top of page

HungT
Apr 18, 2025
Ba Ngôi Thiên Chúa
Tác giả: Viện Thần-Học Việt-Nam
Lời Giới Thiệu
“Ba Ngôi Thiên Chúa” là tài-liệu học tập của Hiệp Hội Huấn-Luyện Giáo-sư Tin-Lành (Evangelical Teacher Training Association).
Tài-liệu nhằm giúp cho những người có trách-nhiệm lãnh-đạo trong Hội Thánh, cũng như cho các tín-hữu muốn tăng-trưởng vững vàng trong đức-tin biết được Đấng mình tin yêu và thờ-phượng.
Dù là tài-liệu Thần-học, nhưng soạn rất dễ hiểu, thích ứng cho đại đa số tín-hữu. Viện Thần-học mong tài-liệu này sẽ giúp ích được nhiều cho Hội Thánh và Tín-hữu.
Viện Thần-Học Việt-Nam.
Mục Lục
Chương 1: Bản Thể Thượng Đế.
Chương 2: Thượng Đế Vô Hạn.
Chương 3: Thượng Đế Thánh-Khiết, Chính-Trực Và Công-Bình.
Chương 4: Thượng Đế Chân-Thật, Thành-Tín Và Yêu-Thương.
Chương 5: Công Trình Của Thượng Đế.
Chương 6: Tiền Thân Và Sự Nhập-Thể Của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chương 7: Thần-Tính Của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chương 8: Sự Chết Hy-Sinh Của Chúa Cứu Thế.
Chương 9: Sự Phục-Sinh Của Chúa Cứu Thế.
Chương 10: Sự Tái-Lâm Và Ngự Trị Của Chúa Cứu Thế.
Chương 11: Ngôi Vị Và Quyền-Năng Của Đức Thánh Linh.
Chương 12: Đức Thánh Linh Và Người Tin.

Chương1: BẢN THỂ THƯỢNG ĐẾ
(The Nature of God)
Môn...
...học về Thượng Đế là một môn học vĩ đại nhất của con người. Đó là một đề-tài không bao giờ tát cạn nổi. Nguồn của mọi hiểu biết về Thượng Đế là chính Thượng Đế. Ngài tự-tỏ mình cho con người qua vũ trụ mà Ngài tạo dựng và qua Thánh Kinh do Ngài cảm-thúc.
Các nhà thần-học phân biệt thần-học tự nhiên (natural theology), những gì biết về Thượng Đế qua thiên nhiên, và thần-học mặc-khải (revealed theology), những gì biết về Thượng Đế qua Thánh Kinh.
Khi con người quan sát thế giới quanh mình, họ thấy có một số bằng-chứng về Thượng Đế. Đối với những người có mắt để nhìn, thì “các từng trời rao-truyền sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải-tỏ công việc của tay Ngài làm ” (Thi Tv 19:1). Thế giới bao la trong đó chúng ta đang sống đây cần có một Thượng Đế. Vì vậy Ngài phải hiện hữu. Giải thích cõi tạo vật không có Đấng Tạo Hóa cũng giống như liệng dây thừng vào khoảng không rồi leo lên, hay xây một ngôi tháp trên không khí vậy.
Nhưng hiểu biết về thiên nhiên hay thần-học tự nhiên có đủ giúp ta biết về Thượng Đế không? Hãy đọc RôRm 1:18-25. Đoạn này mô-tả hình ảnh dân ngoại biết về Thượng Đế qua thiên nhiên. Lời Phao-lô nói “Thế-gian bởi sự khôn-ngoan riêng chẳng biết Đức Chúa Trời” (ICôr1Cr 1:21) rất đúng với lịch-sử các hệ-thống tôn-giáo.
Không một tôn-giáo nào thể hiện được một quan niệm trọn vẹn về Thượng Đế, dầu nhiều tôn-giáo có những ý niệm rất đặc sắc về Ngài. Con người cần sự mặc-khải của Lời Thượng Đế và Con Ngài để hiểu biết về Ngài.
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ SỐNG
(God is a Living Being)
• Thiên Nhiên Chứng Tỏ (Shown By Nature)
Trong thiên nhiên có nhiều bằng-chứng tán trợ cho niềm tin về Thượng Đế. Trải qua nhiều thế kỷ, các nhà thần-học Cơ-đốc đã lấy những sự-kiện trong thiên nhiên để lập thành những luận cứ xác-chứng sự hiện hữu của Thượng Đế. Những lập-luận tồn tại lâu hơn hết là:
-Vũ Trụ Luận (Cosmological Argument)
Cũng có thể gọi là nhân quả luận, hễ có quả ắt phải có nhân tương ứng. Đã có vũ trụ là hệ quả, tất phải có một nguyên nhân sinh ra nó. Nguyên nhân đó chính là Thượng Đế.
-Cứu Cánh Luận (Teleological Argument)
Thế giới này có sự hài hòa và có chủ đích. Từ các nhà thiên-văn quan sát bầu trời cho đến các nhà vật-lý, quan sát nguyên tử hay tế bào, đều thấy mọi sự vật có sự sắp xếp kỳ diệu và có mục đích, như vậy phải kết luận rằng có một hữu thể khôn-sáng tạo ra chúng.
-Đạo Đức Luận (Moral Argument)
Vì con người là vật có đạo đức, biết phân biệt phải trái, nên phải có một Đấng toàn thiện tạo dựng và phán-xét họ.
-Thực Thể Luận (Ontological Argument)
Trong suy tư của con người thì cần phải có một Đấng tuyệt đối, yếu tính căn-bản của Đấng tuyệt đối là hiện hữu. Như vậy trong thực-tế phải có Đấng đó. Nếu không, mọi lý-luận của con nguời đều chỉ là tương đối, chẳng đi tới đâu hết. Chữ Hy-lạp ontos có nghĩa là “trên thực tế” hay “thật ra”.
