top of page

PHẦN 7 - GƯƠNG CHỨNG-ĐẠO TRONG THÁNH KINH.

HungT

Mar 18, 2026

CHỨNG-ĐẠO
Tác-giả: Viện Thần-Học Việt-Nam.



CHƯƠNG I: CHÚA GIÊ-XU LÀM-CHỨNG CHO NI-CÔ-ĐEM.


1.-Chúa hoan nghênh người đến thăm Ngài bất cứ lúc nào và đối đãi chân-thành với người.

2.-Ngài hướng dẫn tội-nhân chú-ý đến trọng tâm của vấn-đề càng sớm càng tốt.

3.-Ngài gợi sự thích thú ngay lúc mới bắt đầu làm chứng.

4.-Ngài nhấn mạnh về sự tái-sinh, chớ không phải cải cách xã hội.

5.-Ngụ ý rằng nếu tội-nhân đang tìm kiếm chân-lý, chắc sẽ được.


“Có một nhà lãnh đạo Do-thái thuộc phái biệt lập, tên là Ni-cô-đem. Một buổi tối, ông đến thăm Chúa Giê-xu và nhìn nhận: Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là Giáo-sư Thượng-Đế sai xuống, vì nếu Thượng-Đế không cộng tác, chẳng ai thực hiện nổi những phép-lạ Thầy đã làm”. Chúa Giê-xu đáp: “Đây là sự thật: nếu không tái-sinh, không ai thấy được Nước Chúa”.

Ni-cô-đem thắc mắc: “Người đã già làm cách nào tái-sinh được? Không lẽ trở vào lòng mẹ để sinh ra lần nữa sao? Chúa Giê-xu đáp: “Đây là chân-lý: Nếu không nhờ nước và Thánh Linh sinh ra, không ai được vào Nước Chúa. Thể xác chỉ sinh ra thể xác; Thánh Linh mới sinh ra tâm-linh. Ông đừng ngạc nhiên khi nghe tôi nói: con người phải tái sinh! Gió thổi hướng nào cũng được. Nghe tiếng gió, nhưng ông không biết gió đến từ đâu hay sẽ đi đâu. Người được Thánh Linh sinh thành cũng thế.

Ni-cô-đem lại hỏi: “Làm sao thực hiện điều đó?” Chúa đáp: “Ông làm giáo-sư dân Do-thái mà chưa hiểu điều căn-bản đó sao? Đây là sự thật, chúng tôi nói điều chúng tôi biết, làm chứng điều chúng tôi thấy, nhưng các ông không chấp nhận. Tôi nói những việc dưới đất, các ông còn không tin, làm sao các ông tin được những việc trên trời? Không bao giờ có ai lên trời, ngoại trừ Chúa Cứu Thế từ trời xuống trần gian. Như Mai-sen đã treo con rắn giữa sa mạc, tôi cũng phải bị treo lên, để bất cứ người nào tin tôi đều được sự sống vĩnh-viễn. Vì Thượng-Đế yêu thương nhân-loại đến nỗi hy-sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Thượng-Đế đều không bị hư-vong nhưng được sự sống vĩnh-viễn. Thượng-Đế sai con Ngài xuống đời không phải để kết tội nhưng để cứu vớt loài người.” (GiGa 3:1-17 BDY)


Ni-cô-đem là người có địa-vị cao trọng trong giáo-quyền Do-thái. Ông thuộc phái biệt lập, cũng là hội viên của tòa công luận. Là giáo-sư của Y-sơ-ra-ên, Ni-cô-đem đến thăm Chúa Cứu Thế vào một buổi tối trong thời gian Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Điều quan-trọng đầu tiên ta thấy là Chúa tiếp nhận và hoan nghênh Ni-cô-đem bất kể ngày hay đêm.


Cho dù nhiều người biệt lập không tin Chúa Cứu Thế Giê-xu, song Ni-cô-đem rất chú ý đến các phép-lạ Chúa làm. Ông đến với Chúa với tấm-lòng kính-phục và nói rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là Giáo sư Thượng-Đế sai xuống, vì nếu Thượng-Đế không cộng tác, chẳng ai thực hiện nổi những phép-lạ Thầy đã làm.”


Vừa khi Ni-cô-đem mở đầu, Chúa đã biết rõ căn-bệnh thuộc-linh của ông. Đó là bệnh chưa được tái-sinh, chưa có sự sống thuộc-linh. Đây là điểm quan-trọng thứ hai ta cần để ý. Chúa biết rõ điều Ni-cô-đem cần, đó là tấm-lòng được đổi mới nên Chúa vào ngay vấn-đề: “Đây là sự thật: nếu không tái-sinh, không ai thấy được Nước Chúa.”


Ni-cô-đem dù là một người trí thức từng nghiên-cứu thần học, đã phải lúng túng với lời phán của Chúa. Ông thốt ra những lời đầy ngạc nhiên: “Người đã già làm cách nào tái-sinh được? Không lẽ trở vào lòng mẹ để sinh ra lần nữa sao?” Ni-cô-đem chưa hề nghe nói về sự tái-sinh, chưa từng kinh-nghiệm sự tái-sinh, rồi khi Chúa giải thích ông cũng không hiểu nổi.


Bệnh của Ni-cô-đem là bệnh chung của nhân-loại. Trường hợp của Ni-cô-đem là trường hợp chung của con người qua mọi thời đại. Bệnh nhân không biết lý-do của căn-bệnh đang mang, không hiểu được nhu-cầu của mình, ai nấy lúng túng trước vấn-đề: phải làm sao để được cứu-rỗi?


