-cách (Xu 19:5-8)
Ở Ai-cập, dân Do-thái chỉ là những con người kiệt quệ, là những nô-lệ chỉ biết thực hiện theo mệnh-lệnh của chủ mình, nhưng Chúa đã hoạch định những điều tốt đẹp hơn cho họ. Họ phải là một dân đặc biệt của Ngài và Ngài sẽ dùng họ để làm một nguồn phước cho cả thế giới (Sa 12:3).
• Dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời (Xu 19:5 NIV).
Tất cả các dân-tộc trên đất đều thuộc về Chúa vì Ngài là Đấng tạo dựng và gìn giữ họ (Xu 9:29; Thi 24:1; Thi 50:12; Công 14:15; Công 17:24-28), nhưng Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm dân-tộc thuộc riêng về Ngài (Phuc 7:6; Phuc 14:2; Phuc 26:18; Thi 135:4; Mat 3:17). Sự chọn lựa này không phải vì Y-sơ-ra-ên xứng đáng hay bởi họ không có gì cả (Phuc 26:5-11), nhưng chỉ bởi tình yêu và ân-điển lớn lao của Đức Chúa Trời (Phuc 7:6-8).
Việc dân Do-thái là tuyển dân của Đức Chúa Trời không có nghĩa là họ tốt lành hơn bất cứ dân-tộc nào khác, chỉ vì họ rất khác biệt, được Chúa biệt riêng ra cho công tác đặc biệt của Ngài. (Rô 9:4-5) nhắc nhở chúng ta về một số của báu thuộc-linh Đức Chúa Trời đã ban-cho Y-sơ-ra-ên để họ có thể làm một nguồn phước cho cả thế giới, vì “sự cứu-rỗi thuộc về dân Do-thái” (Gi 4:22).
Y-sơ-ra-ên có những của báu và những đặc quyền này nên họ cũng có nhiều trách-nhiệm hơn để yêu mến và vâng-lời Đức Chúa Trời, vì “ai đã được giao cho nhiều, sẽ bị đòi lại nhiều hơn” (Lu 12:48 NIV) [74]
•Nước của các thầy tế-lễ (Xu 19:6).
Sau này A-rôn và các con trai ông sẽ được phong chức để hầu-việc với tư-cách là những thầy tế-lễ của dân-tộc (Xu 28:1-29:46), nhưng ý định của Đức Chúa Trời là cả dân-tộc Y-sơ-ra-ên đều phải sống như những thầy tế-lễ, bày-tỏ lẽ-thật của Ngài và chia-sẻ những ơn phước của Ngài cho thế-gian. Y-sơ-ra-ên phải là “người giới thiệu” về Đức Chúa Trời cho dân ngoại, cho họ thấy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống, và rằng hầu-việc Ngài là con đường dẫn đến phước hạnh tràn đầy (Ês 42:6; Ês 49:6).
Tiếc thay, lẽ ra Y-sơ-ra-ên phải gây ảnh hưởng trên các dân-tộc khác để họ thờ-phượng Đức Giê-hô-va thì các dân-tộc đó lại tác động đến Y-sơ-ra-ên khiến thờ-lạy các hình-tượng của họ! Dân Do-thái đã tiếp nhận các tôn-giáo cùng lối sống của dân ngoại và vì thế đã báng bổ chính bản-thân họ, xứ sở và đền thờ của họ đến nỗi Đức Chúa Trời phải trừng-phạt họ thật nghiêm khắc và đưa họ vào cảnh lưu-đày tại Ba-by-lôn.
Tuy nhiên, sẽ đến ngày mà Y-sơ-ra-ên được nhìn thấy Đấng Mê-si-a của họ, được tẩy-sạch những tội-lỗi (Xa 12:10-13:1), và trở nên một dân-tộc có những thầy tế-lễ thánh để hầu-việc Chúa (Ês 61:6).
•Một dân-tộc thánh (Xu 19:6).
“Các ngươi phải là dân thánh của ta” (Xu 22:31) nghĩa là một dân được biệt riêng cho Đức Chúa Trời, một dân thật khác biệt. “Hãy nên thánh, vì ta là thánh” được tìm thấy ít nhất 6 lần trong Lê-vi ký (Lê 11:44-45; Lê 19:2; Lê 20:7, 26; Lê 21:8) và được lặp lại 2 lần trong (IPhi 1:15-16). Trong mọi lãnh-vực của đời sống, những hoạt động của Y-sơ-ra-ên được điều khiển bởi sự-kiện họ là dân thuộc về Đức Chúa Trời, và điều đó bao gồm cả việc họ ăn gì, mặc gì, kết hôn với ai, chôn người chết như thế nào, và đặc biệt là họ thờ-phượng như thế nào.
Qua những tai-vạ ở Ai-cập, Đức Chúa Trời đã đặt ra một sự khác biệt giữa dân Do-thái và dân Ai-cập (Xu 11:7), vì dân Do-thái không được sống như những dân-tộc ngoại bang. Các thầy tế-lễ Do-thái phải nêu gương và cũng dạy cho dân-sự “phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, sự khiết và sự chẳng khiết” (Lê 10:10; Lê 11:47).
Các thầy tế-lễ đã không thể làm được điều này (Êxe 22:26; Êxe 42:20; Êxe 44:23; Êxe 48:14-15) và tội-lỗi của họ đã dẫn dân-tộc vào tình-trạng ô uế và hủy diệt (Ca 4:13).
Khi Môi-se chia-sẻ với dân-sự tin mừng này, họ nhiệt tâm hứa vâng-theo mọi điều Đức Chúa Trời bảo họ làm (Xu 19:7-8). Có thể họ thành tâm, nhưng Đức Chúa Trời bi ết rằng lòng họ có xu hướng làm ác (Phuc 5:27-29). Sự-kiện họ đã lập lại lời thề nguyện này 2 lần nữa cũng không làm thay đổi tấm-lòng hay củng cố được ý chí của họ (Xu 24:3, 7). Chẳng bao lâu Y-sơ-ra-ên sẽ khuất-phục trước sự thờ lạy hình-tượng ngấm ngầm trong lòng họ và đã làm một con bò vàng rồi thờ lạy nó (Xu 32:1-35).
•Dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay (IPhi 2:5, 9).
Phi-e-rơ đã mượn hình ảnh (Xu 19:6) và gọi Hội thánh ngày nay là “chức tế-lễ thánh … là dân thuộc riêng về Ngài, hầu cho anh em có thể rao ra những sự ngợi-khen về Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài” (IPhi 2:5, 9 NKJV).
Giống như dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa, dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay phải hướng mọi người về Chúa và bày-tỏ ra sự kỳ diệu của Ngài qua lời nói và việc làm của mình. Chúng ta phải là “những quảng cáo sống động” về ân-điển và quyền-năng của Đức Chúa Trời. Phải không thưa các bạn?
3. Một đời sống thánh-khiết (Xu 19:9-25)
Môi-se trở lại với Chúa trên núi và thuật lại lời-hứa của dân-sự sẽ vâng-theo những điều răn của Ngài. Việc Đức Chúa Trời trực tiếp phán với Môi-sẽ lẽ ra phải cho dân-sự lòng tin nơi người lãnh đạo của họ, nhưng các sự-kiện xảy ra sau đó lại khác hẳn. Quả là một đặc quyền cho Y-sơ-ra-ên để có một người lãnh đạo như Môi-se, và thật là bi kịch khi họ đã nhiều lần làm cho ông phải khổ sở!
Chương này chú-trọng đến sự thánh-khiết của dân-tộc Y-sơ-ra-ên với tư-cách là dân thánh của Đức Chúa Trời, và có 3 hình ảnh nổi bật ở đây: việc thay đổi quần áo của dân-sự, khoảng cách được thiết lập giữa dân-sự với Đức Chúa Trời, và cơn bão trên núi Si-nai.
