top of page

HungT
Apr 18, 2025
Ba Ngôi Thiên Chúa
Tác giả: Viện Thần-Học Việt-Nam
Lời Giới Thiệu
“Ba Ngôi Thiên Chúa” là tài-liệu học tập của Hiệp Hội Huấn-Luyện Giáo-sư Tin-Lành (Evangelical Teacher Training Association).
Tài-liệu nhằm giúp cho những người có trách-nhiệm lãnh-đạo trong Hội Thánh, cũng như cho các tín-hữu muốn tăng-trưởng vững vàng trong đức-tin biết được Đấng mình tin yêu và thờ-phượng.
Dù là tài-liệu Thần-học, nhưng soạn rất dễ hiểu, thích ứng cho đại đa số tín-hữu. Viện Thần-học mong tài-liệu này sẽ giúp ích được nhiều cho Hội Thánh và Tín-hữu.
Viện Thần-Học Việt-Nam.
Mục Lục
Chương 1: Bản Thể Thượng Đế.
Chương 2: Thượng Đế Vô Hạn.
Chương 3: Thượng Đế Thánh-Khiết, Chính-Trực Và Công-Bình.
Chương 4: Thượng Đế Chân-Thật, Thành-Tín Và Yêu-Thương.
Chương 5: Công Trình Của Thượng Đế.
Chương 6: Tiền Thân Và Sự Nhập-Thể Của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chương 7: Thần-Tính Của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chương 8: Sự Chết Hy-Sinh Của Chúa Cứu Thế.
Chương 9: Sự Phục-Sinh Của Chúa Cứu Thế.
Chương 10: Sự Tái-Lâm Và Ngự Trị Của Chúa Cứu Thế.
Chương 11: Ngôi Vị Và Quyền-Năng Của Đức Thánh Linh.
Chương 12: Đức Thánh Linh Và Người Tin.

Chương1: BẢN THỂ THƯỢNG ĐẾ
(The Nature of God)
Môn...
...học về Thượng Đế là một môn học vĩ đại nhất của con người. Đó là một đề-tài không bao giờ tát cạn nổi. Nguồn của mọi hiểu biết về Thượng Đế là chính Thượng Đế. Ngài tự-tỏ mình cho con người qua vũ-trụ mà Ngài tạo dựng và qua Thánh Kinh do Ngài cảm-thúc.
Các nhà thần-học phân biệt thần-học tự nhiên (natural theology), những gì biết về Thượng Đế qua thiên nhiên, và thần-học mặc-khải (revealed theology), những gì biết về Thượng Đế qua Thánh Kinh.
Khi con người quan sát thế giới quanh mình, họ thấy có một số bằng-chứng về Thượng Đế. Đối với những người có mắt để nhìn, thì “các từng trời rao-truyền sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải-tỏ công việc của tay Ngài làm” (Thi Tv 19:1). Thế giới bao la trong đó chúng ta đang sống đây cần có một Thượng Đế. Vì vậy Ngài phải hiện hữu. Giải thích cõi tạo vật không có Đấng Tạo Hóa cũng giống như liệng dây thừng vào khoảng không rồi leo lên, hay xây một ngôi tháp trên không khí vậy.
Nhưng hiểu biết về thiên nhiên hay thần-học tự nhiên có đủ giúp ta biết về Thượng Đế không? Hãy đọc RôRm 1:18-25. Đoạn này mô-tả hình ảnh dân ngoại biết về Thượng Đế qua thiên nhiên. Lời Phao-lô nói “Thế-gian bởi sự khôn-ngoan riêng chẳng biết Đức Chúa Trời” (ICôr1Cr 1:21) rất đúng với lịch-sử các hệ-thống tôn-giáo.
Không một tôn-giáo nào thể hiện được một quan niệm trọn vẹn về Thượng Đế, dầu nhiều tôn-giáo có những ý niệm rất đặc sắc về Ngài. Con người cần sự mặc-khải của Lời Thượng Đế và Con Ngài để hiểu biết về Ngài.
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ SỐNG
(God is a Living Being)
• Thiên Nhiên Chứng Tỏ (Shown By Nature)
Trong thiên nhiên có nhiều bằng-chứng tán trợ cho niềm tin về Thượng Đế. Trải qua nhiều thế kỷ, các nhà thần-học Cơ-đốc đã lấy những sự-kiện trong thiên nhiên để lập thành những luận cứ xác-chứng sự hiện h ữu của Thượng Đế. Những lập-luận tồn tại lâu hơn hết là:
-Vũ Trụ Luận (Cosmological Argument)
Cũng có thể gọi là nhân quả luận, hễ có quả ắt phải có nhân tương ứng. Đã có vũ trụ là hệ quả, tất phải có một nguyên nhân sinh ra nó. Nguyên nhân đó chính là Thượng Đế.
-Cứu Cánh Luận (Teleological Argument)
Thế giới này có sự hài hòa và có chủ đích. Từ các nhà thiên-văn quan sát bầu trời cho đến các nhà vật-lý, quan sát nguyên tử hay tế bào, đều thấy mọi sự vật có sự sắp xếp kỳ diệu và có mục đích, như vậy phải kết luận rằng có một hữu thể khôn-sáng tạo ra chúng.
-Đạo Đức Luận (Moral Argument)
Vì con người là vật có đạo đức, biết phân biệt phải trái, nên phải có một Đấng toàn thiện tạo dựng và phán-xét họ.
-Thực Thể Luận (Ontological Argument)
Trong suy tư của con người thì cần phải có một Đấng tuyệt đối, yếu tính căn-bản của Đấng tuyệt đối là hiện hữu. Như vậy trong thực-tế phải có Đấng đó. Nếu không, mọi lý-luận của con nguời đều chỉ là tương đối, chẳng đi tới đâu hết. Chữ Hy-lạp ontos có nghĩa là “trên thực tế” hay “thật ra”.
-Tôn Giáo Luận (Religious Argument)
Các nhà khảo-cổ và nhân-chủng nhận thấy rằng con người ở đâu, thời nào cũng đều có tôn-giáo. Vì hiện tượng tôn-giáo có tính cách phổ quát như vậy nên nó phải có phần đúng. Có lẽ trong các lập-luận trên không có lập-luận nào tự nó có đủ bằng-chứng thuyết phục, nhưng nếu tổng hợp lại, chúng đủ sức chứng-tỏ niềm tin nơi Thượng Đế là hữu lý.
• Kinh Thánh Xác Nhận (Affirmed By Scripture)
Kinh Thánh xác nhận hiển nhiên là có Thượng Đế. Câu đầu tiên của Kinh Thánh “Ban đầu Đức Chúa Trời” đặt cứ điểm cho toàn bộ Kinh Thánh, sau đó không có chỗ nào chối bỏ hay bàn cãi sự-kiện đó cả.
Mỗi trang sách Thánh đều ghi đậm hình-ảnh của Thượng Đế Hằng Sống, nên nếu chấp nhận giáo-huấn của Kinh Thánh ắt phải xem vô-thần là tà ngụy. Kinh Thánh có chỗ nói rằng kẻ vô-thần là ngu dại, lý-luận của hắn phát xuất từ tấm-lòng hơn là từ trí óc (ThiTv 14:1, 53:1).
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ HỮU VỊ
(God is a Personal Being)
Sự-kiện Thượng Đế là một ngôi vị đưa lại những hệ quả quan-trọng. Chính vì Ngài là một ngôi vị nên sự mặc-khải, tương-giao và cầu-nguyện mới có ý nghĩa. Thượng Đế không phải chỉ là năng lực mù quáng, cũng không phải là tổng hợp của mọi sự vật, nhưng Ngài là một Đấng có thể nói, nghe, sai phái, ban phước, và có nhiều hoạt động khác nữa.
Vì Ngài là một ngôi vị, nên người ta có thể biết Ngài, tin-cậy Ngài, yêu-thương Ngài, tôn-thờ Ngài, và phục-vụ Ngài. Kinh Thánh tỏ-rõ rằng Thượng Đế là một ngôi vị.
• Những Suy Luận Từ Kinh Thánh (The Multitude of Biblical Inferences)
Khắp trong Kinh Thánh, nơi nào nói về Thượng Đế đều dùng tên và nhân xưng đại danh từ, điều đó chứng-tỏ Ngài là một đấng bậc (ngôi vị). Thêm vào đó, nhiều chỗ trong Kinh Thánh mô-tả Ngài có 3 đặc-điểm thiết yếu của cá tính: trí-tuệ, tình cảm và ý chí (xem ThiTv 139:1-6, NaNk 1:2, 3 ITês1Tx 4:3 5:18).
• Lời Tuyên Bố Rõ Ràng Của Kinh Thánh (XuXh 3:13, 14 - The Explicit Biblical Statement)
Khi Môi-se hỏi tên Thượng Đế là gì để ông nói lại cho dân Y-sơ-ra-ên biết, Ngài đáp rằng: “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.”
Tên đó rất có ý nghĩa, vì nó cho thấy Thượng Đế tự có, vĩnh cửu và là một ngôi vị, là Đấng “hiện có, trước đã có, và còn mãi về sau” (KhKh 11:17). Hình như đó là nguyên ngữ của chữ Giê-hô-va, là tên gọi Thượng Đế của người Do-thái. Cựu-ước nhắc đến tên này hơn 6.000 lần. Mỗi lần nhắc là một lời-chứng về vị phẩm của Thượng Đế.
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ THẦN LINH
(God is a Spirit Being)
• Lời Dạy Của Chúa Giê-xu (LuLc 24:39, GiGa 4:24) (The Teaching of Christ)
Câu Chúa trả lời cho người đàn bà Sa-ma-ri “Đức Chúa Trời là thần” là một câu rất đơn giản về văn phạm, nhưng lại rất sâu sắc về thần-học. Trong nguyên ngữ Hy-lạp không có bất định mạo tự “một.” Ngài không phải là một vị thần, mà Ngài là thần-linh: Bản thể của ngài là thần-linh.
Thần-linh có nghĩa đối lập với vật chất hay thể xác, như trong lời Chúa nói với môn-đồ sau khi Ngài sống lại. Họ hoảng sợ tưởng mình thấy một vị thần nên Ngài trấn an họ: “Thần thì không có thịt và xương, mà các ngươi thấy ta có.” Chính vì Thượng Đế là thần nên “chẳng có ai từng thấy Đức Chúa Trời bao giờ” (GiGa 1:18).
• Điều Răn Thứ Hai (XuXh 20:4,bb b5, ThiTv 145:3 - The Second Commandment)
Muốn hiểu “Mười Điều Răn” thì phải biết bản-thể của Thượng Đế. Điều răn thứ hai minh giải nguyên-tắc nầy. Vì Ngài là thần-linh nên không một loại vật chất nào có thể đại diện trung thực cho Ngài được.
Một vật hữu hình, dù chạm trỗ tinh vi khéo léo đến đâu, cũng làm lệch lạc nhận thức về Thượng Đế của người thờ-phượng. Chẳng những làm lệch lạc mà còn thu hẹp nữa. Cái gì thuộc về vật chất đều bị giới hạn trong thời gian và không gian, trong khi Thượng Đế là thần-linh nên không bị hạn chế trong cái gì cả.
• Hình-Ảnh Thượng Đế (IICôr 2Cr 4:4; CôlCl 1:15) (The Image of God)
Nếu Thượng Đế có bản thể vật chất hay có cơ thể, thì ta có thể mô phỏng hình dạng Ngài được, nhưng Thượng Đế không cùng bản-chất với thế giới vật chất vì ta không thể thấy Ngài được với con mắt vật chất (GiGa 1:18). Thực tế là Môi-se còn được chỉ dạy là không ai có thể nhìn vào mặt Thượng Đế là thần-linh thì câu nói “con người được dựng nên theo hình ảnh Thượng Đế ” có nghĩa gì (SaSt 1:27)?