-Tôn Giáo Luận (Religious Argument)
Các nhà khảo-cổ và nhân-chủng nhận thấy rằng con người ở đâu, thời nào cũng đều có tôn-giáo. Vì hiện tượng tôn-giáo có tính cách phổ quát như vậy nên nó phải có phần đúng. Có lẽ trong các lập-luận trên không có lập-luận nào tự nó có đủ bằng-chứng thuyết phục, nhưng nếu tổng hợp lại, chúng đủ sức chứng-tỏ niềm tin nơi Thượng Đế là hữu lý.
• Kinh Thánh Xác Nhận (Affirmed By Scripture)
Kinh Thánh xác nhận hiển nhiên là có Thượng Đế. Câu đầu tiên của Kinh Thánh “Ban đầu Đức Chúa Trời” đặt cứ điểm cho toàn bộ Kinh Thánh, sau đó không có chỗ nào chối bỏ hay bàn cãi sự-kiện đó cả.
Mỗi trang sách Thánh đều ghi đậm hình-ảnh của Thượng Đế Hằng Sống, nên nếu chấp nhận giáo-huấn của Kinh Thánh ắt phải xem vô-thần là tà ngụy. Kinh Thánh có chỗ nói rằng kẻ vô-thần là ngu dại, lý-luận của hắn phát xuất từ tấm-lòng hơn là từ trí óc (ThiTv 14:1, 53:1).
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ HỮU VỊ
(God is a Personal Being)
Sự-kiện Thượng Đế là một ngôi vị đưa lại những hệ quả quan-trọng. Chính vì Ngài là một ngôi vị nên sự mặc-khải, tương-giao và cầu-nguyện mới có ý nghĩa. Thượng Đế không phải chỉ là năng lực mù quáng, cũng không phải là tổng hợp của mọi sự vật, nhưng Ngài là một Đấng có thể nói, nghe, sai phái, ban phước, và có nhiều hoạt động khác nữa.
Vì Ngài là một ngôi vị, nên người ta có thể biết Ngài, tin-cậy Ngài, yêu-thương Ngài, tôn-thờ Ngài, và phục-vụ Ngài. Kinh Thánh tỏ-rõ rằng Thượng Đế là một ngôi vị.
• Những Suy Luận Từ Kinh Thánh (The Multitude of Biblical Inferences)
Khắp trong Kinh Thánh, nơi nào nói về Thượng Đế đều dùng tên và nhân xưng đại danh từ, điều đó chứng-tỏ Ngài là một đấng bậc (ngôi vị). Thêm vào đó, nhiều chỗ trong Kinh Thánh mô-tả Ngài có 3 đặc-điểm thiết yếu của cá tính: trí-tuệ, tình cảm và ý chí (xem ThiTv 139:1-6, NaNk 1:2, 3 ITês1Tx 4:3 5:18).
• Lời Tuyên Bố Rõ Ràng Của Kinh Thánh (XuXh 3:13, 14 - The Explicit Biblical Statement)
Khi Môi-se hỏi tên Thượng Đế là gì để ông nói lại cho dân Y-sơ-ra-ên biết, Ngài đáp rằng: “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.”
Tên đó rất có ý nghĩa, vì nó cho thấy Thượng Đế tự có, vĩnh cửu và là một ngôi vị, là Đấng “hiện có, trước đã có, và còn mãi về sau” (KhKh 11:17). Hình như đó là nguyên ngữ của chữ Giê-hô-va, là tên gọi Thượng Đế của người Do-thái. Cựu-ước nhắc đến tên này hơn 6.000 lần. Mỗi lần nhắc là một lời-chứng về vị phẩm của Thượng Đế.
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ THẦN LINH
(God is a Spirit Being)
• Lời Dạy Của Chúa Giê-xu (LuLc 24:39, GiGa 4:24) (The Teaching of Christ)
Câu Chúa trả lời cho người đàn bà Sa-ma-ri “Đức Chúa Trời là thần” là một câu rất đơn giản về văn phạm, nhưng lại rất sâu sắc về thần-học. Trong nguyên ngữ Hy-lạp không có bất định mạo tự “một.” Ngài không phải là một vị thần, mà Ngài là thần-linh: Bản thể của ngài là thần-linh.
Thần-linh có nghĩa đối lập với vật chất hay thể xác, như trong lời Chúa nói với môn-đồ sau khi Ngài sống lại. Họ hoảng sợ tưởng mình thấy một vị thần nên Ngài trấn an họ: “Thần thì không có thịt và xương, mà các ngươi thấy ta có.” Chính vì Thượng Đế là thần nên “chẳng có ai từng thấy Đức Chúa Trời bao giờ” (GiGa 1:18).
• Điều Răn Thứ Hai (XuXh 20:4,bb b5, ThiTv 145:3 - The Second Commandment)
Muốn hiểu “Mười Điều Răn” thì phải biết bản-thể của Thượng Đế. Điều răn thứ hai minh giải nguyên-tắc nầy. Vì Ngài là thần-linh nên không một loại vật chất nào có thể đại diện trung thực cho Ngài được.
Một vật hữu hình, dù chạm trỗ tinh vi khéo léo đến đâu, cũng làm lệch lạc nhận thức về Thượng Đế của người thờ-phượng. Chẳng những làm lệch lạc mà còn thu hẹp nữa. Cái gì thuộc về vật chất đều bị giới hạn trong thời gian và không gian, trong khi Thượng Đế là thần-linh nên không bị hạn chế trong cái gì cả.
• Hình-Ảnh Thượng Đế (IICôr 2Cr 4:4; CôlCl 1:15) (The Image of God)
Nếu Thượng Đế có bản thể vật chất hay có cơ thể, thì ta có thể mô phỏng hình dạng Ngài được, nhưng Thượng Đế không cùng bản-chất với thế giới vật chất vì ta không thể thấy Ngài được với con mắt vật chất (GiGa 1:18). Thực tế là Môi-se còn được chỉ dạy là không ai có thể nhìn vào mặt Thượng Đế là thần-linh thì câu nói “con người được dựng nên theo hình ảnh Thượng Đế ” có nghĩa gì (SaSt 1:27)?
