8. HÃY LẮNG NGHE TIẾNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Xu 19:1-20:21)
Khi...
...Đức Chúa Trời phán với Môi-se ở bụi gai cháy, Ngài ban-cho ông một lời-h ứa đầy khích-lệ: “Khi ngươi đem dân-sự ra khỏi Ai-cập, các ngươi sẽ hầu-việc Đức Chúa Trời trên núi này” (Xu 9:12 NKJV). Lời-hứa đó giờ đây đã được ứng-nghiệm. Dân Do-thái đang ở tại núi Si-nai, “núi của Đức Chúa Trời”, (c.1 Xu 4:27; Xu 18:5; Xu 24:13), và sẽ cắm trại ở đó trong 7 tháng tiếp theo [70]. Đức Chúa Trời đã cứu-chuộc dân-sự Ngài, và giờ đây Ngài sẽ tuyên-bố họ thuộc về Ngài và sẽ bắt đầu một mối liên-hệ giao-ước với họ (Xu 19:1-24:17) y như lời Ngài đã hứa (Xu 6:6-7).
Có ít nhất 8 lần [71] Môi-se đã xin phép Pha-ra-ôn để dắt dân-sự vào đồng vắng nơi họ có thể thờ-phượng Đức Giê-hô-va, và mỗi lần như thế Pha-ra-ôn đều từ chối. Nhưng giờ đây Y-sơ-ra-ên sẽ gặp Đức Chúa Trời của họ tại núi thánh và thờ-phượng Ngài. Nhiều việc kỳ diệu đã xảy ra tại Si-nai ngày ấy, nhưng việc vĩ đại nhất đó là dân-sự Đức Chúa Trời đã nghe tiếng của Đức Chúa Trời phán trực tiếp với họ.
“Có việc nào lớn như việc này đã xảy ra, hay người ta có nghe việc gì giống như vậy chăng? Có dân-tộc nào khác nghe tiếng Đức Chúa Trời phán ra từ lửa như các ngươi đã nghe mà còn sống chăng?” (Phuc 4:33; Phuc 5:23-27).
Khi Đức Chúa Trời phán với dân-sự Ngài, thì bởi ân-điển, Ngài đã kêu-gọi họ đến một đời sống rất đặc biệt.
1. Một đời sống trưởng-thành (Xu 19:1-4)
N ếu tự-do không dẫn đến sự trưởng-thành, vậy chúng ta sẽ đi đến chỗ bị giam cầm trong một ách nô-lệ còn tồi tệ hơn điều chúng ta đã có trước đó, một ách nô-lệ từ bên trong chớ không phải từ bên ngoài. Bị một đốc công Ai-cập bắt làm nô-lệ cũng đủ tồi tệ, nhưng sẽ tồi tệ hơn khi một người tự nô-lệ hóa mình và trở nên đốc công của chính mình.
Môi-se đã đi lên núi để gặp Đức Chúa Trời, và ông đã đi xuống để chia-sẻ với dân-sự điều Đức Chúa Trời đã dạy bảo ông [72] Hình ảnh của sự trưởng-thành mà Đức Chúa Trời sử dụng là hình ảnh của chim ưng, mang con nó trên đôi cánh và dạy cho chúng sự tự-do tuyệt vời của việc bay lượn. Môi-se đã sử dụng hình ảnh tương tự trong bài ca ông dạy cho dân Y-sơ-ra-ên vào lúc cuối đời của ông. Hãy đọc kỹ (Phuc 32:10-12). Loài chim ưng đã dạy chúng ta điều gì về một đời sống trưởng-thành? [73]
Vào giai đoạn nào đó trong sự phát triển của chim ưng con, những chim ưng cha mẹ đã phá vỡ chiếc tổ ấm cúng và buộc những chim ưng con phải bay lên. Những chú chim con có thể chẳng lo-lắng khi rời bỏ chiếc tổ an-toàn, nhưng chúng phải học cách bay nếu chúng muốn thực hiện những mục-đích của mình trong cuộc đời. Những chim lớn ở gần các chim non, và nếu chim non rơi xuống thì chim mẹ sẽ mang chúng trên đôi cánh mạnh mẽ của mình cho đến khi chim non biết cách sử dụng đôi cánh của chúng, lướt trên những luồng khí, và tận hưởng những khả năng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng.
Chim ưng con là ví-dụ minh họa cho 3 khía-cạnh của sự tự-do: sự tự-do được ra khỏi (chúng được ra khỏi tổ, điều mà đối với chúng ta là sự cứu-chuộc); sự tự-do ở bên trong (chúng ở nhà trên không, đối với chúng ta đó là sự trưởng-thành), và sự tự-do được đến (chúng có thể được thực hiện những mục-đích trong đời sống, điều mà đối với chúng ta là chức-vụ).
Sự tự-do thật có nghĩa là chúng ta được giải cứu khỏi việc làm những điều xấu xa, chúng ta có thể làm được những điều tốt đẹp, và chúng ta đang thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời trên đất.
Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời thì Ai-cập là một lò lửa hoạn-nạn đối với Y-sơ-ra-ên (Phuc 4:20; IVua 8:51; Giê 11:4), nhưng dân Do-thái thường xem Ai-cập như một “cái tổ” nơi mà ít nhất họ cũng có được lương thực, c ó chỗ nương thân và sự an-ninh (Xu 16:1-3; Dân 11:1-9). Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi Ai-cập vì Ngài có điều khác tốt đẹp hơn để họ vui hưởng và thực hiện, nhưng điều này có nghĩa là họ phải “thử-nghiệm đôi cánh của mình” và phải trải qua những cơn đau đớn trước khi họ thực sự trưởng-thành.
Khi chúng ta trưởng-thành trong Chúa, cuộc sống là những cánh cửa mở tiếp nối nhau, đưa đến ngày càng nhiều cơ-hội cho sự tự-do có trách-nhiệm. Nhưng nếu chúng ta không để Đức Chúa Trời hoàn thiện con người chúng ta thì cuộc sống sẽ trở thành một hàng rào sắt giam hãm chúng ta.
Một đứa bé sẽ được an-toàn và dễ chịu trong tử cung của người mẹ, nhưng đến thời điểm nào đó đứa bé đó phải được sinh ra để bước vào một thế giới mới mẻ và khắc nghiệt của sự tăng-trưởng và chín chắn. Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, “những bước ngoặt” của cuộc sống đã đưa đến những sự tự-do mới; sự tự-do này làm nảy sinh những đặc quyền và những trách-nhiệm mới: có thể tự bước đi thay vì được bồng ẵm; chạy xe đạp, rồi lái xe hơi, làm việc và kiếm tiền; học cách để sử dụng tiền cách khôn-ngoan; kết bạn; lập gia đình; nuôi dạy con cái; nghỉ hưu. Ở mỗi “bước ngoặt”, chúng ta phải mất đi điều gì đó khi chúng ta đạt được điều gì đó, và đây chính là cách thức hoạt động của quá trình trưởng-thành.
Mỗi khi dân Do-thái phàn-nàn về cách Đức Chúa Trời đã đối-xử với họ và mong mỏi được trở lại Ai-cập là họ đang hành động như con trẻ, vì vậy Đức Chúa Trời phải kỷ luật họ. Câu nói mà tôi đã trích dẫn trước đó của George Morrison cần được trích dẫn lại lần nữa: “Chỉ cần một đêm để đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, nhưng phải mất 40 năm để đem Ai-cập ra khỏi Y-sơ-ra-ên”. Chúa phải mất bao lâu để khiến chúng ta có thể bay, hay phải chăng chúng ta là những chim non không muốn bị làm cho kinh sợ?
2. Một đời sống có phẩm-cách (Xu 19:5-8)
Ở Ai-cập, dân Do-thái chỉ là những con người kiệt quệ, là những nô-lệ chỉ biết thực hiện theo mệnh-lệnh của chủ mình, nhưng Chúa đã hoạch định những điều tốt đẹp hơn cho họ. Họ phải là một dân đặc biệt của Ngài và Ngài sẽ dùng họ để làm một nguồn phước cho cả thế giới (Sa 12:3).
• Dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời (Xu 19:5 NIV).
Tất cả các dân-tộc trên đất đều thuộc về Chúa vì Ngài là Đấng tạo dựng và gìn giữ họ (Xu 9:29; Thi 24:1; Thi 50:12; Công 14:15; Công 17:24-28), nhưng Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm dân-tộc thuộc riêng về Ngài (Phuc 7:6; Phuc 14:2; Phuc 26:18; Thi 135:4; Mat 3:17). Sự chọn lựa này không phải vì Y-sơ-ra-ên xứng đáng hay bởi họ không có g ì cả (Phuc 26:5-11), nhưng chỉ bởi tình yêu và ân-điển lớn lao của Đức Chúa Trời (Phuc 7:6-8).
Việc dân Do-thái là tuyển dân của Đức Chúa Trời không có nghĩa là họ tốt lành hơn bất cứ dân-tộc nào khác, chỉ vì họ rất khác biệt, được Chúa biệt riêng ra cho công tác đặc biệt của Ngài. (Rô 9:4-5) nhắc nhở chúng ta về một số của báu thuộc-linh Đức Chúa Trời đã ban-cho Y-sơ-ra-ên để họ có thể làm một nguồn phước cho cả thế giới, vì “sự cứu-rỗi thuộc về dân Do-thái” (Gi 4:22).
Y-sơ-ra-ên có những của báu và những đặc quyền này nên họ cũng có nhiều trách-nhiệm hơn để yêu mến và vâng-lời Đức Chúa Trời, vì “ai đã được giao cho nhiều, sẽ bị đòi lại nhiều hơn” (Lu 12:48 NIV) [74]
•Nước của các thầy tế-lễ (Xu 19:6).
Sau này A-rôn và các con trai ông sẽ được phong chức để hầu-việc với tư-cách là những thầy tế-lễ của dân-tộc (Xu 28:1-29:46), nhưng ý định của Đức Chúa Trời là cả dân-tộc Y-sơ-ra-ên đều phải sống như những thầy tế-lễ, bày-tỏ lẽ-thật của Ngài và chia-sẻ những ơn phước của Ngài cho thế-gian. Y-sơ-ra-ên phải là “người giới thiệu” về Đức Chúa Trời cho dân ngoại, cho họ thấy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống, và rằng hầu-việc Ngài là con đường dẫn đến phước hạnh tràn đầy (Ês 42:6; Ês 49:6).
Tiếc thay, lẽ ra Y-sơ-ra-ên phải gây ảnh hưởng trên các dân-tộc khác để họ thờ-phượng Đức Giê-hô-va thì các dân-tộc đó lại tác động đến Y-sơ-ra-ên khiến thờ-lạy các hình-tượng của họ! Dân Do-thái đã tiếp nhận các tôn-giáo cùng lối sống của dân ngoại và vì thế đã báng bổ chính bản-thân họ, xứ sở và đền thờ của họ đến nỗi Đức Chúa Trời phải trừng-phạt họ thật nghiêm khắc và đưa họ vào cảnh lưu-đày tại Ba-by-lôn.
Tuy nhiên, sẽ đến ngày mà Y-sơ-ra-ên được nhìn thấy Đấng Mê-si-a của họ, được tẩy-sạch những tội-lỗi (Xa 12:10-13:1), và trở nên một dân-tộc có những thầy tế-lễ thánh để hầu-việc Chúa (Ês 61:6).
•Một dân-tộc thánh (Xu 19:6).
“Các ngươi phải là dân thánh của ta” (Xu 22:31) nghĩa là một dân được biệt riêng cho Đức Chúa Trời, một dân thật khác biệt. “Hãy nên thánh, vì ta là thánh” được tìm thấy ít nhất 6 lần trong Lê-vi ký (Lê 11:44-45; Lê 19:2; Lê 20:7, 26; Lê 21:8) và được lặp lại 2 lần trong (IPhi 1:15-16). Trong mọi lãnh-vực của đời sống, những hoạt động của Y-sơ-ra-ên được điều khiển bởi sự-kiện họ là dân thuộc về Đức Chúa Trời, và điều đó bao gồm cả việc họ ăn gì, mặc gì, kết hôn với ai, chôn người chết như thế nào, và đặc biệt là họ thờ-phượng như thế nào.
Qua những tai-vạ ở Ai-cập, Đức Chúa Trời đã đặt ra một sự khác biệt giữa dân Do-thái và dân Ai-cập (Xu 11:7), vì dân Do-thái không được sống như những dân-tộc ngoại bang. Các thầy tế-lễ Do-thái phải nêu gương và cũng dạy cho dân-sự “phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, sự khiết và sự chẳng khiết” (Lê 10:10; Lê 11:47).
Các thầy tế-lễ đã không thể làm được điều này (Êxe 22:26; Êxe 42:20; Êxe 44:23; Êxe 48:14-15) và tội-lỗi của họ đã dẫn dân-tộc vào tình-trạng ô uế và hủy diệt (Ca 4:13).
Khi Môi-se chia-sẻ với dân-sự tin mừng này, họ nhiệt tâm hứa vâng-theo mọi điều Đức Chúa Trời bảo họ làm (Xu 19:7-8). Có thể họ thành tâm, nhưng Đức Chúa Trời biết rằng lòng họ có xu hướng làm ác (Phuc 5:27-29). Sự-kiện họ đã lập lại lời thề nguyện này 2 lần nữa cũng không làm thay đổi tấm-lòng hay củng cố được ý chí của họ (Xu 24:3, 7). Chẳng bao lâu Y-sơ-ra-ên sẽ khuất-phục trước sự thờ lạy hình-tượng ngấm ngầm trong lòng họ và đã làm một con bò vàng rồi thờ lạy nó (Xu 32:1-35).
•Dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay (IPhi 2:5, 9).
Phi-e-rơ đã mượn hình ảnh (Xu 19:6) và gọi Hội thánh ngày nay là “chức tế-lễ thánh … là dân thuộc riêng về Ngài, hầu cho anh em có thể rao ra những sự ngợi-khen về Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài” (IPhi 2:5, 9 NKJV).
Giống như dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa, dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay phải hướng mọi người về Chúa và bày-tỏ ra sự kỳ diệu của Ngài qua lời nói và việc làm của mình. Chúng ta phải là “những quảng cáo sống động” về ân-điển và quyền-năng của Đức Chúa Trời. Phải không thưa các bạn?
3. Một đời sống thánh-khiết (Xu 19:9-25)
Môi-se trở lại với Chúa trên núi và thuật lại lời-hứa của dân-sự sẽ vâng-theo những điều răn của Ngài. Việc Đức Chúa Trời trực tiếp phán với Môi-sẽ lẽ ra phải cho dân-sự lòng tin nơi người lãnh đạo của họ, nhưng các sự-kiện xảy ra sau đó lại khác hẳn. Quả là một đặc quyền cho Y-sơ-ra-ên để có một người lãnh đạo như Môi-se, và thật là bi kịch khi họ đã nhiều lần làm cho ông phải khổ sở!
Chương này chú-trọng đến sự thánh-khiết của dân-tộc Y-sơ-ra-ên với tư-cách là dân thánh của Đức Chúa Trời, và c ó 3 hình ảnh nổi bật ở đây: việc thay đổi quần áo của dân-sự, khoảng cách được thiết lập giữa dân-sự với Đức Chúa Trời, và cơn bão trên núi Si-nai.
(1) Việc thay quần áo và tắm rửa (Xu 19:10-11,14-15).
Ngày nay chúng ta đã quen với việc có sẵn xà bông và nước, cùng những bộ quần áo khác treo trong tủ, nhưng dân-sự trong thời Kinh-Thánh không có được những thứ xa xỉ đó. Họ không thể tắm mỗi ngày, và chỉ người giàu mới có nhiều quần áo để thay đổi.
Đó là lý-do mà việc tắm rửa và thay quần áo thường đánh dấu một sự khởi đầu mới, chẳng hạn như khi Đức Chúa Trời phục-hồi lại cho A-đam và Ê-va (Sa 3:21) hay khi Gia-cốp và gia đình ông trở về Bê-tên (Sa 35:2).
Những ví-dụ khác đó là khi Giô-sép được ra khỏi ngục (Sa 41:14), những người phung được chữa lành và trở lại với xã hội (Lê 14:8-9), Đa-vít trở lại với Đức Chúa Trời (IISa 12:20), và vua Giê-hô-gia-kin được những người bắt giữ bày-tỏ lòng thương-xót (Giê 52:31-34).
Việc tắm rửa và thay quần áo là một vấn-đề trong Cựu-Ước tương đương với (IGi 1:9) và (IICôr 7:1) trong Tân-Ước [75]
(2) Khoảng cách giữa Đức Chúa Trời và dân-sự (Xu 19:12-13,20-25).
Việc phải tránh xa núi Si-nai là một vấn-đề có liên-quan đến sự sống còn của cả dân-sự vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã thánh hóa ngọn núi. Vì vậy Môi-se đã dựng lên những vật cản để giữ cho dân-sự không được lại gần. Ông cũng đặt những lính canh có quyền giết bất cứ người nào vượt qua rào cản từ xa, và không ai được đụng đến xác chết. Khi tiếng kèn vang lên, Môi-se tiến lên núi để gặp Đức Chúa Trời, nhưng ngay cả vào thay điểm đó, Đức Chúa Trời đã sai ông trở về để cảnh-cáo dân-sự đừng đến quá gần núi Si-nai.
Một cách nghiêm khắc, Đức Chúa Trời đã dạy cho dân sự biết khoảng cách giữa một Đức Chúa Trời thánh-khiết và những người nam và người nữ tội-lỗi, cũng như hiểm họa của việc xông lên núi một cách đường đột khi đang có sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sau này Na-đáp và A-bi-hu đã quên nguyên-tắc này, và Đức Chúa Trời đã giết họ (Lê 10:1-20).
Sự thờ-phượng trong thời Cựu-Ước nhấn-mạnh đến sự phạm-tội của con người và “sự khác biệt” của Đức Chúa Trời về: hàng rào bao quanh đền tạm; bức màn trước nơi chí thánh; sự-kiện chỉ những thầy tế-lễ mới có thể hầu-việc trong đền tạm, chỉ thầy tế-lễ cả mới có thể vào nơi chí thánh, và chỉ có thể được vào một lần trong năm. Sự nhấn-mạnh luôn là “Hãy giữ khoảng cách của các ngươi!”