(1) Việc thay quần áo và tắm rửa (Xu 19:10-11,14-15).
Ngày nay chúng ta đã quen với việc có sẵn xà bông và nước, cùng những bộ quần áo khác treo trong tủ, nhưng dân-sự trong thời Kinh-Thánh không có được những thứ xa xỉ đó. Họ không thể tắm mỗi ngày, và chỉ người giàu mới có nhiều quần áo để thay đổi.
Đó là lý-do mà việc tắm rửa và thay quần áo thường đánh dấu một sự khởi đầu mới, chẳng hạn như khi Đức Chúa Trời phục-hồi lại cho A-đam và Ê-va (Sa 3:21) hay khi Gia-cốp và gia đình ông trở về Bê-tên (Sa 35:2).
Những ví-dụ khác đó là khi Giô-sép được ra khỏi ngục (Sa 41:14), những người phung được chữa lành và trở lại với xã hội (Lê 14:8-9), Đa-vít trở lại với Đức Chúa Trời (IISa 12:20), và vua Giê-hô-gia-kin được những người bắt giữ bày-tỏ lòng thương-xót (Giê 52:31-34).
Việc tắm rửa và thay quần áo là một vấn-đề trong Cựu-Ước tương đương với (IGi 1:9) và (IICôr 7:1) trong Tân-Ước [75]
(2) Khoảng cách giữa Đức Chúa Trời và dân-sự (Xu 19:12-13,20-25).
Việc phải tránh xa núi Si-nai là một vấn-đề có liên-quan đến sự sống còn của cả dân-sự vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã thánh hóa ngọn núi. Vì vậy Môi-se đã dựng lên những vật cản để giữ cho dân-sự không được lại gần. Ông cũng đặt những lính canh có quyền giết bất cứ người nào vượt qua rào cản từ xa, và không ai được đụng đến xác chết. Khi tiếng kèn vang lên, Môi-se tiến lên núi để gặp Đức Chúa Trời, nhưng ngay cả vào thay điểm đó, Đức Chúa Trời đã sai ông trở về để cảnh-cáo dân-sự đừng đến quá gần núi Si-nai.
Một cách nghiêm khắc, Đức Chúa Trời đã dạy cho dân sự biết khoảng cách giữa một Đức Chúa Trời thánh-khiết và những người nam và người nữ tội-lỗi, cũng như hiểm họa của việc xông lên núi một cách đường đột khi đang có sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sau này Na-đáp và A-bi-hu đã quên nguyên-tắc này, và Đức Chúa Trời đã giết họ (Lê 10:1-20).
Sự thờ-phượng trong thời Cựu-Ước nhấn-mạnh đến sự phạm-tội của con người và “sự khác biệt” của Đức Chúa Trời về: hàng rào bao quanh đền tạm; bức màn trước nơi chí thánh; sự-kiện chỉ những thầy tế-lễ mới có thể hầu-việc trong đền tạm, chỉ thầy tế-lễ cả mới có thể vào nơi chí thánh, và chỉ có thể được vào một lần trong năm. Sự nhấn-mạnh luôn là “Hãy giữ khoảng cách của các ngươi!”
Nhưng Tân-Ước nhấn-mạnh việc đến gần Đức Chúa Trời, vì Con Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt và đến ở trên đất (Gi 1:14), và danh Ngài là “Em-ma-nu-ên – Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Mat 1:23). Bởi sự chết và sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu đã mở một con đường mới và sống động vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Hêb 10:1-25), và câu tiêu-đề trong Tân-Ước ghi lại rằng: “Chúng ta hãy đến gần!”
Điều này không có nghĩa là chúng ta trở nên “thân mật” với Đức Chúa Trời hơn và hành động giống như chúng ta ngang hàng với Ngài, nhưng Ngài là Cha của chúng ta và Ngài muốn đón nhận tình yêu của chúng ta dành cho Ngài. Xin hãy xem (Hêb 12:18-29).
(3) Sấm chớp (Xu 19:16-19 Xu 20:18-20).
Trong Kinh-Thánh, sấm chớp thường là biểu-tượng về sự hiện diện kinh khiếp và đầy quyền-năng của Đức Chúa Trời (Thi 18:1-15; Thi 29:1-11; Ha 3:1-16). Mây và sự tối tăm, sấm và ánh chớp, cơn động đất và lửa, tất cả đều bày-tỏ sự vĩ đại của Đức Chúa Trời (Phuc 5:22-23, 27) và tạo nên một sự kính-sợ thánh-khiết trong lòng dân-sự.
Cả Môi-se cũng run rẩy sợ hãi và ông đã thừa nhận điều đó! (Hêb 12:21; Phuc 9:19). Đức Chúa Trời sẽ dạy cho dân-sự Luật-Pháp của Ngài, và “sự kính-sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri-thức” (Ch 1:7). Dân Do-thái cũng đã nhìn thấy những tai-vạ ở Ai-cập, và s ự bày-tỏ mạnh mẽ về quyền-năng lần này của Đức Chúa Trời lẽ ra cũng đã sửa soạn tấm-lòng của họ để vâng-lời Ngài (Thi 105:26-45).
Sự kết hợp của việc tắm rửa và thay quần áo, việc chứng-kiến cơn sấm chớp, và việc họ phải tránh xa núi Si-nai, không thể không gây ấn-tượng cho dân-sự về tội-lỗi của chính họ và sự thánh-khiết uy nghi của Đức Chúa Trời. Họ được kêu-gọi làm một dân thánh, không sống giống như những dân-tộc quanh họ. Chỉ khi họ vâng-lời Đức Chúa Trời, họ mới có thể thật sự hưởng được những đặc ân của việc làm một nước của các thầy tế-lễ, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời và là một dân thánh của Ngài.
4. Một đời sống có trách-nhiệm (Xu 20:1-17)
[76] Đặc quyền về sự tự-do dẫn đến trách-nhiệm phải sử dụng sự tự-do đó một cách khôn-ngoan vì vinh-hiển của Đức Chúa Trời và vì ích lợi của những người khác. Tuy nhiên, Mười Điều Răn không chỉ là những luật lệ điều phối đời sống của dân-tộc Y-sơ-ra-ên. Chúng còn là một phần trong giao-ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên khi chính Ngài nhận họ làm một dân thuộc riêng về Ngài (Xu 6:1-8; Xu 19:5-8).
Trong Giao-ước lập cùng Áp-ra-ham Đức Chúa Trời đã ban cho dân Do-thái quyền sở hữu vùng Đất Hứa (Sa 12:3; Sa 13:14-18), nhưng việc Y-sơ-ra-ên được sở hữu và được hưởng vùng đất đó tùy thuộc vào sự vâng-lời của họ đối với giao-ước lập cùng Môi-se. Bi kịch ở đây là dân-tộc đã bất-tuân luật-pháp, làm ô uế xứ, và làm buồn lòng Chúa, vì vậy họ phải bị sửa-phạt.
Luật-pháp chưa bao giờ được ban ra như là một phương-cách của sự cứu-rỗi dành cho dân Do-thái hay dân ngoại, vì “không xác thịt nào bởi việc làm của luật-pháp mà được xưng công-bình” (Ga 2:16). Sự cứu-rỗi không phải là một phần thưởng cho việc làm thiện nhưng là sự ban-cho của Đức Chúa Trời bởi đức-tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ (Rô 4:5; Êph 2:8-9).