Những nơi khác trong Kinh Thánh cho biết hình-ảnh đó bao gồm sự công-chính, tri-thức, thánh-khiết (CôlCl 3:10, ÊphEp 4:24). Như vậy hình-ảnh Thượng Đế nơi con người là phẩm vị, là đạo đức chứ không phải là hình thể vật chất.
THƯỢNG ĐẾ LÀ HỮU THỂ ĐỘC NHẤT
(God is One Being)
• Cơ-Đốc Giáo Và Đa Thần Giáo (PhucDnl 6:4, 5, IVua 1V 8:60, ÊsIs 42:8, 9, 44:6-8, 45:5, 6, 12, 46:9, MacMc 12:29, 30, GiGa 10:30, ICôr1Cr 8:4, ÊphEp 4:6, ITim1Tm 2:5)
Điều răn thứ nhất vang rền tại đỉnh Si-nai là bởi có lý-do xác đáng. Sự thờ lạy mặt trời, một vật thể có nhiều năng lực nhất trong thiên nhiên, rất phổ biến trong các dân-tộc của thế giới cổ.
Người Ai-cập thờ mặt trời dưới danh hiệu thần Ra. Thần Ba-anh của người Phê-ni-xi, Mô-lóc của người Am-môn, Ha-đát của người Sy-ri, Ben của người Ba-by-lôn, đều là những vị thần mặt trời. Sự thờ lạy mặt trời, mặt trăng và các thiên thể, là một trong những tội bị Kinh Thánh lên án không tiếc lời.
Ngay từ đầu, dân Y-sơ-ra-ên đã được cảnh cáo là phải coi chừng “kẻo các ngươi ngước mắt lên trời, thấy mặt trời, mặt trăng và ngôi sao cùng các cơ binh trên trời mà đem lòng thờ lạy, phục sự chúng chăng” (PhuDnl 4:19). Kinh Thánh nói trước nếu dân-tộc nào vi phạm điều răn này sẽ bị ném bỏ. Đối với cá nhân cũng vậy, bất kỳ nam, phụ, lão, ấu, nếu thờ lạy mặt trời, mặt trăng hoặc các cơ binh trên trời, thì sẽ bị xử tử vì đã làm một “điều gớm ghiếc dường ấy” (17:2-5).
Dân Do-thái sống giữa các dân-tộc đa thần (GiosGs 24:2,14,15, CacTl 10:6, IIVua2V 17:33). Ta có thể thấy sở dĩ họ được kêu gọi, biệt riêng ra là cốt để họ làm-chứng cho tính cách độc-nhất của Thượng Đế.
Không có sự thật nào nổi bật hơn điều này trong Cựu-ước. Hơn năm mươi khúc sách thánh dạy rằng Thượng Đế là một, chẳng có ai khác và chẳng có ai sánh được với Ngài.
Nếu Thượng Đế là Thần duy nhất, thì điều răn đầu tiên tất nhiên là con người phải tập trung mọi năng lực mà yêu kính Thượng Đế (PhucDnl 6:4,5, MacMc 12:29-30).
Một Thượng Đế bất phân ly (undevided God) hẳn nhiên đòi hỏi sự tuân-phục, phụng-thờ chuyên nhất (undevided allegiance) của tạo vật Ngài. Ngài không chấp nhận bất cứ ai đòi hưởng vinh dự thiên-thượng của Ngài: “Ta chẳng nhường sự vinh-hiển ta cho đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn-trọng ta cho các tượng chạm” (ÊsIs 42:8).
Tôn-giáo nào của con người không dành cho Thượng Đế sự thờ-phượng độc-tôn, là điều gớm ghiếc đối với Thượng Đế, ta không cần phải bỏ công tìm tòi xem có bao nhiêu cái tốt trong đó. Thượng Đế không chấp nhận một chỗ ngồi giữa hội các thần.
Ngài phải là tất cả hoặc không có gì cả.
• Cơ-Đốc Giáo Và Thuyết Độc Vị Nhất Thần (Unitarianism) (SaSt 1:26,3:32, ÊsIs 6:8, Mat Mt 3:16, 17, IICôr2Cr 13:14).
Từ những thế kỷ đầu tiên, người tín-đồ Cơ-đốc đã nhấn mạnh giáo-lý Ba Ngôi.
A. H. Strong đã định nghĩa giáo-lý ấy như sau: “Trong bản-thể của Thượng Đế có ba biệt thể vĩnh cửu (three eternal distinctions) bình-đẳng: đó chẳng phải là ba vị trong một, hoặc ba Thượng Đế trong một, cũng chẳng phải Thượng Đế tỏ-mình bằng ba cách. Đây là ba biệt thể thiết yếu (three essential distinction) trong sự hiện hữu của Thượng Đế.”
Trải qua nhiều thế kỷ, những người chủ trương độc-vị nhất thần, thường tấn công giáo-lý Ba Ngôi, cho rằng giáo-lý ấy chủ trương tam-thần hay chỉ là giáo-lý đa thần ngụy trang tinh vi, bởi đó xúc phạm tính cách độc nhất của Thượng Đế.
Dẫu rằng từ ngữ Ba Ngôi không có trong Kinh Thánh, giáo-lý Ba Ngôi phát xuất từ Kinh Thánh. Đó là một sản phẩm mặc-khải mà trí-tuệ con người không tài nào phát minh ra được.
Sỡ dĩ ta tin giáo-lý ấy vì Kinh Thánh đã dạy nó. Đó là một trong những bí ẩn sâu-nhiệm và khó hiểu nhất của lời Thượng Đế. Dẫu giáo-lý Ba Ngôi ở ngoài tầm hiểu biết và giải thích của trí-tuệ con người, nó đã được dạy rõ ràng trong Kinh Thánh.
Về phương diện này, ta không thể đem một cái gì trong thiên nhiên để so sánh với Thượng Đế được. Những thí-dụ thuờng dùng như: vòng tròn chia ba; ánh sáng, nhiệt, và năng lực; ba nốt nhạc hợp thành hòa âm; nước, hơi nước, và nước đá; thân, hồn, thần của con người, tất cả đều không thể làm sáng-tỏ hoàn toàn chân-lý Ba Ngôi được.
Dẫu Cựu-ước không minh thị hẳn như Tân-ước, nó có những điểm suy diễn ta chỉ có thể giải thích được bằng giáo-lý Ba Ngôi. Đại danh từ số nhiều “chúng ta” trong SaSt 1:26, 11:7, ÊsIs 6:8 không thể nói về các tạo vật như người hay thiên-sứ, như vậy phải nói về Thượng Đế.
Các khúc sách nói về Đấng Thiên-Sai (ÊsIs 9:6, MiMk 5:2, ThiTv 45:6, 7) cho thấy Ngài là một với Đức Giê-hô-va mà vẫn khác biệt với Ngài. Vị thiên-sứ của Đức Giê-hô-va cũng được mô-tả tương tự (SaSt 16:9, 13 22:11,16 31:11-13 48:15,16; XuXh 4:2,4,5; CacTl 13:20-22).
Chữ Ê-lô-him, tiếng Do-thái dùng để gọi Thượng Đế, là số nhiều, dầu nó thường đi với động từ số ít.
Tân-ước thì dạy rõ ràng về Thần-tánh của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh mà vẫn phân biệt cả ba. Chỉ có giáo-lý Ba Ngôi mới kết hợp được những lời dạy rõ ràng trong Tân-ước.
Chỉ cần đối chiếu Kinh Thánh với nhau, ta có thể biết được giáo-lý ấy, dầu không thể hiểu được hoàn toàn. Trong những bài học sau này, chúng ta sẽ thấy Kinh Thánh dạy, chẳng những Chúa Giê-xu và Đức Thánh Linh có những yếu tính của Thượng Đế Đức Chúa Cha, mà còn bình-đẳng với Ngài về quyền lực và vinh-hiển.
Ở đây ta chỉ cần đưa ra một vài dẫn-chứng.
-Đức Chúa Cha là Thượng Đế - RôRm 1:7
-Đức Chúa Con là Thượng Đế - HêbDt 1:8
-Đức Thánh Linh là Thượng Đế - CôngCv 5:3,4
Cả Tân-ước nhìn nhận mỗi ngôi vị trong Ba Ngôi đều là Thượng Đế, và nội dung của nó được đặt trên nền-tảng đó.

Chương 2: THƯỢNG ĐẾ VÔ HẠN
(The Infinitude of God)
Tác...
...-giả Thi-thiên viết “Đức Giê-hô-va là lớn và đáng ngợi khen thay; sự cao cả Ngài không thể dò lường được” (Thi Tv 145:3).
Ngay cả thời đại nguyên tử với bao nhiêu kiến-thức khoa học ngày nay cũng không thể nào thay đổi được câu nói khiêm tốn đó. Kinh Thánh nêu rõ những thuộc-tính của Thượng Đế, nhưng đặc-tính nào của Ngài cũng vượt quá tầm hiểu biết của con người.
Cái gì ở nơi Thượng Đế cũng đều toàn-vẹn và vô-hạn. Trí hiểu biết hữu hạn của con người không tài nào đo lường Thượng Đế được. Con người chỉ có thể đứng kinh ngạc trước sự vĩ đại của Thượng Đế. Nói đến chiều kích này là nói đến sự vô-hạn của Thượng Đế.
THƯỢNG ĐẾ VĨNH HẰNG
(God is Eternal)
Xưng nhận Thượng Đế vĩnh hằng là xác nhận Thượng Đế có sự sống vô hạn.
Chúng ta không thể nào đo được tương lai chưa tới, nhưng chúng ta có thể đem trí tưởng tượng trở về quá-khứ thật xa thẳm để hình dung ra cõi vĩnh cửu. Chúng ta bảo sách Sáng-thế ký là sách của những khởi đầu: khởi đầu cuộc Tạo Hóa, khởi đầu của con người, của các dân-tộc. Nhưng đó chưa hẳn là khởi đầu.
Chúng ta còn có các dân-tộc. Nhưng đó chưa hẳn là khởi đầu. Chúng ta còn có thể lui về thời kỳ tạo dựng các thiên-sứ, những Con Trai của Thượng Đế mà ngay từ buổi bình minh của công cuộc Tạo Hóa, họ đã có mặt rồi (Giop G 38:7).
Nhưng đó cũng không phải là khởi đầu nữa. Chúng ta còn có thể đi vào cõi đời-đời, khi Đấng Tạo Hóa chỉ có một mình, tất cả mọi tạo vật chỉ mới có trong ý nghĩ Ngài. Chúng ta có thể để cho trí tưởng tượng bay tới mãi, nhưng không bao giờ đến chỗ khởi đầu, vì cõi đời-đời không có điểm đầu cũng không có điểm cuối.
Con người có quá khứ, hiện tại, và tương lai, nhưng Thượng Đế chỉ có hiện tại. Quá-khứ và tương lai đều là “bây giờ” đối với Ngài. Loài người còn lại mãi mãi (everlasting) nhưng Thượng Đế là vĩnh cửu (eternal) (PhucDnl 32:40, ThiTv 90:2, ITim1Tm 6:16).
Trong KhKh 1:8 Chúa xưng mình là An-pha và Ô-mê-ga là chữ đầu và chữ cuối trong bộ mẫu tự Hy-lạp, nguyên ngữ của Kinh Thánh Tân-ước. Như vậy Thượng Đế vừa là khởi đầu, vừa là cuối cùng của thời gian. Cõi đời tôi không có đầu và cuối, còn thời gian thì có cả hai. Trong Thượng Đế, thời gian bị nuốt chửng trong cõi đời-đời và không một ai hiểu được cõi vĩnh cửu ngoài Thượng Đế vĩnh hằng.