Nhưng Tân-Ước nhấn-mạnh việc đến gần Đức Chúa Trời, vì Con Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt và đến ở trên đất (Gi 1:14), và danh Ngài là “Em-ma-nu-ên – Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Mat 1:23). Bởi sự chết và sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu đã mở một con đường mới và sống động vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Hêb 10:1-25), và câu tiêu-đề trong Tân-Ước ghi lại rằng: “Chúng ta hãy đến gần!”
Điều này không có nghĩa là chúng ta trở nên “thân mật” với Đức Chúa Trời hơn và hành động giống như chúng ta ngang hàng với Ngài, nhưng Ngài là Cha của chúng ta và Ngài muốn đón nhận tình yêu của chúng ta dành cho Ngài. Xin hãy xem (Hêb 12:18-29).
(3) Sấm chớp (Xu 19:16-19 Xu 20:18-20).
Trong Kinh-Thánh, sấm chớp thường là biểu-tượng về sự hiện diện kinh khiếp và đầy quyền-năng của Đức Chúa Trời (Thi 18:1-15; Thi 29:1-11; Ha 3:1-16). Mây và sự tối tăm, sấm và ánh chớp, cơn động đất và lửa, tất cả đều bày-tỏ sự vĩ đại của Đức Chúa Trời (Phuc 5:22-23, 27) và tạo nên một sự kính-sợ thánh-khiết trong lòng dân-sự.
Cả Môi-se cũng run rẩy sợ hãi và ông đã thừa nhận điều đó! (Hêb 12:21; Phuc 9:19). Đức Chúa Trời sẽ dạy cho dân-sự Luật-Pháp của Ngài, và “sự kính-sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri-thức” (Ch 1:7). Dân Do-thái cũng đã nhìn thấy những tai-vạ ở Ai-cập, và sự bày-tỏ mạnh mẽ về quyền-năng lần này của Đức Chúa Trời lẽ ra cũng đã sửa soạn tấm-lòng của họ để vâng-lời Ngài (Thi 105:26-45).
Sự kết hợp của việc tắm rửa và thay quần áo, việc chứng-kiến cơn sấm chớp, và việc họ phải tránh xa núi Si-nai, không thể không gây ấn-tượng cho dân-sự về tội-lỗi của chính họ và sự thánh-khiết uy nghi của Đức Chúa Trời. Họ đư ợc kêu-gọi làm một dân thánh, không sống giống như những dân-tộc quanh họ. Chỉ khi họ vâng-lời Đức Chúa Trời, họ mới có thể thật sự hưởng được những đặc ân của việc làm một nước của các thầy tế-lễ, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời và là một dân thánh của Ngài.
4. Một đời sống có trách-nhiệm (Xu 20:1-17)
[76] Đặc quyền về sự tự-do dẫn đến trách-nhiệm phải sử dụng sự tự-do đó một cách khôn-ngoan vì vinh-hiển của Đức Chúa Trời và vì ích lợi của những người khác. Tuy nhiên, Mười Điều Răn không chỉ là những luật lệ điều phối đời sống của dân-tộc Y-sơ-ra-ên. Chúng còn là một phần trong giao-ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên khi chính Ngài nhận họ làm một dân thuộc riêng về Ngài (Xu 6:1-8; Xu 19:5-8).
Trong Giao-ước lập cùng Áp-ra-ham Đức Chúa Trời đã ban cho dân Do-thái quyền sở hữu vùng Đất Hứa (Sa 12:3; Sa 13:14-18), nhưng việc Y-sơ-ra-ên được sở hữu và được hưởng vùng đất đó tùy thuộc vào sự vâng-lời của họ đối với giao-ước lập cùng Môi-se. Bi kịch ở đây là dân-tộc đã bất-tuân luật-pháp, làm ô uế xứ, và làm buồn lòng Chúa, vì vậy họ phải bị sửa-phạt.
Luật-pháp chưa bao giờ được ban ra như là một phương-cách của sự cứu-rỗi dành cho dân Do-thái hay dân ngoại, vì “không xác thịt nào bởi việc làm của luật-pháp mà được xưng công-bình” (Ga 2:16). Sự cứu-rỗi không phải là một phần thưởng cho việc làm thiện nhưng là sự ban-cho của Đức Chúa Trời bởi đức-tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ (Rô 4:5; Êph 2:8-9).
Luật-pháp bày-tỏ sự công-bình của Đức Chúa Trời và đòi hỏi sự công-bình, nhưng luật-pháp không thể ban sự công-bình (Ga 2:21), chỉ Chúa Giê-xu Christ mới có thể làm điều đó (IICôr 5:21). Luật-pháp là một chiếc gương cho thấy bạn bị dơ bẩn ở đâu, nhưng bạn không thể rửa mặt mình trong gương (Gia 1:22-25). Chỉ huyết Chúa Giê-xu mới có thể tẩy-sạch chúng ta khỏi tội-lỗi (IGi 1:7, 9; Hêb 10:22).
Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta không phải vì cớ chúng ta vâng-phục Luật-Pháp (Ga 3:2), nhưng vì chúng ta tin Đấng Christ (Ga 4:1-7), và Ngài cũng không ban cơ-nghiệp cho chúng ta qua luật-pháp (Ga 3:18).
Điều duy nhất một tội-nhân hư-mất cần đến là sự sống (Êph 2:1-3), nhưng luật-pháp không thể ban sự sống (Ga 3:21).
Vậy mục-đích của Luật-pháp là gì?
Đó là cách Đức Chúa Trời chỉ cho chúng ta thấy tội-lỗi của chúng ta và cởi bỏ sự công-bình riêng của chúng ta để chúng ta kêu-cầu sự thương-xót và ân-điển của Đức Chúa Trời[77] Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho tất cả những ai tin nơi Con Ngài, và Đức Thánh Linh giúp chúng ta có thể vâng-phục ý muốn Đức Chúa Trời và bởi đó làm trọn-vẹn sự công-bình của luật-pháp (Rô 8:1-3) [78]
Một trong những nhiệm-vụ chính của Luật-pháp là chuẩn bị cho sự Giáng-sinh của Đấng Christ (Ga 4:1-7). Dân-tộc Y-sơ-ra-ên giống như một đứa trẻ non nớt cần đến một người “bảo hộ” để chăm-sóc, chỉ dạy và bảo hộ cho nó, và đây là cách mà người nô-lệ trong thời của Phao-lô phải chăm-sóc cho con cái của người chủ. Nhưng khi đứa trẻ trưởng-thành, người bảo hộ này không còn cần thiết nữa.
Hệ-thống lễ nghi Do-thái được trình-bày trong sách Xuất Ê-díp-tô ký và Lê-vi ký đã được Đấng Christ thực hiện, nhưng nội dung đạo đức của Luật-pháp Đức Chúa Trời vẫn còn tồn tại, và 9 trong số 10 Điều Răn đã được nhắc đến trong các thư tín thời Tân-Ước để Hội thánh tôn-trọng và làm theo. Điều răn về ngày Sa-bát không được lặp lại, và sau này chúng ta sẽ bàn đến nhiều hơn về vấn-đề đó.
Mặc dù Mười Điều Răn đề-cập đến những trách-nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời nhưng 4 điều răn đầu tiên đặc biệt hướng về Đức Chúa Trời và sáu điều răn cuối nói đến con người. Cách chúng ta liên-hệ với những người khác tùy thuộc vào cách mà chúng ta tương-giao với Đức Chúa Trời, vì nếu chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời và vâng-giữ lời Ngài thì chúng ta cũng yêu mến những người lân cận của chúng ta và phục-vụ họ (Mat 22:34-40; Rô 13:1-14).
•Nhận biết một Đức Chúa Trời chân-thật (Xu 20:1-3).
Nhóm từ “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” được lặp lại 5 lần trong phân đoạn này (c.2,5,7,10,12) để nhắc-nhở dân-sự về thẩm-quyền phía sau những điều răn này. Môi-se không phải đang thuật lại “10 ý-kiến” ông đã nghe từ một người cố-vấn thân cận, nhưng là Mười Điều Răn do Đức Chúa Trời toàn-năng phán ra.
Dân Do-thái đang sống trong một thế giới mù lòa và giữa những dân-tộc mê-tín thờ-lạy nhiều thần khác nhau, là điều mà Y-sơ-ra-ên vẫn thường thấy hàng bao thế kỷ tại Ai-cập [79]. Y-sơ-ra-ên phải làm-chứng về Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống (Thi 115:10-18) và mời gọi những người lân cận của họ đặt niềm tin nơi Ngài.
Nhóm từ “trước mặt Ta” có thể có nghĩa là “trong sự đối lập với ta”. Đối với dân Do-thái, việc thờ lạy thần khác có nghĩa là tuyên-chiến cùng Đức Giê-hô-va và phải gánh lấy cơn thạnh nộ của Ngài. Mỗi buổi sáng, một người Do-thái trung-tín sẽ rao lên rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phuc 6:4).
•Thờ-phượng chỉ một mình Chúa (Xu 20:4-6) [80].
Một hình-tượng sẽ là một sự thay thế cho Đức Chúa Trời và do đó không phải là một thần, vì chỉ có một Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống. Thuyết đa nguyên trong tôn-giáo thời nay (“bạn thờ thần của bạn và tôi sẽ thờ thần của tôi, vì cả hai đều đúng”) vừa không đúng với Kinh-Thánh và vừa mang tính phi-lý, vì làm sao có hơn được một thần? Nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thì Ngài là Đấng vô hạn, đời-đời, tối-cao và không thể chia-sẻ ngôi vị với một thần nào khác cũng vô hạn, đời-đời và tối-cao.
“Ta là Đức Giê-hô-va, ấy là danh Ta. Ta chẳng nhường sự vinh-hiển Ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn-trọng Ta cho những tượng-chạm!” (Ês 42:8).
Sự thờ hình-tượng của các dân-tộc ngoại bang không những phi-lý và không đúng với Kinh-Thánh, mà còn hết sức đồi bại (về những kỹ nữ trong đền thờ và những nghi lễ liên-quan đến khả năng sinh sản), vô nhân-đạo (giết con cái), và thuộc về ma quỷ (ICôr 10:10-22). Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Chúa ra lệnh Y-sơ-ra-ên phải phá hủy những đền thơ, bàn thờ và hình-tượng của dân ngoại bang khi họ vào chiếm xứ Ca-na-an (Phuc 7:1-11).
“Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình khỏi những hình-tượng” (IGi 5:21) là lời khuyên sau cùng của sứ-đồ Giăng đối với Cơ-đốc nhân trong thời của ông, và lời khuyên này vẫn cần được lưu ý trong thời đại ngày nay. Nếu một hình-tượng là điều gì đó chiếm vị-trí của Đức Chúa Trời, là điều gì đó mà chúng ta dành sức lực và thời gian cho nó, hoặc dành những của lễ cho nó vì chúng ta yêu mến và hầu-việc cho nó, do vậy lời cảnh-cáo của sứ-đồ Giăng vẫn cần thiết vào ngày nay. Những hình-tượng đã cám-dỗ dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay là những thứ như: tiền bạc, danh vọng, sự thành công, tài sản vật chất (xe cộ, nhà cửa, thuyền bè, những thứ có thể tích góp được), tri-thức, hoặc thậm chí đó là những người khác.
Đức Chúa Trời là một “Đức Chúa Trời ghen tương” không phải trong ý nghĩa Ngài ghen về các thần khác, vì Ngài biết rằng tất cả các “thần” khác đều là nh ững điều tưởng-tượng và không thật sự tồn tại. Từ “ghen” bày-tỏ tình yêu của Ngài đối với dân-sự Ngài vì Ngài muốn điều tốt đẹp nhất cho họ. Giống như cha mẹ ghen về con cái của họ và vợ chồng ghen về nhau, Đức Chúa Trời cũng ghen về những con cái yêu dấu của Ngài và sẽ không tha-thứ cho sự bất-trung (Xa 1:14 8:2).
Trong Kinh-Thánh, sự thờ hình-tượng đồng nghĩa với sự mãi-dâm và sự tà-dâm (Ôs 1:1-3:5; Giê 2:1-3:25; Êxe 16:1-63; Êxe 23:1-49; Gia 4:4-5). Đức Chúa trời muốn có và đáng nhận được tình yêu duy nhất của dân-sự dành cho Ngài (Xu 34:14; Phuc 4:24; Phuc 5:9; Phuc 6:15).
Đức Chúa Trời cũng rất nghiêm-túc về việc chỉ chấp nhận sự thờ-phượng và sự yêu mến duy Ngài đến nỗi Ngài sẽ trừng-ph ạt những ai khước từ vâng-theo lời Ngài. Đức Chúa Trời không trừng-phạt con cháu vì cớ tội-lỗi của ai đó (Xu 24:16; Êxe 18:4), nhưng những hậu quả đáng buồn do tội-lỗi của tổ-tiên có thể truyền từ đời này sang đời khác và con cháu vô-tội phải gánh chịu hậu quả vì những gì cha mẹ hay ông bà họ đã gây nên. Trong thời Kinh-Thánh, không có gì khác thường khi 4 thế-hệ chung sống trong một gia đình đông đúc và vì thế rất dễ để gây tác động và làm ảnh hưởng đến nhau.
Đồng thời, sự tin-kính của tổ-tiên có thể đem lại phước hạnh cho những thế-hệ sau. Đức-tin của Áp-ra-ham đã đem phước hạnh đến cho con cháu ông, và chức-vụ của Đa-vít vẫn giúp ích cho dân-sự khi ông qua đời đã lâu. Ông cố tôi đã cầu-nguyện để qua mỗi thế-hệ trong gia đình sẽ có một người rao-giảng Phúc-Âm, và Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu-nguyện đó!
•Tôn-trọng danh Đức Chúa Trời (Xu 20:7).
Tên của bạn thể hiện cho tính-cách và thanh danh của bạn, cho bản-chất của bạn và điều bạn làm (Gi 17:6, 26). Khi bạn nói rằng ai đó có một “tên xấu” thì bạn không chỉ đang phê bình những gì được viết trên khai sinh của người đó. Bạn đang cảnh giác tôi rằng người này không thể tin-cậy được.
Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vĩ đại nhất trong vũ-trụ, vậy danh Ngài là danh vĩ đại nhất và phải được tôn-trọng. Lời cầu-xin đầu tiên trong bài cầu-nguyện của Chúa là “Danh Ngài được tôn-thánh” (Mat 6:9). Con người đã báng bổ danh Đức Chúa Trời qua việc phát ngôn thô tục. Nhưng việc sử dụng danh Đức Chúa Trời để hứa nguyện hay thề nguyền, mà sau đó không thực hiện lời cam kết là đã xem thường danh Ngài và báng bổ Đức Chúa Trời (Lê 19:12).
•Tôn-trọng ngày Sa-bát (Xu 20:8-11).
Từ “sa-bát” nghĩa là “nghỉ ngơi”. Việc giữ lễ Sa-bát đã là một phần trong đời sống của Y-sơ-ra-ên (Xu 16:23, 25), nhưng giờ đây nó trở thành một bộ phận trong luật-pháp của Y-sơ-ra-ên và trong mối liên-hệ giao-ước của họ với Đức Chúa Trời. Mặc dù ngày Sa-bát có nguồn gốc từ buổi sáng thế (Sa 2:1-3), nó cũng là một dấu-hiệu đặc biệt giữa Y-sơ-ra-ên và Chúa (Xu 31:12-17; Nêh 9:13-15; Êxe 20:12, 20).
Và không có chứng-cớ nào trong Kinh Thánh cho rằng Đức Chúa Trời đã ra lệnh bất cứ dân-tộc nào cũng phải giữ lễ vào ngày thứ bảy (Thi 147:19-20). Sau này, Môi-se đã kết hợp ngày Sa-bát với sự giải cứu Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập (Phuc 5:12-15), đây là một sự mường tượng trước về sự nghỉ ngơi họ sẽ được hưởng trong cơ nghiệp đã hứa ban cho họ (Xu 3:20; Xu 12:10; Xu 25:19).
Khi dân Do-thái giữ ngày Sa-bát, đó không chỉ là một dấu-hiệu về sự tận tụy của họ đối với Chúa, nhưng đó còn là một lời-chứng cho những người lân cận ngoại đạo mà đối với họ ngày thứ bảy chỉ như một ngày khác. Qua việc nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, dân Do-thái đang bồi bổ lại sức lực cho chính họ cũng như cho tôi-tớ và gia-súc của họ, họ cũng nhận biết được uy-quyền của Đức Giê-hô-va trên thời gian và trên tạo vật (Xu 23:12).
Từ những ngày đầu tiên, dân-sự Đức Chúa Trời đã nhóm lại vào ngày đầu tuần để tôn-vinh sự phục-sinh của Chúa Giê-xu Christ (Gi 20:19, 26; Công 20:7; ICôr 16:2), nhưng nguyên-tắc về một ngày trong bảy ngày vẫn không thay đổi (Côl 2:16-17; Ga 4:1-11; Rô 14:1-15:7).
Đáng tiếc rằng dân Y-sơ-ra-ên đã không tôn-trọng ngày Sa-bát như Đức Chúa Trời đã chỉ dạy và phải bị kỷ luật (IISu 36:14-21; Êxe; 20:1-44; Ês 58:13-14; Giê 17:19-27). Cũng thật đáng tiếc rằng các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đã thêm 39 hành động bị cấm vào điều răn này đến nỗi việc giữ ngày Sa-bát trở thành một gánh nặng thay vì một phước hạnh (Mac 2:23-3:5).
•Tôn-kính cha mẹ (Xu 20:12).
Trong một thế giới đang tôn-thờ và làm theo những người trẻ tuổi, sử dụng đến phương pháp “tự sát có sự trợ giúp” (chết không đau đớn) để loại bỏ những người già vô ích thì điều răn này nghe như có một sự sai lệch nào đó về thời gian.
Nhưng dân Do-thái được dạy dỗ phải tôn-kính người già cả và chăm-sóc những người cao niên (Xu 21:15, 17; Lê 19:3, 32; Phuc 27:16; Ch 1:8 16:31; Ch 20:20; Ch 23:22; Ch 30:17), đây là một gương tốt cho chúng ta noi theo ngày nay (Êph 6:1-3; ITim 5:1-12) [81]. Ai đó đã nói rằng những người già là nhóm người duy nhất bị ruồng bỏ mà mọi người đều muốn gia nhập vì không ai muốn bị chết sớm. Nhưng cách chúng ta đối-xử với họ hôm nay sẽ quyết định cách chúng ta được đối-xử trong tương lai vì chúng ta gieo giống chi thì sẽ gặt giống ấy.