Luật-pháp bày-tỏ sự công-bình của Đức Chúa Trời và đòi hỏi sự công-bình, nhưng luật-pháp không thể ban sự công-bình (Ga 2:21), chỉ Chúa Giê-xu Christ mới có thể làm điều đó (IICôr 5:21). Luật-pháp là một chiếc gương cho thấy bạn bị dơ bẩn ở đâu, nhưng bạn không thể rửa mặt mình trong gương (Gia 1:22-25). Chỉ huyết Chúa Giê-xu mới có thể tẩy-sạch chúng ta khỏi tội-lỗi (IGi 1:7, 9; Hêb 10:22).
Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta không phải vì cớ chúng ta vâng-phục Luật-Pháp (Ga 3:2), nhưng vì chúng ta tin Đấng Christ (Ga 4:1-7), và Ngài cũng không ban cơ-nghiệp cho chúng ta qua luật-pháp (Ga 3:18).
Điều duy nhất một tội-nhân hư-mất cần đến là sự sống (Êph 2:1-3), nhưng luật-pháp không thể ban sự sống (Ga 3:21).
Vậy mục-đích của Luật-pháp là gì?
Đó là cách Đức Chúa Trời chỉ cho chúng ta thấy tội-lỗi của chúng ta và cởi bỏ sự công-bình riêng của chúng ta để chúng ta kêu-cầu sự thương-xót và ân-điển của Đức Chúa Trời[77] Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho tất cả những ai tin nơi Con Ngài, và Đức Thánh Linh giúp chúng ta có thể vâng-phục ý muốn Đức Chúa Trời và bởi đó làm trọn-vẹn sự công-bình của luật-pháp (Rô 8:1-3) [78]
Một trong những nhiệm-vụ chính của Luật-pháp là chuẩn bị cho sự Giáng-sinh của Đấng Christ (Ga 4:1-7). Dân-tộc Y-sơ-ra-ên giống như một đứa trẻ non nớt cần đến một người “bảo hộ” để chăm-sóc, chỉ dạy và bảo hộ cho nó, và đây là cách mà người nô-lệ trong thời của Phao-lô phải chăm-sóc cho con cái của người chủ. Nhưng khi đứa trẻ trưởng-thành, người bảo hộ này không còn cần thiết nữa.
Hệ-thống lễ nghi Do-thái được trình-bày trong sách Xuất Ê-díp-tô ký và Lê-vi ký đã được Đấng Christ thực hiện, nhưng nội dung đạo đức của Luật-pháp Đức Chúa Trời vẫn còn tồn tại, và 9 trong số 10 Điều Răn đã được nhắc đến trong các thư tín thời Tân-Ước để Hội thánh tôn-trọng và làm theo. Điều răn về ngày Sa-bát không được lặp lại, và sau này chúng ta sẽ bàn đến nhiều hơn về vấn-đề đó.
Mặc dù Mười Điều Răn đề-cập đến những trách-nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời nhưng 4 điều răn đầu tiên đặc biệt hướng về Đức Chúa Trời và sáu điều răn cuối nói đến con người. Cách chúng ta liên-hệ với những người khác tùy thuộc vào cách mà chúng ta tương-giao với Đức Chúa Trời, vì nếu chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời và vâng-giữ lời Ngài thì chúng ta cũng yêu mến những ng ười lân cận của chúng ta và phục-vụ họ (Mat 22:34-40; Rô 13:1-14).
•Nhận biết một Đức Chúa Trời chân-thật (Xu 20:1-3).
Nhóm từ “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” được lặp lại 5 lần trong phân đoạn này (c.2,5,7,10,12) để nhắc-nhở dân-sự về thẩm-quyền phía sau những điều răn này. Môi-se không phải đang thuật lại “10 ý-kiến” ông đã nghe từ một người cố-vấn thân cận, nhưng là Mười Điều Răn do Đức Chúa Trời toàn-năng phán ra.
Dân Do-thái đang s ống trong một thế giới mù lòa và giữa những dân-tộc mê-tín thờ-lạy nhiều thần khác nhau, là điều mà Y-sơ-ra-ên vẫn thường thấy hàng bao thế kỷ tại Ai-cập [79]. Y-sơ-ra-ên phải làm-chứng về Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống (Thi 115:10-18) và mời gọi những người lân cận của họ đặt niềm tin nơi Ngài.
Nhóm từ “trước mặt Ta” có thể có nghĩa là “trong sự đối lập với ta”. Đối với dân Do-thái, việc thờ lạy thần khác có nghĩa là tuyên-chiến cùng Đức Giê-hô-va và phải gánh lấy cơn thạnh nộ của Ngài. Mỗi buổi sáng, một người Do-thái trung-tín sẽ rao lên rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phuc 6:4).
•Thờ-phượng chỉ một mình Chúa (Xu 20:4-6) [80].
Một hình-tượng sẽ là một sự thay thế cho Đức Chúa Trời và do đó không phải là một thần, vì chỉ có một Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống. Thuyết đa nguyên trong tôn-giáo thời nay (“bạn thờ thần của bạn và tôi sẽ thờ thần của tôi, vì cả hai đều đúng”) vừa không đúng với Kinh-Thánh và vừa mang tính phi-lý, vì làm sao có hơn được một thần? Nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thì Ngài là Đấng vô hạn, đời-đời, tối-cao và không thể chia-sẻ ngôi vị với một thần nào khác cũng vô hạn, đời-đời và tối-cao.
“Ta là Đức Giê-hô-va, ấy là danh Ta. Ta chẳng nhường sự vinh-hiển Ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn-trọng Ta cho những tượng-chạm!” (Ês 42:8).
Sự thờ hình-tượng của các dân-tộc ngoại bang không những phi-lý và không đúng với Kinh-Thánh, mà còn hết sức đồi bại (về những kỹ nữ trong đền thờ và những nghi lễ liên-quan đến khả năng sinh sản), vô nhân-đạo (giết con cái), và thuộc về ma quỷ (ICôr 10:10-22). Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Chúa ra lệnh Y-sơ-ra-ên phải phá hủy những đền thơ, bàn thờ và hình-tượng của dân ngoại bang khi họ vào chiếm xứ Ca-na-an (Phuc 7:1-11).
“Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình khỏi những hình-tượng” (IGi 5:21) là lời khuyên sau cùng của sứ-đồ Giăng đối với Cơ-đốc nhân trong thời của ông, và lời khuyên này vẫn cần được lưu ý trong thời đại ngày nay. Nếu một hình-tượng là điều gì đó chiếm vị-trí của Đức Chúa Trời, là điều gì đó mà chúng ta dành sức lực và thời gian cho nó, hoặc dành những của lễ cho nó vì chúng ta yêu mến và hầu-việc cho nó, do vậy lời cảnh-cáo của sứ-đồ Giăng vẫn cần thiết vào ngày nay. Những hình-tượng đã cám-dỗ dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay là những thứ như: tiền bạc, danh vọng, sự thành công, tài sản vật chất (xe cộ, nhà cửa, thuyền bè, những thứ có thể tích góp được), tri-thức, hoặc thậm chí đó là những người khác.
Đức Chúa Trời là một “Đức Chúa Trời ghen tương” không phải trong ý nghĩa Ngài ghen về các thần khác, vì Ngài biết rằng tất cả các “thần” khác đều là những điều tưởng-tượng và không thật sự tồn tại. Từ “ghen” bày-tỏ tình yêu của Ngài đối v ới dân-sự Ngài vì Ngài muốn điều tốt đẹp nhất cho họ. Giống như cha mẹ ghen về con cái của họ và vợ chồng ghen về nhau, Đức Chúa Trời cũng ghen về những con cái yêu dấu của Ngài và sẽ không tha-thứ cho sự bất-trung (Xa 1:14 8:2).