Những nơi khác trong Kinh Thánh cho biết hình-ảnh đó bao gồm sự công-chính, tri-thức, thánh-khiết (CôlCl 3:10, ÊphEp 4:24). Như vậy hình-ảnh Thượng Đế nơi con người là phẩm vị, là đạo đức chứ không phải là hình thể vật chất.
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ ĐỘC NHẤT
(God is One Being)
• Cơ-Đốc Giáo Và Đa Thần Giáo (PhucDnl 6:4, 5, IVua 1V 8:60, ÊsIs 42:8, 9, 44:6-8, 45:5, 6, 12, 46:9, MacMc 12:29, 30, GiGa 10:30, ICôr1Cr 8:4, ÊphEp 4:6, ITim1Tm 2:5)
Điều răn thứ nhất vang rền tại đỉnh Si-nai là bởi có lý-do xác đáng. Sự thờ lạy mặt trời, một vật thể có nhiều năng lực nhất trong thiên nhiên, rất phổ biến trong các dân-tộc của thế giới cổ.
Người Ai-cập thờ mặt trời dưới danh hiệu thần Ra. Thần Ba-anh của người Phê-ni-xi, Mô-lóc của người Am-môn, Ha-đát của người Sy-ri, Ben của người Ba-by-lôn, đều là những vị thần mặt trời. Sự thờ lạy mặt trời, mặt trăng và các thiên thể, là một trong những tội bị Kinh Thánh lên án không tiếc lời.
Ngay từ đầu, dân Y-sơ-ra-ên đã được cảnh cáo là phải coi chừng “kẻo các ngươi ngước mắt lên trời, thấy mặt trời, mặt trăng và ngôi sao cùng các cơ binh trên trời mà đem lòng thờ lạy, phục sự chúng chăng” (PhuDnl 4:19). Kinh Thánh nói trước nếu dân-tộc nào vi phạm điều răn này sẽ bị ném bỏ. Đối với cá nhân cũng vậy, bất kỳ nam, phụ, lão, ấu, nếu thờ lạy mặt trời, mặt trăng hoặc các cơ binh trên trời, thì sẽ bị xử tử vì đã làm một “điều gớm ghiếc dường ấy” (17:2-5).
Dân Do-thái sống giữa các dân-tộc đa thần (GiosGs 24:2,14,15, CacTl 10:6, IIVua2V 17:33). Ta có thể thấy sở dĩ họ được kêu gọi, biệt riêng ra là cốt để họ làm-chứng cho tính cách độc-nhất của Thượng Đế.
Không có sự thật nào nổi bật hơn điều này trong Cựu-ước. Hơn năm mươi khúc sách thánh dạy rằng Thượng Đế là một, chẳng có ai khác và chẳng có ai sánh được với Ngài.
Nếu Thượng Đế là Thần duy nhất, thì điều răn đầu tiên tất nhiên là con người phải tập trung mọi năng lực mà yêu kính Thượng Đế (PhucDnl 6:4,5, MacMc 12:29-30).
Một Thượng Đế bất phân ly (undevided God) hẳn nhiên đòi hỏi sự tuân-phục, phụng-thờ chuyên nhất (undevided allegiance) của tạo vật Ngài. Ngài không chấp nhận bất cứ ai đòi hưởng vinh dự thiên-thượng của Ngài: “Ta chẳng nhường sự vinh-hiển ta cho đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn-trọng ta cho các tượng chạm” (ÊsIs 42:8).
Tôn-giáo nào của con người không dành cho Thượng Đế sự thờ-phượng độc-tôn, là điều gớm ghiếc đối với Thượng Đế, ta không cần phải bỏ công tìm tòi xem có bao nhiêu cái tốt trong đó. Thượng Đế không chấp nhận một chỗ ngồi giữa hội các thần.
Ngài phải là tất cả hoặc không có gì cả.
• Cơ-Đốc Giáo Và Thuyết Độc Vị Nhất Thần (Unitarianism) (SaSt 1:26,3:32, ÊsIs 6:8, Mat Mt 3:16, 17, IICôr2Cr 13:14).
Từ những thế kỷ đầu tiên, người tín-đồ Cơ-đốc đã nhấn mạnh giáo-lý Ba Ngôi.
A. H. Strong đã định nghĩa giáo-lý ấy như sau: “Trong bản-thể của Thượng Đế có ba biệt thể vĩnh cửu (three eternal distinctions) bình-đẳng: đó chẳng phải là ba vị trong một, hoặc ba Thượng Đế trong một, cũng chẳng phải Thượng Đế tỏ-mình bằng ba cách. Đây là ba biệt thể thiết yếu (three essential distinction) trong sự hiện hữu của Thượng Đế.”
Trải qua nhiều thế kỷ, những người chủ trương độc-vị nhất thần, thường tấn công giáo-lý Ba Ngôi, cho rằng giáo-lý ấy chủ trương tam-thần hay chỉ là giáo-lý đa thần ngụy trang tinh vi, bởi đó xúc phạm tính cách độc nhất của Thượng Đế.
Dẫu rằng từ ngữ Ba Ngôi không có trong Kinh Thánh, giáo-lý Ba Ngôi phát xuất từ Kinh Thánh. Đó là một sản phẩm mặc-khải mà trí-tuệ con người không tài nào phát minh ra được.
Sỡ dĩ ta tin giáo-lý ấy vì Kinh Thánh đã dạy nó. Đó là một trong những bí ẩn sâu-nhiệm và khó hiểu nhất của lời Thượng Đế. Dẫu giáo-lý Ba Ngôi ở ngoài tầm hiểu biết và giải thích của trí-tuệ con người, nó đã được dạy rõ ràng trong Kinh Thánh.