•Quý-trọng nhân-mạng (Xu 20:13).
Sự sống là một món quà từ Đức Chúa Trời, và chỉ có Ngài mới có quyền để cất đi sự sống. Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời nên sát nhân tức là chống lại Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27; Sa 9:6). Bảo vệ sự sống là trách-nhiệm của mọi người trong xã hội, không chỉ là trách-nhiệm của các quan chức (Rô 13:1-14).
Vấn đề ở đây là tội sát-nhân có mưu-tính trước, là điều mà Chúa Giê-xu đã nói rằng nó có thể phát xuất trong cơn nóng giận (Mat 5:21-26). Dân Do-thái được phép tự bảo vệ mình (Xu 22:2) và luật-pháp có sự nhân nhượng về cái chết không chủ ý, nhưng tội sát-nhân là một tử-tội (Xu 21:12-14).
•Trân-trọng hôn-nhân (Xu 20:14).
Tà-dâm là một tội nghiêm-trọng đến nỗi nó bị ghép vào tội tử-hình (Lê 20:10; Phuc 22:22). Gia đình là đơn vị cơ-bản của quốc gia, và sự chung thủy đối với giao-ước hôn-nhân là nền-tảng cho gia đình. Tà-dâm là trộm cướp (ITês 4:1-8), nhưng cuối cùng, những ai phạm-tội tà-dâm đều cướp đi chính bản-thân mình (Ch 6:20-35). Mặc dù Chúa có thể tha-thứ cho tội tà-dâm (ICôr 6:9-11; Gi 8:1-11) như Đa-vít, nhưng người nam và người nữ phạm-tội tà-dâm phải sống với những hậu quả đau buồn của tội đã được tha (IISa 12:13-14; Thi 51:1-16). Tội tà-dâm khởi đầu bằng sự ham muốn trong lòng phát xuất từ cái nhìn thứ hai (Mat 5:27-30).
•Tôn-trọng tài sản riêng (Xu 20:15).
Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên một bộ luật tỉ mỉ để chi phối cách họ sử dụng đất vì đất thuộc về Ngài và họ chỉ là những người quản-gia (Lê 25:2,23,38). Đây là cơ sở cho ngành sinh thái học ôn hòa, (Êph 4:28) cho biết rằng chỉ có 3 cách để có được của cải, đó là: làm việc, được ban cho, hoặc trộm cắp nó, và việc trộm cắp là sai trật.
• Nói sự thật (Xu 20:16).
Nói sự thật và tôn trọng lời-hứa là chất kết dính làm vững các mối quan-hệ trong xã hội. Việc nói dối trong một phiên tòa chính là phá hoại luật-pháp, điều này giải thích lý-do Môi-se đòi hỏi những người làm-chứng phải là những người sẽ hành hình trong các án xử tử (Phuc 17:6-13). Nói dối là một việc, nhưng giết người để bảo vệ sự giả dối của bạn hoàn toàn là một việc khác. Điều răn này cũng nghiêm cấm việc vu-cáo cho người khác (Xu 23:1; Ch 10:18; Ch 12:17; Ch 19:9; Ch 24:28; Tit 3:1-2; Gia 4:11; IPhi 2:1).
•Kiềm chế những tham muốn (Xu 20:17).
Điều răn thứ nhất và thứ 10 đề-cập đến những điều diễn ra trong lòng, còn 8 điều răn còn lại tập trung vào những hành động bên ngoài phát xuất từ trong lòng. Những người tham lam sẽ vi phạm tất cả các điều răn của Đức Chúa Trời để thỏa mãn cho những tham muốn của họ, vì tâm điểm của tội-lỗi chính là tội-lỗi ở trong lòng (Mat 15:19). Thèm muốn tức là nuôi dưỡng cho các tham muốn trong lòng về bất cứ điều gì Đức Chúa Trời cho là tội-lỗi.
Chính điều răn này đã “giết chết” Sau-lơ ở thành Tạt-sơ và khiến người Pha-ri-si thành đạt này thừa nhận rằng ông là một tội-nhân (Rô 7:1-14; Lu 12:15; Êph 5:3; Côl 3:5).
Mười Điều Răn đã kết thúc với sự nhấn-mạnh đến việc làm một người láng giềng tốt, vì điều răn quan-trọng thứ nhì đó là yêu kẻ lân-cận của bạn như chính bạn (Mat 22:34-40; Lê 19:18). Nếu chúng ta yêu những người lân-cận của mình, chúng ta sẽ không tham những gì họ có, không ăn cắp của họ, nói dối về họ, hoặc làm bất cứ điều gì khác Đức Chúa Trời răn cấm trong Lời Ngài.
Đây là lý-do vì sao sự yêu-thương là sự làm trọn luật-pháp (Rô 13:8-10). Nhưng chỉ Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi tấm-lòng tội-lỗi của chúng ta (Hêb 10:14-18) và ban-cho chúng ta tình yêu để có thể vâng-lời Ngài và quan-tâm đến những người khác (Ga 5:22-26; Rô 5:1-5)[82]
9. QUYỂN SÁCH GIAO-ƯỚC (Xu 20:22-24:8)
Phân đoạn này bao gồm những luật-lệ căn-bản có liên-hệ đặc biệt đến sự bảo vệ nhân mạng và tài sản. Bằng cách tiếp nhận “Quyển sách giao-ước” (Xu 24:3-4), dân-sự đã bước vào một mối liên-hệ đặc biệt với Đức Giê-hô-va và ràng buộc chính họ trong sự vâng-giữ Lời Ngài. Các luật-lệ này không mang tính độc đoán; chúng dựa trên đặc-tính của Đức Chúa Trời và những nguyên-tắc đạo đức không thay đổi đã được trình-bày trong Mười Điều Răn.
Luật-pháp không có quyền-năng làm thay đổi bản-chất con người; nó chỉ có thể bảo vệ sự sống và tài sản của con người qua việc điều chỉnh hành vi của họ. Một trong những giai đoạn nguy hiểm và thảm khốc nhất trong lịch-sử Do-thái là vào thời của các quan-xét khi mà “mọi người làm điều đúng theo mắt mình” (Cac 17:6; Cac 18:1; Cac 19:1; Cac 21:25). Việc thi hành các luật-lệ tốt lành không bảo-đảm cho một xã hội toàn hảo, nhưng nó thật sự thúc đẩy trật tự trong xã hội và ngăn ngừa tình-trạng vô chính phủ.
1. Đức Chúa Trời là vô hình: Hãy nghe Lời Ngài (Xu 20:22-26)
Bốn mươi năm sau đó khi Môi-se ôn lại Luật-Pháp với thế-hệ mới, ông nhắc nhở họ rằng tổ-tiên họ đã nhìn thấy những sự bày-tỏ về vinh-hiển và quyền-năng của Đức Chúa Trời tại núi Si-nai và đã được nghe Lời Ngài, nhưng họ “không thấy có một hình trạng nào” Phuc 4:15 NIV). Đức Chúa Trời đã không tỏ mình ra trong bất cứ hình dạng nào để dân Do-thái không thể biến Đức Chúa Trời hằng sống thành một hình-tượng chết.
“Vậy các ngươi sẽ ví Đức Chúa Trời với ai? Hay các ngươi sẽ so sánh Ngài với ảnh tượng nào?” (Ês 40:18 NKJV).
•Dân Do-thái được gọi là một dân có Lời Chúa.
Sự thành công của dân-tộc tùy thuộc vào việc nghe Lời Đức Chúa Trời, tin-cậy và vâng-lời. Các dân-tộc lân cận Y-sơ-ra-ên đã lập ra những tôn-giáo của họ dựa trên những điều họ có thể thấy được, là những hình-tượng do tay người làm ra, nhưng Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng một Đức Chúa Trời không thấy được [83]. và không có liên-hệ đến những hình-tượng.
Nhà triết-gia Cơ-đốc Jacques Ellul đã viết: “Những thần giả dối luôn là những thần mà một người có thể thấy (và chạm vào) được và chính đặc điểm này đã phơi-bày ra sự giả dối và sự không tồn tại của họ với tư-cách là những vị thần.”[84]
Học-giả Do-thái Abraham Joshua Heschel đã tóm tắt thần-học của Y-sơ-ra-ên về Kinh-Thánh khi ông viết rằng: “Để tin, chúng ta cần có Đức Chúa Trời, một linh-hồn, và Lời Ngài” [85]
Đức Chúa Trời đã cảnh-cáo Y-sơ-ra-ên đừng làm ra những hình-tượng và đừng xây nên những bàn thờ công phu như những bàn thờ của các dân ngoại xung quanh họ (IIVua 16:10-20). Một bàn thờ đơn giản bằng đất hoặc đá không đẽo vẫn được Chúa chấp nhận. Nếu đá được đục đẽo, chúng sẽ trở nên giống như những hình-tượng, và công-trình do con người tạo ra sẽ trở nên quan-trọng hơn sự thờ-phượng Đức Chúa Trời. Đá tự nhiên do Chúa chu-cấp là tất cả những gì Ngài sẽ tiếp nhận cho chúng ta.
Sự lõa lồ và sự giao hợp với kỹ nữ đền thờ là một hình thức trong nhiều nghi lễ ngoại giáo, và những điều này rõ ràng bị Chúa nghiêm cấm. Đức Chúa Trời đã ra lệnh các thầy tế-lễ Do-thái mặc vào chiếc áo đặc biệt để che phủ sự lõa lồ của họ (Xu 28:42-43; Lê 6:10), và nếu họ không vâng-lời, họ sẽ có nguy cơ bị giết chết (Xu 28:35,43).
Mặc cho những lời-hứa nhiệt tình của họ, Y-sơ-ra-ên đã nhanh chóng bất-tuân những điều răn này. Trong lúc Môi-se ở với Đức Chúa Trời trên núi, dân-sự đã làm một bò con vàng và dự phần vào cuộc truy hoan mang tính thờ hình-tượng đã dẫn đến cái chết của 3.000 người (Xu 32:1-6,25-29). Bất cứ điều gì trong nghi thức tế-lễ tôn-giáo khuyến-khích các vấn-đề có liên-quan đến thuộc thể thay vì thuộc-linh thì không thể đến từ Đức Chúa Trời hay sẽ được Đức Chúa Trời chúc phước cho.
2. Đức Chúa Trời là công chính: Hãy vâng theo những luật-lệ của Ngài (Xu 20:20-26) (Xu 21:1-23:19)
Công-lý là việc làm thực tế thể hiện sự công-bình của Đức Chúa Trời trong lịch-sử của nhân-loại, vì “Chúa yêu chuộng sự công-bình và chánh-trực” (Thi 33:5; Ês 30:18; Ês 61:8). Có thể có rất nhiều sự bất-công trong thế giới chúng ta ngày nay, nhưng cũng đến thời điểm khi Đức Chúa Trời trong sự công-bình Ngài sẽ đoán-xét thế-gian bởi Chúa Cứu Thế mà thế-gian đã chối bỏ, và sự xét-đoán của Ngài là công-chính (Công 17:31).
•Luật về tôi-mọi (Xu 21:1-11; Lê 25:39-43; Phuc 15:12-18).
Mặc dù dân Do-thái được phép có tôi mọi từ các dân khác, thường là tù binh, nhưng họ không được phép bắt người trong dân-tộc của họ làm nô-lệ. Hai chuỗi sự-kiện được trình-bày ở đây: một người đàn ông tình-nguyện làm tôi-tớ (Xu 21:1-7), và một cô gái bị bán để làm một con đòi (c.8-11).
Nếu vì bần cùng, một người Do-thái phải trở nên một tôi-tớ bị ràng buộc bằng giao kèo, chủ người ấy phải đối xử nhân đạo với anh ta và sẽ thả ra sau 6 năm phục-vụ. Nếu vì cớ tình cảm gia đình, người này muốn ở lại phục-vụ cho chủ, và đã được các quan-xét cho phép, vậy người ấy sẽ được đánh dấu ở trái tai và cứ làm một đầy-tớ suốt đời. Tuy nhiên, người ấy không bao giờ bị đối xử như một tôi mọi.
Một đầy-tớ gái sẽ không được thả tự-do sau 6 năm hầu-việc. Nếu một người nghèo bán con gái mình làm con đòi hay nàng hầu [86], vậy cha của cô gái này sẽ nhận được tiền bán con, cô gái sẽ có một gia đình tươm tất hơn và chồng cô sẽ không phải tốn kém cho của hồi môn đắc giá. Nếu sau khi trở thành vợ lẽ của người đàn ông mà nàng không vừa lòng người, ai đó trong gia đình cha mẹ nàng có thể chuộc nàng và nàng sẽ được tự-do.
Nếu người đàn ông chọn nàng cho con trai ông, và đến một lúc nào đó người con trai trở nên ghét nàng rồi cưới một cô gái khác, vậy cha của người con trai phải bảo-đảm cho nàng được đối-xử như một con gái đã lập gia đình. Điều này có nghĩa là bảo-đảm cho nàng có quần áo, thức ăn và mọi quyền lợi trong cuộc hôn-nhân của nàng (ICôr 7:1-6). Nếu người cha không làm điều này, người con gái được tự-do trở về gia đình nàng và không bị xem là một tôi mọi nữa.
•Những tội xử-tử (Xu 21:12-17).
Những luật-lệ này là sự ứng dụng hợp lý cho điều răn thứ sáu, “Ngươi chớ giết người” (Xu 20:13; Lê 24:17). Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, do đó việc giết hại một đồng loại nghĩa là công kích hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 9:6). Nếu một người bị phát hiện đã phạm-tội giết người dựa trên lời chứng của hơn 2 nhân-chứng (Dân 35:30-31), thì kẻ sát nhân sẽ bị xử-tử.
Luật-pháp phân biệt giữa tội giết người có mưu tính trước và tội ngộ sát. Nếu bạn vô tình giết chết ai đó, bạn có thể chạy trốn đến bàn thờ Đức Chúa Trời để được sự an toàn (IVua 2:29) cho đến khi các trưởng-lão có thời gian để xem xét vấn-đề. Một khi dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn ở trong xứ họ, họ đã dành ra 6 thành ẩn náu để kẻ giết người có thể chạy trốn và được bảo vệ cho đến khi vấn-đề được điều tra (Dân 35:1-34; Phuc 19:1-21; Gios 20:1-9).
Vào thời ấy, Y-sơ-ra-ên không có lực lượng cảnh sát; gia đình của nạn nhân chắc chắn mong đợi công-lý sẽ được thực hiện. Nhưng trong cơn nóng giận, họ có thể mong muốn được trả thù hơn là trông vào công-lý, vì vậy luật này can thiệp vào nhằm bảo vệ bị cáo cho đến khi anh ta được chứng minh là có tội.
•Con cái và cha mẹ (Xu 21:15-17).
Sau khi liên-hệ đến tội sát-nhân nói chung, luật này đề-cập đến những trường hợp cụ thể. Trường hợp đầu tiên nói về việc một người ngược đãi cha mẹ, đánh đập hoặc chửi rủa họ, vi phạm đến điều răn thứ năm (c.15, 17 Lê 20:9; Phuc 27:16).
Có thể áp-dụng “luật về đứa con bội nghịch” (Phuc 21:18-21) ở đây và đứa con này rất cần đến sự kỷ-luật. Những đứa con không kính-trọng cha mẹ thường không có sự tôn trọng đối với bất cứ quyền hạn nào khác và chỉ muốn làm theo ý riêng ích kỷ của mình. Đặc điểm “không có tình cảm tự nhiên” (IITim 3:3) nói về một số người trong những ngày sau rốt, nhưng trong thời của Môi-se cũng có những loại người đó.
Việc bắt cóc bị nghiêm cấm (Xu 21:16; Phuc 24:7). Việc ăn cắp tài sản đã là sai trái (Xu 20:15), thì việc bắt cóc những người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và bán họ làm nô-lệ là một tội ác còn nghiêm trọng hơn.
• Những sự đả thương (Xu 21:18-32).
Con người không nên tranh cãi đến độ phải xô xát nhau (Ch 15:1; Ch 25:15), nhưng điều đó đã xảy ra, và khi nó xảy ra sẽ gây ra nhiều điều tác hại. Nếu nạn nhân chết, kẻ gây hấn sẽ đền mạng, nhưng nếu nạn nhân hồi phục và cuối cùng có thể bước đi được thì kẻ gây hấn được miễn những trách-nhiệm có liên-quan. Tuy nhiên, người ấy phải bồi hoàn cho nạn nhân về khoản thời gian bị mất việc và các chi phí thuốc men.
•Tôi-mọi (Xu 21:20-21).
Nguyên-tắc này giờ đây được áp-dụng cho một người chủ và tôi-tớ của người ấy. Chúa không muốn tôi-tớ bị xem như những món đồ, nhưng họ phải được đối xử như những con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và đáng được hưởng những quyền con người của họ. Nếu trong việc kỷ luật một tôi-tớ (Ch 10:13; Ch 13:24), người chủ đã quá tay và giết người tôi-tớ ấy thì người chủ này phải bị phạt. Chúng ta không được cho biết hình phạt này là gì.
Điều này có thể do các quan án quyết định (Xu 21:22) và tùy thuộc vào việc người chủ có ý định giết người thật sự hay không. (Thật khó tin rằng một người chủ lại muốn hủy hoại tài sản riêng của mình và để phải mất đi một nguồn lợi tức từ người này). Nếu sau một vài ngày người tôi-tớ bình phục trở lại, chủ người ấy sẽ không bị phạt, vì ông ta đã mất đi nguồn lợi từ người đầy-tớ trong khoản thời gian người này phục-hồi sức khỏe.
•Làm bị thương một người đàn bà có thai (Xu 21:22-23).
Chúng ta không được biết người đàn bà này có phải là vợ của một trong những người đánh nhau và chồng bà ta có thua trận hay không? Các học-giả không đồng ý về cách dịch của c.22. Phải chăng câu ấy là: “và người phải sanh non” (NIV), hay là: “và người bị sẩy thai?” (ghi chú của Kinh-Thánh NIV, NASB). Mệnh-đề “nhưng không có sự tổn hại nghiêm trọng nào” (đối với mẹ hoặc con) gợi ý rằng cách dịch thứ nhất hợp lý hơn, vì sẩy thai chắc chắn là một sự-kiện nghiêm trọng.