Trong Kinh-Thánh, sự thờ hình-tượng đồng nghĩa với sự mãi-dâm và sự tà-dâm (Ôs 1:1-3:5; Giê 2:1-3:25; Êxe 16:1-63; Êxe 23:1-49; Gia 4:4-5). Đức Chúa trời muốn có và đáng nhận được tình yêu duy nhất của dân-sự dành cho Ngài (Xu 34:14; Phuc 4:24; Phuc 5:9; Phuc 6:15).
Đức Chúa Trời cũng rất nghiêm-túc về việc chỉ chấp nhận sự thờ-phượng và sự yêu mến duy Ngài đến nỗi Ngài sẽ trừng-phạt những ai khước từ vâng-theo lời Ngài. Đức Chúa Trời không trừng-phạt con cháu vì cớ tội-lỗi của ai đó (Xu 24:16; Êxe 18:4), nhưng những hậu quả đáng buồn do tội-lỗi của tổ-tiên có thể truyền từ đời này sang đời khác và con cháu vô-tội phải gánh chịu hậu quả vì những gì cha mẹ hay ông bà họ đã gây nên. Trong thời Kinh-Thánh, không có gì khác thường khi 4 thế-hệ chung sống trong một gia đình đông đúc và vì thế rất dễ để gây tác động và làm ảnh hưởng đến nhau.
Đồng thời, sự tin-kính của tổ-tiên có thể đem lại phước hạnh cho những thế-hệ sau. Đức-tin của Áp-ra-ham đã đem phước hạnh đến cho con cháu ông, và chức-vụ của Đa-vít vẫn giúp ích cho dân-sự khi ông qua đời đã lâu. Ông cố tôi đã cầu-nguyện để qua mỗi thế-hệ trong gia đình sẽ có một người rao-giảng Phúc-Âm, và Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu-nguyện đó!
•Tôn-trọng danh Đức Chúa Trời (Xu 20:7).
Tên của bạn thể hiện cho tính-cách và thanh danh của bạn, cho bản-chất của bạn và điều bạn làm (Gi 17:6, 26). Khi bạn nói rằng ai đó có một “tên xấu” thì bạn không chỉ đang phê bình những gì được viết trên khai sinh của người đó. Bạn đang cảnh giác tôi rằng người này không thể tin-cậy được.
Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vĩ đại nhất trong vũ-trụ, vậy danh Ngài là danh vĩ đại nhất và phải được tôn-trọng. Lời cầu-xin đầu tiên trong bài cầu-nguyện của Chúa là “Danh Ngài được tôn-thánh” (Mat 6:9). Con người đã báng bổ danh Đức Chúa Trời qua việc phát ngôn thô tục. Nhưng việc sử dụng danh Đức Chúa Trời để hứa nguyện hay thề nguyền, mà sau đó không thực hiện l ời cam kết là đã xem thường danh Ngài và báng bổ Đức Chúa Trời (Lê 19:12).
•Tôn-trọng ngày Sa-bát (Xu 20:8-11).
Từ “sa-bát” nghĩa là “nghỉ ngơi”. Việc giữ lễ Sa-bát đã là một phần trong đời sống của Y-sơ-ra-ên (Xu 16:23, 25), nhưng giờ đây nó trở thành một bộ phận trong luật-pháp của Y-sơ-ra-ên và trong mối liên-hệ giao-ước của họ với Đức Chúa Trời. Mặc dù ngày Sa-bát có nguồn gốc từ buổi sáng thế (Sa 2:1-3), nó cũng là một dấu-hiệu đặc biệt giữa Y-sơ-ra-ên và Chúa (Xu 31:12-17; Nêh 9:13-15; Êxe 20:12, 20).
Và không có chứng-cớ nào trong Kinh Thánh cho rằng Đức Chúa Trời đã ra lệnh bất cứ dân-tộc nào cũng phải giữ lễ vào ngày thứ bảy (Thi 147:19-20). Sau này, Môi-se đã kết hợp ngày Sa-bát với sự giải cứu Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập (Phuc 5:12-15), đây là một sự mường tượng trước về sự nghỉ ngơi họ sẽ được hưởng trong cơ nghiệp đã hứa ban cho họ (Xu 3:20; Xu 12:10; Xu 25:19).
Khi dân Do-thái giữ ngày Sa-bát, đó không chỉ là một dấu-hiệu về sự tận tụy của họ đối với Chúa, nhưng đó còn là một lời-chứng cho những người lân cận ngoại đạo mà đối với họ ngày thứ bảy chỉ như một ngày khác. Qua việc nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, dân Do-thái đang bồi bổ lại sức lực cho chính họ cũng như cho tôi-tớ và gia-súc của họ, họ cũng nhận biết được uy-quyền của Đức Giê-hô-va trên thời gian và trên tạo vật (Xu 23:12).
Từ những ngày đầu tiên, dân-sự Đức Chúa Trời đã nhóm lại vào ngày đầu tuần để tôn-vinh sự phục-sinh của Chúa Giê-xu Christ (Gi 20:19, 26; Công 20:7; ICôr 16:2), nhưng nguyên-tắc về một ngày trong bảy ngày vẫn không thay đổi (Côl 2:16-17; Ga 4:1-11; Rô 14:1-15:7).
Đáng tiếc rằng dân Y-sơ-ra-ên đã không tôn-trọng ngày Sa-bát như Đức Chúa Trời đã chỉ dạy và phải bị kỷ luật (IISu 36:14-21; Êxe; 20:1-44; Ês 58:13-14; Giê 17:19-27). Cũng thật đáng tiếc rằng các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đã thêm 39 hành động bị cấm vào điều răn này đến nỗi việc giữ ngày Sa-bát trở thành một gánh nặng thay vì một phước hạnh (Mac 2:23-3:5).
•Tôn-kính cha mẹ (Xu 20:12).
Trong một thế giới đang tôn-thờ và làm theo những người trẻ tuổi, sử dụng đến phương pháp “tự sát có sự trợ giúp” (chết không đau đớn) để loại bỏ những người già vô ích thì điều răn này nghe như có một sự sai lệch nào đó về thời gian.
Nhưng dân Do-thái được dạy dỗ phải tôn-kính người già cả và chăm-sóc những người cao niên (Xu 21:15, 17; Lê 19:3, 32; Phuc 27:16; Ch 1:8 16:31; Ch 20:20; Ch 23:22; Ch 30:17), đây là một gương tốt cho chúng ta noi theo ngày nay (Êph 6:1-3; ITim 5:1-12) [81]. Ai đó đã nói rằng những người già là nhóm người duy nhất bị ruồng bỏ mà mọi người đều muốn gia nhập vì không ai muốn bị chết sớm. Nhưng cách chúng ta đối-xử với họ hôm nay sẽ quyết định cách chúng ta được đối-xử trong tư ơng lai vì chúng ta gieo giống chi thì sẽ gặt giống ấy.
•Quý-trọng nhân-mạng (Xu 20:13).
Sự sống là một món quà từ Đức Chúa Trời, và chỉ có Ngài mới có quyền để cất đi sự sống. Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời nên sát nhân tức là chống lại Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27; Sa 9:6). Bảo vệ sự sống là trách-nhiệm của mọi người trong xã hội, không chỉ là trách-nhiệm của các quan chức (Rô 13:1-14).
Vấn đề ở đây là tội sát-nhân có mưu-tính trước, là điều mà Chúa Giê-xu đã nói rằng nó có thể phát xuất trong cơn nóng giận (Mat 5:21-26). Dân Do-thái được phép tự bảo vệ mình (Xu 22:2) và luật-pháp có sự nhân nhượng về cái chết không chủ ý, nhưng tội sát-nhân là một tử-tội (Xu 21:12-14).
•Trân-trọng hôn-nhân (Xu 20:14).