Về phương diện này, ta không thể đem một cái gì trong thiên nhiên để so sánh với Thượng Đế được. Những thí-dụ thuờng dùng như: vòng tròn chia ba; ánh sáng, nhiệt, và năng lực; ba nốt nhạc hợp thành hòa âm; nước, hơi nước, và nước đá; thân, hồn, thần của con người, tất cả đều không thể làm sáng-tỏ hoàn toàn chân-lý Ba Ngôi được.
Dẫu Cựu-ước không minh thị hẳn như Tân-ước, nó có những điểm suy diễn ta chỉ có thể giải thích được bằng giáo-lý Ba Ngôi. Đại danh từ số nhiều “chúng ta” trong SaSt 1:26, 11:7, ÊsIs 6:8 không thể nói về các tạo vật như người hay thiên-sứ, như vậy phải nói về Thượng Đế.
Các khúc sách nói về Đấng Thiên-Sai (ÊsIs 9:6, MiMk 5:2, ThiTv 45:6, 7) cho thấy Ngài là một với Đức Giê-hô-va mà vẫn khác biệt với Ngài. Vị thiên-sứ của Đức Giê-hô-va cũng được mô-tả tương tự (SaSt 16:9, 13 22:11,16 31:11-13 48:15,16; XuXh 4:2,4,5; CacTl 13:20-22).
Chữ Ê-lô-him, tiếng Do-thái dùng để gọi Thượng Đế, là số nhiều, dầu nó thường đi với động từ số ít.
Tân-ước thì dạy rõ ràng về Thần-tánh của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh mà vẫn phân biệt cả ba. Chỉ có giáo-lý Ba Ngôi mới kết hợp được những lời dạy rõ ràng trong Tân-ước.
Chỉ cần đối chiếu Kinh Thánh với nhau, ta có thể biết được giáo-lý ấy, dầu không thể hiểu được hoàn toàn. Trong những bài học sau này, chúng ta sẽ thấy Kinh Thánh dạy, chẳng những Chúa Giê-xu và Đức Thánh Linh có những yếu tính của Thượng Đế Đức Chúa Cha, mà còn bình-đẳng với Ngài về quyền lực và vinh-hiển.
Ở đây ta chỉ cần đưa ra một vài dẫn-chứng.
-Đức Chúa Cha là Thượng Đế - RôRm 1:7
-Đ ức Chúa Con là Thượng Đế - HêbDt 1:8
-Đức Thánh Linh là Thượng Đế - CôngCv 5:3,4
Cả Tân-ước nhìn nhận mỗi ngôi vị trong Ba Ngôi đều là Thượng Đế, và nội dung của nó được đặt trên nền-tảng đó.

Chương 2: THƯỢNG ĐẾ VÔ HẠN
(The Infinitude of God)
Tác...
...-giả Thi-thiên viết “Đức Giê-hô-va là lớn và đáng ngợi khen thay; sự cao cả Ngài không thể dò lường được” (Thi Tv 145:3).
Ngay cả thời đại nguyên tử với bao nhiêu kiến-thức khoa học ngày nay cũng không thể nào thay đổi được câu nói khiêm tốn đó. Kinh Thánh nêu rõ những thuộc-tính của Thượng Đế, nhưng đặc-tính nào của Ngài cũng vượt quá tầm hiểu biết của con người.
Cái gì ở nơi Thượng Đế cũng đều toàn-vẹn và vô-hạn. Trí hiểu biết hữu hạn của con người không tài nào đo lường Thượng Đế được. Con người chỉ có thể đứng kinh ngạc trước sự vĩ đại của Thượng Đế. Nói đến chiều kích này là nói đến sự vô-hạn của Thượng Đế.
THƯỢNG ĐẾ VĨNH HẰNG
(God is Eternal)
Xưng nhận Thượng Đế vĩnh hằng là xác nhận Thượng Đế có sự sống vô hạn.
Chúng ta không thể nào đo được tương lai chưa tới, nhưng chúng ta có thể đem trí tưởng tượng trở về quá-khứ thật xa thẳm để hình dung ra cõi vĩnh cửu. Chúng ta bảo sách Sáng-thế ký là sách của những khởi đầu: khởi đầu cuộc Tạo Hóa, khởi đầu của con người, của các dân-tộc. Nhưng đó chưa hẳn là khởi đầu.
Chúng ta còn có các dân-tộc. Nhưng đó chưa hẳn là khởi đầu. Chúng ta còn có thể lui về thời kỳ tạo dựng các thiên-sứ, những Con Trai của Thượng Đế mà ngay từ buổi bình minh của công cuộc Tạo Hóa, họ đã có mặt rồi (Giop G 38:7).
Nhưng đó cũng không phải là khởi đầu nữa. Chúng ta còn có thể đi vào cõi đời-đời, khi Đấng Tạo Hóa chỉ có một mình, tất cả mọi tạo vật chỉ mới có trong ý nghĩ Ngài. Chúng ta có thể để cho trí tưởng tượng bay tới mãi, nhưng không bao giờ đến chỗ khởi đầu, vì cõi đời-đời không có điểm đầu cũng không có điểm cuối.
Con người có quá khứ, hiện tại, và tương lai, nhưng Thượng Đế chỉ có hiện tại. Quá-khứ và tương lai đều là “bây giờ” đối với Ngài. Loài người còn lại mãi mãi (everlasting) nhưng Thượng Đế là vĩnh cửu (eternal) (PhucDnl 32:40, ThiTv 90:2, ITim1Tm 6:16).
Trong KhKh 1:8 Chúa xưng mình là An-pha và Ô-mê-ga là chữ đầu và chữ cuối trong bộ mẫu tự Hy-lạp, nguyên ngữ của Kinh Thánh Tân-ước. Như vậy Thượng Đế vừa là khởi đầu, vừa là cuối cùng của thời gian. Cõi đời tôi không có đầu và cuối, còn thời gian thì có cả hai. Trong Thượng Đế, thời gian bị nuốt chửng trong cõi đời-đời và không một ai hiểu được cõi vĩnh cửu ngoài Thượng Đế vĩnh hằng.