THƯỢNG ĐẾ BẤT BIẾN
(God is Immutable)
Thượng Đế không thay đổi và chẳng ai thay đổi được. Thượng Đế vượt lên trên mọi nguyên nhân đổi thay và tình huống đổi thay. Tính bất-biến này liên-hệ với tính vô-hạn của Ngài trong thời gian cũng như không gian. Thế giới này luôn đổi thay, “song Chúa không hề biến cải ” (ThiTv 102:26, 27).
• Thượng Đế không thay đổi bản chất (Nature) của Ngài. Thượng Đế không thể tăng thêm hay giảm đi. Ngài không nằm trong quy luật phát triển hay tiến hóa nào cả. Tri-thức và quyền-năng của Ngài chẳng có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Ngài chẳng có thể khôn-ngoan hơn hay thánh thiện hơn. Ngài chẳng có thể công-chính hay nhân-từ hơn trước kia hoặc sau này. Ngài vượt lên trên mọi quy luật chi phối thời gian và biến dịch, vì lời Ngài chính là quy luật.
• Thượng Đế chẳng thể thay đổi quan-hệ giữa Ngài với con người. Ta có thể trông chờ gì ở một kẻ nay thế này mai thế khác? Chính vì lòng nhân-từ của Chúa không thay đổi nên dân Y-sơ-ra-ên bội đạo mới còn hy-vọng. “Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi, bởi cớ đó các ngươi là con trai Gia-cốp, chẳng bị diệt vong” (MaMl 3:6).
• Thượng Đế Chẳng Đổi Lời Ngài (ThiTv 119:160, MatMt 5:18, GiGa 10:35)
Con người thất hứa là chuyện thường tình thế-gian. Tại sao giữa bạn bè bà con với nhau mà mỗi một giao dịch thương mãi nào cũng làm đầy đủ giấy tờ hợp pháp? Đó chẳng phải vì người ta cho rằng nói miệng dễ bỏ qua hay sao?
Chẳng phải vì con người là tạo vật hay thay đổi sao? Có bao nhiêu lần chúng ta bị chính những kẻ mình tin cậy lừa gạt chúng ta? Con người còn là một tạo vật bị hạn chế nữa. Lắm khi họ là nạn nhân của hoàn-cảnh, khiến họ không thể nào hoàn thành bổn-phận của mình dù họ rất mong muốn. Nói chung, chuyện con người làm sai lời chẳng những là khả hữu mà còn là chuyện đương nhiên nữa.
Trái lại, lời Thượng Đế chẳng bao giờ thay đổi.
• Thượng Đế Chẳng Đổi Ý (will) (ISa1Sm 15:11, Giê Gr 26:13)
Nếu Thượng Đế không thể đổi ý, vậy thì sao có nơi trong Kinh Thánh nói Ngài “ăn-năn”?
Thái độ ăn-năn này của Thượng Đế không có nghĩa là thay đổi bản-tính và mục đích. Ngài lúc nào cũng ghét tội-lỗi và yêu thương tội-nhân. Dù là trước hay sau khi tội-nhân ăn-năn thì thái-độ Ngài cũng như một.
Về căn-bản, thái-độ Ngài không thay đổi, nhưng Ngài có thể thay đổi cách đối phó với sự thay đổi nơi con người.
Ví-dụ, thái-độ Thượng Đế đối với dân Y-sơ-ra-ên không thay đổi, Ngài ghét tội-lỗi họ, và vì họ miệt mài trong tội nên họ phải hứng chịu những trừng phạt của tội-lỗi. Nhưng Thượng Đế vẫn yêu-thương họ, nên khi họ ăn-năn và lìa bỏ tội-lỗi thì cách Thượng Đế đối-xử với họ cũng do đó mà đổi thay.
Như Strong có nói: “Tính bất biến của Thượng Đế không phải như một cục đá không có biến động gì bên trong, mà như một cột thủy ngân, lên xuống theo sự thay đổi của nhiệt độ khí quyển xung quanh”.
THƯỢNG ĐẾ TOÀN-TRI
(God is Ommiscient)
Thượng Đế toàn-tri có nghĩa là sự hiểu biết của Ngài thật vô-hạn. Sự hiểu biết của Thượng Đế vừa chính xác, tỉ mỉ, chắc chắn, lại vừa bao quát, rộng khắp. Những gì Ngài nói và làm đều tuyệt đối đúng và chân-thật. Ngài không thể nào lầm lẫn cũng như không thể nào thất bại. Chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên sững sờ kêu lên như Phao-lô: “Ôi sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn-ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời” (RôRm 11:33).
• Thượng Đế Biết Hết Quá-Khứ (CôngCv 15:18, IGi1Ga 3:20)
-Con người là vật hay quên. Dẫu có giấy bút sách vở để ghi lại ký ức, họ vẫn không nhớ được bao nhiêu quá-khứ. Họ có thể đào bới, khai quật những di tích cổ của các dân-tộc để tìm hiểu chút ít về quá-khứ. Nhưng những hiểu biết của họ thật thiếu sót biết bao và họ cũng quên đi nhanh biết bao!
• Thượng Đế Biết Hết Hiện Tại.
• Thượng Đế Biết Rõ Thiên Nhiên (SaSt 15:5, ThiTv 147:4,5, ÊsIs 40:26)
Thượng Đế bảo Áp-ra-ham hãy đếm các ngôi sao để hình dung ra số hậu tự đông đúc của ông. Nhưng vào thời Áp-ra-ham, chưa có nhà khoa học nào dám đem số ngôi sao so với cát biển.
Hipparchus, một nhà thiên-văn xưa, đếm được 1.022, và Ptolemy ghi được 1.026. Lời Giê-rê-mi nói rằng các đạo binh trên trời không thể đếm được (GiêGr 33:22) có thể bị cho là phản khoa học, nếu người ta không nhờ các dụng cụ tối tân tìm ra vô số ngôi sao không thể nào tưởng tượng nổi. Dù cho con người ngày nay vẫn chưa đếm nổi số ngôi sao, Thượng Đế chẳng những biết số mà còn biết tên từng ngôi sao một.
• Thượng Đế Biết Rõ Con Người
(1) Đường lối loài người (Thi Tv 119:168,139:3, GiopG 24:23, ChCn 5:21, HêbDt 4:13)
(2) Lời nói con người (ThiTv 19:141, 139:4)
(3) Tư tưởng con người (ThiTv 139:2, LuLc 11:17, ICôr1Cr 3:20)
(4) Ước muốn của con người (CôngCv 1:24, RôRm 8:27)
• Thượng Đế Biết Hết Tương Lai (ÊsIs 41:21-23,42:9, 46:10, 48:5-7)
Không gì có thể chứng-tỏ Kinh Thánh là lời Thượng Đế cho bằng những mặc khải trong đó cho thấy Thượng Đế biết trước mọi sự. Hơn một phần tư Kinh Thánh là lời tiên-tri.
Chúng ta chỉ cần đọc những gì Thượng Đế nói về kết cuôc của các đô thị Ba-by-lôn và Ni-ni-ve, rồi bước qua những di tích hoang tàn của những nơi đã từng là kinh thành tráng-lệ đó, chúng ta mới thấy được sự biết trước của Thượng Đế.
Không có vị tiên-tri nào cho ta cái nhìn rõ ràng về sự biết trước của Thượng Đế cho bằng Ê-sai. Các vị tiên-tri khác đều có nói Giu-đa sẽ bị các đạo quân hùng mạnh của Ba-by-lôn khuất phục, nhưng chỉ có Ê-sai là thách đố các thần của Ba-by-lôn, nếu thật là thần thì hãy nói trước những việc sẽ xảy ra.
Ê-sai đã tiên-báo tỉ mỉ về Si-ru, người chinh phục đế quốc Ba-by-lôn (ÊsIs 45:1-4, 46:11). Lời tiên-tri ấy đã nói ra từ thời đế quốc A-si-ri đang hưng thịnh, chớ chưa phải là đế quốc Ba-by-lôn, và nói về nước Ba-tư lúc ấy hãy còn là một tiểu nhược quốc. Tên vua Si-ru đã dược nhắc đến từ 180 năm trước khi ông ra đời.
Chúa Giê-xu nhiều lần nói trước Ngài sẽ chết trên thập-tự giá và sẽ sống lại (Mat Mt 16:21,17:22,23, 20:17-19, 26:1-2).
Như vậy chẳng những Ngài chứng-tỏ Ngài có thể biết trước tương lai, mà còn là Thượng Đế nữa. Những lời tiên báo đó chẳng những khó có thể xảy ra mà còn là chuyện không thể có đến nổi các môn-đồ nghe cũng không hiểu (Mac Mc 8:31-33,9:31,32,10:33).
Chẳng có một việc gì xảy ra trong những ngàn năm tới mà tâm-trí vô-hạn của Thượng Đế không biết đến.
• Thượng Đế Sử Dụng Đúng Đắn Tri-Thức Của Ngài (ÊsIs 40:13,14)
Với tất cả kiến-thức, nhưng con người lại thiếu sự khôn-ngoan cần thiết để sử dụng đúng đắn tri-thức đó. Con người luôn luôn lầm lỗi, nhưng Thượng Đế không như vậy; sự khôn-ngoan của Ngài là vô-hạn. Chỉ có Thượng Đế là nằm ngoài vòng sai lầm. Ngài chẳng bao giờ thí-nghiệm; Ngài chẳng bao giờ thay đổi kế hoạch. Thời gian chẳng dạy Ngài được điều gì. Những gì Ngài đã làm thì chẳng cần phải tu chỉnh, vì sự khôn-ngoan của Ngài bảo đảm mọi sự đều hoàn hảo.
• Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Sáng Tạo (ChCn 3:19, ÊsIs 40:12)
Một nhạc cụ trước hết đòi hỏi tài khéo của người thợ chế tạo, rồi kỹ thuật người nghệ sĩ lên dây đàn, cuối cùng là tài hoa của người nhạc sĩ diễn-tả cái đẹp của âm thanh.
Cũng vậy, trong công cuộc sáng tạo chúng ta thấy sự khôn-ngoan của Thượng Đế trước hết là trong sự tạo hình vũ trụ, rồi trong sự vận hành hài hòa của nó, và cuối cùng là tính cách ích dụng kỳ diệu của muôn loài dưới sự tể trị khôn-ngoan của Ngài. Sự khôn-ngoan của công cuộc Tạo Hóa bày-tỏ trong:
-Tính Đa Dạng (ThiTv 104:24, ICôr1Cr 15:41)
Người ta không bao giờ học hết môn động vật học hay thực vật học, vì có vô số các chủng loại sinh vật cũng như cây cỏ. Có rất nhiều thứ giống nhau, nhưng cũng có những khác biệt lạ lùng ngay giữa hai lá cùng mọc trên một cây. Cả các ngôi sao cũng vậy, “Vinh-quang của ngôi sao nầy khác vinh-quang của ngôi sao khác.”
-Vẻ Đẹp và Sự Hài Hòa (TrGv 3:11)
Hoa huệ ngoài đồng còn đẹp đẽ thơm tho hơn đóa hoa nhân tạo tinh xảo nhất. Các tinh tú vận hành rất hài hòa nhịp nhàng, nhờ vậy thái dương hệ mới được an toàn.
-Tính Ích Dụng (ChCn 30:24-28)
Sự khôn-ngoan thiên-thượng chẳng những tạo dựng mà còn ban cho tạo vật một chủ đích. Có con nhện trên tường, nhưng nó chăng lưới để bắt giống ruồi dơ bẩn. Có loài vật nhỏ xíu dưới biển, nhưng lại làm thành cả hải đảo. Ngôi sao trên trời có thể chỉ đường cho những chiếc tàu lớn trên đại dương.
• Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Bảo Toàn (ThiTv 104:13,14,27,28).