Tà-dâm là một tội nghiêm-trọng đến nỗi nó bị ghép vào tội tử-hình (Lê 20:10; Phuc 22:22). Gia đình là đơn vị cơ-bản của quốc gia, và sự chung thủy đối với giao-ước hôn-nhân là nền-tảng cho gia đình. Tà-dâm là trộm cướp (ITês 4:1-8), nhưng cuối cùng, những ai phạm-tội tà-dâm đều cướp đi chính bản-thân mình (Ch 6:20-35). Mặc dù Chúa có thể tha-thứ cho tội tà-dâm (ICôr 6:9-11; Gi 8:1-11) như Đa-vít, nhưng người nam và người nữ phạm-tội tà-dâm phải sống với những hậu quả đau buồn của tội đã được tha (IISa 12:13-14; Thi 51:1-16). Tội tà-dâm khởi đầu bằng sự ham muốn trong lòng phát xuất từ cái nhìn thứ hai (Mat 5:27-30).
•Tôn-trọng tài sản riêng (Xu 20:15).
Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên một bộ luật tỉ mỉ để chi phối cách họ sử dụng đất vì đất thuộc về Ngài và họ chỉ là những người quản-gia (Lê 25:2,23,38). Đây là cơ sở cho ngành sinh thái học ôn hòa, (Êph 4:28) cho biết rằng chỉ có 3 cách để có được của cải, đó là: làm việc, được ban cho, hoặc trộm cắp nó, và việc trộm cắp là sai trật.
• Nói sự thật (Xu 20:16).
Nói sự thật và tôn trọng lời-hứa là chất kết dính làm vững các mối quan-hệ trong xã hội. Việc nói dối trong một phiên tòa chính là phá hoại luật-pháp, điều này giải thích lý-do Môi-se đòi hỏi những người làm-chứng phải là những người sẽ hành hình trong các án xử tử (Phuc 17:6-13). Nói dối là một việc, nhưng giết người để bảo vệ sự giả dối của bạn hoàn toàn là một việc khác. Điều răn này cũng nghiêm cấm việc vu-cáo cho người khác (Xu 23:1; Ch 10:18; Ch 12:17; Ch 19:9; Ch 24:28; Tit 3:1-2; Gia 4:11; IPhi 2:1).
•Kiềm chế những tham muốn (Xu 20:17).
Điều răn thứ nhất và thứ 10 đề-cập đến những điều diễn ra trong lòng, còn 8 điều răn còn lại tập trung vào những hành động bên ngoài phát xuất từ trong lòng. Những người tham lam sẽ vi phạm tất cả các điều răn của Đức Chúa Trời để thỏa mãn cho những tham muốn của họ, vì tâm điểm của tội-lỗi chính là tội-lỗi ở trong lòng (Mat 15:19). Thèm muốn tức là nuôi dưỡng cho các tham muốn trong lòng về bất cứ điều gì Đức Chúa Trời cho là tội-lỗi.
Chính điều răn này đã “giết chết” Sau-lơ ở thành Tạt-sơ và khiến người Pha-ri-si thành đạt này thừa nhận rằng ông là một tội-nhân (Rô 7:1-14; Lu 12:15; Êph 5:3; Côl 3:5).
Mười Điều Răn đã kết thúc với sự nhấn-mạnh đến việc làm một người láng giềng tốt, vì điều răn quan-trọng thứ nhì đó là yêu kẻ lân-cận của bạn như chính bạn (Mat 22:34-40; Lê 19:18). Nếu chúng ta yêu những người lân-cận của mình, chúng ta sẽ không tham những gì họ có, không ăn cắp của họ, nói dối về họ, hoặc làm bất cứ điều gì khác Đức Chúa Trời răn cấm trong Lời Ngài.
Đây là lý-do vì sao sự yêu-thương là sự làm trọn luật-pháp (Rô 13:8-10). Nhưng chỉ Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi tấm-lòng tội-lỗi của chúng ta (Hêb 10:14-18) và ban-cho chúng ta tình yêu để có thể vâng-lời Ngài và quan-tâm đến những người khác (Ga 5:22-26; Rô 5:1-5)[82]
9. QUYỂN SÁCH GIAO-ƯỚC (Xu 20:22-24:8)
Phân đoạn này bao gồm những luật-lệ căn-bản có liên-hệ đặc biệt đến sự bảo vệ nhân mạng và tài sản. Bằng cách tiếp nhận “Quyển sách giao-ước” (Xu 24:3-4), dân-sự đã bước vào một mối liên-hệ đặc biệt với Đức Giê-hô-va và ràng buộc chính họ trong sự vâng-giữ Lời Ngài. Các luật-lệ này không mang tính độc đoán; chúng dựa trên đặc-tính của Đức Chúa Trời và những nguyên-tắc đạo đức không thay đổi đã được trình-bày trong Mười Điều Răn.
Luật-pháp không có quyền-năng làm thay đổi bản-chất con người; nó chỉ có thể bảo vệ sự sống và tài sản của con người qua việc điều chỉnh hành vi của họ. Một trong những giai đoạn nguy hiểm và thảm khốc nhất trong lịch-sử Do-thái là vào thời của các quan-xét khi mà “mọi người làm điều đúng theo mắt mình” (Cac 17:6; Cac 18:1; Cac 19:1; Cac 21:25). Việc thi hành các luật-lệ tốt lành không bảo-đảm cho một xã hội toàn hảo, nhưng nó thật sự thúc đẩy trật tự trong xã hội và ngăn ngừa tình-trạng vô chính phủ.
1. Đức Chúa Trời là vô hình: Hãy nghe Lời Ngài (Xu 20:22-26)
Bốn mươi năm sau đó khi Môi-se ôn lại Luật-Pháp với thế-hệ mới, ông nhắc nhở họ rằng tổ-tiên họ đã nhìn thấy những sự bày-tỏ về vinh-hiển và quyền-năng của Đức Chúa Trời tại núi Si-nai và đã được nghe Lời Ngài, nhưng họ “không thấy có một hình trạng nào” Phuc 4:15 NIV). Đức Chúa Trời đã không tỏ mình ra trong bất cứ hình dạng nào để dân Do-thái không thể biến Đức Chúa Trời hằng sống thành một hình-tượng chết.
“Vậy các ngươi sẽ ví Đức Chúa Trời với ai? Hay các ngươi sẽ so sánh Ngài với ảnh tượng nào?” (Ês 40:18 NKJV).
•Dân Do-thái được gọi là một dân có Lời Chúa.
Sự thành công của dân-tộc tùy thuộc vào việc nghe Lời Đức Chúa Trời, tin-cậy và vâng-lời. Các dân-tộc lân cận Y-sơ-ra-ên đã lập ra những tôn-giáo của họ dựa trên những điều họ có thể thấy được, là những hình-tượng do tay người làm ra, nhưng Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng một Đức Chúa Trời không thấy được [83]. và không có liên-hệ đến những hình-tượng.
Nhà triết-gia Cơ-đốc Jacques Ellul đã viết: “Những thần giả dối luôn là những thần mà một người có thể thấy (và chạm vào) được và chính đặc điểm này đã phơi-bày ra sự giả dối và sự không tồn tại của họ với tư-cách là những vị thần.”[84]
Học-giả Do-thái Abraham Joshua Heschel đã tóm tắt thần-học của Y-sơ-ra-ên về Kinh-Thánh khi ông viết rằng: “Để tin, chúng ta cần có Đức Chúa Trời, một linh-hồn, và Lời Ngài” [85]
Đức Chúa Trời đã cảnh-cáo Y-sơ-ra-ên đừng làm ra những hình-tượng và đừng xây nên những bàn thờ công phu như những bàn thờ của các dân ngoại xung quanh họ (IIVua 16:10-20). Một bàn thờ đơn giản bằng đất hoặc đá không đẽo vẫn được Chúa chấp nhận. Nếu đá được đục đẽo, chúng sẽ trở nên giống như những hình-tượng, và công-trình do con người tạo ra sẽ trở nên quan-trọng hơn sự thờ-phượng Đức Chúa Trời. Đá tự nhiên do Chúa chu-cấp là tất cả những gì Ngài sẽ tiếp nhận cho chúng ta.