THƯỢNG ĐẾ BẤT BIẾN
(God is Immutable)
Thượng Đế không thay đổi và chẳng ai thay đổi được. Thượng Đế vượt lên trên mọi nguyên nhân đổi thay và tình huống đổi thay. Tính bất-biến này liên-hệ với tính vô-hạn của Ngài trong thời gian cũng như không gian. Thế giới này luôn đổi thay, “song Chúa không hề biến cải” (ThiTv 102:26, 27).
• Thượng Đế không thay đổi bản chất (Nature) của Ngài. Thượng Đế không thể tăng thêm hay giảm đi. Ngài không nằm trong quy luật phát triển hay tiến hóa nào cả. Tri-thức và quyền-năng của Ngài chẳng có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Ngài chẳng có thể khôn-ngoan hơn hay thánh thiện hơn. Ngài chẳng có thể công-chính hay nhân-từ hơn trước kia hoặc sau này. Ngài vượt lên trên mọi quy luật chi phối thời gian và biến dịch, vì lời Ngài chính là quy luật.
• Thượng Đế chẳng thể thay đổi quan-hệ giữa Ngài với con người. Ta có thể trông chờ gì ở một kẻ nay thế này mai thế khác? Chính vì lòng nhân-từ của Chúa không thay đổi nên dân Y-sơ-ra-ên bội đạo mới còn hy-vọng. “Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi, bởi cớ đó các ngươi là con trai Gia-cốp, chẳng bị diệt vong” (MaMl 3:6).
• Thượng Đế Chẳng Đổi Lời Ngài (ThiTv 119:160, MatMt 5:18, GiGa 10:35)
Con người thất hứa là chuyện thường tình thế-gian. Tại sao giữa bạn bè bà con với nhau mà mỗi một giao dịch thương mãi nào cũng làm đầy đủ giấy tờ hợp pháp? Đó chẳng phải vì người ta cho rằng nói miệng dễ bỏ qua hay sao?
Chẳng phải vì con người là tạo vật hay thay đổi sao? Có bao nhiêu lần chúng ta bị chính những kẻ mình tin cậy lừa gạt chúng ta? Con người còn là một tạo vật bị hạn chế nữa. Lắm khi họ là nạn nhân của hoàn-cảnh, khiến họ không thể nào hoàn thành bổn-phận của mình dù họ rất mong muốn. Nói chung, chuyện con người làm sai lời chẳng những là khả hữu mà còn là chuyện đương nhiên nữa.
Trái lại, lời Thượng Đế chẳng bao giờ thay đổi.
• Thượng Đế Chẳng Đổi Ý (will) (ISa1Sm 15:11, Giê Gr 26:13)
Nếu Thượng Đế không thể đổi ý, vậy thì sao có nơi trong Kinh Thánh nói Ngài “ăn-năn”?
Thái độ ăn-năn này của Thượng Đế không có nghĩa là thay đổi bản-tính và mục đích. Ngài lúc nào cũng ghét tội-lỗi và yêu thương tội-nhân. Dù là trước hay sau khi tội-nhân ăn-năn thì thái-độ Ngài cũng như một.
Về căn-bản, thái-độ Ngài không thay đổi, nhưng Ngài có thể thay đổi cách đối phó với sự thay đổi nơi con người.
Ví-dụ, thái-độ Thượng Đế đối với dân Y-sơ-ra-ên không thay đổi, Ngài ghét tội-lỗi họ, và vì họ miệt mài trong tội nên họ phải hứng chịu những trừng phạt của tội-lỗi. Nhưng Thượng Đế vẫn yêu-thương họ, nên khi họ ăn-năn và lìa bỏ tội-lỗi thì cách Thượng Đế đối-xử với họ cũng do đó mà đổi thay.
Như Strong có nói: “Tính bất biến của Thượng Đế không phải như một cục đá không có biến động gì bên trong, mà như một cột thủy ngân, lên xuống theo sự thay đổi của nhiệt độ khí quyển xung quanh”.
THƯỢNG ĐẾ TOÀN-TRI
(God is Ommiscient)
Thượng Đế toàn-tri có nghĩa là sự hiểu biết của Ngài thật vô-hạn. Sự hiểu biết của Thượng Đế vừa chính xác, tỉ mỉ, chắc chắn, lại vừa bao quát, rộng khắp. Những gì Ngài nói và làm đều tuyệt đối đúng và chân-thật. Ngài không thể nào lầm lẫn cũng như không thể nào thất bại. Chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên sững sờ kêu lên như Phao-lô: “Ôi sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn-ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời” (RôRm 11:33).
• Thượng Đế Biết Hết Quá-Khứ (CôngCv 15:18, IGi1Ga 3:20)
-Con người là vật hay quên. Dẫu có giấy bút sách vở để ghi lại ký ức, họ vẫn không nhớ được bao nhiêu quá-khứ. Họ có thể đào bới, khai quật những di tích cổ của các dân-tộc để tìm hiểu chút ít về quá-khứ. Nhưng những hiểu biết của họ thật thiếu sót biết bao và họ cũng quên đi nhanh biết bao!
• Thượng Đế Biết Hết Hiện Tại.
• Thượng Đế Biết Rõ Thiên Nhiên (SaSt 15:5, ThiTv 147:4,5, ÊsIs 40:26)
Thượng Đế bảo Áp-ra-ham hãy đếm các ngôi sao để hình dung ra số hậu tự đông đúc của ông. Nhưng vào thời Áp-ra-ham, chưa có nhà khoa học nào dám đem số ngôi sao so với cát biển.