Cho dù không có sự tổn hại nghiêm trọng nào xảy ra cho người mẹ hoặc đứa con, tòa xử án cũng phải phạt người có lỗi về hành động gây hấn của người ấy đối với một ai đó không phải là người tham gia vào cuộc đánh nhau. Nếu không nói đến ý định của người này thì điều mà người ấy đã làm có thể gây nên cái chết của đứa con hay của người mẹ, hoặc cả hai. Nhưng nếu có sự tổn hại nghiêm trọng, tức là người mẹ hoặc đứa con bị thương tật hoặc bị chết thì tòa án sẽ xét xử theo luật ăn miếng trả miếng (c.23-25), nghĩa là “hình phạt phải tương ứng với tội ác” [87]
Nguyên-tắc này đã bị một số người chỉ trích gay gắt là “dã man”, nhưng sự việc có ý nghĩa trái ngược hẳn. Trong một thời đại mà hệ thống Luật-pháp đang được đẩy mạnh thì luật này bảo đảm rằng hình phạt do các quan án định đoạt tương xứng với sự nghiêm trọng và khắc nghiệt của tội ác, không hơn không kém.
Nếu kẻ gây hấn có tội đã làm mù mắt kẻ thù mình, thì mắt hắn phải bị làm cho mù. Không điều gì có thể công-bằng hơn. Nếu bạn bẻ gãy ngón tay kẻ thù mình và tòa xử bạn phải bị mù thì điều đó sẽ không công bằng gì cả, vì án phạt phải thật thích đáng với tội ác. Nguyên-tắc này chỉ duy nhất một lần không được áp dụng đó là khi một người chủ gây thương tích cho một tôi-tớ, và sự đền bù cho người đầy-tớ này là sự tự-do của chính người ấy (c.16-27).
Chúa Giê-xu cấm các môn-đồ Ngài trả thù những ai làm tổn thương họ (Mat 5:38-44; IPhi 2:19-21). Ngài đang đề-cập đến sự trả thù cá nhân (“Ta sẽ trả thù ngươi!”) và khuyến khích sự tha thứ cá-nhân. Ngài không chỉ trích Môi-se, và cũng không can thiệp vào hệ thống Luật-pháp, vì Ngài đến để làm trọn Luật-pháp chớ không phải để hủy hoại nó (Mat 5:17-20).
Là những Cơ-đốc nhân chúng ta có đặc quyền khước từ “những quyền lợi hợp pháp” của chúng ta vì vinh-hiển của Đức Chúa Trời mà không cần đòi hỏi một sự đền bù nào (ICôr 6:1-8). Tuy nhiên, một quan án phải bảo-đảm rằng công-lý được thực hiện và luật-pháp phải được tôn-trọng.
•Bị đả thương bởi một con vật (Xu 21:28-32).
Luật-pháp cho biết rõ rằng người chủ có trách-nhiệm bảo-đảm cho con vật của mình không đả thương người khác. Một con bò nguy hiểm trước đây đã tấn công con người thì phải bị nhốt lại. Nếu nó không bị nhốt lại và làm chết ai đó thì người chủ phải chịu trách-nhiệm, và cả chủ lẫn con vật đều phải bị xử-tử. Người ta không được làm thịt con vật để ăn vì nó đã bị ô uế bởi hành động kinh khiếp của nó.
Tuy nhiên, tòa án có thể phạt người chủ và cho phép người này trả một khoản tiền chuộc và được thả ra (Dân 35:31).
Hãy chú ý rằng luật-pháp không phân biệt giữa cái chết của một người nam hay người nữ (Xu 21:29, 31). Tuy nhiên, có một sự khác biệt khi sự việc xảy ra với những người nô-lệ vì người sở hữu con vật có thể trả cho người chủ nô-lệ 30 miếng bạc để đền bù cho sự mất mát này (Mat 26:14-16).
•Thiệt hại về tài sản (Xu 21:33-22:15).
Trong vùng Đất Hứa, Y-sơ-ra-ên sẽ là một xã hội nông nghiệp, và súc vật có vai trò rất quan-trọng đối với một người nông dân vì nếu không có chúng, anh ta sẽ không thể cày xới đất đai được.
Những con vật bị thương hoặc bị giết chết (Xu 21:33-34). Nếu sự bất cẩn và lơ đễnh của một người (mở miệng hầm hoặc đào hầm) khiến một con vật bị thương hoặc chết, thì người ấy phải bồi thường cho người chủ của con vật, nhưng người chủ hầm có thể giữ lại con vật đó cho mình.
Nếu một con vật giết hại con vật khác, hai người chủ sẽ chia nhau xác con vật đã chết và tiền có được từ việc bán con vật còn sống. Luật này không chỉ cho thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến công-lý nhưng Ngài cũng mong rằng con người cần phải cẩn thận và đừng khiến cho những con vật dễ bị thương và do đó phải bị giết đi.
•Ăn cắp súc vật (Xu 22:1-4).
Luật-pháp phân biệt giữa những con vật bị đánh cắp đã bị giết hoặc bị bán, và những con vật bị ăn cắp vẫn còn ở trong tay của kẻ cắp. Khi kẻ cắp bị bắt gặp đang phạm tội, trong trường hợp đầu tiên, hắn phải bồi thường 5 con bò cho một con và 4 con chiên cho một con (bị đánh cắp). Trong trường hợp thứ hai, hắn phải trả hai con vật cho một con. Ăn cắp một con vật cũng đã là xấu xa, nhưng việc giết hoặc bán đi những gì không phải của bạn là nhận lấy những quyền hạn không thuộc về bạn. Nếu kẻ cắp không thể bồi thường, hắn sẽ bị bán làm nô-lệ và tiền được giao lại cho người bị mất cắp.
Luật này cũng phân biệt giữa hành động ăn trộm ban đêm và ăn trộm ban ngày. Vào ban ngày, người chủ có thể nhận diện tên trộm đột nhập vào chuồng súc vật của mình và thậm chí có thể kêu-gọi sự giúp đỡ của những người láng giềng. Việc giết kẻ trộm vào ban ngày sẽ là một hành động trả thù không cần thiết. Nhưng vào ban đêm, người chủ không thể nhận diện ra kẻ đột nhập, cũng không biết được kẻ này có vũ trang hay không, và do đó mạng sống của người chủ rất nguy hại; thêm nữa, vào ban đêm cũng phải mất thời gian lâu hơn để kêu-cầu sự giúp đỡ.
Luật về sự bồi thường súc-vật bị mất cắp nhắc chúng ta nhớ đến lời của Đa-vít trong (IISa 12:6) và lời-hứa của Xa-chê trong (Lu 19:8). Tiên-tri Na-than nhìn thấy vua Đa-vít như một kẻ đánh cắp chiên và Bát-sê-ba như con chiên bị đánh cắp, vì tội tà-dâm là tội trộm cắp (ITês 4:1-7). Đa-vít đã phải bồi thường gấp 4 lần: con trẻ bị chết, Am-nôn và Áp-sa-lôm đều bị giết, và Ta-ma bị cưỡng hiếp (IISa 12:15-13:33; IISa 18:1-18).
•Mùa màng (Xu 22:5-6).
Ranh giới đồng ruộng được đánh dấu bởi những hòn đá đặt ở các góc, chớ không phải là những hàng rào quanh khu vực này (Phuc 19:14 27:17; Ch 22:28; Ch 23:10). Những súc-vật ăn cỏ sẽ không phân biệt được đồng ruộng này với đồng ruộng khác và sẽ lang thang bất cứ nơi nào có sẵn cỏ. Người chủ phải luôn ở bên cạnh để trông chừng súc-vật. Nếu người chủ lơ là để cho súc vật của mình ăn cỏ trong đồng ruộng của người láng giềng thì phải bồi thường thỏa đáng cho người láng giềng, và hãy chú ý giao cho người này hoa lợi tốt nhất của mình, vì vật bồi hoàn không phải là một thứ có thể xem thường được.
Trong mùa khô, đồng ruộng luôn có nguy cơ bị hỏa hoạn làm hủy hoại mùa màng (Xu 22:6). Những chữ “bồi thường” và “sự hoàn trả” được dùng đến 6 lần trong đoạn 22 (c.1, 3-6, 12) đã được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ “shalam” nghĩa là “làm cho trọn vẹn, làm cho hoàn toàn”, và có liên-hệ với từ Hê-bơ-rơ tương tự là “shalom” (“hòa bình, sức khỏe”).
Người phạm-tội không phải chỉ xưng nhận tội-lỗi của mình là có thể giải quyết được mọi sự; bản-thân anh ta cũng cần phải nỗ lực rất nhiều để đền bù cho những người bị nạn. Chỉ khi đó những mối liên-hệ bị đỗ vỡ mới có thể được hàn gắn và xã hội mới có thể trở nên trọn-vẹn.
•Vật sở hữu của người khác (Xu 22:7-15).
Sự thành-thật và liêm chính tạo nên chất kết dính trong một xã hội lành mạnh và thịnh vượng. Nếu những người lân-cận không thể tin-cậy nhau thì cuộc sống sẽ trở nên rất khó khăn. Nếu bạn nhờ tôi giữ gìn tiền bạc, vật dụng hay súc-vật của bạn thì tôi phải trung tín làm phần việc của mình. Mặc cho sự cần mẫn của t ôi, một kẻ trộm có thể đột nhập vào nhà và ăn cắp tài sản của bạn, nhưng khi hắn bị bắt, hắn phải bồi thường gấp đôi.
Nếu kẻ trộm không bị bắt, vậy tôi phải chứng minh trước tòa rằng tôi đã không bất cẩn và tôi không phải là thủ phạm. Khi điều này xảy ra thì có thể nghĩ đến một trong 3 khả năng sau: tôi phải đưa ra những nhân-chứng có thể xác nhận cho sự cần mẫn của tôi; cho thấy những mảnh còn lại của súc-vật để chứng-minh chúng đã bị những con thú giết hại (Sa 31:39; Am 3:12), hoặc nếu không có những bằng-chứng này thì tôi phải thề trước Chúa về sự vô-tội của mình, đây là một vấn-đề nghiêm trọng khi cần phải thực hiện. Các quan tòa, là những người đại diện của Đức Chúa Trời trước cả dân-tộc sẽ nhận biết được tôi có nói sự thật hay không. Nếu người ta chứng-minh được rằng súc-vật của người láng giềng của tôi đã chết, bị lạc hay bị đánh cắp bởi sự cẩu thả của tôi, vậy tôi sẽ phải bồi thường thỏa đáng.
Nếu tôi mượn một con trong bầy gia-súc của bạn để làm công việc đồng áng của tôi và con vật lại bị thương tích hoặc chết trong sự bảo-dưỡng của tôi, vậy tôi phải bồi thường sự tổn thất cho bạn. Nếu bạn ở cùng tôi lúc đó, điều khiển chính con vật của bạn thì tôi không bị buộc phải bồi thường bất cứ khoản nào. Nếu tôi thuê con vật của bạn và trả tiền, vậy số tiền này bao gồm cả khoản bồi thường thiệt hại.
•Những luật khác (Xu 22:16-23:19).
Đa số những luật này không cần sự giải thích đặc biệt nào, nhưng chúng ta sẽ chú ý đến một số lẽ-thật gắn liền với những luật-lệ này.
•Sự cưỡng hiếp (c.16-17).
Những cô gái chưa kết hôn thuộc về cha của họ, và một cô gái không đồng trinh sẽ không được hỏi để làm vợ, vì vậy sự mất trinh tiết của cô ấy là một sự thiệt hại về tiền sính lễ cho người cha. Kẻ phạm-tội buộc phải cưới người con gái này, nhưng nếu cha nàng không muốn nhận anh ta làm con rễ thì kẻ này có thể trả khoản tiền sính lễ và được tự-do. Nếu người con gái đã được hứa gả thì sự cưỡng hiếp bị xem là tội tà-dâm và sẽ áp dụng một luật khác để giải quyết (Phuc 22:23-29).
•Phù phép (Xu 22:18).
Điều mà ngày nay chỉ bị xem như một sự giải trí vô hại thì trong thời Môi-se đã được nhận định một cách đúng đắn là việc làm tà ma nguy hại. Dân Do-thái được lệnh phải tránh xa mọi thứ có liên-hệ đến những điều huyền bí (Lê 20:6; Phuc 18:10-14; ISa 28:1-24; Ês 47:12-14). (Ga 5:20) đã liên hệ đến ma-thuật là thờ hình-tượng.
•Hành động thú tính (Xu 22:19) cũng là một trong những tập-tục tôn-giáo của các dân-tộc ngoại bang và bị Chúa lên án (Lê 18:23; Lê 20:15-16; Phuc 27:21). Nó cũng là một sự phỉ báng về món quà sinh-lý kỳ diệu mà Chúa đã ban.
•Sự thờ hình-tượng (Xu 22:20; Xu 23:13).
Dân-sự không được tế các thần khác, nếu trái nghịch thì sẽ bị diệt, và họ cũng không được nhắc đến danh của các thần này. Sự thờ hình-tượng là sự cám-dỗ lớn nhất cho Y-sơ-ra-ên trong suốt cuộc hành-trình trong đồng vắng và sau khi họ vào Đất Hứa, và Chúa đã cảnh cáo họ phải hủy phá các đền thờ và bàn thờ ngoại giáo (Phuc 4:14-24).
• Sự ích kỷ (Xu 22:21-27; Xu 23:9)
Những luật này khuyên bảo dân Do-thái phải cư-xử tử tế với khách-lạ và khách kiều-ngụ, người góa bụa và trẻ mồ côi cùng người nghèo. Dân Do-thái từng là khách-lạ ở Ai-cập và trong suốt nhiều năm đã được đối xử tử tế, góa phụ và cô nhi cũng còn là mối quan tâm đặc biệt của Chúa (Lê 19:9-10; Phuc 14:28-29; Phuc 16:11,14; Phuc 24:19-21; Phuc 26:12-13; Thi 10:14,17-18; Thi 68:5; Thi 82:3; Thi 146:9; Ês 1:23; Ês 10:2; Giê 7:6; Giê 22:3; Xa 7:10; Ma 3:5). Người giàu không nên bóc lột người nghèo nhưng phải sẵn sàng giúp họ (Lê 25:35-38; Phuc 15:7-11; Phuc 23:19-20; Phuc 24:6; Phuc 10:13; Ch 28:8). Đức Chúa Trời nghe thấu tiếng kêu van của người khốn khổ (Xu 22:23, 27).
•Rủa sả nhà cầm quyền (Xu 22:28).
Họ có thể báng bổ Đức Chúa Trời qua môi miệng của họ hay qua việc xem thường những luật-lệ Ngài ban cho vì lợi ích của họ, đặc biệt là những luật lệ có liên quan đến sự rời rộng đối với người khác (c.21-27). Báng bổ Đức Chúa Trời là một tội-phạm phải bị xử-tử (Lê 24:10-16). Việc nói xấu một người cai-trị là chống lại Luật-pháp (Ch 24:21-22; IPhi 2:17).
Phao-lô đã phải xin lỗi khi ông không cố ý nói điều xấu về thầy tế-lễ cả (Công 23:4-5; IISa 19:19; IVua 21:10). Đức Chúa Trời đã thiết lập chính thể của loài người (Rô 13:1-14), ngay cả khi chúng ta không tôn trọng các quan chức thì chứng ta cũng phải tôn-trọng chức-vụ của họ.
•Trì hoãn việc vâng lời (Xu 22:29-30).
Trái đầu mùa thuộc về Chúa, dù đó là con trai đầu lòng, con đực đầu lòng (Xu 13:1-22), hay quả đầu mùa của đồng ruộng và vườn cây ăn quả (Ch 3:9-10). Việc cầm giữ áo xống (Ch 22:26-27), hay tiền công (Gia 5:4) của một người là không hợp lẽ. Sẽ tệ hại là dường nào nếu giữ lại của Chúa những món quà Ngài đã ban cho để chúng ta dâng lên cho Ngài?
•Thịt bị ô uế (Xu 22:31).
Lý-do đằng sau luật này vừa mang tính tôn-giáo vừa mang tính vệ sinh. Xác của những con vật bị giết bừa bãi vẫn còn đọng huyết, và việc ăn huyết đã bị cấm (Lê 22:8). Hơn nữa, một xác súc-vật ở trong đồng ruộng chẳng bao lâu sẽ trở nên hôi thúi và gieo rắc mầm bệnh. “Thịt miễn phí” có thể phải trả giá rất đắt. Một người tinh sạch sẽ không muốn chạm đến thịt ấy, đừng nói gì đến việc ăn nó.
•Sự công-bình (Xu 23:1-8).
Đây là điều răn thứ 9 được mở rộng (Xu 20:16), một lời cảnh cáo không được làm-chứng dối và hùa theo sự bất-công như số đông vẫn đang làm (Lê 19:15-16; Phuc 22:13-19). Dân-sự Đức Chúa Trời không nên để bị tác động bởi sự giàu có hay nghèo khổ của bị cáo hoặc bởi của hối lộ mà người ta đút lót để xét xử thiên-vị (Phuc 16:18-20; Ês 1:23; Mi 3:11).
Kết án một người vô-t ội để tư lợi là có tội trước mặt Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ không tha-thứ cho tội-lỗi này (Xu 23:7 NIV) [88]. Nhưng Môi-se cũng nhắc nhở họ phải đối-xử tử tế với kẻ thù và súc-vật của kẻ ấy (c.4-5; Phuc 22:13-15). Những việc làm tốt lành của chúng ta phải là kết quả của việc tuân thủ luật-lệ nhưng có vận dụng đến tình yêu thương.
•Giữ những kỳ lễ (Xu 23:10-17).
Đức Chúa Trời quản-lý thời giờ và Ngài truyền cho dân Do-thái phải nghỉ làm việc vào mỗi tuần để kỷ niệm ngày Sa-bát. Cứ 7 năm một lần họ phải kỷ niệm một Năm Sa-bát, trong suốt khoảng thời gian đó đất sẽ được nghỉ ngơi và người nghèo có thể dùng lượng lương thực đang cho hoa lợi mà không cần phải gieo trồng nữa (Lê 25:1-7). Đã từ lâu, dân Do-thái đã được ban cho những luật-lệ có cơ-sở về phương-diện sinh thái. Nhưng vào năm đặc biệt này, đức-tin và sự vâng-lời của họ sẽ được thử-nghiệm.