Sự lõa lồ và sự giao hợp với kỹ nữ đền thờ là một hình thức trong nhiều nghi lễ ngoại giáo, và những điều này rõ ràng bị Chúa nghiêm cấm. Đức Chúa Trời đã ra lệnh các thầy tế-lễ Do-thái mặc vào chiếc áo đặc biệt để che phủ sự lõa lồ của họ (Xu 28:42-43; Lê 6:10), và nếu họ không vâng-lời, họ sẽ có nguy cơ bị giết chết (Xu 28:35,43).
Mặc cho những lời-hứa nhiệt tình của họ, Y-sơ-ra-ên đã nhanh chóng bất-tuân những điều răn này. Trong lúc Môi-se ở với Đức Chúa Trời trên núi, dân-sự đã làm một bò con vàng và dự phần vào cuộc truy hoan mang tính thờ hình-tượng đã dẫn đến cái chết của 3.000 người (Xu 32:1-6,25-29). Bất cứ điều gì trong nghi thức tế-lễ tôn-giáo khuyến-khích các vấn-đề có liên-quan đến thuộc thể thay vì thuộc-linh thì không thể đến từ Đức Chúa Trời hay sẽ được Đức Chúa Trời chúc phước cho.
2. Đức Chúa Trời là công chính: Hãy vâng theo những luật-lệ của Ngài (Xu 20:20-26) (Xu 21:1-23:19)
Công-lý là việc làm thực tế thể hiện sự công-bình của Đức Chúa Trời trong lịch-sử của nhân-loại, vì “Chúa yêu chuộng sự công-bình và chánh-trực” (Thi 33:5; Ês 30:18; Ês 61:8). Có thể có rất nhiều sự bất-công trong thế giới chúng ta ngày nay, nhưng cũng đến thời điểm khi Đức Chúa Trời trong sự công-bình Ngài sẽ đoán-xét thế-gian bởi Chúa Cứu Thế mà thế-gian đã chối bỏ, và sự xét-đoán của Ngài là công-chính (Công 17:31).
•Luật về tôi-mọi (Xu 21:1-11; Lê 25:39-43; Phuc 15:12-18).
Mặc dù dân Do-thái được phép có tôi mọi từ các dân khác, thường là tù binh, nhưng họ không được phép bắt người trong dân-tộc của họ làm nô-lệ. Hai chuỗi sự-kiện được trình-bày ở đây: một người đàn ông tình-nguyện làm tôi-tớ (Xu 21:1-7), và một cô gái bị bán để làm một con đòi (c.8-11).
Nếu vì bần cùng, một người Do-thái phải trở nên một tôi-tớ bị ràng buộc bằng giao kèo, chủ người ấy phải đối xử nhân đạo với anh ta và sẽ thả ra sau 6 năm phục-vụ. Nếu vì cớ tình cảm gia đình, người này muốn ở lại phục-vụ cho chủ, và đã được các quan-xét cho phép, vậy người ấy sẽ được đánh dấu ở trái tai và cứ làm một đầy-tớ suốt đời. Tuy nhiên, người ấy không bao giờ bị đối xử như một tôi mọi.
Một đầy-tớ gái sẽ không được thả tự-do sau 6 năm hầu-việc. Nếu một người nghèo bán con gái mình làm con đòi hay nàng hầu [86], vậy cha của cô gái này sẽ nhận được tiền bán con, cô gái sẽ có một gia đình tươm tất hơn và chồng cô sẽ không phải tốn kém cho của hồi môn đắc giá. Nếu sau khi trở thành vợ lẽ của người đàn ông mà nàng không vừa lòng người, ai đó trong gia đình cha mẹ nàng có thể chuộc nàng và nàng sẽ được tự-do.
Nếu người đàn ông chọn nàng cho con trai ông, và đến một lúc nào đó người con trai trở nên ghét nàng rồi cưới một cô gái khác, vậy cha của người con trai phải bảo-đảm cho nàng được đối-xử như một con gái đã lập gia đình. Điều này có nghĩa là bảo-đảm cho nàng có quần áo, thức ăn và mọi quyền lợi trong cuộc hôn-nhân của nàng (ICôr 7:1-6). Nếu người cha không làm điều này, người con gái được tự-do trở về gia đình nàng và không bị xem là một tôi mọi nữa.
•Những tội xử-tử (Xu 21:12-17).
Những luật-lệ này là sự ứng dụng hợp lý cho điều răn thứ sáu, “Ngươi chớ giết người” (Xu 20:13; Lê 24:17). Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, do đó việc giết hại một đồng loại nghĩa là công kích hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 9:6). Nếu một người bị phát hiện đã phạm-tội giết người dựa trên lời chứng của hơn 2 nhân-chứng (Dân 35:30-31), thì kẻ sát nhân sẽ bị xử-tử.
Luật-pháp phân biệt giữa tội giết người có mưu tính trước và tội ngộ sát. Nếu bạn vô tình giết chết ai đó, bạn có thể chạy trốn đến bàn thờ Đức Chúa Trời để được sự an toàn (IVua 2:29) cho đến khi các trưởng-lão có thời gian để xem xét vấn-đề. Một khi dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn ở trong xứ họ, họ đã dành ra 6 thành ẩn náu để kẻ giết người có thể chạy trốn và được bảo vệ cho đến khi vấn-đề được điều tra (Dân 35:1-34; Phuc 19:1-21; Gios 20:1-9).
Vào thời ấy, Y-sơ-ra-ên không có lực lượng cảnh sát; gia đình của nạn nhân chắc chắn mong đợi công-lý sẽ được thực hiện. Nhưng trong cơn nóng giận, họ có thể mong muốn được trả thù hơn là trông vào công-lý, vì vậy luật này can thiệp vào nhằm bảo vệ bị cáo cho đến khi anh ta được chứng minh là có tội.
•Con cái và cha mẹ (Xu 21:15-17).
Sau khi liên-hệ đến tội sát-nhân nói chung, luật này đề-cập đến những trường hợp cụ thể. Trường hợp đầu tiên nói về việc một người ngược đãi cha mẹ, đánh đập hoặc chửi rủa họ, vi phạm đến điều răn thứ năm (c.15, 17 Lê 20:9; Phuc 27:16).
Có thể áp-dụng “luật về đứa con bội nghịch” (Phuc 21:18-21) ở đây và đứa con này rất cần đến sự kỷ-luật. Những đứa con không kính-trọng cha mẹ thường không có sự tôn trọng đối với bất cứ quyền hạn nào khác và chỉ muốn làm theo ý riêng ích kỷ của mình. Đặc điểm “không có tình cảm tự nhiên” (IITim 3:3) nói về một số người trong những ngày sau rốt, nhưng trong thời của Môi-se cũng có những loại người đó.
Việc bắt cóc bị nghiêm cấm (Xu 21:16; Phuc 24:7). Việc ăn cắp tài sản đã là sai trái (Xu 20:15), thì việc bắt cóc những người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và bán họ làm nô-lệ là một tội ác còn nghiêm trọng hơn.
• Những sự đả thương (Xu 21:18-32).
Con người không nên tranh cãi đến độ phải xô xát nhau (Ch 15:1; Ch 25:15), nhưng điều đó đã xảy ra, và khi nó xảy ra sẽ gây ra nhiều điều tác hại. Nếu nạn nhân chết, kẻ gây hấn sẽ đền mạng, nhưng nếu nạn nhân hồi phục và cuối cùng có thể bước đi được thì kẻ gây hấn được miễn những trách-nhiệm có liên-quan. Tuy nhiên, người ấy phải bồi hoàn cho nạn nhân về khoản thời gian bị mất việc và các chi phí thuốc men.