Hipparchus, một nhà thiên-văn xưa, đếm được 1.022, và Ptolemy ghi được 1.026. Lời Giê-rê-mi nói rằng các đạo binh trên trời không thể đếm được (GiêGr 33:22) có thể bị cho là phản khoa học, nếu người ta không nhờ các dụng cụ tối tân tìm ra vô số ngôi sao không thể nào tưởng tượng nổi. Dù cho con người ngày nay vẫn chưa đếm nổi số ngôi sao, Thượng Đế chẳng những biết số mà còn biết tên từng ngôi sao một.
• Thượng Đế Biết Rõ Con Người
(1) Đường lối loài người (Thi Tv 119:168,139:3, GiopG 24:23, ChCn 5:21, HêbDt 4:13)
(2) Lời nói con người (ThiTv 19:141, 139:4)
(3) Tư tưởng con người (ThiTv 139:2, LuLc 11:17, ICôr1Cr 3:20)
(4) Ước muốn của con người (CôngCv 1:24, RôRm 8:27)
• Thượng Đế Biết Hết Tương Lai (ÊsIs 41:21-23,42:9, 46:10, 48:5-7)
Không gì có thể chứng-tỏ Kinh Thánh là lời Thượng Đế cho bằng những mặc khải trong đó cho thấy Thượng Đế biết trước mọi sự. Hơn một phần tư Kinh Thánh là lời tiên-tri.
Chúng ta chỉ cần đọc những gì Thượng Đế nói về kết cuôc của các đô thị Ba-by-lôn và Ni-ni-ve, rồi bước qua những di tích hoang tàn của những nơi đã từng là kinh thành tráng-lệ đó, chúng ta mới thấy được sự biết trước của Thượng Đế.
Không có vị tiên-tri nào cho ta cái nhìn rõ ràng về sự biết trước của Thượng Đế cho bằng Ê-sai. Các vị tiên-tri khác đều có nói Giu-đa sẽ bị các đạo quân hùng mạnh của Ba-by-lôn khuất phục, nhưng chỉ có Ê-sai là thách đố các thần của Ba-by-lôn, nếu thật là thần thì hãy nói trước những việc sẽ xảy ra.
Ê-sai đã tiên-báo tỉ mỉ về Si-ru, người chinh phục đế quốc Ba-by-lôn (ÊsIs 45:1-4, 46:11). Lời tiên-tri ấy đã nói ra từ thời đế quốc A-si-ri đang hưng thịnh, chớ chưa phải là đế quốc Ba-by-lôn, và nói về nước Ba-tư lúc ấy hãy còn là một tiểu nhược quốc. Tên vua Si-ru đã dược nhắc đến từ 180 năm trước khi ông ra đời.
Chúa Giê-xu nhiều lần nói trước Ngài sẽ chết trên thập-tự giá và sẽ sống lại (Mat Mt 16:21,17:22,23, 20:17-19, 26:1-2).
Như vậy chẳng những Ngài chứng-tỏ Ngài có thể biết trước tương lai, mà còn là Thượng Đế nữa. Những lời tiên báo đó chẳng những khó có thể xảy ra mà còn là chuyện không thể có đến nổi các môn-đồ nghe cũng không hiểu (Mac Mc 8:31-33,9:31,32,10:33).
Chẳng có một việc gì xảy ra trong những ngàn năm tới mà tâm-trí vô-hạn của Thượng Đế không biết đến.
• Thượng Đế Sử Dụng Đúng Đắn Tri-Thức Của Ngài (ÊsIs 40:13,14)
Với tất cả kiến-thức, nhưng con người lại thiếu sự khôn-ngoan cần thiết để sử dụng đúng đắn tri-thức đó. Con người luôn luôn lầm lỗi, nhưng Thượng Đế không như vậy; sự khôn-ngoan của Ngài là vô-hạn. Chỉ có Thượng Đế là nằm ngoài vòng sai lầm. Ngài chẳng bao giờ thí-nghiệm; Ngài chẳng bao giờ thay đổi kế hoạch. Thời gian chẳng dạy Ngài được điều gì. Những gì Ngài đã làm thì chẳng cần phải tu chỉnh, vì sự khôn-ngoan của Ngài bảo đảm mọi sự đều hoàn hảo.
• Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Sáng Tạo (ChCn 3:19, ÊsIs 40:12)
Một nhạc cụ trước hết đòi hỏi tài khéo của người thợ chế tạo, rồi kỹ thuật người nghệ sĩ lên dây đàn, cuối cùng là tài hoa của người nhạc sĩ diễn-tả cái đẹp của âm thanh.
Cũng vậy, trong công cuộc sáng tạo chúng ta thấy sự khôn-ngoan của Thượng Đế trước hết là trong sự tạo hình vũ trụ, rồi trong sự vận hành hài hòa của nó, và cuối cùng là tính cách ích dụng kỳ diệu của muôn loài dưới sự tể trị khôn-ngoan của Ngài. Sự khôn-ngoan của công cuộc Tạo Hóa bày-tỏ trong:
-Tính Đa Dạng (ThiTv 104:24, ICôr1Cr 15:41)
Người ta không bao giờ học hết môn động vật học hay thực vật học, vì có vô số các chủng loại sinh vật cũng như cây cỏ. Có rất nhiều thứ giống nhau, nhưng cũng có những khác biệt lạ lùng ngay giữa hai lá cùng mọc trên một cây. Cả các ngôi sao cũng vậy, “Vinh-quang của ngôi sao nầy khác vinh-quang của ngôi sao khác.”
-Vẻ Đẹp và Sự Hài Hòa (TrGv 3:11)
Hoa huệ ngoài đồng còn đẹp đẽ thơm tho hơn đóa hoa nhân tạo tinh xảo nhất. Các tinh tú vận hành rất hài hòa nhịp nhàng, nhờ vậy thái dương hệ mới được an toàn.