Điều này tỏ-ra trong nhiều cách, lấy một ví-dụ là trái đất. Chúng ta biết bề mặt trái đất được bao phủ bởi một lớp khí quyển thật mỏng, đó là cái vỏ làm bằng nhiều thứ khí để duy trì sự sống. Ít ai để ý tới ích lợi của khí quyển vì nó quá dư dật, nhưng nó chính là trung gian dẫn truyền ánh sáng và âm thanh, làm trung hòa nhiệt độ, và là phương tiện bảo vệ trái đất.
-Dẫn truyền ánh sáng.
Nếu không có lớp không khí bao quanh, bầu trời sẽ tối đen khi ánh mặt trời không chiếu thẳng vào. Khi mặt trời mọc, chỗ ta ở sẽ từ tối đen liền trở nên sáng rực, và trời tối liền khi mặt trời lặn; như vậy sẽ không có trời bình minh hoặc hoàng hôn.
-Dẫn truyền Âm thanh.
Nếu không có không khí, chúng ta không thể nào tạo ra hay nghe được một âm thanh nào. Tất cả các âm thanh đều do không kh í rung chuyển tạo thành và truyền đi.
-Điều nhiệt.
Lớp khí quyển giống như cái mền giữ trái đất khỏi sức nóng của mặt trời. Nếu không có nó, ban ngày sẽ quá nóng và ban đêm quá lạnh khó có sự sống tồn tại trên đất. Nhờ có khí quyển, con người mới tạo ra lửa và nhiệt được.
-Phương tiện bảo vệ.
Nếu không có khí quyển, hàng ngàn vẩn thạch bay trong không gian bị trái đất hút vào sẽ rơi xuống mặt đất với tốc độ kinh hồn. Khi quyển giống như tấm đệm cản bớt tốc độ và làm giảm độ rơi khủng khiếp của chúng.
• Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Cứu-Chuộc
* Chúa Cứu Thế, Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế (IICôr2Cr 1:24)
Thượng Đế chọn máng cỏ tồi tàn thay vì cung điện nguy nga làm nơi ra đời của con Ngài. Theo tiêu-chuẩn trần gian thì chẳng còn ai nghèo nàn hơn, thấp hèn hơn. Như vậy, chẳng ai có thể nói Cơ-đốc giáo chỉ dành cho kẻ thông-thái, người giàu có hay quý phái. Thượng Đế làm thế nào để cho mọi tội-nhân đều có thể được cứu, và khiến cho sự cứu-rỗi không tùy thuộc vào sự khôn-ngoan mà vào đức-tin của họ.
* Hội Thánh, Sự Khôn-Ngoan Của Thượng Đế (ICôr1Cr 1:21)
Chúa chọn 12 người thất học đi truyền Tin-Lành cho thế giới, để chứng-tỏ rằng không phải sự khôn-ngoan của con người mà là sự khôn-ngoan của Tin-Lành chinh phục được lòng người. Thượng Đế chọn những kẻ yếu đuối truyền-giảng Tin-Lành, và sứ-điệp “ngu dại” của họ đã chinh phục được các lục địa. Họ quảng bá Tin Lành, và Chúa - không phải các sứ-đồ - được vinh-hiển.
THƯỢNG ĐẾ TOÀN NĂNG
(God is Omnipotent)
Quyền-năng Thượng Đế là vô hạn và không chấp bất kỳ một hạn chế hay ràng buộc nào chỉ trừ ra khi Ngài muốn. Đối với Ngài, nghĩ là làm; quyết định là thi hành. Ngài phán điều gì thì có ngay điều ấy. Vì Ngài là toàn-vẹn nên không phải thí-nghiệm, mà thực hiện công tác một lần đủ cả không cần phải tu chỉnh.
• Quyền-Năng Thượng Đế Trong Công Cuộc Sáng Tạo (ThiTv 33:4-9, ÊsIs 40:12-17)
Chương đầu của sách Sáng-thế ký không phải là chỗ duy nhất trong Kinh Thánh để lại công cuộc sáng tạo. Sự khôn-ngoan và quyền của Thượng Đế trong việc kiến tạo trái đất đuợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tác-giả Thi-thiên nói rằng các từng trời bởi lời Đức Chúa Trời tạo thành, và các đạo binh ngôi sao thành hình do “hơi thở của miệng Ngài”.
Khi chúng ta cảm thấy thế giới càng ngày càng lớn hơn và con người càng ngày càng vĩ đại hơn, thì nên đọc Ê-sai 40. Chú ý đặc biệt các câu 12-17 tán dương quyền-năng của Thượng Đế.
• Quyền-Năng Của Thượng Đế Trong Công Cuộc Bảo Hộ (GiêGr 32:17-24)
Giê-rê-mi đang ở tù khi ông dâng lên lời cầu-nguyện này. Lúc đó vào khoảng cuối cuộc bao vây thành Giê-ru-sa-lem của vua Nê-bu-cát-nết-sa. Vì vị tiên-tri nhất quyết rằng cuối cùng thành sẽ bị chiếm nên ông bị bỏ tù.
Trong cảnh ngộ đó, đức-tin ông nơi Đấng Toàn Năng vẫn không lay chuyển. Ông đến với Thượng Đế với niềm tin rằng chẳng có gì là quá khó đối với Đấng dựng nên trời và đất (c. 17). Điều đáng ghi là khi ông cầu-nguyện xong thì Thượng Đế trả lời ông bằng thứ ngôn ngữ toàn-năng của Ngài (c. 27).
Giê-rê-mi tán dương quyền-năng Thượng Đế trong cách Ngài đối-xử với dân Y-sơ-ra-ên (c. 20, 24).
• Quyền-Năng Thượng Đế Trên Thiên Nhiên (ThiTv 107:25-29, Mat Mt 8:24-27)
Thi-thiên 107 mô tả một trận bão giữa biển. Những lượn sóng lớn đe dọa nhận chìm chiếc tàu xuống đáy biển. Các thủy thủ lảo đão trên sàn tàu như “người say rượu”. Nhưng khi người ta kêu cầu Thượng Đế can thiệp thì sóng êm bão lặng ngay.
Khi Thượng Đế can thiệp vào định-luật thiên nhiên thì đó gọi là phép-lạ. Phép-lạ không phải chỉ xảy ra trong thời của Chúa Giê-xu, mà ngay trong thời nay, nhiều người cũng làm-chứng Thượng Đế nhậm lời cầu-nguyện khiến trời đổ mưa, cơn cháy rừng bị đổi hướng.
• Quyền Năng Thượng Đế Trên Con Người (XuXh 5:2, 12:30,31, ĐaDn 4:30-37)
Nhiều bậc quân vuơng lỗi lạc trên thế giới thách đố Thượng Đế toàn-năng nhưng rồi mới biết rằng ngôi vị và quyền hành của mình do Thượng Đế ban cho (ChCn 8:15, 16).
Khi đại đế Napoléon kéo đại quân Âu châu sang chinh phục nước Nga, có người đã nhắc nhở ông rằng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
Vị hoàng đế đã chinh phục cả Âu châu trả lời, “Mưu sự tại ta mà thành sự cũng tại ta”. Đội quân tinh nhuệ của ông đã từng bách chiến bách thắng, nhưng Thượng Đế đã dùng những hoa tuyết nhỏ bé xíu để chôn vùi tên tuổi họ. Thượng Đế cũng đã dùng một cơn bão để triệt hạ Hạm Đội Vô địch của vua Philíp II nước Tây Ban Nha.
• Quyền-Năng Của Thượng Đế Trên Sa-tan (GiopG 1:10,12,2:6, LuLc 22:31,32)
Sa-tan, vua của các thế lực mờ tối, được gọi là thần của đời này (IICôr 2Cr 4:4), vì vậy nó chế ngự toàn bộ thế-gian. Nhưng Sa-tan không có quyền gì trên con cái Thượng Đế chỉ trừ khi Ngài cho phép. Trường hợp Gióp và Phi-e-rơ cho ta thấy rõ điều đó.
Thượng Đế có quyền hạn chế quyền lực của Sa-tan cũng như Ngài có thể chận đứng những lượn sóng dữ của đại dương. Một ngày kia Thượng Đế sẽ thống-trị trời đất, và ma quỷ sẽ bị “ném vào hồ lửa và diêm sinh, nơi con thú và tiên-tri giả đang ở, chúng sẽ đau đớn ngày đêm cho đến đời-đời” (KhKh 20:10).
• Quyền Năng Thượng Đế Trong Công Cuộc Cứu-Chuộc
Thượng Đế đã thay đổi nhanh chóng cuộc đời Sau-lơ, kẻ tàn hại Hội thánh và người cai ngục thành Phi-líp lúc ông sắp sửa tự tử. Hàng ngàn người ngày nay có thể làm-chứng tương tợ về quyền-năng giải cứu của Thượng Đế.
Một trong những câu chuyện tỏ-rõ quyền-năng Thượng Đế là chuyện của bộ lạc da đỏ Aucas hung dữ đã được biến đổi nhờ ảnh hưởng của Tin Lành sau cái chết tuẫn-đạo của 5 nhà truyền-giáo ở Ecuador. Câu chuyện được kể lại trong cuốn “The Savage My Kinsman” (Người Man Rợ Bà Con Của Tôi của Elizabeth Elliot).
• Quyền-Năng Thượng Đế Trong Sự Định Đoạt (God’s power to will)
Tính toàn năng của Thượng Đế tùy thuộc vào ý đ ịnh của Ngài. Chính cá tính toàn hảo kiểm soát năng lực vô biên của Ngài mới là lớn hơn sự toàn-năng của Ngài. Tính đạo đức toàn-vẹn của Thượng Đế khiến Ngài không thể lạm dụng sự toàn-năng của Ngài. Như vậy ý muốn của Thượng Đế tùy thuộc bản-tính của Ngài.
-Thượng Đế là khôn-ngoan vô hạn nên không thể muốn một điều ngu dại.
-Thượng Đế là công-bình vô hạn nên không thể muốn một điều bất công.
-Thượng Đế là tốt lành vô hạn nên không thể muốn một điều xấu xa.
-Thượng Đế là tinh sạch vô hạn nên không thể muốn một điều bất-khiết.
THƯỢNG ĐẾ TOÀN TẠI
(God is Omnipresent)
Tính toàn-tại của Thượng Đế đi liền với tính toàn-năng và toàn-tri của Ngài.
“Có ai ẩn núp nơi bí mật mà ta không thấy được chăng? Há chẳng phải ta đầy dẫy trời đất đó sao? Đức Giê-hô-va phán vậy?” (GiêGr 23:24).
Thượng Đế thấy được mọi sự có nghĩa là Ngài luôn luôn hiện diện. Những người phiếm thần cho rằng Thượng Đế ở trong mọi sự, nhưng Kinh Thánh dạy rằng Đấng Tạo Hóa ở ngoài tạo vật của Ngài.
Các nhà thiên-văn không đo được biên giới của vũ trụ cũng vậy, con người không thể nào hiểu được thuộc tính này của Thượng Đế.
Thi-thiên 139 nói về sự toàn-tri của Thượng Đế (c.1-6), sự toàn-năng của Thượng Đế (c.13-19), và đặc biệt là sự toàn-tại của Thượng Đế (c.7-12). Những câu này và nhiều nơi khác trong Kinh Thánh dạy rõ rằng Thượng Đế có mặt và hành động ở khắp mọi nơi.

Chương 3: THƯỢNG ĐẾ THÁNH-KHIẾT, CHÍNH-TRỰC VÀ CÔNG-BÌNH
(The Holiness, Righteousness, and Justice of God)
Nếu...
...chúng ta tin quyết mình có thể tìm được một người trên thế-gian không hề lỗi-lầm, chắc chúng ta sẽ tìm đủ mọi cách để gặp được người đó. Nhưng chúng ta biết không thể nào có một người như vậy trên đời. Diogenes, một nhà triết-học Hy-lạp rất nổi tiếng về chuyện ông cầm đèn đi rảo khắp đường phố kinh đô Athens trong ban ngày để một tìm người lương thiện. Ông không bao giờ tìm được một người như vậy. Thật ra, chính Diogenes cũng đã bị lưu đày biệt xứ vị tội làm bạc giả.