•Tôi-mọi (Xu 21:20-21).
Nguyên-tắc này giờ đây được áp-dụng cho một người chủ và tôi-tớ của người ấy. Chúa không muốn tôi-tớ bị xem như những món đồ, nhưng họ phải được đối xử như những con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và đáng được hưởng những quyền con người của họ. Nếu trong việc kỷ luật một tôi-tớ (Ch 10:13; Ch 13:24), người chủ đã quá tay và giết người tôi-tớ ấy thì người chủ này phải bị phạt. Chúng ta không được cho biết hình phạt này là gì.
Điều này có thể do các quan án quyết định (Xu 21:22) và tùy thuộc vào việc người chủ có ý định giết người thật sự hay không. (Thật khó tin rằng một người chủ lại muốn hủy hoại tài sản riêng của mình và để phải mất đi một nguồn lợi tức từ người này). Nếu sau một vài ngày người tôi-tớ bình phục trở lại, chủ người ấy sẽ không bị phạt, vì ông ta đã mất đi nguồn lợi từ người đầy-tớ trong khoản thời gian người này phục-hồi sức khỏe.
•Làm bị thương một người đàn bà có thai (Xu 21:22-23).
Chúng ta không được biết người đàn bà này có phải là vợ của một trong những người đánh nhau và chồng bà ta có thua trận hay không? Các học-giả không đồng ý về cách dịch của c.22. Phải chăng câu ấy là: “và người phải sanh non” (NIV), hay là: “và người bị sẩy thai?” (ghi chú của Kinh-Thánh NIV, NASB). Mệnh-đề “nhưng không có sự tổn hại nghiêm trọng nào” (đối với mẹ hoặc con) gợi ý rằng cách dịch thứ nhất hợp lý hơn, vì sẩy thai chắc chắn là một sự-kiện nghiêm trọng.
Cho dù không có sự tổn hại nghiêm trọng nào xảy ra cho người mẹ hoặc đứa con, tòa xử án cũng phải phạt người có lỗi về hành động gây hấn của người ấy đối với một ai đó không phải là người tham gia vào cuộc đánh nhau. Nếu không nói đến ý định của người này thì điều mà người ấy đã làm có thể gây nên cái chết của đứa con hay của người mẹ, hoặc cả hai. Nhưng nếu có sự tổn hại nghiêm trọng, tức là người mẹ hoặc đứa con bị thương tật hoặc bị chết thì tòa án sẽ xét xử theo luật ăn miếng trả miếng (c.23-25), nghĩa là “hình phạt phải tương ứng với tội ác” [87]
Nguyên-tắc này đã bị một số người chỉ trích gay gắt là “dã man”, nhưng sự việc có ý nghĩa trái ngược hẳn. Trong một th ời đại mà hệ thống Luật-pháp đang được đẩy mạnh thì luật này bảo đảm rằng hình phạt do các quan án định đoạt tương xứng với sự nghiêm trọng và khắc nghiệt của tội ác, không hơn không kém.
Nếu kẻ gây hấn có tội đã làm mù mắt kẻ thù mình, thì mắt hắn phải bị làm cho mù. Không điều gì có thể công-bằng hơn. Nếu bạn bẻ gãy ngón tay kẻ thù mình và tòa xử bạn phải bị mù thì điều đó sẽ không công bằng gì cả, vì án phạt phải thật thích đáng với tội ác. Nguyên-tắc này chỉ duy nhất một lần không được áp dụng đó là khi một người chủ gây thương tích cho một tôi-tớ, và sự đền bù cho người đầy-tớ này là sự tự-do của chính người ấy (c.16-27).
Chúa Giê-xu cấm các môn-đồ Ngài trả thù những ai làm tổn thương họ (Mat 5:38-44; IPhi 2:19-21). Ngài đang đề-cập đến sự trả thù cá nhân (“Ta sẽ trả thù ngươi!”) và khuyến khích sự tha thứ cá-nhân. Ngài không chỉ trích Môi-se, và cũng không can thiệp vào hệ thống Luật-pháp, vì Ngài đến để làm trọn Luật-pháp chớ không phải để hủy hoại nó (Mat 5:17-20).
Là những Cơ-đốc nhân chúng ta có đặc quyền khước từ “những quyền lợi hợp pháp” của chúng ta vì vinh-hiển của Đức Chúa Trời mà không cần đòi hỏi một sự đền bù nào (ICôr 6:1-8). Tuy nhiên, một quan án phải bảo-đảm rằng công-lý được thực hiện và luật-pháp phải được tôn-trọng.
•Bị đả thương bởi một con vật (Xu 21:28-32).
Luật-pháp cho biết rõ rằng người chủ có trách-nhiệm bảo-đảm cho con vật của mình không đả thương người khác. Một con bò nguy hiểm trước đây đã tấn công con người thì phải bị nhốt lại. Nếu nó không bị nhốt lại và làm chết ai đó thì người chủ phải chịu trách-nhiệm, và cả chủ lẫn con vật đều phải bị xử-tử. Người ta không được làm thịt con vật để ăn vì nó đã bị ô uế bởi hành động kinh khiếp của nó.
Tuy nhiên, tòa án có thể phạt người chủ và cho phép người này trả một khoản tiền chuộc và được thả ra (Dân 35:31).
Hãy chú ý rằng luật-pháp không phân biệt giữa cái chết của một người nam hay người nữ (Xu 21:29, 31). Tuy nhiên, có một sự khác biệt khi sự việc xảy ra với những người nô-lệ vì người sở hữu con vật có thể trả cho người chủ nô-lệ 30 miếng bạc để đền bù cho sự mất mát này (Mat 26:14-16).
•Thiệt hại về tài sản (Xu 21:33-22:15).
Trong vùng Đất Hứa, Y-sơ-ra-ên sẽ là một xã hội nông nghiệp, và súc vật có vai trò rất quan-trọng đối với một người nông dân vì nếu không có chúng, anh ta sẽ không thể cày xới đất đai được.
Những con vật bị thương hoặc bị giết chết (Xu 21:33-34). Nếu sự bất cẩn và lơ đễnh của một người (mở miệng hầm hoặc đào hầm) khiến một con vật bị thương hoặc chết, thì người ấy phải bồi thường cho người chủ của con vật, nhưng người chủ hầm có thể giữ l ại con vật đó cho mình.
Nếu một con vật giết hại con vật khác, hai người chủ sẽ chia nhau xác con vật đã chết và tiền có được từ việc bán con vật còn sống. Luật này không chỉ cho thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến công-lý nhưng Ngài cũng mong rằng con người cần phải cẩn thận và đừng khiến cho những con vật dễ bị thương và do đó phải bị giết đi.
•Ăn cắp súc vật (Xu 22:1-4).
Luật-pháp phân biệt giữa những con vật bị đánh cắp đã bị giết hoặc bị bán, và những con vật bị ăn cắp vẫn còn ở trong tay của kẻ cắp. Khi kẻ cắp bị bắt gặp đang phạm tội, trong trường hợp đầu tiên, hắn phải bồi thường 5 con bò cho một con và 4 con chiên cho một con (bị đánh cắp). Trong trường hợp thứ hai, hắn phải trả hai con vật cho một con. Ăn cắp một con vật cũng đã là xấu xa, nhưng việc giết hoặc bán đi những gì không phải của bạn là nhận lấy những quyền hạn không thuộc về bạn. Nếu kẻ cắp không thể bồi thường, hắn sẽ bị bán làm nô-lệ và tiền được giao lại cho người bị mất cắp.