-Tính Ích Dụng (ChCn 30:24-28)
Sự khôn-ngoan thiên-thượng chẳng những tạo dựng mà còn ban cho tạo vật một chủ đích. Có con nhện trên tường, nhưng nó chăng lưới để bắt giống ruồi dơ bẩn. Có loài vật nhỏ xíu dưới biển, nhưng lại làm thành cả hải đảo. Ngôi sao trên trời có thể chỉ đường cho những chiếc tàu lớn trên đại dương.
• Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Bảo Toàn (ThiTv 104:13,14,27,28).
Điều này tỏ-ra trong nhiều cách, lấy một ví-dụ là trái đất. Chúng ta biết bề mặt trái đất được bao phủ bởi một lớp khí quyển thật mỏng, đó là cái vỏ làm bằng nhiều thứ khí để duy trì sự sống. Ít ai để ý tới ích lợi của khí quyển vì nó quá dư dật, nhưng nó chính là trung gian dẫn truyền ánh sáng và âm thanh, làm trung hòa nhiệt độ, và là phương tiện bảo vệ trái đất.
-Dẫn truyền ánh sáng.
Nếu không có lớp không khí bao quanh, bầu trời sẽ tối đen khi ánh mặt trời không chiếu thẳng vào. Khi mặt trời mọc, chỗ ta ở sẽ từ tối đen liền trở nên sáng rực, và trời tối liền khi mặt trời lặn; như vậy sẽ không có trời bình minh hoặc hoàng hôn.
-Dẫn truyền Âm thanh.
Nếu không có không khí, chúng ta không thể nào tạo ra hay nghe được một âm thanh nào. Tất cả các âm thanh đều do không khí rung chuyển tạo thành và truyền đi.
-Điều nhiệt.
Lớp khí quyển giống như cái mền giữ trái đất khỏi sức nóng của mặt trời. Nếu không có nó, ban ngày sẽ quá nóng và ban đêm quá lạnh khó có sự sống tồn tại trên đất. Nhờ có khí quyển, con người mới tạo ra lửa và nhiệt được.
-Phương tiện bảo vệ.
Nếu không có khí quyển, hàng ngàn vẩn thạch bay trong không gian bị trái đất hút vào sẽ rơi xuống mặt đất với tốc độ kinh hồn. Khi quyển giống như tấm đệm cản bớt tốc độ và làm giảm độ rơi khủng khiếp của chúng.
• Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Cứu-Chuộc
* Chúa Cứu Thế, Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế (IICôr2Cr 1:24)
Thượng Đế chọn máng cỏ tồi tàn thay vì cung điện nguy nga làm nơi ra đời của con Ngài. Theo tiêu-chuẩn trần gian thì chẳng còn ai nghèo nàn hơn, thấp hèn hơn. Như vậy, chẳng ai có thể nói Cơ-đốc giáo chỉ dành cho kẻ thông-thái, người giàu có hay quý phái. Thượng Đế làm thế nào để cho mọi tội-nhân đều có thể được cứu, và khiến cho sự cứu-rỗi không tùy thuộc vào sự khôn-ngoan mà vào đức-tin của họ.
* Hội Thánh, Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế (ICôr1Cr 1:21)
Chúa chọn 12 người thất học đi truyền Tin-Lành cho thế giới, để chứng-tỏ rằng không phải sự khôn-ngoan của con người mà là sự khôn-ngoan của Tin-Lành chinh phục được lòng người. Thượng Đế chọn những kẻ yếu đuối truyền-giảng Tin-Lành, và sứ-điệp “ngu dại” của họ đã chinh phục được các lục địa. Họ quảng bá Tin Lành, và Chúa - không phải các sứ-đồ - được vinh-hiển.
THƯỢNG ĐẾ TOÀN NĂNG
(God is Omnipotent)
Quyền-năng Thượng Đế là vô hạn và không chấp bất kỳ một hạn chế hay ràng buộc nào chỉ trừ ra khi Ngài muốn. Đối với Ngài, nghĩ là làm; quyết định là thi hành. Ngài phán điều gì thì có ngay điều ấy. Vì Ngài là toàn-vẹn nên không phải thí-nghiệm, mà thực hiện công tác một lần đủ cả không cần phải tu chỉnh.
• Quyền-Năng Thượng Đế Trong Công Cuộc Sáng Tạo (ThiTv 33:4-9, ÊsIs 40:12-17)
Chương đầu của sách Sáng-thế ký không phải là chỗ duy nhất trong Kinh Thánh để lại công cuộc sáng tạo. Sự khôn-ngoan và quyền của Thượng Đế trong việc kiến tạo trái đất đuợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tác-giả Thi-thiên nói rằng các từng trời bởi lời Đức Chúa Trời tạo thành, và các đạo binh ngôi sao thành hình do “hơi thở của miệng Ngài”.
Khi chúng ta cảm thấy thế giới càng ngày càng lớn hơn và con người càng ngày càng vĩ đại hơn, thì nên đọc Ê-sai 40. Chú ý đặc biệt các câu 12-17 tán dương quyền-năng của Thượng Đế.
• Quyền-Năng Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Bảo Hộ (GiêGr 32:17-24)
Giê-rê-mi đang ở tù khi ông dâng lên lời cầu-nguyện này. Lúc đó vào khoảng cuối cuộc bao vây thành Giê-ru-sa-lem của vua Nê-bu-cát-nết-sa. Vì vị tiên-tri nhất quyết rằng cuối cùng thành sẽ bị chiếm nên ông bị bỏ tù.
Trong cảnh ngộ đó, đức-tin ông nơi Đấng Toàn Năng vẫn không lay chuyển. Ông đến với Thượng Đế với niềm tin rằng chẳng có gì là quá khó đối với Đấng dựng nên trời và đất (c. 17). Điều đáng ghi là khi ông cầu-nguyện xong thì Thượng Đế trả lời ông bằng thứ ngôn ngữ toàn-năng của Ngài (c. 27).
Giê-rê-mi tán dương quyền-năng Thượng Đế trong cách Ngài đối-xử với dân Y-sơ-ra-ên (c. 20, 24).