Có thể có nhiều người không hề muốn làm một điều sai trái nào, nhưng không hề có một người nào mà ta có thể nói là “không thể làm sai”.
Chúng ta đã thấy Thượng Đế không thể sai lầm trong tri-thức, vì Ngài là toàn-tri. Ngài cũng không thể sai lầm về đạo đức, vì Ngài là thánh-khiết. Ngài cũng không thể quyết định sai lầm về lỗi-lầm của người khác vì ngài là công-bình.
“Đấng phán-xét toàn thế-gian há chẳng làm điều đúng sao?” Đó là câu hỏi của Áp-ra-ham khi ông nghe Chúa sẽ hủy diệt Sô-đôm (SaSt 18:25). Vâng, Đấng phán-xét toàn thế-gian chỉ làm điều đúng, vì chúng ta sẽ thấy rằng bản-tính của Ngài là thánh-khiết không chỗ trách được, và sự công-bình của Ngài khiến cho sự phán-xét của Ngài tuyệt đối không thể sai lầm.
SỰ THÁNH-KHIẾT CỦA THƯỢNG ĐẾ
(God’s Holiness)
Thánh-khiết có nghĩa không phải chỉ có một vài đức tính mà có đủ tất cả. Ngay cả những người tốt hơn hết, có một số đức tính nổi bật, cũng có những mặt tệ hại khác.
Socrates là một nhà hiền-triết gương mẫu, nhưng lại bạc đãi vợ con, Aristotle và Plato là những giáo-sư dạy điều khôn-ngoan, nhưng lại dung chấp thói luông tuồng của người đồng hương. Cato nổi tiếng là chân-thật, nhưng lại hung dữ với nô-lệ, Người mạnh nhất cũng có những điểm yếu khiến không thể sắp họ vào hạng thánh-khiết hoàn-toàn.
Vương niệm tối tôn thuộc về Thượng Đế, không phải vì ta phong cho Ngài, nhưng vì tự Ngài xứng đáng như vậy.
• Kinh Thánh Dạy Rõ Về Sự Thánh-Khiết Của Thượng Đế (Gios Gs 24:19, ISa1Sm 2:2, GiopG 36:23, ThiTv 99:9, ÊsIs 5:16, Êxe Ed 39:7, KhKh 4:8).
* Trong Cựu-Ước
-Cựu-ước nhấn mạnh sự thánh-khiết của Thượng Đế. Thượng Đế được gọi là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên 30 lần trong sách Ê-sai và nhiều lần trong Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên. Trái với những dân-tộc lân cận thờ thần-tượng, tuyển dân của Thượng Đế luôn luôn được nhắc nhở về 2 đặc-tính lớn của Thượng Đế.
(1) Ngài là Thượng Đế duy nhất.
(2) Ngài là Thượng Đế thánh-khiết.
Khi luật-pháp đã không thể khiến dân Y-sơ-ra-ên thấy được sự thánh-khiết của Thượng Đế, Ngài đã sai các vị tiên-tri đến để nhấn mạnh cho dân Y-sơ-ra-ên thấy điều quan-trọng hàng đầu này. Đối với các vị tiên-tri, Thượng Đế là Đấng thánh-khiết tuyệt đối, mắt Ngài tinh sạch không thể nhìn điều ác, Ngài nhanh chóng sửa phạt tội-lỗi.
* Trong Tân-Ước
Cả Ba Ngôi đều mang thuộc tánh thánh-khiết
-Đức Chúa Cha là Đấng Thánh (GiGa 17:11)
-Đức Chúa Con là Đấng Thánh (CôngCv 3:4)
-Đức Chúa Thánh Linh là Đấng Thánh (13:52).
Thượng Đế thánh-khiết là chân-lý căn-bản của Kinh Thánh cả Cựu-ước lẫn Tân-ước, của Do-thái giáo lẫn Cơ-đốc giáo.
• Mười Điều Răn Dạy Về Sự Thánh-Khiết Của Thượng Đế (XuXh 19:10-13, 20:7-11)
Mệnh-lệnh nghiêm khắc cấm dân Y-sơ-ra-ên đến gần núi Si-nai khi Thượng Đế đích thân truyền dạy Mười Điều Răn, là để cho dân Y-sơ-ra-ên ý thức được sự thánh-khiết của Ngài.
-Điều răn thứ nhất và thứ nhì nhấn mạnh tính cách độc nhất vô nhị của Thượng Đế, còn điều răn thứ ba và thứ tư nhấn mạnh sự thánh-khiết của Ngài. Cái gì thuộc về Thượng Đế - danh Ngài và ngày của Ngài - đều phải được tôn-thánh. Nên nhớ rằng những điều răn này cũng quan-trọng như những điều liên-quan đến giết người và trộm cắp.
• Luật Nghi Lễ (Ceremonial Law) Dạy Về Sự Thánh-Khiết Của Thượng Đế (XuXh 39:30, LeLv 11:44, 45, 19:2)
Chủ-đề của sách Lê-vi là “thánh-khiết”, một chữ được dùng đến 87 lần trong 20 đoạn. Chủ ý của nó là, “Các ngươi phải nên thánh, vì Ta, Giê-hô-va và Đức Chúa Trời ngươi, là thánh.”
Sách này cùng với các sách của Ngũ Kinh Môi-se nêu rõ sự thánh-khiết của Thượng Đế.
Kiểu Đền tạm cũng trình bày sự thánh-khiết của Thượng Đế. Thượng Đế hiện diện trong một gian phòng đặc biệt gọi là Nơi Chí Thánh, tại đây không một ai được phép vào ngoại trừ vị thượng-tế, và ông cũng chỉ được phép vào đó mỗi năm một lần (XuXh 26:33, LêLv 16:2).
• Các Thị-Tượng Cá Nhân (Personal Visions) Cho Thấy Thượng Đế Là Thánh-Khiết
Trong các thị-tượng Thượng Đế mặc-khải cho con người trong Kinh Thánh, đặc-điểm gây ấn-tượng mạnh mẽ hơn hết cho họ là sự thánh-khiết của Ngài.
-Thị-tượng của Môi-se (XuXh 33:18-23)
Vinh-quang mà Thượng Đế cho Môi-se được nhìn thấy thật ra là vinh-quang của sự thánh-khiết Ngài.
-Thị-tượng của Ê-sai (ÊsIs 6:1-5)
Ê-sai là một người thánh thiện bậc nhất của cả Y-sơ-ra-ên, thế m à khi ông nhìn thấy vinh-quang của Thượng Đế, ông nhận biết mình và dân-tộc mình là tội-lỗi.
-Thị-tượng của Giăng (KhKh 4:8-11)
Mỗi khi được nhìn và mô-tả thiên-đàng là ông cho thấy hình ảnh vinh-quang của Thượng Đế, và những kẻ ở nơi đó tung hô sự thánh-khiết của Ngài.
• Sự Trừng Phạt Những Kẻ Phạm Thượng Dạy Cho Ta Sự Thánh-Khiết Của Thượng Đế.
-Na-đáp và A-bi-hu (LêLv 10:1-3)
Na-đáp và A-bi-hu phạm-tội khinh lờn. Họ hạ thấp giá-trị thánh chức tế-lễ khi dâng lửa lạ trước mặt Chúa. Dầu là con A-rôn, những con người khinh mạn đó đã phải lãnh cái chết thình lình và lạ lùng bởi lửa từ trời.
-Cô-rê, Đa-than, A-bi-ram (DânDs 16:4-12, 31-33)
Ba người này cũng hạ thấp giá-trị thánh chức tế-lễ khi họ nổi loạn chống lại quyền bính của Môi-se và A-rôn. Môi-se khiêm-nhường đề nghị hãy để Chúa định đọat giữa một bên là Cô-rê và đồng bọn và bên kia là Môi-se và A-rôn.
Chúng ta hãy để ý lời cảnh cáo của Môi-se: “Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt các ngươi riêng ra với hội chúng Y-sơ-ra-ên, và khiến các ngươi lại gần Ngài làm việc trong đền tạm Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc trước mặt hội chúng, việc ấy há là nhỏ mọn sao?” (16:9).
Lập tức Thượng Đế trừng phạt họ và đất hả miệng nuốt trọn Cô-rê và đồng đảng của ông ta.
-Ô-xia (IISu 2Sb 26:16, 21)
Ô-xia, vua Giu-đa, tiếm dụng chức tế-lễ và cả gan đốt hương cho Chúa. Trong khi ông làm công việc bị cấm ấy, các thầy-tế và hội chúng Y-sơ-ra-ên thấy mặt ông nổi phung và ông đã mang bịnh ấy cho đến khi qua đời.
• Sự Dự Bị Một Đấng Cứu-Chuộc Cho Ta Thấy Sự Thánh-Khiết Của Thượng Đế (ChCn 15:9,26, ÊsIs 59:1, 2, RôRm 5:8,11)
Tội-lỗi l à điều gớm ghê trước ánh sáng thánh-khiết của Thượng Đế, vì vậy tội-nhân phải bị phân cách khỏi Thượng Đế. Trong cõi đạo đức, Thượng Đế và tội-nhân đứng ở hai cực đối nghịch.
Làm sao Thượng Đế có thể trừng phạt tội-lỗi mà vẫn hòa giải được với tội-nhân? Câu trả lời là Chúa Giê-xu, Đấng Cứu-chuộc đến từ Thượng Đế.
Thập-tự giá cho thấy Thượng Đế ưa sự thánh-khiết đến chừng nào. Thập-tự giá biểu dương sự thánh-khiết của Thượng Đế cũng như Tình yêu thương của Ngài. Ta không thể nào thấy nỗi tình yêu của Thượng Đế nếu không nhìn trong ánh sáng của cơn phẩn nộ Ngài đối với tội-lỗi.
Đấng Cứu Thế không phải chỉ chết thế tội-lỗi chúng ta, mà Ngài còn ban cho chúng ta sự chính-trực là điều vừa lòng Thượng Đế.
SỰ CÔNG-CHÍNH CỦA THƯỢNG ĐẾ
(God’s Righteousness)
Tính thánh-khiết của Thượng Đế.
Thánh-Khiết là bản-tính của Thượng Đế, nó được biểu lộ nơi sự công-chính trong mối giao tiếp với con người. Những điểm sau đây chứng-tỏ điều ấy.
• Thượng Đế Ghét Tội-Lỗi (Thi Tv 5:4, 11 ChCn 6:16, HaKb 1:13)
Không ai là không biết sự có mặt và quyền lực của tội-lỗi. Tội-lỗi là nguyên nhân tối hậu của mọi bệnh tật và đau khổ (SaSt 3:17-19). Có những người cho rằng không có thiên-đàng. Họ không muốn biết có gì tốt hơn ngoài trái đất này.
Nhưng có gì sung sướng trong thế giới đầy bệnh hoạn, đau buồn, tội-lỗi này? Cái thế giới mà nhiều người cho là thiên-đàng trên đất này, chẳng có gì làm thỏa mãn được linh-hồn con người. Càng thấy nó nhiều càng ít muốn nghĩ tới nó. Càng đi qua nhiều, càng muốn thoát ra khỏi.
Mỗi năm có hàng ngàn người tự-tử để trốn thoát nó.
Chẳng những xung quanh ta nhan nhản những bằng chứng và hậu quả của tội-lỗi, mà ngay trong bản thân ta cũng đầy ắp tội-lỗi (RôRm 3:23). Đếm cát trên bãi biển còn dễ hơn đếm tất cả những lỗi-lầm của một đời người. Thượng Đế không bao giờ ưng chịu tội-lỗi dù là tội nhỏ hơn hết cũng vậy (Gia Gc 2:10).