Khi dân-sự đã định cư trong xứ, các người đàn ông phải nhóm họp lại để thờ-phượng 3 lần trong một năm, vào lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều Tạm (Lê 23:1-44 để biết về lịch tôn-giáo của Do-thái). Những người nam này thường đi cùng với gia đình họ (ISa 1:1-28; Lu 2:40).
“Chớ nên nấu dê con trong sữa mẹ nó” (Xu 23:19; NIV Xu 34:26; Phuc 14:21). Dê con là một món ăn ưa thích của dân sự, và khi nấu trong sữa sẽ làm cho món ăn ngon hơn. Việc dùng sữa mẹ để nấu con của nó cho thấy được một cách nhìn nhận trong lòng có thể dẫn đến mọi thứ tội-lỗi.
Hơn nữa, việc nấu dê con cách này là một phần trong nghi lễ ngoại giáo của dân Ca-na-an, và Đức Chúa Trời không muốn dân-sự Ngài tranh đua với những kẻ thờ lạy hình-tượng. Vì luật này có liên-hệ với lễ Lều Tạm, lễ Mùa Gặt, nên có lẽ nghi lễ này có liên-quan đến sự thịnh vượng. Sữa khi ấy được rắc trên cây cối và đồng ruộng để làm gia tăng sự màu mỡ, đây là một hành động ma thuật bị ngăn cấm đối với Y-sơ-ra-ên [89]
3. Đức Chúa Trời là khôn-ngoan: Hãy theo sự dẫn dắt của Ngài (Xu 20:20-26) (Xu 23:20-24:8).
(Xu 23:20-26). Dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở tại núi Si-nai khoảng 11 tháng, sau đó họ sẽ đi đến Ca-đe Ba-nê-a trước khi vào trong xứ (Dân 10:11-14:45). Họ đã không tin cậy Đức Chúa Trời để giành lấy cơ-nghiệp cho mình nên họ bị kết án phải lang thang trong đồng vắng cho đến khi thế-hệ từ 20 tuổi trở lên đều đã chết, ngoại trừ Ca-lép và Giô-suê. Trong 38 năm, Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt dân-sự Ngài và sau đó đem họ trở về biên giới Ca-na-an để tiến vào và giành lấy xứ.
Vị thiên-sứ ở đây là Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời, Thiên-Sứ Của Giao-Ước (Xu 14:19). Chỉ có Ngài mới có thể tha thứ những vi-phạm và chỉ trong Ngài là danh kỳ diệu của Chúa. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị một nơi cho dân trên đất của Ngài (Xu 23:20) như Chúa Giê-xu đang chuẩn bị một nơi ở trên trời cho dân của Ngài (Gi 14:1-6). Nếu họ vâng-theo Chúa, Ngài sẽ đáp-ứng tất cả những nhu-cầu của họ và đánh bại mọi kẻ thù của họ.
Một lần nữa, Chúa cảnh-cáo họ về tội thờ hình-tượng, thờ-lạy những tà thần của các dân-tộc quanh họ là những dân mà họ sẽ đánh bại. Nếu Y-sơ-ra-ên dâng mình hoàn toàn cho Chúa, Ngài sẽ đi trước họ, đánh bại kẻ thù của họ, và giúp họ chinh-phạt xứ. Thật vậy, “sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời” đã đi trước Y-sơ-ra-ên và làm suy yếu dân trong xứ (Gios 2:11; Xu 15:16).
• “Ong lỗ” trong (Xu 23:28) rất có thể là loài côn trùng mà chúng ta đã biết vì dân Đông phương rất coi trọng loài ong lỗ (Phuc 7:20; Gios 24:12). Từ Hê-bơ-rơ này tương tự với từ có nghĩa là Ai-cập (zirah / mizraim), vì vậy một số nhà nghiên-cứu tin rằng đây là hình ảnh có liên hệ đến những đội quân Ai-cập thường xuyên xâm lấn xứ Ca-na-an trước khi dân Do-thái đến. Trong (Ês 7:18), Ai-cập đã được ví sánh với con ruồi và A-si-ri được ví sánh với con ong.
Giô-suê và đội quân của ông đã mất gần 7 năm để có thể chinh-phục xứ, và theo sau chiến thắng này là một đợt “càn quét”. Đức Chúa Trời hoạch định rằng dân-sự sẽ từ từ chiếm lấy xứ để có thể kiểm soát được mọi sự, nhưng một số chi phái không thể chinh-phục được trọn vẹn phần lãnh thổ đã được giao cho họ (Cac 1:1-2:23). Đức Chúa Trời đã đặt ra ranh giới của xứ này (Sa 15:18-21), và các ranh giới này được trải dài ra trong suốt thời của Đa-vít và Sa-lô-môn (IISa 8:1-14; IVua 4:20-25), nhưng đến khi dân-tộc Y-sơ-ra-ên bị chia cắt, họ bắt đầu để phần lãnh thổ của mình rơi vào tay của kẻ thù.
-Xu 21:1-36; xem giải nghĩa Xu 20:20-26.
-Xu 22:1-31; xem giải nghĩa Xu 20:20-26.
-Xu 23:1-33; xem giải nghĩa Xu 20:20-26.
4. Đức Chúa Trời là thành-tín: Hãy tin-cậy giao-ước của Ngài (Xu 24:1-8)
Hai câu đầu có liên-hệ với (Xu 20:21), khi Đức Chúa Trời gọi Môi-se lên núi Si-nai, mang theo 70 trưởng-lão, A-rôn và Na-đáp với A-bi-hu, con trai của A-rôn. Môi-se chia-sẻ những lời của Đức Chúa Trời với dân-sự, và một lần nữa họ đã hứa sẽ vâng-theo mọi điều Đức Chúa Trời bảo họ làm (Xu 24:3; Xu 19:8).
Sau đó ông viết xuống tất cả những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy, tức là Mười Điều Răn và Quyển Sách Giao-Ước.
Nhưng sẽ cần nhiều hơn những lời-hứa để Quyển Sách Giao-Ước được thông qua, và Môi-se đã thực hiện điều đó vào sáng hôm sau. Ông dựng nên một bàn thờ cho Chúa và dựng 12 hòn đá như các cây trụ để đại diện cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên. Những người trai trẻ đứng qua một bên để phục-vụ khi các thầy tế-lễ dâng của lễ cho Chúa vì giao-ước phải được đóng dấu bởi huyết. Một ít huyết được rảy trên bàn thờ, biểu thị rằng Đức Chúa Trời đã tha-thứ cho tội-lỗi của dân-sự Ngài.
Tiếp đó, Môi-se đọc Quyển Sách Giao-Ước cho dân-sự và họ xác nhận sự vâng-phục tự nguyện của họ. Môi-se lấy phần huyết còn lại trong các chậu và rảy trên Quyển Sách và trên dân-sự (Xu 24:8; Hêb 9:19-20), đó là nghi lễ chuẩn nhận giao-ước. Y-sơ-ra-ên phải nhận biết trách-nhiệm của họ để vâng-theo những luật lệ của Chúa. Giao-ước giờ đây đã được phê chuẩn bằng huyết, và Đức Chúa Trời sẽ giữ lời hứa của Ngài đã lập cùng dân-sự! Xét cho cùng, dân-sự cũng chỉ biết trông-mong rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ lời-hứa của Ngài!
•Lời-hứa của Chúa trong (Xu 6:6-8), giờ đây sắp bước vào giai đoạn thứ ba. Đức Chúa Trời đã chuộc dân-sự Ngài (Xu 1:1-18:27) và chính Ngài đã nhận họ làm dân sự của Ngài; giờ đây Ngài sẽ đến và ngự gi ữa vòng họ và làm Đức Chúa Trời của họ (Xu 25:1-40:38). Phần cuối của sách Ai-cập tập trung vào sự thiết kế, xây dựng và dâng hiến đền tạm, và đây là một phần ghi chép phong phú về lẽ-thật thuộc-linh và những bài học thực tiễn.
PHẦN CHUYỂN TIẾP
Khi chúng ta bắt đầu phần nghiên-cứu về đền tạm và chức tế-lễ, chúng ta phải dừng lại để xem-xét một số vấn đề sơ-bộ.
-Trước tiên, vì sách Xuất Ê-díp-tô ký không được sắp xếp theo chủ-đề nên thông tin về đền tạm và chức tế-lễ đã được phân bố qua sách Xuất Ê-díp-tô ký (Xu 25:1-39:43), cũng như qua các sách Lê-vi, Dân-số và Phục-truyền. Có lẽ Đức Chúa Trời đã hướng dẫn Môi-se viết theo cách ấy để các thầy tế-lễ (và các tín-hữu ngày nay) sẽ phải đọc tất cả các tài-liệu này để biết về điều Đức Chúa Trời muốn nói.
Cả Kinh-Thánh được Đức Chúa Trời thần-cảm và cả Kinh Thánh phải được xem xét khi nghiên-cứu bất cứ chủ đề nào. Để việc nghiên-cứu những chương này dễ dàng hơn, tôi đã đối chiếu tài-liệu trong Xuất Ê-díp-tô ký dưới nhiều đề-mục chính, và tôi cũng sẽ đề-cập đến ba sách khác của Môi-se.
-Hai là, việc xem xét từng chi-tiết trong mỗi phần của đền tạm và quần áo tế-lễ sẽ dễ làm chệch hướng việc nghiên cứu, vì thế tôi đã tập trung vào những lẽ-thật thuộc-linh chính yếu mà tôi tin rằng Đức Chúa Trời muốn chúng ta học biết. Một khi đã nắm được những lẽ thật này, bạn có thể nghiên-cứu những vấn-đề khác bằng sự am hiểu thuộc-linh hơn.
-Cuối cùng, đền tạm là một chiếc lều di động, nó không phải là một nơi để nhóm họp lại như nhà thờ. Mỗi khi Y-sơ-ra-ên nhổ trại, người Lê-vi tháo dỡ lều một cách cẩn thận, gói ghém đồ đạc trong những vật che phủ, và mang chúng đi cho đến khi Chúa bảo dân sự dừng lại (màn và khung được chở trên xe ngựa). Tại nơi ở mới, đền tạm được lắp ráp và đồ đạc được xếp đặt vào đúng chỗ (Dân 3:1-4:49). Mỗi món đồ có những cái khoen để luồn vào những cây đòn để mang gánh đồ đạc qua suốt cuộc hành-trình trong đồng vắng, những cây đòn trên cái hòm không bao giờ được rút ra (Xu 25:15; IVua 8:8).
(Xu 24:9-18). Thành-tín với những lời-hứa của Ngài trong (Xu 6:6-8), Chúa đã giải cứu dân-sự Ngài ra khỏi Ai-cập (Xu 1:1-18:26) và tại núi Si-nai “tiếp nhận” họ cho chính Ngài như của báu đặc biệt của Ngài (Xu 19:24; Rô 9:4). Giờ đây Ngài sắp thực hiện phần còn lại của lời-hứa đó bằng cách đến trại quân của Y-sơ-ra-ên và ngự giữa vòng dân-sự Ngài (Xu 25:1-40:38).
Để làm việc này, Chúa cần đến hai điều: một nơi cho sự vinh-hiển của Ngài ngự vào, và những người hầu-việc Ngài tại nơi đó. Vì vậy, Ngài ra lệnh dân Do-thái dựng đền tạm và biệt riêng chi phái Lê-vi để hầu-việc Ngài. Việc dựng đền tạm và việc phong chức tế-lễ là hai chủ-đề chính của (Xu 25:1-40:38).
Trải qua suốt Sáng-thế ký, Chúa đã đồng đi với dân-sự Ngài – A-đam và Ê-va (Sa 3:8), Hê-nóc (Sa 5:22-24), Nô-ê (Sa 6:9), và các trưởng-tộc (Sa 17:1; Sa 24:40; Sa 29:44-46), nhưng giờ đây Ngài sẽ ở cùng họ. Việc có Chúa ngự trong trại quân là một đặc quyền đối với dân-tộc Y-sơ-ra-ên (Rô 9:4-5), vì không một dân tộc nào khác có Đức Chúa Trời hằng sống ở giữa họ. Nhưng đặc quyền mang theo nó một trách-nhiệm lớn lao, vì điều đó có nghĩa là trại quân Y-sơ-ra-ên phải là một nơi thánh mà một Đức Chúa Trời thánh-khiết có thể ngự vào.
Mười sáu chương này không chỉ ghi lại những sự-kiện lịch-sử xoay quanh việc xây dựng đền tạm và tấn phong chức tế-lễ. Những điều Môi-se ghi chép lại đã bày tỏ một số lẽ-thật thuộc-linh sâu sắc về một Đức Chúa Trời thánh khiết và cách chúng ta phải đến gần Ngài trong sự thờ-phượng và “lấy lòng kính-sợ hầu-việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài” (Hêb 12:28).
1. Đức Chúa Trời kêu-gọi chúng ta đến sự thờ-phượng Ngài (Xu 24 :9-18)
Thờ-phượng Đức Chúa Trời là đặc quyền cao nhất và là trách-nhiệm lớn nhất của một đời sống Cơ-đốc, vì Đức Chúa Trời là Đấng Chí Cao trong vũ-trụ và là Đấng mà một ngày nào đó chúng ta phải khai-trình. Mọi điều chúng ta có và làm đều bắt nguồn từ mối liên-hệ của chúng ta với Chúa.
Đức Chúa Trời đã tạo nên chúng ta theo hình ảnh của Ngài để chúng ta có thể yêu Ngài và có mối giao-thông với Ngài, không vì chúng ta phải làm nhưng vì chúng ta muốn làm. Đức Chúa Trời đang tìm kiếm những người thờ-phượng Ngài “bằng tâm-thần và lẽ-thật” (Gi 4:23-24).
•Bước lên càng cao.
Tại chân núi, dân Y-sơ-ra-ên thận trọng không tiến đến quá gần và chờ đợi Lời của Chúa. Môi-se, A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng 70 trưởng lão đã lên cao hơn và được gặp Chúa (Xu 24:9-11), sau đó Môi-se với Giô-suê còn lên cao hơn nữa (c.13-14). Sau cùng chỉ một mình Môi-se tiến lên cao hơn và tại nơi đó ông đã nhìn thấy sự vinh-hiển của Chúa (c.15-17).
Mọi điều này là sự minh họa về một lẽ-thật quan-trọng là chúng ta cần phải lớn lên trong kinh-nghiệm về sự thờ-phượng Chúa, và chính chúng ta là những người quyết định chúng ta sẽ lên “cao” đến mức-độ nào. Dân-sự đứng dưới chân núi đã rất sợ hãi khi tiếng Chúa phán và họ an-tâm khi nghe Môi-se nói với họ (Xu 20:18-19), nhưng Môi-se không chỉ nghe tiếng Đức Chúa Trời mà ông còn trông thấy sự vinh-hiển của Ngài. Thật đáng buồn khi dân sự Đức Chúa Trời chỉ muốn dừng lại ở mức thấp nhất khi vẫn có những độ cao mới của phước hạnh cho những ai tìm kiếm Đức Chúa Trời bằng cả tấm-lòng của họ.
Y-sơ-ra-ên phải thờ-phượng từ đàng xa, vì đó là mệnh-lệnh của Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời kêu-gọi những tín-hữu ngày nay bước vào trong sự hiện diện của Ngài “một cách mới mẻ và sống động” (Hêb 10:19-25).
“Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em” (Gia 4:8).
Chúng ta không đến gần một ngọn núi bão táp cách sợ hãi nhưng đang dạn dĩ tiến đến một thành vinh-hiển trên trời nơi tên chúng ta được ghi lại như những công dân của nước trời (Hêb 12:18-24).
•Giao-thông với Đức Chúa Trời (Xu 24:9-11).
Khi Kinh-Thánh nói rằng 74 người “thấy Đức Chúa Trời” thì điều này không có nghĩa là họ đã nhìn thấy diện mạo của Ngài vì điều này không thể xảy ra (Gi 1:18). Họ chỉ nhìn thấy một phần vinh-hiển của Đức Chúa Trời và có thể họ đã được nhìn thấy ngôi của Đức Chúa Trời trên nền bích ngọc (Êxe 1:26), nhưng Đức Chúa Trời không thể thấy được đã ẩn khỏi họ.
Sau sự hiện thấy này về Đức Chúa Trời, họ đã cùng dự một bữa ăn thông-công với nhau mà đỉnh điểm là việc chuẩn nhận giao-ước. Ăn với nhau là một dấu hiệu của tình bằng hữu và sự hiệp nhất. Đức Chúa Trời là vinh-hiển, cao trọng và được tôn-cao, nhưng Ngài cũng hạ mình để dự vào sự thông-công với chúng ta! [90]
•Lưu lại với Đức Chúa Trời (Xu 24:12-18).
Đức Chúa Trời gọi Môi-se lên cao hơn nữa để Ngài có thể ban cho ông những bảng đá trên đó Ngài đã viết Mười Điều Răn. Đây là sự đề-cập lần đầu tiên đến những bảng Luật-pháp trong Kinh-Thánh. Đám mây vinh hiển ở lại trên núi Si-nai, và từ Hê-bơ-rơ được dịch “ở lại” l à “shekinah”, một từ mà những nhà thần học Do-thái và Cơ-đốc đều sử dụng để mô-tả sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Trong (Xu 25:8) và (Xu 29:45-46), nó được dịch là “ở giữa”. Đám lửa hừng trên núi nhắc nhở chúng ta rằng “Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (Hêb 12:29). Môi-se ở lại trên núi với Đức Chúa Trời trong 40 ngày và 40 đêm (Mat 4:1-2), và suốt thời gian đó, Đức Chúa Trời cho ông biết những kế-hoạch về đền tạm và chức tế-lễ.
2. Đức Chúa Trời lập kế-hoạch (Xu 24 :9-18) (Xu 25:9, 40 Xu 26:30)
[91]. Xu 24:9-18. Mỗi khi Đức Chúa Trời làm việc gì, Ngài đều có kế-hoạch cho công việc ấy, dù đó là việc xây cất đền tạm hay đền thờ (ISu 28:11-12, 18-19), một Hội thánh địa phương (Phi 2:12-13), hay đời sống và chức-vụ của một Cơ-đốc nhân (Êph 2:10). Đức Chúa Trời cho Môi-se biết rằng ông phải làm mọi thứ theo như kiểu mẫu đã được tỏ ra cho ông ở trên núi (Xu 25:40; Hêb 8:5).