• Quyền-Năng Thượng Đế Trên Thiên Nhiên (ThiTv 107:25-29, Mat Mt 8:24-27)
Thi-thiên 107 mô tả một trận bão giữa biển. Những lượn sóng lớn đe dọa nhận chìm chiếc tàu xuống đ áy biển. Các thủy thủ lảo đão trên sàn tàu như “người say rượu”. Nhưng khi người ta kêu cầu Thượng Đế can thiệp thì sóng êm bão lặng ngay.
Khi Thượng Đế can thiệp vào định-luật thiên nhiên thì đó gọi là phép-lạ. Phép-lạ không phải chỉ xảy ra trong thời của Chúa Giê-xu, mà ngay trong thời nay, nhiều người cũng làm-chứng Thượng Đế nhậm lời cầu-nguyện khiến trời đổ mưa, cơn cháy rừng bị đổi hướng.
• Quyền Năng Thượng Đế Trên Con Người (XuXh 5:2, 12:30,31, ĐaDn 4:30-37)
Nhiều bậc quân vuơng lỗi lạc trên thế giới thách đố Thượng Đế toàn-năng nhưng rồi mới biết rằng ngôi vị và quyền hành của mình do Thượng Đế ban cho (ChCn 8:15, 16).
Khi đại đế Napoléon kéo đại quân Âu châu sang chinh phục nước Nga, có người đã nhắc nhở ông rằng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
Vị hoàng đế đã chinh phục cả Âu châu trả lời, “Mưu sự tại ta mà thành sự cũng tại ta”. Đội quân tinh nhuệ của ông đã từng bách chiến bách thắng, nhưng Thượng Đế đã dùng những hoa tuyết nhỏ bé xíu để chôn vùi tên tuổi họ. Thượng Đế cũng đã dùng một cơn bão để triệt hạ Hạm Đội Vô địch của vua Philíp II nước Tây Ban Nha.
• Quyền-Năng Của Thượng Đế Trên Sa-tan (GiopG 1:10,12,2:6, LuLc 22:31,32)
Sa-tan, vua của các thế lực mờ tối, được gọi là thần của đời này (IICôr 2Cr 4:4), vì vậy nó chế ngự toàn bộ thế-gian. Nhưng Sa-tan không có quyền gì trên con cái Thượng Đế chỉ trừ khi Ngài cho phép. Trường hợp Gióp và Phi-e-rơ cho ta thấy rõ điều đó.
Thượng Đế có quyền hạn chế quyền lực của Sa-tan cũng như Ngài có thể chận đứng những lượn sóng dữ của đại dương. Một ngày kia Thượng Đế sẽ thống-trị trời đất, và ma quỷ sẽ bị “ném vào hồ lửa và diêm sinh, nơi con thú và tiên-tri giả đang ở, chúng sẽ đau đớn ngày đêm cho đến đời-đời” (KhKh 20:10).
• Quyền Năng Thượng Đế Trong Công Cuộc Cứu-Chuộc
Thượng Đế đã thay đổi nhanh chóng cuộc đời Sau-lơ, kẻ tàn hại Hội thánh và người cai ngục thành Phi-líp lúc ông sắp sửa tự tử. Hàng ngàn người ngày nay có thể làm-chứng tương tợ về quyền-năng giải cứu của Thượng Đế.
Một trong những câu chuyện tỏ-rõ quyền-năng Thượng Đế là chuyện của bộ lạc da đỏ Aucas hung dữ đã được biến đổi nhờ ảnh hưởng của Tin Lành sau cái chết tuẫn-đạo của 5 nhà truyền-giáo ở Ecuador. Câu chuyện được kể lại trong cuốn “The Savage My Kinsman” (Người Man Rợ Bà Con Của Tôi của Elizabeth Elliot).
• Quyền-Năng Thượng Đế Trong Sự Định Đoạt (God’s power to will)
Tính toàn năng của Thượng Đế tùy thuộc vào ý định của Ngài. Chính cá tính toàn hảo kiểm soát năng lực vô biên của Ngài mới là lớn hơn sự toàn-năng của Ngài. Tính đạo đức toàn-vẹn của Thượng Đế khiến Ngài không thể lạm dụng sự toàn-năng của Ngài. Như vậy ý muốn của Thượng Đế tùy thuộc bản-tính của Ngài.
-Thượng Đế là khôn-ngoan vô hạn nên không thể muốn một điều ngu dại.
-Thượng Đế là công-bình vô hạn nên không thể muốn một điều bất công.
-Thượng Đế là tốt lành vô hạn nên không thể muốn một điều xấu xa.
-Thượng Đế là tinh sạch vô hạn nên không thể muốn một điều bất-khiết.
THƯỢNG ĐẾ TOÀN TẠI
(God is Omnipresent)
Tính toàn-tại của Thượng Đế đi liền với tính toàn-năng và toàn-tri của Ngài.
“Có ai ẩn núp nơi bí mật mà ta không thấy được chăng? Há chẳng phải ta đầy dẫy trời đất đó sao? Đức Giê-hô-va phán v ậy?” (GiêGr 23:24).
Thượng Đế thấy được mọi sự có nghĩa là Ngài luôn luôn hiện diện. Những người phiếm thần cho rằng Thượng Đế ở trong mọi sự, nhưng Kinh Thánh dạy rằng Đấng Tạo Hóa ở ngoài tạo vật của Ngài.
Các nhà thiên-văn không đo được biên giới của vũ trụ cũng vậy, con người không thể nào hiểu được thuộc tính này của Thượng Đế.
Thi-thiên 139 nói về sự toàn-tri của Thượng Đế (c.1-6), sự toàn-năng của Thượng Đế (c.13-19), và đặc biệt là sự toàn-tại của Thượng Đế (c.7-12). Những câu này và nhiều nơi khác trong Kinh Thánh dạy rõ rằng Thượng Đế có mặt và hành động ở khắp mọi nơi.