Bản tính Thượng Đế là gớm ghê tội-lỗi đến cùng cực. Ngài thật tinh-khiết không thể bị điều ác cám-dỗ. Nếu có sự khác biệt trong các thuộc-tính của Thượng Đế, tính thánh-khiết của Ngài vẫn đứng hàng đầu. Một khi nhận chân được sự thánh-khiết đạo đức tối hảo của Thượng Đế, ta sẽ thấy ngay sự gớm ghiếc của tội-lỗi. Danh Ngài là thánh, Ngài ngự trên nơi cao và thánh với những người thánh sạch.
• Thượng Đế Dự Bị Một Nơi Ở Thánh-Khiết (Thi Tv 47:8, 5:4, ÊsIs 63:15, KhKh 4:1-11)
Thượng Đế ngự ở đâu? Chúng ta đã biết Thượng Đế là toàn-tại, nhưng trong nơi ngự trị vô biên của Ngài có một chỗ có thể gọi là nơi ở của Ngài. Kinh Thánh cho biết có 3 tầng trời:
-thứ nhất là bầu khí quyển bao quanh trái đất bao gồm không những thái-dương hệ, mà cả những ngôi sao, thiên-hà, tinh hệ làm thành vũ-trụ bao la.
-Nhưng trên hết và bên ngoài những cái đó, là một nơi đặc biệt dành cho sự hiện diện của Thượng Đế. Chương bốn sách Khải-huyền có lẽ là khúc sách mô-tả linh động hơn hết quang cảnh Thượng Đế uy nghi ngự trên ngai được thần dân tôn-thờ.
Giác quan hữu hạn của chúng ta không thể nào hiểu hết cảnh tượng vinh-quang và uy nghiêm này. Tại tổng hành dinh của công cuộc Tạo Hóa này, Thượng Đế ngự trong nơi ở thánh-khiết.
Những người không muốn sống thánh-khiết trên đất không thể hy vọng được vào thiên-đàng. Dầu cho được nhận vào đó, họ cũng cảm thấy không thoải mái. Cũng như Whitefield, nhà truyền-đạo lừng danh từng nói: “Ở thiên-đàng, người bất-khiết sẽ rất khổ sở nên họ sẽ xin Thượng Đế cho họ chạy xuống hỏa-ngục để trú thân ”. Chỉ những kẻ “đói khát sự chính-trực” mới được “no đủ” hạnh phúc và thánh-khiết của thiên-đàng.
THƯỢNG ĐẾ CÔNG-BÌNH
(God’s Justice)
Tính công-bình là hệ quả của tính thánh-khiết của Thượng Đế. Nếu cho rằng chính-trực là sự yêu thích thánh-khiết của Thượng Đế thì công-bình là sự phán-xét của Thượng Đế đối với tội-lỗi.
• Duy Trì Sự Chính-Trực (Upholding Righteousness) (PhucDnl 10:17,18, ThiTv 89:14, 97:2)
Vì Thượng Đế yêu thích chính-trực nên thiên-đàng phải có công-bình tuyệt đối và phán-xét không sai lầm. Ngài biết rõ điều nào phải điều nào trái nên không thể nào thiên-vị. Ngài không trọng riêng người nào, không bị hối lộ gây ảnh hưởng để làm một điều gì khác ngoài sự công-bình tuyệt đối.
• Bảo Vệ Người Công-Chính (SaSt 18:24-26, ThiTv 96:11-13)
Để nâng cao sự công-chính, Thượng Đế phải bảo vệ người công-chính, là những người được Thượng Đế kể là công-chính do tin đến Chúa Cứu Thế Giê-xu (RôRm 10:10: ICôr1Cr 1:30, Phi Pl 3:9) ở dưới đất cũng như trên trời.
-Lót (SaSt 18:19, IIPhi 2Pr 2:7, 8)
Lời cầu-nguyện tha thiết của Áp-ra-ham cho cháu mình là Lót được nhậm, không phải là thành Sô-đôm gian ác khỏi bị hủy diệt mà Lót đã được cứu thoát cách kỳ diệu.
-Đa-vít (ISa1Sm 17:37)
Dầu Đa-vít đấu sức với sư tử, gấu, hay tên khổng lồ Gô-li-át, mạng sống ông đều được bảo toàn vì Thượng Đế phù hộ ông.
-Đa-ni-ên (ĐaDn 6:22).
Nơi an toàn nhất cho Đa-ni-ên trong khắp xứ Ba-by-lôn là hang sư tử, vì nơi đó ông được bảo-đảm có sự phù hộ của Thượng Đế, như Ngài đã bảo-toàn Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô trong lò lửa hực (3:28).
Phi-e-rơ (CôngCv 12:11)
-Trong ngục, Phi-e-rơ ngủ thật bình thản, dầu ông bị xích với 4 tên lính gác, và đã bị kết án đem ra xử-tử vào ngày hôm sau. Mạng sống ông được bảo-toàn cho đến khi ông hoàn tất công tác.
-Phao-lô (CôngCv 27:21-25)
Mạng sống của Phao-lô bị đe dọa liên miên trong thời gian này. Bốn mươi người Do-thái thề không ăn không uống cho đến khi giết được vị sứ-đồ can trường. Chính quyền La-mã cứu và bảo vệ ông, nhưng cũng phải khoanh tay trước cơn bão khủng khiếp đe dọa nhận chìm chiếc tàu luôn với mọi người trong đó xuống đáy biển. Thoát được cơn bão, tính mạng ông bị đe dọa vì con rắn độc quấn chặt vào tay ông. Nhưng Thượng Đế cần ông lại La-mã nên Ngài hứa quyết phù hộ ông cho đến khi ông tới thành ấy.
Thượng Đế chẳng những bảo vệ những cá nhân chính trực, mà Ngài cũng bảo vệ các dân-tộc ngay lành. Ngài đã nhiều lần bảo vệ tuyển dân Ngài là Y-sơ-ra-ên. Cũng vậy, Ngài đã bảo vệ Hội Thánh Ngài, “Các cửa âm-phủ chẳng thắng được Hội đó” (MatMt 16:18).
• Ban Thưởng Cho Người Công-Chính (ThiTv 11:4, 5, 7, MatMt 5:6, 13:43, RôRm 14:10, ICôr1Cr 3:12-15, IICôr 2Cr 5:10, IITim2Tm 4:8)
Kinh Thánh nói rằng Chúa thử-thách sự ngay lành của con người để cho thấy có chân-thật không. Những người tin yêu điều chính-trực và ghét sự gian tà thật là sung sướng, vì họ sẽ được Thượng Đế thưởng, cho vào nước công-chính của Ngài.
Thượng Đế cũng hứa ban vương miện công-chính cho những ai vui mừng mong-đợi sự hiện đến của vị Chánh Án Công-Chính để thực thi công-lý trên đất. Hiện nay chúng ta không được thưởng hết, nhưng trước ngai phán xét của Chúa, chúng ta sẽ nhận được phần thưởng cho những điều lành mà chúng ta đã làm, không phải để tự tôn-vinh mình mà để tôn-vinh Chúa. Tính công-chính của Thượng Đế bảo-đảm cho điều đó.
• Trừng Phạt Kẻ Ác (ThiTv 7:1-17,11:6, MatMt 25:46)
-Thượng Đế phẫn nộ là điều có thật. Thượng Đế là thánh-khiết tuyệt đối, nên Ngài cũng tuyệt đối ghét tội-lỗi. Trước một hành động bỉ ổi, chúng ta giận phừng lên, điều ấy cho ta thấy phần nào mức-độ ghét tội-lỗi của Thượng Đế.
Nhưng cơn phẫn nộ của Thượng Đế trước một tội-lỗi nhỏ hơn hết vẫn vô cùng lớn hơn cơn giận của chúng ta trước một tội ác tày đình.
Thượng Đế phải trừng phạt tội-lỗi, nếu không Ngài không còn là Thượng Đế. Nếu Ngài dung túng tội-lỗi, không trừng phạt tội-nhân, ắt Ngài phải thoái vị khỏi ngai thánh khiết công-bình của Ngài. Một vị vua nhân từ buộc phải trừng phạt những kẻ có tội. Ngay những kẻ ác cũng phải công nhận việc trừng phạt họ là công-bình.
-Ta thấy điều đó trong trường hợp vua Pha-ra-ôn (XuXh 9:27). Sau khi bị tai vạ mưa đá, vua nhìn nhận “Lần này trẫm đã phạm tội: Đức Giê-hô-va là công bình, trẫm cùng dân trẫm là kẻ phạm tội.”
Pha-ra-ôn không ăn-năn, về sau ông chết trong lúc ra mặt chống nghịch Thượng Đế. Nhưng ở đây ông nhìn nhận Thượng Đế trừng phạt ông là hoàn toàn công-bình. Mọi tội nhân cuối cùng rồi đều sẽ như vậy. Mọi miệng đều sẽ ngậm lại và cả thế-gian đều sẽ chịu tội trước mặt Thượng Đế (RôRm 3:19).

Chương 4: THƯỢNG ĐẾ CHÂN-THẬT, THÀNH-TÍN VÀ YÊU-THƯƠNG
(The Truthfulness, Faithfulness, and Love of God)
Chúng...
...ta đã học hỏi nhiều về sự thánh-khiết và công-bình của Thượng Đế để biết rằng tội-nhân không thể nào ở chung với Thượng Đế thánh-khiết và không thể nào thoát khỏi án phạt của Thượng Đế công-bình.
Nhưng ngoài đức tính thánh-khiết công-bình của Thượng Đế, có những trường hợp khẳng định cho chúng ta biết rằng người lành sẽ được thưởng và người ác sẽ bị phạt.
Làm sao ta biết rằng người lành sẽ được thưởng và người ác sẽ bị phạt? Làm sao ta biết có thiên-đàng, hỏa-ngục? Như chúng ta sẽ thấy sau đây, các đức tính chân-thật, thành-tín, yêu-thương của Thượng Đế chứng-tỏ rằng những nơi đó có thật.
SỰ CHÂN-THẬT CỦA THƯỢNG ĐẾ
(The Truthulness of God)
Những khúc Kinh Thánh sau đây bày-tỏ đức tính chân-thật của Thượng Đế: DânDs 23:19, PhucDnl 32:4, ISa1Sm 15:29, IISa 2Sm 7:28, ThiTv 146:6, TitTt 1:2.
• Bản Chất Của Thượng Đế (The Nature of God)
Thượng Đế không vướng vào những khiếm khuyết thường khiến con người giả dối. Thượng Đế không bao giờ lừa dối hay giả ngụy vì:
-Th ượng Đế Rất Khôn Sáng Không Thể Dối Trá Được (Too wise to be untruthful)
Chỉ có kẻ dại mới nói dối. Hắn nói dối chỉ vì thấy cái lợi trước mắt, nhưng sớm muộn gì hắn cũng sẽ học được rằng “chân-thật là phương sách hay nhất.”
Chân-thật lúc đầu có thể bị thiệt, nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng. Bạn có cho rằng Thượng Đế sẽ chọn phương sách của kẻ ngu đốt không? Đấng biết hết mọi sự lại chẳng đủ khôn-ngoan để chọn sự thật sao?
-Thượng Đế Rất Quyền-Năng Không Thể Dối Trá Được (Too powerful to be untruthful)
Có người nói rằng con người nói dối “Cho qua cơn ngặt nghèo”, nhưng Thượng Đế có bao giờ bị ngặt nghèo đâu? Con người cần nói dối để được một cái lợi nhãn tiền, nhưng Thượng Đế có bao giờ cần điều gì? Ngài phán: “Mọi thú rừng đều thuộc về ta, các bầy súc vật trên ngàn núi cũng vậy. Ta biết các chim của núi; mọi vật sống động trong đồng ruộng thuộc về ta. Nếu ta đói, ta chẳng nói cho ngươi hay; vì thế-gian và muôn vật ở trong, đều thuộc về ta” (ThiTv 50:10-12).