Đền tạm trên đất là một bản sao của đền tạm trên trời, nơi Chúa chúng ta giờ đây đang thi hành chức-vụ cho dân-sự Ngài (Hêb 8:1-5; Hêb 9:1). Sách Khải-huyền đề-cập đến một bàn thờ bằng đồng (Kh 6:9-11), một bàn thờ xông hương (Kh 8:3-5), một ngôi (Kh 4:2), các trưởng-lão/ thầy tế-lễ (c.4, 5), những ngọn đèn (c.5), “biển” (c.6) và Chê-ru-bin (c.6-7), tất cả đều giống với những đồ đạc chính yếu của đền tạm trên đất. Một nguyên-tắc cơ-bản về chức-vụ là chúng ta phải làm theo kiểu mẫu được ban cho từ trời, không phải kiểu mẫu của thế-gian này (Rô 12:2).
3. Đức Chúa Trời cung-cấp vật liệu để xây cất (Xu 24 :9-18) (Xu 25:1-9; Xu 30:11-16; Xu 35:4-29)
Chúng ta chỉ có thể dâng lên Đức Chúa Trời những gì Ngài đã ban cho chúng ta trước, vì mọi thứ đều đến từ Ngài. Đa-vít đã nói trong lời cầu-nguyện của ông: “và chúng tôi đã dâng cho Chúa chỉ những gì đến từ tay Ngài” (ISu 29:14 NIV).
Đức Chúa Trời không chỉ tạo ra những vật liệu mà dân sự đã đem đến cho Ngài (Ês 66:1-2), nhưng Ngài cũng làm việc trong lòng họ để họ vui lòng dâng cách rời rộng (IICôr 8:1-5, 12). Trong thực tế thì dân-sự đã đem đến quá nhiều đến nỗi Môi-se phải bảo họ ngưng lại! (Xu 36:6-7).
Nhiều loại vật liệu khác nhau được cần đến: kim loại quý (vàng, bạc), đồng thiếc, vải (chỉ, vải gai mịn, và lông dê), gỗ, da, dầu ô-liu, hương liệu, và đá quý. Người ta ước tính rằng một tấn vàng và trên 3 tấn bạc đã được sử dụng trong đền tạm. Tất cả của cải này đến từ đâu? Trước hết, dân Do-thái đã “tước đoạt” của dân Ai-cập trước khi họ rời khỏi xứ ấy (Xu 12:35-36), và không có gì lạ khi cũng có những chiến lợi phẩm từ cuộc chiến thắng dân A-ma-léc (Xu 17:8-16). Đức Chúa Trời bảo-đảm rằng họ có mọi thứ họ cần để xây dựng đền tạm như Ngài đã thiết kế sẵn cho họ vậy.
•Theo (Xu 30:11-16),
Môi-se đã thu nửa siếc-lơ của mỗi người ở tuổi quân ngũ, và theo (Xu 38:21-31), tất cả số bạc này đã lên đến 100 ta-lâng cộng với 1.775 siếc-lơ, tổng cộng là 301.775 siếc-lơ (một ta-lâng có 3.000 siếc-lơ). Khoản này do 603.550 người ở độ tuổi 20 trở lên đóng góp. Số bạc này đã được dùng để làm những cái lỗ cột trụ của đền thờ và những cái móc để treo các bức màn.
4. Đức Chúa Trời trang bị cho những người làm việc (Xu 24 :9-18) (Xu 31:1-11 Xu 35:30-36:7)
Dù l à việc xây dựng đền tạm trong thời Cựu-ước, xây Hội thánh trong thời Tân-Ước, hay việc gây dựng đời sống và chức-vụ của chúng ta ngày nay, Thánh Linh Đức Chúa Trời phải trang bị cho chúng ta và giúp chúng ta có thể làm được công việc. Đức Chúa Trời đã ban cho Bết-sa-lê-ên và Ô-hô-li-áp kỹ năng và sự khôn-ngoan cần có, nhưng Ngài cũng trang bị cho những người thợ làm việc dưới quyền của họ, được dẫn dắt bởi Thánh Linh, trong sự vâng-lời Chúa để xây nên đền tạm và những vật dụng ở trong đó.
Đức Chúa Trời đã chỉ định Bết-sa-lê-ên và Ô-hô-li-áp điều khiển công việc xây cất vì nếu không có những người lãnh đạo thì sẽ có sự lộn xộn, nhưng Ngài cũng kêu-gọi những người thợ tình nguyện để giúp đỡ họ (Xu 35:10). Chúng ta được sinh ra với những khả năng khác nhau, và khi được biến đổi, chúng ta nhận được những sự ban-cho khác nhau của Đức Thánh Linh để được sử dụng vì ích lợi của Hội thánh và sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời (ICôr 12:1-3; Êph 4:1-16; Rô 12:1-21).
“Vì ấy chính Đức Chúa Trời hành động trong anh em để vừa muốn vừa làm theo ý muốn tốt lành của Ngài” (Phi 2:13 NKJV).
Dân Do-thái đã xây một lều tạm mà từ lâu đã biến thành bụi đất, nhưng chúng ta đang góp phần xây dựng “nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh” (Êph 2:2) sẽ đời đời quy vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.
5. Đức Chúa Trời phải được đặt ưu tiên trên hết mọi sự (Xu 24 :9-18) (Xu 25:10-22; 37:1-9)
Có sáu vật dụng liên quan đặc biệt tới đền tạm, và hòm giao-ước đã được đề cập đến trước hết [92] Đây là một hòm gỗ dài 45 inch, rộng 27 inch và cao 27 inch, nó được đặt trong nơi Chí Thánh có sự hiện diện “shekinah” của Đức Chúa Trời ngự ở đó. Phía trên hòm giao-ước là nắp thi ân bằng vàng là ngôi của Đức Chúa Trời (Thi 80:1; Thi 99:1; Cac 19:15 cả NIV).
Chiếc hòm này có nhiều tên gọi ngoài tên là “hòm giao-ước” (Dân 10:33). Nó được gọi là “hòm của Đức Chúa Trời” (ISa 31:3), “hòm của Đức Giê-hô-va” (Gios 3:15), “hòm của Giê-hô-va Đức Chúa Trời” (IVua 3:26), “hòm bảng chứng” (Xu 25:22) vì có những bảng Luật-pháp ở trong đó, “hòm thánh” (IISu 35:3) và “hòm sức mạnh của Đức Chúa Trời” (Thi 132:8). Hòm này đại diện cho sức mạnh và uy quyền của Đức Chúa Trời trong trại quân Y-sơ-ra-ên, và đây là lý-do nó được kể đến trước tiên. Đây là minh họa Cựu-Ước của (Mat 6:33) trong Tân-ước.
Hòm giao-ước cũng dạy cho chúng ta biết về Chúa Giê-xu Christ. Nó được làm bằng gỗ, nói về nhân-tính Ngài, nhưng lại hoàn toàn được phủ bằng vàng, nói về thần-tính của Ngài. Theo (Hêb 9:4), bên trong hòm là những bảng Luật-pháp (Xu 25:16), một bình đựng ma-na (Xu 16:32-34), và cây gậy trổ hoa của A-rôn (Dân 16:1-17:13). Những đồ vật cho chúng ta biết rằng Luật-pháp của Đức Chúa Trời ở trong lòng Đấng Christ, và Ngài đã vâng-phục trọn-vẹn và làm trọn Luật-pháp (Thi 40:6-8; Hêb 10:5-9).
Ngài là Bánh Sự Sống, là Đấng ban sự sống đời-đời cho tất cả những ai tiếp nhận Ngài (Gi 6:32); và Ngài sống bởi năng-quyền của sự sống vĩnh-cữu để chúng ta có thể kết quả cho Đức Chúa Trời (Hêb 7:16).
Ở mỗi đầu của nắp thi ân bằng vàng đặt trên hòm có một chê-ru-bin và đôi cánh của chúng che phủ chiếc hòm. Một lần trong năm, vào ngày lễ Chuộc tội, thầy tế-lễ được phép vào nơi Chí thánh, tại đây ông sẽ rảy huyết của con sinh tế trên nắp Thi ân (Lê 16:1-24) để thực hiện sự chuộc tội của Y-sơ-ra-ên cho năm sau (c.29-34). Kiểu thực hành mẫu này đã được ứng-nghiệm khi Chúa Giê-xu Christ chịu chết một lần đủ cả cho tội-lỗi thế-gian và cất đi mọi tội-lỗi bằng sinh tế của chính Ngài (Hêb 9:11-10:14)
Thường trong Kinh-Th ánh bạn sẽ thấy hình ảnh tìm được sự an-toàn “dưới cánh Ngài”. Đôi khi điều này liên hệ đến hình ảnh chim mẹ bảo vệ cho con nó (Thi 57:1; Thi 63:7; Mat 23:37; Lu 13:34), nhưng cũng có thể chỉ về việc ở dưới cánh chê-ru-bin trong nơi thánh (Ru 2:12; Thi 17:8; Thi 36:7-8; Thi 61:4; Thi 91:1, 4).
Môi-se được phép vào nơi Chí thánh, nơi Đức Chúa trời đã phán với ông từ nắp Thi ân và bày-tỏ ý muốn của Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên (Xu 25:21-22; Xu 29:42; Xu 30:6, 36; Dân 7:89; Thi 91:1). Dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay có thể bước vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời nhờ huyết của Chúa Giê-xu Christ (Hêb 10:19-25), vì Ngài là “ngôi thương-xót” của chúng ta (sự phục-hòa, Rô 3:25; IGi 2:2). Bởi huyết Ngài đã đổ ra vì chúng ta nên ngôi Đức Chúa Trời đối với chúng ta là một ngôi ân-điển.
Hòm của Đức Giê-hô-va và trụ mây dẫn đường khi dân Do-thái di chuyển từ nơi này sang nơi khác (Dân 10:33-36). Trong hành-trình hành-hương, dân-sự Đức Chúa Trời được ngôi Đức Chúa Trời hướng dẫn và bước đi theo sự vinh-hiển của Ngài.
6. Đức Chúa Trời hiện diện để nuôi nấng dân-sự Ngài (Xu 24:9-18) (Xu 25:23-29; Xu 37:10-16).
-Khi thầy tế-lễ từ sân ngoài đi vào nơi thánh, ông sẽ thấy bàn để “bánh trần thiết” ở bên phải, chân đèn bằng vàng ở bên trái, và trước mặt ông là bàn thờ dâng hương bằng vàng được đặt trước bức màn xinh xắn phân cách nơi Thánh với nơi Chí thánh.
-Chiếc bàn dài ba bộ (foot), rộng một bộ rưỡi và cao 27 inch. Giống như chiếc hòm, nó được làm bằng gỗ keo dát vàng, điều này cũng nhắc nhở chúng ta về nhân-tính và thần-tính của Cứu Chúa chúng ta. Chúa Giê-xu là Bánh Sự Sống, là Đấng đã mặc lấy thân xác loài người để có thể đến đất này và chết thay cho tội-lỗi của chúng ta (Gi 6:26).
-Mười hai ổ bánh được làm vào mỗi tuần, theo công thức đã được cho trong (Lê 24:5-9). Bản văn không giải thích những ổ bánh này lớn cỡ nào, nhưng từ lượng bột cần có thì có lẽ chúng phải rất lớn [93]. Dường như bột mì là do dân-sự cung cấp như một món quà cho Chúa. Mỗi kỳ Sa-bát, các thầy tế-lễ lấy đi những ổ bánh cũ và ăn chúng trong nơi Thánh, và thay vào đó là những ổ bánh mới.
-Khi bánh được đặt trên bàn, nó luôn được đặt cùng với nhũ hương, và nhũ hương có lẽ sẽ được đốt lên trong một đồ dùng đặc biệt (Xu 25:29). Việc dùng nhũ hương gợi ý rằng bánh thật sự là một “của lễ chay” cho Chúa (Lê 2:1-11) để tạ ơn Ngài vì “đồ ăn mỗi ngày”. Nếu bột là một món quà của dân-sự thì đó là của lễ tạ ơn dâng lên cho Đức Chúa Trời vì sự chu cấp của Ngài đối với những nhu-cầu của họ.
-Những ổ bánh được gọi là “bánh trần thiết” (Xu 25:30), hoặc “bánh về sự hiện diện”, theo nghĩa đen là “bánh bề mặt”. Sự có mặt của 12 ổ bánh trong nơi thánh không khỏi nhắc nhở các thầy tế lễ rằng họ đang phục vụ cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên, tuyển dân của Đức Chúa Trời.
Qua những ổ bánh này, 12 chi phái được trình lên trước mặt Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở với họ trong trại quân, nhìn xem sự thờ-phượng và cách ăn ở hằng ngày của họ. Các chi phái này cũng được thể hiện qua những viên bích ngọc gắn trên bảng đeo ngực và vai của thầy tế-lễ cả (Xu 28:6-21).
Khi bạn kết hợp hình ảnh những viên bích ngọc và những ổ bánh bạn sẽ thấy rằng Chúa nuôi nấng dân sự Ngài, mang họ trên vai Ngài, và đặt để họ nơi lòng Ngài.
Nhưng các ổ bánh cũng nhắc nhở chúng ta rằng Y-sơ-ra-ên đã được kêu-gọi để đem bánh thuộc-linh mà Chúa đã ban cho họ đến với một thế giới đang đói khát. Họ đã đem đến cho thế giới Lời Đức Chúa Trời, là bánh (Mat 4:4), và Chúa Giê-xu là Bánh Sự Sống [94] Nhưng tiếc thay, họ đã xoay bỏ khỏi Chúa và ăn tại c ác bàn thờ của người ngoại đạo, và Đức Chúa Trời đã phải trừng-phạt họ.
Phao-lô đã so sánh Hội thánh với một ổ bánh không men (Công 5:1-8; Công 10:16-17), và nhiệm-vụ của chúng ta là phải rao ra Lời Chúa và cho các tội-nhân biết về Chúa Giê-xu Christ, là Bánh Sự Sống. Vì 12 ổ bánh được xem như của lễ chay nên trong bột bánh phải không có men (Lê 2:1-11), và dân-sự của Đức Chúa Trời phải giữ mình khỏi mọi sự bất-khiết. Chúng ta không hiện diện trên thế-gian này để nuôi-dưỡng chính chúng ta, nhưng cho một thế giới đang đói khát.
Những ổ bánh mang ý nghĩa rất đặc biệt và không thể được ăn một cách khinh suất, ngay cả bởi các thầy tế-lễ. Thầy tế-lễ nào đã bị ô uế lại ăn bánh hoặc bất cứ của tế-lễ nào thuộc về các thầy tế-lễ đều có thể bị chết (Lê 22:3-9).
7. Đức Chúa Trời hướng dẫn sự thờ-phượng và hầu-việc của chúng ta (Xu 24:9-18) (Xu 25:31-40; Xu 27:20-21; Xu 37:17-24; Lê 22:3-9)
Chân đèn được làm bằng vàng đánh giát nặng khoảng 75 cân vàng, nhưng chúng ta không biết về kích thước của nó. Không nghi ngờ gì đây là một tác-phẩm nghệ thuật rất đẹp có 6 nhánh được trang trí bởi những cái đài hình quả hạnh nhân cùng nụ và hoa. Sáu nhánh và thân đèn sẽ có các đèn được thắp dầu và được giữ cho cháy luôn luôn (Xu 27:20-21; Lê 24:1-4).
Vì không có cách nào để đưa ánh sáng tự nhiên từ bên ngoài vào nên chân đèn vàng là nguồn ánh sáng duy nhất trong nơi Thánh. Không có nó, các thầy tế-lễ không thể thực hiện được phần việc của mình. Đức Chúa Trời muốn chúng ta dành cho Ngài sự thờ-phượng khôn-ngoan, chớ không phải sự thờ-phượng thiếu hiểu biết (Gi 4:19-24; Công 17:22-31; Rô 1:18-25), và để làm điều đó, chúng ta cần ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng ta (Thi 119:105; Thi 130:1-8; Ch 6:23).
A-rôn và các con trai của ông phải thắp đèn mỗi khi họ dâng hương trên bàn thờ bằng vàng (Xu 20:7-8). Chúng ta sẽ thấy rằng mùi thơm của hương xông tượng trưng cho lời cầu-nguyện dâng lên Đức Chúa Trời, và Lời Chúa phải đi cùng với sự cầu-nguyện (Công 6:4). Sự cầu-nguyện được soi sáng bởi Lời Chúa (Gi 15:7), và Lời Chúa được mở ra cho chúng ta khi chúng ta cầu-nguyện (Thi 119:18; Êph 1:15-23). Việc nghiên-cứu Lời Chúa và cả sự thực hành cầu-nguyện phải được thêm sức bởi Đức Thánh Linh, Đấng được tượng-trưng bởi dầu (chơn đèn, Xa 4:1-7) và lửa (bàn thờ, Công 2:3-4).
Nhưng chân đèn cũng làm chúng ta nhớ đến dân Y-sơ-ra-ên, được Đức Chúa Trời chọn để làm “sự sáng cho dân ngoại” (Ês 42:6; Ês 49:6).Tuy nhiên, chân đèn không được đặt ở sân ngoài đền tạm nơi mà mọi người có thể thấy nó, nhưng trong nơi Thánh mà chỉ Đức Chúa Trời và các thầy tế-lễ mới có thể nhìn thấy. Vậy làm thế nào nó lại tượng-trưng cho lời-chứng của Y-sơ-ra-ên trước dân ngoại?
Mối tương giao của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời qua của lễ và sự thờ-phượng sẽ quyết định cho sức mạnh và mức-độ làm-chứng của họ. Chính khi họ xoay bỏ việc thờ-phượng Đức Chúa Trời chân-thật và hằng sống, bắt đầu thờ lạy hình-tượng thì họ đã không thể làm-chứng trước các dân ngoại.