Luật này cũng phân biệt giữa hành động ăn trộm ban đêm và ăn trộm ban ngày. Vào ban ngày, người chủ có thể nhận diện tên trộm đột nhập vào chuồng súc vật của mình và thậm chí có thể kêu-gọi sự giúp đỡ của những người láng giềng. Việc giết kẻ trộm vào ban ngày sẽ là một hành động trả thù không cần thiết. Nhưng vào ban đêm, người chủ không thể nhận diện ra kẻ đột nhập, cũng không biết được kẻ này có vũ trang hay không, và do đó mạng sống của người chủ rất nguy hại; thêm nữa, vào ban đêm cũng phải mất thời gian lâu hơn để kêu-cầu sự giúp đỡ.
Luật về sự bồi thường súc-vật bị mất cắp nhắc chúng ta nhớ đến lời của Đa-vít trong (IISa 12:6) và lời-hứa của Xa-chê trong (Lu 19:8). Tiên-tri Na-than nhìn thấy vua Đa-vít như một kẻ đánh cắp chiên và Bát-sê-ba như con chiên bị đánh cắp, vì tội tà-dâm là tội trộm cắp (ITês 4:1-7). Đa-vít đã phải bồi thường gấp 4 lần: con trẻ bị chết, Am-nôn và Áp-sa-lôm đều bị giết, và Ta-ma bị cưỡng hiếp (IISa 12:15-13:33; IISa 18:1-18).
•Mùa màng (Xu 22:5-6).
Ranh giới đồng ruộng được đánh dấu bởi những hòn đá đặt ở các góc, chớ không phải là những hàng rào quanh khu vực này (Phuc 19:14 27:17; Ch 22:28; Ch 23:10). Những súc-vật ăn cỏ sẽ không phân biệt được đồng ruộng này với đồng ruộng khác và sẽ lang thang bất cứ nơi nào có sẵn cỏ. Người chủ phải luôn ở bên cạnh để trông chừng súc-vật. Nếu người chủ lơ là để cho súc vật của mình ăn cỏ trong đồng ruộng của người láng giềng thì phải bồi thường thỏa đáng cho người láng giềng, và hãy chú ý giao cho người này hoa lợi tốt nhất của mình, vì vật bồi hoàn không phải là một thứ có thể xem thường được.
Trong mùa khô, đồng ruộng luôn có nguy cơ bị hỏa hoạn làm hủy hoại mùa màng (Xu 22:6). Những chữ “bồi thường” và “sự hoàn trả” được dùng đến 6 lần trong đoạn 22 (c.1, 3-6, 12) đã được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ “shalam” nghĩa là “làm cho trọn vẹn, làm cho hoàn toàn”, và có liên-hệ với từ Hê-bơ-rơ tương tự là “shalom” (“hòa bình, sức khỏe”).
Người phạm-tội không phải chỉ xưng nhận tội-lỗi của mình là có thể giải quyết được mọi sự; bản-thân anh ta cũng cần phải nỗ lực rất nhiều để đền bù cho những người bị nạn. Chỉ khi đó những mối liên-hệ bị đỗ vỡ mới có thể được hàn gắn và xã hội mới có thể trở nên trọn-vẹn.
•Vật sở hữu của người khác (Xu 22:7-15).
Sự thành-thật và liêm chính tạo nên chất kết dính trong một xã hội lành mạnh và thịnh vượng. Nếu những người lân-cận không thể tin-cậy nhau thì cuộc sống sẽ trở nên rất khó khăn. Nếu bạn nhờ tôi giữ gìn tiền bạc, vật dụng hay súc-vật của bạn thì tôi phải trung tín làm phần việc của mình. Mặc cho sự cần mẫn của tôi, một kẻ trộm có thể đột nhập vào nhà và ăn cắp tài sản của bạn, nhưng khi hắn bị bắt, hắn phải bồi thường gấp đôi.
Nếu kẻ trộm không bị bắt, vậy tôi phải chứng minh trước tòa rằng tôi đã không bất cẩn và tôi không phải là thủ phạm. Khi điều này xảy ra thì có thể nghĩ đến một trong 3 khả năng sau: tôi phải đưa ra những nhân-chứng có thể xác nhận cho sự cần mẫn của tôi; cho thấy những mảnh còn lại của súc-vật để chứng-minh chúng đã bị những con thú giết hại (Sa 31:39; Am 3:12), hoặc nếu không có những bằng-chứng này thì tôi phải thề trước Chúa về sự vô-tội của mình, đây là một vấn-đề nghiêm trọng khi cần phải thực hiện. Các quan tòa, là những người đại diện của Đức Chúa Trời trước cả dân-tộc sẽ nhận biết được tôi có nói sự thật hay không. Nếu người ta chứng-minh được rằng súc-vật của người láng giềng của tôi đã chết, bị lạc hay bị đánh cắp bởi sự cẩu thả của tôi, vậy tôi sẽ phải bồi thường thỏa đáng.
Nếu tôi mượn một con trong bầy gia-súc của bạn để làm công việc đồng áng của tôi và con vật lại bị thương tích hoặc chết trong sự bảo-dưỡng của tôi, vậy tôi phải bồi thường sự tổn thất cho bạn. Nếu bạn ở cùng tôi lúc đó, điều khiển chính con vật của bạn thì tôi không bị buộc phải bồi thường bất cứ khoản nào. Nếu tôi thuê con vật của bạn và trả tiền, vậy số tiền này bao gồm cả khoản bồi thường thiệt hại.
•Những luật khác (Xu 22:16-23:19).
Đa số những luật này không cần sự giải thích đặc biệt nào, nhưng chúng ta sẽ chú ý đến một số lẽ-thật gắn liền với những luật-lệ này.
•Sự cưỡng hiếp (c.16-17).
Những cô gái chưa kết hôn thuộc về cha của họ, và một cô gái không đồng trinh sẽ không được hỏi để làm vợ, vì vậy sự mất trinh tiết của cô ấy là một sự thiệt hại về tiền sính lễ cho người cha. Kẻ phạm-tội buộc phải cưới người con gái này, nhưng nếu cha nàng không muốn nhận anh ta làm con rễ thì kẻ này có thể trả khoản tiền sính lễ và được tự-do. Nếu người con gái đã được hứa gả thì sự cưỡng hiếp bị xem là tội tà-dâm và sẽ áp dụng một luật khác để giải quyết (Phuc 22:23-29).
•Phù phép (Xu 22:18).
Điều mà ngày nay chỉ bị xem như một sự giải trí vô hại thì trong thời Môi-se đã được nhận định một cách đúng đắn là việc làm tà ma nguy hại. Dân Do-thái được lệnh phải tránh xa mọi thứ có liên-hệ đến những điều huyền bí (Lê 20:6; Phuc 18:10-14; ISa 28:1-24; Ês 47:12-14). (Ga 5:20) đã liên hệ đến ma-thuật là thờ hình-tượng.
•Hành động thú tính (Xu 22:19) cũng là một trong những tập-tục tôn-giáo của các dân-tộc ngoại bang và bị Chúa lên án (Lê 18:23; Lê 20:15-16; Phuc 27:21). Nó cũng là một sự phỉ báng về món quà sinh-lý kỳ diệu mà Chúa đã ban.
•Sự thờ hình-tượng (Xu 22:20; Xu 23:13).
Dân-sự không được tế các thần khác, nếu trái nghịch thì sẽ bị diệt, và họ cũng không được nhắc đến danh của các thần này. Sự thờ hình-tượng là sự cám-dỗ lớn nhất cho Y-sơ-ra-ên trong suốt cuộc hành-trình trong đồng vắng và sau khi họ vào Đất Hứa, và Chúa đã cảnh cáo họ phải hủy phá các đền thờ và bàn thờ ngoại giáo (Phuc 4:14-24).