Con người lừa dối để được danh dự và tiếng khen, nhưng Thượng Đế chẳng cần những vật thọ tạo vô ơn tôn-vinh Ngài. Tâm hồn chính trực của Ngài rất ghét tiếng khen của kẻ bất-khiết. Vinh-quang của Ngài đã quá lớn không cần phải hạ mình nói dối để được con người tôn-kính trọng vọng.
• Phẩm Tính Của Thượng Đế (The Character of God)
-Thượng Đế Rất Thánh-Khiết Không Thể Dối Trá Được (Too Holy to be untruthful)
Không phải vì con người dối trá nên anh ta là tội-nhân, nhưng vì anh ta là tội-nhân nên anh ta mới dối trá. Khuynh hướng dối trá là do từ bản chất hư hoại của anh ta.
Nhưng Thượng Đế không phải là con người nên Ngài không thể nói dối. Đức thánh-khiết tuyệt đối khiến Ngài không thể nghĩ đến dối trá được.
-Thượng Đế Quá Cao Cả Ngài Không Thể Dối Trá Được (Too Honorable to be Untruthful) (HêbDt 6:13-18)
Khúc Kinh Thánh trên cho ta biết về 2 điều bất biến khiến Thượng Đế không thể nói dối được.
(a) Điều đầu tiên là danh dự của Ngài. Thượng Đế xem danh dự của Ngài là quý giá hơn bất cứ điều gì. Lời Ngài phải được thành tựu với bất kỳ giá nào, bởi vì bản tính thánh-khiết của Ngài buộc phải như vậy.
(b) Thứ hai là lời thề của Ngài. Ở đây cho thấy Chúa dùng lời thề để xác nhận lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham.
SỰ THÀNH TÍN CỦA THƯỢNG ĐẾ
(The Faithfulness of God)
Đức tính chân-thật của Thượng Đế biểu lộ trong đức tính thành-tín. Ngay từ khởi thủy lịch-sử loài người, ma quỉ đã xuyên tạc để con người nghĩ rằng Thượng Đế là không chân-thật. Kinh Thánh đã nói gì? (PhucDnl 7:9, IVua 1V 8:56, ThiTv 36:5, CaAc 3:23, ICo1Cr 1:9, ITês1Tx 5:24, HeDt 10:23).
• Thượng Đế Thành-Tín Trong Lời Hứa
-Lời-hứa với A-đam (SaSt 3:15, GaGl 4:4)
Thượng Đế cảnh cáo A-đam rằng nếu ông ăn trái cấm chắc chắn sẽ chết. Sa-tan tuyên bố rằng lời đó là giả dối; A-đam không chết đâu. Nhưng thật sự ông đã chết phần tâm-linh ngay khi ông phạm-tội, và điều đó chứng-tỏ Thượng Đế là chân-thật và Sa-tan là giả dối.
Tuy nhiên, khi A-đam ăn-năn, Thượng Đế hứa ban một Đấng Giải Cứu đến chà đạp đầu con rắn, và lời Ngài đã được thực hiện khi Chúa Cứu Thế ra đời.
-Lời-hứa với Áp-ra-ham (SaSt 15:13, XuXh 2:24)
Thượng Đế hứa với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ làm cho ông nên một dân lớn và ban cho dòng dõi ông giải đất mà ông đang cư ngụ.
Vậy mà suốt trong 400 năm, con cháu ông phải mang thân phận của người khách lạ và phải chịu kềm kẹp hiếp đáp, đến cuối cùng Thượng Đế giải cứu họ khỏi bàn tay của chủ nhân ông của họ. Thượng Đế nghe tiếng than van của dân Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập và nhớ lại giao-ước Ngài với Áp-ra-ham.
-Lời-hứa với Môi-se (XuXh 3:12, 21:4, 12, 33:14)
Thượng Đế hứa với Môi-se rằng Ngài sẽ ở với Môi-se, dạy ông những điều phải nói, khiến dân Y-sơ-ra-ên được lòng người Ai-cập, và cho họ vào xứ Ca-na-an. Trong bài diễn văn từ giã, Môi-se đã liệt kê một danh sách dài những lời-hứa Thượng Đế đã hứa với dân Ngài và thực hiện cho họ (PhuDnl 26:7-9).
-Lời-hứa với Giô-suê (GiosGs 1:1-5, 23:14)
Thượng Đế hứa với Giô-suê như Ngài đã hứa với Môi-se. Đối với nhà quân sự tài ba này, Thượng Đế đã thành-tín đến nỗi trong thông-điệp cuối cùng ông tuyên-bố rằng “Trong các lời lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các người đã phán về các ngươi, chẳng có một lời nào sai hết, thảy đều ứng nghiệm cho các ngươi; thật chẳng có lời nào sai hết.”
-Lời-hứa với Đa-vít (IISa2Sm 7:7-16)
Thượng Đế hứa rằng con của Đa-vít là Sa-lô-môn sẽ xây đền thờ. Trong lễ khánh thành công trình kiến trúc đồ sộ đó, vị vua khôn-ngoan lỗi lạc tuyên bố rằng trong những lời lành mà Thượng Đế cậy tay Môi-se, tôi-tớ Ngài phán hứa, không có lời nào là không thành (IVua 1V 8:56).
• Thượng Đế Thành-Tín Trong Sự Phán-Xét
Lịch-sử ghi lại cho thấy Thượng Đế không bao giờ quên giữ lời Ngài cảnh cáo là sẽ đoán phạt tội-lỗi. Bất cứ lời cảnh cáo nào không được để tai nghe đến, sẽ luôn luôn có trừng phạt tiếp theo.
-Lời cảnh cáo người thời trước Cơn Hồng Thủy (SaSt 6:11-13, LuLc 17:26, 27, IIPhi 2Pr 2:5)
Cơn tai ương cuốn cả nhân loại đi, chỉ trừ một gia đình sống sót, chứng-tỏ rằng con số đông không ảnh hưởng gì đến sự phán-xét của Thượng Đế. Thế giới vô-tín bị tiêu diệt như lời Ngài đã phán.
Cái mống (cầu vồng) mà Thượng Đế dùng làm dấu chỉ cho lời Ngài hứa sẽ không tiêu diệt đất bằng nước lụt nữa, cũng chứng-tỏ rằng Thượng Đế không thể nói dối.
Từ đó đến giờ vẫn có những cơn lụt lớn ở nhiều nơi, nhưng không có cơn lụt nào bao trùm cả thế giới như thời Nô-ê.
-Lời cảnh cáo thành Sô-đôm (SaSt 18:20,21, LuLc 17:28,29, IIPhi 2Pr 2:6-8)
Lót là một nhà truyền-giáo thầm lặng ở thành phố Sô-đôm. Gương sống của ông là một lời cảnh cáo cho sự gian ác của thành phố đó, nhưng ngay cả gia đình ông cũng không tin Thượng Đế sẽ tiêu diệt Sô-đôm (SaSt 19:12-14). Nếu có mười người công-chính trong Sô-đôm, Thượng Đế ắt đã chừa Sô-đôm lại như lời Ngài đã hứa với Áp-ra-ham (18:32). Nhưng vì không có đến số đó nên Ngài chỉ cứu gia đình Lót bởi ơn thương-xót của Ngài (19:16).
-Lời cảnh cáo Pha-ra-ôn (XuXh 5:1-3, ThiTv 105:26-36)
Pha-ra-ôn là một ông vua thế lực và kiêu-căng của một dân-tộc hùng cường nhất vào thời cổ. Ông cần gì phải để ý đến Giê-hô-va, một vị thần của một bộ lạc nhỏ? Nhưng Pha-ra-ôn đã học được bài học rằng Thượng Đế của Y-sơ-ra-ên là Thượng Đế của cả trời và đất, Đấng thi hành sự phán-xét theo những chỉ thị của Ngài.
Hãy nghiên-cứu về 10 tai vạ với những lời cảnh cáo trước, ta sẽ thấy Thượng Đế giữ lời Ngài thật chính xác thế nào.
-Lời cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên (PhucDnl 7:6-11, GieGr 25:4-11)
Thượng Đế đã cảnh cáo nhiều lần cho tuyển dân Ngài, qua các nhà tiên-tri trung-tín: “dậy sớm và nói” rằng họ sẽ mất tự-do và đất đai, nếu họ không ăn-năn tội-lỗi mà quay về cùng Chúa. Dầu Y-sơ-ra-ên là “báu vật” của Ngài, là kẻ yêu dấu bởi đức-tin của tổ-phụ họ, họ vẫn bị Ngài trừng phạt.
-Lời cảnh cáo Ni-ni-ve và Ba-by-lôn.
Hai vị tiên-tri Na-hum và Ha-ba-cúc đã viết đặc biệt về những tai họa sẽ đổ xuống trên những thành phố vĩ đại tráng lệ này của thời cổ. Ngay lúc đó họ đang trên đỉnh cao của cường thịnh, sự đổ nát là chuyện quá xa vời đối với họ.
Nhưng khi dạo qua những đống hoang tàn của các thành phố ấy, ta có thể đánh bạo hỏi người khách qua đường: “Đấng đã phán, Ngài sẽ không làm sao? Lời nguyền rủa của Đức Chúa Trời há là lời hồ đồ sao? Lời của Ngài há rơi rớt xuống đất sao?”
TÌNH YÊU CỦA THƯỢNG ĐẾ
(The love of God)
Sứ-đồ Giăng, bởi Thánh Linh cảm-thúc, đã ghi lại cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về Thượng Đế trong những câu thật tóm gọn: Thượng Đế là thần-linh (GiGa 4:24), Thượng Đế là ánh sáng (IGi1Ga 1:5), Thượng Đế là tình yêu (4:8).
Trong tất cả những đặc-tính của bản-thể Thượng Đế, không có điều gì cảm động lòng con người bằng tình yêu. Không lạ gì GiGa 3:16 là câu Kinh Thánh ưa thích của hàng triệu người tin. Câu đó không tán dương sự khôn-ngoan vô biên, quyền-năng tuyệt đối, hay sự thánh-khiết bất biến của Thượng Đế, mà tán dương tình yêu vĩ đại của Ngài.
• Thượng Đế Yêu Thương Ai?
-Chúa Con (MatMt 3:17, 17:5, MacMc 1:11,9:7, LuLc 9:35, 20:13, GiGa 5:20,15:19,17:24)
Mỗi lần có tiếng từ trời chứng-rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế, thì nói rằng Ngài là “Con yêu dấu”. Trong lễ báp-têm, rồi trong buổi hóa hình, chúng ta đều nghe lời thân thiết đó cùng với lời-chứng ưng thuận về Ngài.
Chúa Giê-xu cũng nói đến tình yêu của Cha đối với Ngài, khi Ngài nói chuyện với môn-đệ, cũng như với những người Do-thái vô-tín.
“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất” nhưng trước đó rất xa Ngài đã yêu Đức Chúa Con. Dĩ nhiên nếu Thượng Đế là vĩnh cửu, bản chất yêu-thương của Ngài đòi hỏi phải có đối tượng đời-đời để yêu-thương. Bởi vậy, Chúa Giê-xu đã thưa với Đức Chúa Cha
“Cha đã yêu Con từ trước buổi sáng tạo thế giới” (GiGa 17:24).
-Con cái Ngài (PhuDnl 7:6-8, GiGa 14:21-23,16:27, 17:23, IGi1Ga 3:1, 2)
Môi-se tuyên-bố rằng Thượng Đế đã chọn Y-sơ-ra-ên trên hết mọi dân-tộc trên thế giới, không phải vì số đông của họ, hay họ có những đặc-điểm đáng khen nào, nhưng vì Ngài yêu họ mà thôi. Hơn nữa, Ngài yêu họ vì trước hết Ngài đã yêu Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, tổ-phụ họ (PhuDnl 4:37) và giữ giao-ước của Ngài với họ.