Chúa Giê-xu Christ cũng đã đến để làm “sự sáng cho dân ngoại” (Lu 1:79; Gi 8:12), và sự sáng đó đã lan tỏa ra qua lời chứng của Hội thánh (Công 13:47-48; Phi 2:14-16; Mat 5:14-16). Trong (Kh 1:9-20), Chúa chúng ta đứng giữa 7 chơn đèn tượng-trưng cho 7 Hội thánh của A-si Miệc-nơ (vùng Tiểu Á) trong thời của Giăng. Trong đền tạm, có một chơn đèn được đánh giát bởi một ta lâng vàng, tượng-trưng cho một dân-tộc Y-sơ-ra-ên và sự làm-chứng của họ. Dù Hội thánh là một dân nhưng nó đã chiếu ra sự sáng qua nhiều buổi nhóm họp đặc biệt tại nhiều nơi trên thế giới.
Ánh sáng ở 7 ngọn đèn trên chân đèn được châm bởi dầu đã được chuẩn bị riêng cho mục-đích đó (Xu 27:20-21). Dân-sự đã đem đến bột mịn để làm những ổ bánh và họ cũng đã đem đến dầu tinh-khiết để dùng cho việc thắp đèn trên chơn đèn (Xu 25:27-28; Xu 35:10, 14). Trong (Xa 4:1-4) cho chúng ta biết rằng dầu này tượng-trưng cho Thánh Linh Đức Chúa Trời, nếu không bởi quyền-năng của Ngài, chúng ta không thể làm vinh-hiển Đấng Christ (Gi 16:14), hoặc làm-chứng về Ngài một cách hiệu quả (Công 1:8). Chúa Giê-xu đã phán: “ngoài ta, các ngươi không thể làm chi được” (Gi 15:51 NKJV).
Những gì được các thầy tế-lễ làm trong nơi Thánh là được thực hiện cho Chúa (Xu 28:1,3,4,41; Xu 29:1) và trước mặt Chúa (Xu 27:21; Xu 40:25; Lê 24:4). Việc dân sự ở trong trại quân không được biết về những việc làm của các thầy tế-lễ không quan-trọng vì Đức Chúa Trời đã nhìn thấy tất cả, và nhiệm-vụ của họ là làm đẹp lòng Ngài.
Phần quan trọng nhất trong đời sống của một Cơ-đốc nhân chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể nhìn thấy. Nếu Đức Chúa Trời đẹp lòng bởi điều Ngài nhìn thấy, và lương tâm chúng ta thanh-sạch trước mặt Ngài, vậy chúng ta không cần phải lo-lắng về những điều người khác nghĩ hay nói về chúng ta (ICôr 4:1-5). Ngài sẽ chấp nhận chức-vụ của chúng ta và chúc phước cho chức vụ ấy.
Chúng ta có 3 vật dụng nữa trong đền tạm để nghiên-cứu: bàn thờ xông hương, chậu rửa và bàn thờ bằng đồng. Sau đó chúng ta cần nhìn qua cấu trúc của đền tạm, khung, những tấm che và những bức màn trong đền. Khi nghiên-cứu, chúng ta sẽ tiếp tục nhấn-mạnh về Đức Chúa Trời của đền tạm và việc Ngài làm cho dân-sự của Ngài.
1. Đức Chúa Trời nghe lời cầu-nguyện của dân-sự Ngài (Xu 26 :1-37) (Xu 30:1-20, 34-38; Xu 37:25-29)
Bàn thờ xông hương được làm bằng gỗ si-tim bọc vàng ròng, có diện tích một bộ rưỡi, cao 3 bộ. Đó là vật dụng cao nhất trong nơi Thánh. Nó có một đường viền (“vương miện”) trang trí bằng vàng xung quanh bề mặt và “những chiếc sừng” bằng vàng tại mỗi góc. Bàn thờ được đặt trước bức màn phân cách nơi chí thánh với nơi thánh, và thầy tế-lễ xông hương trên đó mỗi buổi sáng và chiều tối khi ông thắp đèn.
Trong Kinh-Thánh, xông hương thư ờng là hình ảnh về sự cầu-nguyện. Đa-vít đã cầu-nguyện: “Nguyện lời cầu-nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa như hương” (Thi 141:2), và Giăng đã nhìn thấy các trưởng-lão trên trời với “những bình vàng đầy hương, đó là những lời cầu-nguyện của các thánh” (Kh 5:8; Kh 8:3-4) [95] Mỗi khi thầy tế-lễ xông hương thì đó là lúc dân-sự được triệu tập lại để dành thời gian cầu-nguyện (Lu 1:8-10).
Lửa để xông hương được lấy từ bàn thờ bằng đồng là nơi các của lễ được dâng lên cho Đức Chúa Trời (Lê 16:12-13; Dân 16:46). Điều này gợi ý rằng lời cầu-nguyện chân-thành phải căn-cứ vào công tác của Đấng Christ trên thập-tự giá và sự dâng hiến trọn-vẹn của chúng ta cho Đức Chúa Trời.
Sự nhiệt thành chân-thật trong lời cầu-nguyện không phải là một cảm-xúc tôn-giáo do chúng ta tự tạo nên; mà đúng hơn, đây là một phước hạnh Đức Chúa Trời ban-cho chúng ta khi chúng ta dâng mình cho Ngài. John Bunyan, tác-giả của quyển “Hành Trình Của Người Hành Hương” (The Pilgrim’s Progress) đã phát biểu: “Trong sự cầu-nguyện, việc có một tấm-lòng không nói thành lời vẫn tốt hơn những lời nói không có tấm-lòng.” Sự cầu-nguyện qua loa không phải là một sự cầu-nguyện hữu hiệu (Gia 5:16).
Để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và thoát khỏi hiểm họa của sự chết, thầy tế-lễ phải sử dụng không chỉ đúng loại lửa trên bàn thờ mà hỗn hợp các hương liệu của hương xông cũng phải như đã được chỉ định (Xu 30:34-38). Na-đáp và A-bi-hu đã tìm cách thờ-phượng Đức Chúa Trời bằng “lửa lạ” và đã bị giết chết (Lê 10:1-20). Bất cứ người Y-sơ-ra-ên nào tìm cách bắt chước loại hương đặc biệt này để dùng riêng cho mình thì sẽ bị trừ bỏ, nghĩa là bị giết chết.
Sự cầu-nguyện không chỉ đơn giản là một mớ lời lẽ lộn xộn của chúng ta với hy-vọng Đức Chúa Trời sẽ nghe và đáp lời cho chúng ta. Kinh-Thánh kể ra một số “thành phần” của sự cầu-nguyện – sự tôn-kính, sự xưng nhận, sự tạ ơn, sự nài xin, sự đầu-phục (ITim 2:1; Phi 4:6), và thậm chí còn đưa ra cho chúng ta một bài cầu-nguyện mẫu để làm theo (Mat 6:5-15) [96]
Bạn nên biết rõ rằng thầy tế-lễ không thể vội vã bước vào đền tạm, nhanh chóng đốt hương, và sau đó lại vội vã bước ra ngoài. Không, ông cần phải dọn mình và cung kính đến gần bàn thờ, ý thức được rằng ông đang ở trong sự hiện diện của một Đức Chúa Trời thánh-khiết.
Vì công tác mà Đấng Christ đã thực hiện trên thập-tự giá nên các tín-hữu ngày nay có thể bước qua bức màn để bước vào trong sự hiện diện của chính Đức Chúa Trời, và ở nơi đó, bày-tỏ sự thờ-phượng và nài xin trong danh Chúa Giê-xu (Hêb 10:19-25). Chúa Giê-xu Christ, Thầy Tế-Lễ - Nhà Vua Hằng-Sống và vẫn đang trị vì của chúng ta đang ngày đêm cầu-thay cho chúng ta ở trên trời (Rô 8:33-34; Hêb 4:14-16; Hêb 7:19-28), và Thánh Linh cũng đang cầu thay trong lòng của chúng ta (Rô 8:26-27).
Sẽ rất ích lợi khi chúng ta khởi đầu và kết thúc ngày bằng sự cầu-nguyện đặc biệt, như các thầy tế-lễ đã làm, và cũng sẽ rất ích lợi để “cầu-nguyện không thôi” (ITês 5:17) và ở trong sự giao-thông với Chúa suốt cả ngày.
Các thầy tế-lễ đã được cảnh báo không được sử dụng bàn thờ bằng vàng cho bất cứ việc nào khác ngoài việc xông hương (Xu 30:9), vì không sự gì có thể thay thế được cho sự cầu-nguyện. Không một lượng tế-lễ nào có thể thay thế được cho lời cầu-nguyện chân thành. Bàn thờ bằng vàng không phải là nơi để thực hiện những sự mặc cả với Đức Chúa Trời hay tìm cách làm thay đổi ý muốn của Ngài (Gia 4:1-4; IGi 5:14-15).
Đó là một nơi để tôn-thờ Ngài và cầu-nguyện để “ý Ngài sẽ được nên”.
Cũng cần phải lưu ý rằng hương đặc biệt phải được “ướp muối” (Xu 30:5 NIV), vì muối là một biểu-tượng của sự tinh-khiết và của mối liên-hệ giao-ước (Lê 2:13). “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi” (Thi 66:18 NKJV). Chúng ta được truyền lệnh phải giơ “tay thánh” lên khi cầu-nguyện, và phải cất bỏ “sự giận dữ và cãi cọ” ra khỏi lòng mình (ITim 2:8 NIV). Nếu Đức Chúa Trời giết đi mọi tín-hữu ngày nay là những người không cầu-nguyện như Ngài đã hạ-lệnh thì bao nhiêu người trong số chúng ta sẽ sống sót qua một buổi cầu-nguyện? [97]
Một lần trong năm, vào ngày lễ chuộc tội, thầy tế-lễ phải bôi huyết vào bàn thờ xông hương để làm sạch bàn thờ theo nghi thức trước mặt Đức Chúa Trời (Xu 30:10). Ngay cả trong khi cầu-nguyện chúng ta vẫn có thể phạm tội.
2. Đức Chúa Trời nhận của lễ của dân-s ự Ngài (Xu 26: 1-37) (Xu 27:1-8; Xu 38:1-7)
Khi một người thờ-phượng đến đền tạm để dâng của lễ, vật đầu tiên người ấy gặp là một hàng rào bằng vải gai trắng, dài 150 bộ và rộng 75 bộ, bao quanh đền tạm và tạo thành một khu vực nơi các thầy tế-lễ thi hành chức-vụ. Đền tạm nằm ở đầu phía tây của khu vực này, và ở phía đông là một lối vào dài 30 bộ dẫn đến khu vực được rào lại.
Tại đây các thầy tế-lễ gặp những người đến dâng của lễ và khám-xét từng con vật thật kỹ càng để biết chắc là nó được chấp nhận. Người đến thờ-phượng sẽ đặt tay trên đầu con vật để nó sẽ được nhậm thế cho người ấy (Lê 1:1-9), sau đó thầy tế-lễ sẽ giết con vật và dâng nó lên trên bàn thờ bằng đồng theo những luật lệ đã được quy định trong (Lê 1:1-7:28) [98]
Chỉ có một lối để vào khu vực sân Đền Tạm và do đó chỉ có một cách để đến bàn thờ của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời dựng lên một hàng rào và chỉ định con đường để đi vào thì không ai có quyền được thắc mắc hay thay đổi nó. Chúa Giê-xu đã tuyên bố Ngài là cái cửa duy nhất (Gi 10:9) và là con đường duy nhất để đến với Đức Chúa Trời (Gi 14:6), điều này giải thích lý-do Phi-e-rơ đã nói rằng: “Chẳng có sự cứu-rỗi trong Đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công 4:12).
Trong xã hội đa nguyên ngày nay, nhiều người thích nghĩ rằng mọi con đường đều được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời nhưng thái-độ đó sẽ dẫn đến sự chết (Ch 14:12; Ch 16:25; Mat 7:13-27).
Bàn thờ bằng đồng là một “cái hộp” rỗng, rộng 7 bộ rưỡi và cao 4 bộ rưỡi, làm bằng gỗ si-tim được bao phủ bằng đồng thiếc. Trong Kinh-Thánh, đồng thường được xem như là sự đoán-xét (Dân 21:4-9; Phuc 28:23; Kh 1:15). Từ mặt bàn thờ cao lên 2 bộ rưỡi, bên trong “cái hộp” là một lưới bằng đồng mà trên đó các thầy tế-lễ sẽ giữ cho lửa luôn cháy (Lê 6:8-13), tro củi và tro của lễ thiêu cũng sẽ rớt xuống qua lưới này.
Vì là một phần của những của lễ được dâng lên cho Đức Chúa Trời, tro này được xem là tinh sạch về mặt nghi lễ và được thu dọn ở hướng đông của bàn thờ. Thông thường các thầy tế-lễ sẽ mang tro này ra ngoài trại quân đến một nơi sạch sẽ (Lê 1:16; Lê 4:12; Lê 6:10-11).
Không giống như bàn thờ xông hương bằng vàng trong nơi Thánh, bàn thờ bằng đồng là một nơi của sự đổ huyết và sự chết, vì “không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hêb 9:22). Nếu một tội-nhân tìm cách vào được bên trong đền tạm và rửa trong chậu rửa thì việc đó cũng sẽ không cứu được người ấy, anh ta cũng sẽ không được tha-thứ nếu đi vào nơi Thánh và ăn bánh hoặc xông hương.
Con đường để vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời khởi đầu tại bàn thờ bằng đồng nơi những con sinh tế vô tội chết thay cho tội-nhân.
Nói tóm lại, bàn thờ bằng đồng sẽ đưa chúng ta đến thẳng đồi Gô-gô-tha nơi Con Đức Chúa Trời chết thay cho tội-lỗi của thế-gian (Mat 26:26-28; Gi 1:29; Gi 3:14-16; Rô 5:8; IPhi 2:24).
Mỗi buổi sáng, các thầy tế-lễ phải dâng một của lễ thiêu trên bàn thờ bằng đồng (Xu 29:42-43), đây là hình bóng về sự dâng hiến trọn-vẹn cho Chúa (Lê 1:1-17). Sẽ là một việc làm ích lợi cho mỗi con cái Đức Chúa Trời bắt đầu một ngày bằng cách dâng chính mình lên cho Đức Chúa Trời như những “của lễ sống” (Rô 12:1-2).
Những người dạy đạo và giảng Phúc-Âm đôi khi mời người khác vào giáo đoàn của họ để “đến trước bàn thờ”, nhưng không có bàn thờ trên đất nào được Đức Chúa Trời chỉ định hay được Ngài chấp nhận. Tại sao? Vì sự chết của Chúa Giê-xu Christ đã giải quyết vấn-đề tội-lỗi một lần đủ cả (Hêb 9:25-28), không có của lễ nào khác có thể hay phải được dâng l ên nữa. Bữa ăn tối của Chúa (Tiệc Thánh) là một sự nhắc nhở về sự hy-sinh của Ngài chớ không phải là một sự lặp lại về sự hy-sinh của Ngài.
“Bàn thờ” duy nhất mà tín hữu có được hôm nay chính là Chúa Giê-xu Christ, Đấng đã mang trên thân thể vinh-hiển của Ngài những vết thương của thập-tự giá (Hêb 13:10; Lu 24:39; Gi 20:20). Với tư cách là một chức tế-lễ thánh, các tín-hữu phải “dâng của tế-lễ thiêng-liêng được Đức Chúa Trời chấp nhận nhờ Chúa Giê-xu Christ” (IPhi 2:5 NKJV). Chúng ta dâng lên cho Ngài thân thể (Rô 12:1-2), của cải vật chất (Phi 4:18), sự ngợi khen và những việc lành (Hêb 13:15-16), cùng với tấm-lòng tan vỡ của chúng ta (Thi 51:17).
3. Đức Chúa Trời muốn dân-sự Ngài phải tinh sạch (Xu 26 :1-37) (Xu 30:17-21; Xu 38:8).
Trong sân đền tạm, chậu rửa được đặt giữa bàn thờ bằng đồng và chiếc lều, các thầy tế-lễ và người Lê-vi phải dừng lại đó luôn luôn để rửa tay chân. Nếu họ vào trong lều hay hầu-việc tại bàn thờ bằng đồng mà không tự tẩy rửa trước thì có thể bị giết chết.
Chúa không định rõ kích thước hay hình dạng của chậu rửa, những lời chỉ dẫn cũng không nói gì về cách nó được mang đi khi dân Y-sơ-ra-ên chuyển đến một nơi ở mới. Kích thước và hình dạng của chậu rửa không quan trọng nhưng chất được chứa đựng bên trong mới thật sự quan-trọng. Chậu rửa chứa nước sạch, và nước này được những người Lê-vi làm đầy trong suốt cả ngày.
Trong Kinh-Thánh, nước dùng để uống là một hình ảnh về Thánh Linh của Đức Chúa Trời (Gi 7:37-39), còn nước để rửa liên-hệ đến Lời Đức Chúa Trời (Thi 119:9; Gi 15:3; Êph 5:25-27). Do vậy, chậu rửa tiêu-biểu cho Lời Đức Chúa Trời làm thanh tẩy tâm-trí và tấm-lòng của những ai tiếp nhận và làm theo Lời ấy (Gi 17:17). Việc chậu rửa được làm từ những tấm gương bằng đồng của các phụ nữ Do-thái (Xu 38:8) càng cho thấy nó là hình ảnh của Lời Đức Chúa Trời, vì Lời Đức Chúa Trời được ví sánh như một chiếc gương soi (Gia 1:22-26; IICôr 3:18).
Dưới cơ cấu tổ chức trong thời Cựu-Ước, có 3 cách để đạt đến sự tinh-sạch về mặt nghi lễ: bằng nước, bằng lửa, và bằng huyết. Chúng ta đã được thanh tẩy khỏi tội lỗi bởi huyết của Chúa Giê-xu Christ đổ ra vì chúng ta trên thập-tự giá, và khi chúng ta xưng nhận tội-lỗi mình thì huyết ấy sẽ tẩy sạch chúng ta (IGi 1:5-2:2). Nhưng khi chúng ta bất-tuân Đức Chúa Trời, lòng và trí chúng ta bị ô uế bởi tội-lỗi (Thi 51:1-19) và chính “sự tẩy rửa của Lời Chúa” (Êph 5:26) đã giúp chúng ta được phục-hồi.
Nhưng các thầy tế-lễ thời Cựu-Ước đã trở nên ô uế, không phải bởi phạm-tội với Đức Chúa Trời nhưng bởi sự hầu việc Đức Chúa Trời! Bàn chân của họ trở nên dơ bẩn khi họ bước đi trong sân và trong đền tạm (trong đền tạm không có sàn lát) và tay họ bị ô uế khi họ cầm những con sinh tế và rảy huyết. Do đó, tay và chân họ cần được tẩy rửa luôn luôn và việc này sẽ được thực hiện tại chậu rửa.