Trong lời từ giã, Chúa Giê-xu nói nhiều về tình yêu của Đức Chúa Cha đối với Đức Chúa Con, và đưa lên tuyệt điểm khi Ngài nói rằng “ai yêu ta sẽ được Cha ta yêu lại”.
Ba lần Ngài so sánh tình yêu Đức Chúa Cha đối với các môn đồ với tình yêu Thượng Đế đối với Đức Chúa Con. Nếu chúng ta tin những lời này, thì chúng ta nhận biết rằng chúng ta không ở ngoài lề mà ở ngay bên trong tình yêu Thượng Đế.
Chúa Cứu Thế đứng ngay giữa trung tâm tình yêu Thượng Đế, và Ngài kéo chúng ta đến với Ngài để chúng ta cũng hưởng được tình yêu nồng nàn mà Đức Chúa Cha tuôn dào trên Ngài.
Còn gì vinh dự cho bằng được gọi là con cái Thượng Đế. Khi Cựu-ước nói đến các con trai của Thượng Đế, thường là nói về các thiên-sứ. Nghĩ đến các tạo vật thượng đẳng, vĩnh cửu này, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy họ được gọi là con Thượng Đế.
Điều ngạc nhiên là từ ngữ này cũng được đem áp-dụng cho loài người là tạo vật thấp kém hơn nhiều. Chính vì vậy mà vị sứ-đồ đã kêu lên: “Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời” (IGi1Ga 3:1) Con Thượng Đế! Kẻ thừa hưởng vinh-quang! Hoàng tử của Đấng Chí Tôn! Kẻ dự phần trong hạnh phúc vô tận!
-Những Kẻ Thù Nghịch (GiGa 3:16, RôRm 5:8)
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian”, sự thật này làm cho Ni-cô-đem kinh ngạc, vì lâu nay ông vẫn nghĩ rằng Đức Chúa Trời chỉ lo cho người Do-thái. Thượng Đế chẳng những yêu thương người Do-thái mà cũng yêu cả Dân Ngoại, không phải một phần thế-gian, mà tất cả mọi người trong đó, bất kể tốt xấu thế nào.
Thượng Đế không vui vì cái chết của kẻ nghịch thù, nhưng “lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (IIPhi 2Pr 3:9).
Sứ-mệnh của Chúa trên trái đất này là đến với tội-nhân loạn nghịch - “Đang khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (RôRm 5:8).
• Thượng Đế Yêu Thương Như Thế Nào?
(1) Bởi Lòng Tốt Của Ngài (His Goodness) (ThiTv 25:8, 33:5, 34:8, 65:9, 68:19, 119:68, 145:7, MatMt 5:45, CôngCv 14:17)
Nụ cười phúc hậu của Thượng Đế rải lên khắp cõi tạo vật. Bàn tay Thượng Đế nuôi dưỡng mọi loài. Ngài trải cỏ ngọt trên đồi cho bầy súc vật ngon miệng, tuôn đổ dòng suối trên núi cho con nai có nước uống; đổ nhựa thơm trong lòng hoa sứ cho con chim họa mi đến giải khát, và mở tiệc bằng hoa đồng nở rộ cho bầy ong mật.
Thượng Đế tốt lành biết bao đối với con người, mọi nhu cầu cho sự sống đều được cung ứng dồi dào. Con người có tất cả không khí và nước mình cần; ánh áng và sức nóng của mặt trời được cung cấp không cần tiền bạc giá cả. Chúng ta được tạo dựng trong những điều kiện thích hợp cho sự sống và cho hạnh phúc chúng ta.
(2) Bởi Kỷ Luật Của Ngài (His Discipline) (ChCn 3:12, HeDt 12:6-11, KhKh 3:19)
Thượng Đế chăm sóc con cái Ngài bằng cách hướng dẫn, sửa sai họ. Trái đất không phải là nhà vĩnh viễn của chúng ta. Đây chỉ là nơi chuẩn bị chúng ta cho một cõi tương lai. Trẻ em cần có trường học, dù đôi khi rất khó chịu. Kỷ luật đau khổ là điều tốt cho con người, dù ngay lúc đó nó không có gì đáng vui mà chỉ đáng buồn. Có người nói, “phải chi Thượng Đế nói với tôi rằng Ngài thương tôi”, thì đây Ngài đưa đau đớn, buồn khổ đến cho bạn, là Ngài bảo bạn rằng Ngài yêu bạn.
“Sung sướng thay cho kẻ được Đức Chúa Trời sửa phạt!”
Đây là sự thật chắc chắn: trong tình yêu khôn-ngoan trọn-vẹn của Thượng Đế, Ngài khiến cho mỗi cuộc ngửa nghiêng, mỗi gánh nặng, mỗi nỗi lo buồn, hay nỗi phập phồng bất an, đều vừa với trình-độ chịu đựng của chúng ta. Đó không phải chỉ là Thượng Đế toàn-tri, vô hình, đứng ở xa điều khiển mọi sự để đem ích lợi cho mỗi tạo vât Ngài đã dựng nên, mà Ngài bày-tỏ tình yêu vô hạn, trực tiếp với từng cá nhân một.
(3) Bởi Sự Thương-Xót Ngài (His Mercy) (PhuDnl 4:31, Thi Tv 86:5, 103:8, 17, 18, 145:8, 9, IIPhi 2Pr 3:9)
Thương xót là nhân-từ đối với kẻ khốn cùng - thương hại, từ bi, nhẫn nhục, dịu hiền.
“Người nào tin cậy nơi Đức Giê-hô-va, sự nhơn từ vây phủ người ấy” (ThiTv 32:10).
Hành động tin-cậy của người tin đối v ới sự bảo vệ của Thượng Đế cũng giống như con trẻ đối với cha mẹ. Khi chúng ta quăng mình vào lòng Thượng Đế, thì sự nhơn-từ Ngài bao bọc chúng ta. Sự nhơn-từ ấy vây quanh ta như bức tường lửa, không có sự dữ nào xuyên qua được.
Ta cũng thấy được sự thương-xót của Thượng Đế không những trong việc chữa lành cho người bịnh qua sự cầu-nguyện nếu đúng với ý chỉ của Ngài (Phi Pl 2:27) mà cả trong việc yên-ủi những người thân đang khi họ đau buồn nữa (IICôr2Cr 1:4).
Thượng Đế cũng nhân-từ đối những kẻ bất tuân, bằng cách nhẫn nại chịu đựng. Nếu Ngài đem công-bình đối xử với họ, chắc họ bị tiêu diệt ngay.
“Song vì lòng thương-xót lớn lao của Chúa, Chúa không có tận diệt chúng, cũng không lìa bỏ chúng, vì Chúa vốn là Đức Chúa Trời hay thương-xót và nhơn từ” (NêhNe 9:31).
“Ấy là nhờ sự nhơn-từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt” (CaAc 3:22).
Tội-nhân đã bị kết án, nhưng Thượng Đế nhân từ còn trù trừ thi hành án phạt. Vì lòng nhân-từ mà Thượng Đế giữ Sô-đôm lại cho đến khi Lót chạy thoát. Vì Ngài nhân từ nên đã cho phép dân Ca-na-an ở trên đất họ 400 năm trước khi ban nó cho Áp-ra-ham.
Thượng Đế chậm thi hành án phạt, dù chính Ngài đã tuyên án đó.
(4) Bởi Hồng Ân Ngài (His Grace) (Thi Tv 84:11, CôngCv 11:20-23, 13:43, RôRm 3:24, 25, ITim1Tm 1:14)
Ân-huệ là ơn bất cầu xứng. Đó là tình yêu ban-bố cho kẻ không đáng được. Cựu-ước thường dùng chữ thương-xót, nhơn-từ, vì ái tâm của Thượng Đế dành ưu tiên cho dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng Tân-ước lại nhấn mạnh chữ ơn (hồng-ân, ân-điển, ân-huệ, ân-sủng), vì chữ đó được dùng để diễn tả ân-huệ đối với dân Ngoại bất xứng.
Thượng Đế thương-xót dân Y-sơ-ra-ên vì giao-ước Áp-ra-ham, nhưng Ngài tỏ ơn Ngài cho những kẻ không có quyền đòi gì nơi Ngài. Khi những người Do-thái bất thân xưng quyền làm con cháu Áp-ra-ham, Giăng Báp-tít bảo họ rằng Thượng Đế có thể làm ra con cháu Áp-ra-ham từ những hòn đá (Mat Mt 3:9).
Ngay người Do-thái dưới giao-ước cũ cũng không nhờ việc lành hay quyền lợi giao-ước mà được xưng là công-chính, mà phải nhờ hồng-ân của Thượng Đế bày tỏ trong công cuộc chuộc-tội của Con yêu dấu Ngài (RôRm 3:21-25). Thượng Đế thương-xót dân Y-sơ-ra-ên và ban luật-lệ cho họ, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đến đem hồng-ân và chân-lý cho con người (GiGa 1:17).
-Hồng Ân Thượng Đế (IICôr2Cr 8:9, ÊphEp 1:7)
Chúa Giê-xu đem hồng-ân đến bằng cách “dầu Ngài vốn giàu, song vì anh em mà tự mình trở nên nghèo, hầu cho nhờ sự nghèo của Ngài mà anh em trở nên giàu”.
Sự giàu có của Thượng Đế bày-tỏ trong sự tha tội chúng ta và cứu chúng ta bởi huyết Con Ngài.
*Hồng-ân là Thượng Đế tự lột bỏ vinh-quang mình, đến với trái đất như một người khách bị xua đuổi, để bày-tỏ tình yêu Ngài đối với những kẻ loạn nghịch (Phi Pl 2:5-8).
*Hồng-ân là Thượng Đế mặc vào chiếc áo màu điều của Đấng Cứu Chuộc chịu hấp hối để chinh phục tình yêu của con người đầy uế tục, thù ghét.
*Hồng-ân là Thượng Đế tự gạt bỏ vinh-quang mình để Ngài có thể bày-tỏ lòng gớm ghiếc tội-lỗi con người bằng cách hứng chịu những trừng phạt của nó thay vì giáng trên tội-nhân.
*Hồng-ân là Thượng Đế theo đuổi kẻ không tin suốt cả cuộc đời, đưa cho họ xem đôi bàn tay và đôi chân thương tích để chứng-minh cho họ thấy tình yêu Ngài, và kêu nài họ đáp ứng. Hồng-ân là Đấng Chăn chiên Nhân lành đi vào rừng hoang tìm kiếm con chiên lạc loài, trước khi nó cảm thấy nguy cơ hay mong muốn trở về.
-Sự Phong Phú Của Hồng Ân Thượng Đế (ÊphEp 2:4-7)
Sự phong phú của hồng ân Thượng Đế không phải chỉ gồm có sự giáng hạ và cứu-chuộc của Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà còn có cả sự sống lại, cất lên, và vinh-quang của những người tin khiêm-nhường.
Hồng-ân thật lạ lùng, diệu kỳ, sẽ là đề-tài cho những lời tán tụng, tra hỏi của bao nhiêu thời đại sau này. Chỉ khi nào chúng ta hiểu được phần nào sự vĩ đại của Thượng Đế - quyền-năng, vinh-hiển và những sở hữu của Ngài - chúng ta mới biết được chút ít về sự giàu có của hồng-ân Ngài khi Ngài cho những tạo vật bất xứng, không ra chi, lại còn loạn nghịch nữa, được đặc ân chia xẻ vinh quang của Ngài (TitTt 3:3-7).
Những bài ca trên trời, những bản thánh ca đời-đời, sẽ là những bài ca của những kẻ được chuộc vui hưởng hồng-ân của Thượng Đế (KhKh 5:9, 10).