Khi Chúa chúng ta ở với các môn-đồ Ngài trong Phòng cao, Ngài đã dạy cho họ bài học tương tự qua việc rửa chân cho họ (Gi 13:1-15) [99] Khi chúng ta tin Đấng Christ cứu chuộc mình, chúng ta “được sạch cả” (c.10; ICôr 6:9-11) và không cần phải tắm rửa nữa, nhưng khi chúng ta tiếp tục bước đi trong cuộc sống, bàn chân chúng ta trở nên dơ bẩn và chúng ta cần phải được tẩy sạch.
Nếu chúng ta không được thanh tẩy thì chúng ta không thể có được mối thông-công với Chúa (Gi 13:8), và nếu chúng ta ở ngoài mối thông-công với Chúa, chúng ta không thể hưởng được tình yêu của Ngài hay làm theo ý muốn của Ngài. Khi chúng ta xưng nhận tội-lỗi mình, Ngài tẩy sạch chúng ta, và khi chúng ta suy gẫm về Lời Chúa, Thánh Linh Ngài sẽ đổi mới và phục-hồi cho chúng ta.
Có 2 lần Đa-vít đã cầu-nguyện: “Xin hãy rửa sạch tôi” (Thi 51:2, 7) và Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu-nguyện ấy (IISa 12:13). Nhưng Ê-sai đã bảo những tội-nhân trong thời của ông: “Các ngươi hãy rửa và làm cho mình sạch” (Ês 1:16 NIV), điều này gợi ý rằng chúng ta cần thanh tẩy chính đời sống mình và cất bỏ những điều đã làm ô uế chúng ta.
Phao-lô đã nghĩ đến điều này khi ông viết rằng: “Chúng ta hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần-linh, làm trọn-việc nên thánh trong sự kính-sợ Đức Chúa Trời” (IICôr 7:1).
Đối với các thầy tế-lễ, việc rửa trong chậu không phải là một sự xa xỉ, đó là một sự cần thiết. Giữ cho chính họ được tinh sạch là một vấn-đề có liên-quan đến sự sống và cái chết!
4. Đức Chúa Trời muốn dân-sự Ngài cảm kích và vui hưởng những phước hạnh của Ngài (Xu 26 :1-37) (Xu 27:9-19; Xu 36:8-38; Xu 38:9-20).
Tác giả Thi-thiên đã viết: “Sự tôn-vinh và sự oai nghi ở trước mặt Ngài, sự năng lực và sự hoa mỹ ở nơi thánh Ngài” (Thi 96:6). Năng lực trong nơi thánh của Ngài được bày-tỏ qua chính công trình kiến trúc của nó và sự hoa mỹ được bày qua sự trang trí của nó.
•Năng lực.
Đền tạm đúng nghĩa là một cấu trúc vững chắc và được treo lên đó những bức màn xinh đẹp. Hai mươi tấm ván gỗ si-tim cao 15 bộ và rộng 27 inch được bọc vàng, tạo nên những bức tường ở phía Bắc và phía Nam, và 8 tấm gỗ tương tự tạo nên bức tường ở phía Tây. Mỗi tấm ván được dựng trên chân đế bằng bạc được làm từ những đồng siếc-lơ bạc (“tiền chuộc”) thu góp từ những người nam Do-thái ở trong độ tuổi phải gia nhập quân đội.
Vì kiến trúc này nằm trên vùng đất gồ ghề nên phải cần đến những chân đế để được vững chắc và an-toàn. Nơi Thánh của Đức Chúa Trời không nằm trên mặt cát hay di dời của thế-gian này nhưng trên nền móng vững chắc của sự cứu chuộc. 48 tấm ván được làm cho vững thêm bằng 4 cây đòn dài (xà ngang) xuyên qua những khoen vàng trên mỗi tấm ván.
Ở đầu phía Đông của đền tạm sừng sững 5 cột trụ, trên đó có treo một tấm ván bằng vải gai được thêu một cách tinh xảo bằng các loại chỉ xanh, tím và đỏ điều. Đây là cửa đi vào trong Nơi Thánh. Một số nhà nghiên-cứu tin rằng có một cây đòn đâm thẳng qua những tấm ván của tường thành ở phía Bắc và phía Nam, nối liền với những cây trụ và gia cố thêm sự bền chắc cho khung đền.
• Sự hoa mỹ.
Vàng, xanh, tím, đỏ và trắng là những màu sắc chính được sử dụng trên những tấm treo và tấm che của đền tạm [100] Hàng rào vải gai bao quanh khu vực thiêng liêng màu trắng, nhắc nhở chúng ta về sự thánh-khiết của Đức Chúa Trời. Cửa trại 30 bộ ở phía Đông đền tạm được thêu bằng chỉ xanh, tím và đỏ tương phản với nền trắng. Màu xanh là màu của bầu trời, nên nó nhắc chúng ta nhớ đến từng trời và Chúa của từng trời. Màu tím là màu hoàng gia chỉ về Vua, và màu đỏ điều khiến chúng ta nghĩ đến huyết và sự hy-sinh của Chúa Cứu Thế.
Nơi Thánh và nơi Chí Thánh được che bởi 4 tấm phủ khác nhau (các tấm màn) được treo trên tường và thòng xuống đến đất. Nếu nhìn vào đền tạm sẽ thấy tấm che ngoài cũng bằng da làm từ da con lửng (“bò biển”, NIV) để bảo vệ những tấm che khác cũng như bảo vệ cho đền tạm và những vật dụng trong đó. Dưới tấm che bảo vệ đó là một bức màn bằng da chiên đực nhuộm đỏ, kế đó là một bức màn được dệt từ lông dê, có thể là màu đen, và sau hết là một tấm màn xinh đẹp bằng vải gai mịn được thêu với hình chê-ru-bin màu xanh, tím và đỏ.
Giữa Nơi Thánh và nơi Chí Thánh, bức màn được treo trên những móc vàng, và được chống đỡ bởi 4 cây trụ. Trên bức màn có thêu hình chê-ru-bin màu trắng, đỏ, xanh và tím. (Hêb 10:20) cho biết rằng bức màn này là hình ảnh tiêu biểu cho thân thể của Chúa Giê-xu Christ, vì khi thân thể Ngài được dâng lên trên thập-tự giá thì bức màn trong đền thờ bị xé rách từ trên chí dưới (Mac 15:38).
Một số nhà nghiên-cứu nhìn thấy một sự tương đồng giữa 4 sách Phúc-Âm và 4 cây trụ chống đỡ bức màn có 4 màu. Màu tím nói về địa-vị nhà vua.
Phúc-âm Ma-thi-ơ, Phúc-Âm về Vua. Màu đỏ điều nhắc chúng ta về sự hy sinh, Phúc-âm Mác, Phúc-Âm về Người Đầy tớ Chịu khổ. Màu trắng nói về Con Người trọn vẹn, Phúc-âm Lu-ca, và màu xanh chỉ về trời, Phúc-Âm Giăng, Phúc-Âm về Con Đức Chúa Trời đến từ trời để chết thay cho tội-lỗi của chúng ta.
•Sự cảm kích.
Dù đền tạm có vẻ bình thường đối với người bên ngoài, nhưng mọi thứ bên trong Nơi Thánh đều đắt giá và xinh đẹp, và mọi thứ đều nói về Chúa Cứu Thế là Đấng mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ rao ra cho thế giới.
Những tín-hữu tin-kính trong thời Cựu-Ước đã nhận biết những của báu mà họ có được trong nhà của Đức Chúa Trời. Hãy lắng nghe lời chứng của Đa-vít:
“Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, và cầu hỏi trong đền của Ngài” (Thi 27:4)
“Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi yêu nơi ở của nhà Ngài và nơi sự vinh-hiển Ngài ngự vào” (Thi 26:8 NKJV)
“Chúng tôi sẽ được thỏa mãn với sự tốt lành của nhà Chúa, của đền thánh Ngài” (Thi 65:4 NKJV)
Và con cháu của Rô-rê đã viết:
“Hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân, đền tạm Ngài đáng yêu thay! Linh hồn tôi mong ước, vâng, thậm chí mòn mỏi về hành lang của Đức Giê-hô-va. Lòng và thịt tôi kêu la về Đức Chúa Trời hằng sống. Phước cho người nào ở trong nhà Chúa; họ sẽ vẫn ngợi khen Ngài” (Thi 84:1-2, 4 NKJV).
Những điều các tín đồ thời Cựu-Ước có được trong đền tạm, và sau đó là trong đền thờ, thì dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay có được trong Chúa Giê-xu Christ. Những vật dụng và lễ nghi chỉ về Đấng Christ và bày tỏ nhiều khía cạnh vinh-hiển trong bản-tính của Ngài cùng sự cứu-rỗi Ngài đã ban cho tất cả những ai tin nhận Ngài. Mọi nhu-cầu thuộc-linh của dân Do-thái được đáp ứng qua những sự chu-cấp về đền tạm, và trong Chúa Giê-xu Christ chúng ta có được mọi sự chúng ta cần cho “sự sống và sự tin-kính” (IIPhi 1:3).
Để có được một đời sống Cơ-đốc mà phải bổ sung bất cứ điều gì về con người và công tác của Chúa Giê-xu Christ như đã được bày-tỏ trong Kinh-Thánh thì không phải là lối tiếp cận đúng. Mọi sự đầy-dẫy đều ở trong Đấng Christ (Côl 1:19) cũng như mọi sự đầy-dẫy của Đức Chúa Trời đều ở trong Ngài (Côl 2:9). Trong Đấng Christ “giấu kín mọi của báu về sự khôn-ngoan và tri thức” (c.3) và chúng ta phải “tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời” (Côl 3:1). Trong Đấng Christ, dân-sự Đức Chúa Trời có mọi ơn phước thuộc-linh (Êph 1:3) và Ngài là tất cả những gì họ cần đến.
Đối với những tín-đồ yêu mến Đức Chúa Trời và muốn làm đẹp lòng Ngài, Nơi Thánh là nguồn thức ăn và thức uống cho linh-hồn họ. “Người cao trọng lẫn người thấp hèn giữa vòng loài người tìm thấy nơi ẩn náu dưới bóng cánh của Chúa (Nơi Chí Thánh). Họ sống nhờ sự dư dật của nhà Chúa” (Thi 36:7-8).
Cũng vậy, tín-đồ ngày nay sống nhờ cậy vào Chúa Giê-xu Christ và tìm thấy nơi Ngài mọi sự thỏa lòng.
Ước muốn của Đức Chúa Trời là dân-tộc Y-sơ-ra-ên làm một “nước thầy tế-lễ” (Xu 19:6) trên thế giới, bày tỏ vinh hiển Ngài và chia sẻ những phước hạnh của Ngài cho những dân tộc vô thần quanh họ. Nhưng để bày-tỏ một Đức Chúa Trời thánh khiết, Y-sơ-ra-ên phải là một dân thánh, và đó là nơi chức tế-l ễ dòng A-rôn bước vào. Nhiệm-vụ của các thầy tế-lễ (gia đình A-rôn), và người Lê-vi (gia đình Kê-hát, Ghẹt-sôn, Mê-ra-ri, Dân 3:1-4:49) là hầu-việc trong Đền Tạm và đại diện cho dân-sự trước mặt Đức Chúa Trời. Các thầy tế-lễ cũng phải đại diện Đức Chúa Trời trước dân-sự bằng cách dạy họ Luật-pháp và giúp họ vâng lời (Lê 10:8-11; Phuc 33:10; Ma 2:7).
Nhưng Y-sơ-ra-ên đã không sống như một nước thầy tế-lễ. Ngược lại, sự lãnh đạo thuộc-linh trong dân tộc dần dần sa sút cho đến khi các thầy tế-lễ thật sự cho phép dân-sự thờ-phượng những hình tượng trong đền thờ của Đức Chúa Trời! (Êxe 8:1-18). Chúa đã phạt dân-sự Ngài bằng cách để cho dân Ba-by-lôn hủy phá Giê-ru-sa-lem cùng đền thờ và đem lưu-đày hàng ngàn dân Do-thái. Tại sao sự việc này đã xảy ra? “Nhưng việc ấy đã xảy ra vì cớ tội-lỗi của các tiên-tri nó, và sự gian ác của các thầy tế-lễ nó” (Ca 4:13 NIV).
Ngày nay, Đức Chúa Trời muốn Hội thánh Ngài thi hành chức vụ giữa thế-gian như một “chức tế-lễ thánh” và một “chức tế-lễ nhà vua” (IPhi 2:5, 9) [101] Nếu dân-sự Đức Chúa Trời trung-tín trong chức-vụ tế-lễ của mình, họ sẽ “rao những sự ngợi-khen về Đấng đã gọi (họ) ra khỏi nơi tối tăm vào nơi ánh sáng kỳ diệu của Ngài” (IPhi 3:9 NKJV) khi nghiên-cứu về chức tế-lễ thời Cựu-Ước, bạn sẽ thấy được những sự tương đồng đầy ý nghĩa giữa công việc của các thầy tế-lễ Do-thái trong quá khứ và chức-vụ về “chức tế-lễ thánh” trong Hội thánh ngày nay [102]
1. Các thầy tế-lễ được chọn để hầu-việc Đức Chúa Trời (Xu 28:1-43) (Xu 28 :1, 3, 41; Xu 29:1, 44)
Lời của Chúa: “làm chức tế-lễ trước mặt ta” được tìm thấy 5 lần trong hai chương này, và trong (Xu 30:30; Xu 40:13, 15; Lê 7:35). Chắc chắn các thầy tế-lễ thi hành chức-vụ trước dân-sự, nhưng bổn-phận trước tiên của họ là phải thi hành chức-vụ trước mặt Chúa, và làm đẹp lòng Ngài. Nếu họ quên bổn-phận của mình trước mặt Chúa, chẳng bao lâu họ sẽ bắt đầu đánh giá thấp những trách-nhiệm của mình trước dân-sự, và dân-tộc sẽ bị sa sút về mặt thuộc-linh (Ma 1:6-2:9).
Việc Đức Chúa Trời chọn A-rôn và các con trai người làm chức tế-lễ là một hành động của ân-điển tối cao, vì họ chắc chắn đã không giành được vị trí này hay xứng đáng được đứng trong vị trí này. Nhưng việc Đức Chúa Trời cứu những tội-nhân như chúng ta, khiến chúng ta trở nên con cái Ngài và rèn luyện chúng ta trong một “chức tế-lễ thánh” cũng là một hành động của ân điển Ngài, và chúng ta đừng bao giờ đánh mất sự kỳ diệu về đặc quyền thuộc-linh này.
“Các ngươi đã không chọn Ta, nhưng Ta đã chọn các ngươi” (Gi 15:16 NKJV)
Đáng tiếc rằng Na-đáp và A-bi-hu đã bất-tuân Chúa và bị giết chết (Lê 10:1-20). Khi A-rôn chết, Ê-lê-a-sa trở thành người kế nghiệp ông (Dân 20:22-29), và con cháu Y-tha-ma đã tiếp nối trong chức-vụ tế-lễ thậm chí sau thời kỳ giam cầm (Exo 8:1-2).
Dân-sự Đức Chúa Trời ngày nay phải nhớ rằng bổn-phận đầu tiên của chúng ta là làm đẹp lòng Chúa và hầu-việc Ngài. Nếu chúng ta làm điều này thì Ngài sẽ làm việc trong chúng ta và qua chúng ta để thực hiện công việc của Ngài trong thế-gian này. Khi Chúa Giê-xu phục-hồi chức-phận môn-đồ của Phi-e-rơ, Ngài đã không hỏi: “Ngươi có yêu chức-vụ không?”, hay thậm chí “Ngươi có yêu người khác không?”. Câu hỏi được lặp đi lặp lại của Ngài là “Ngươi yêu ta chăng?” (Gi 21:17). Giống như bổn-phận quan-trọng nhất của một người cha là yêu người mẹ của con cái mình, thì bổn-phận quan-trọng nhất (và đặc quyền) của tôi-tớ là yêu Chúa. Mọi chức-vụ đều bắt nguồn từ mối liên-hệ đó.
Một phần trong việc làm hài lòng Chúa là mặc áo tế-lễ. Các thầy tế-lễ cả, thầy tế-lễ và người Lê-vi không thể ăn mặc theo ý họ khi họ hầu-việc tại đền tạm; họ phải mặc quần áo Đức Chúa Trời đã ấn định cho họ. Đức Chúa Trời đã cung cấp những quần áo này vì ít nhất là 3 lý do sau đây: (1). Chúng đem đến cho những thầy tế-lễ “phẩm giá và sự tôn-trọng” (Xu 28:2 NIV), và biệt riêng họ, giống như một bộ đồng phục sẽ xác định một người lính hay một y tá; (2). Chúng bày-tỏ những lẽ thật thuộc-linh có liên-quan đến chức-vụ của họ và chức-vụ của chúng ta ngày nay; và (3). Nếu các thầy tế-lễ không mặc quần áo đặc biệt, họ có thể chết (c.35, 43).
2. Các thầy tế-lễ được chọn để phục-vụ dân-sự (Xu 28:6-30)
Khi hầu-việc Đức Chúa Trời và dân-sự, thầy tế-lễ cả mặc 7 lớp áo xống: đồ lót (c.42-43), áo dài bên trong màu trắng (“áo choàng ngoài”, c.39 Xu 39:27; Lê 8:6-7) một áo dài màu xanh có những cái chuông và trái lựu trên đường viền (Xu 28:31-35; Xu 39:22-26); ê-phót, là một áo không tay có màu vàng, xanh, tím và đỏ, được kết lại bởi một cái móc nạm ngọc trên mỗi vai áo (Xu 28:6-8; Xu 39:1-5; Lê 8:7); dây thắt lưng ở chỗ eo (Xu 28:8); bảng che ngực nạm ngọc, được gắn trên ê-phót bởi những sợi dây chuyền bằng vàng gắn trên đai vai (c.9-30 Xu 39:8-21); và một cái mũ vải gai mọi màu trắng (“mũ tế-lễ”, Xu 28:39)với một cái thẻ vàng trên đó ghi “Thánh cho Đức Giê-hô-va” (c.36, NIV).