Khi Ni-cô-đem hỏi: “Làm sao thực hiện được điều đó?” Chúa không cố gắng giải thích hết mọi điều, song nhắc cho ông nhớ điển tích Môi-se treo con rắn lửa bằng đồng giữa sa mạc để dân-sự khi bị rắn cắn nhìn lên đó thì được cứu sống. Chúa cho Ni-cô-đem biết con rắn bằng đồng bị treo lên đó, chỉ về sự chết của Ngài trên thập-tự giá. Nếu ai nhìn xem Chúa, tức là tin Chúa đã chết thay tội mình thì sẽ được sự sống đời-đời.


Muốn được tái-sinh để có thể vào Nưóc Trời, Ni-cô-đem phải nhìn nhận mình là một tội-nhân đang bị nọc độc của tội-lỗi hành hạ và sẽ bị hình-phạt như con rắn bị treo trên cây sào. Song Chúa Cứu Thế tự nguyện chịu hình phạt thay ông trên thập-tự giá. Nếu ông tin Ngài thì được sự sống vĩnh-viễn, tức là được tái-sinh. “Vì Thượng-Đế yêu-thương nhân-loại đến nỗi hy-sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Thượng-Đế đều không bị hư-vong nhưng được sự sống vĩnh-viễn.”


Ni-cô-đem đã ngạc nhiên lại càng ngạc nhiên hơn. Ông kể mình thuộc hạng có điều kiện nhất để được vào nước Trời. Ông hy-vọng Chúa tỏ ra tôn-trọng ông hay ít nữa nói lên một lời chấp nhận ông là con người đạo đức, trái lại mọi sự như đã sụp đổ tận nền-móng. Những gì Ni-cô-đem tin cậy, tự hào của một người Do-thái chính tông, một người biệt lập tích cực đã trở thành vô dụng đối với Đức Chúa Trời. Ông phải tự nhận là một tội-nhân đang hư-mất, hạ mình tin-cậy sự chết đền tội của Chúa Cứu Thế để được cứu. Đó không phải là công lao, cố gắng của ông, nhưng là ân-phúc Đức Chúa Trời ban-cho ông.


Một bài làm-chứng tuyệt diệu về Phúc-Âm cứu-rỗi mà Ni-cô-đem là người đầu tiên trong nhân-loại, có diễm phúc được nghe Chúa Cứu Thế trình-bày. Chúng ta rất vui-mừng vì Ni-cô-đem đã tin Chúa, mặc dù không ai biết rõ ông đã tin ngay hôm đó hay về sau.


Qua bài làm-chứng của Chúa Cứu Thế, ta đọc được nhiều nguyên-tắc để áp dụng cho thời nay:

-Chúa hoan nghênh người đến thăm Ngài bất cứ lúc nào và đối đãi chân-thành với người.

-Ngài hướng dẫn tội-nhân chú ý đến trọng tâm của vấn-đề càng sớm càng tốt.

-Ngài gợi sự thích thú ngay lúc mới bắt đầu làm-chứng.

-Ngài nhấn mạnh về sự tái-sinh, chớ không phải cải cách xã hội.

-Ngài không cố gắng giải thích mọi sự cho tội-nhân, song quả quyết rằng đó là sự-thật.

-Ngài ngụ ý rằng nếu tội-nhân đang tìm kiếm chân-lý, chắc sẽ được.






CHƯƠNG II: CHÚA GIÊ-XU LÀM-CHỨNG CHO THIẾU-PHỤ SA-MA-RI.


1.-Chúa đi đến nơi tội-nhân ở, thay vì chờ tội-nhân đến với Ngài.

2.-Chúa không cảm thấy phẩm giá bị hạ thấp việc tiếp xúc với người tội-lỗi xấu xa.

3.-Chúa gợi nhu-cầu thuộc-linh bằng cách đề-cập các vấn-đề liên-quan đến cuộc sống thường nhật.

4.-Chúa bày-tỏ cho người nghe biết tội-lỗi mình qua việc để họ tự nhận, chớ không lên-án.

5.-Chúa tránh tranh-biện.

6.-Chúa giới thiệu Ngài là Đấng Cứu Thế và kêu-gọi sự đáp-ứng bởi đức-tin.


“Chúa rời xứ Giu-đê qua xứ Ga-li-ê. Theo lộ-trình, Chúa phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. Gần đến thành Si-kha trong sứ Sa-ma-ri, Chúa dừng chân bên giếng Gia-cốp, thuộc khu đất Gia-cốp cho con là Giô-sép. Vì đi đường mệt mỏi, Chúa ngồi nghỉ bên giếng vào lúc giữa trưa.

Thấy một thiếu-phụ Sa-ma-ri đến múc nước, Chúa bảo: “Chị cho tôi uống nước”. Lúc đó, các môn-đệ đã vào thành mua thức ăn. Chị ấy ngạc nhiên: “Ông là người Do-thái, sao lại xin phụ nữ Sa-ma-ri cho uống nước? (người Do-thái không bao giờ giao thiệp với người Sa-ma-ri).

Chúa đáp: “Nếu chị biết được tặng-phẩm Thượng-Đế dành cho chị, và biết tôi là ai, tất chị sẽ xin tôi cho nước hằng sống”. Chị dè dặt hỏi: “Thưa ông, giếng thì sâu mà ông không có gàu dây gì cả, làm sao ông múc được nước sống đó? Liệu ông tài giỏi hơn tổ-phụ chúng tôi là Gia-cốp sao? Người đã để giếng này lại cho chúng tôi. Chính người, con cái và súc vật người đều uống giếng này.

Chúa đáp: “uống nước này sẽ còn khát mãi, nhưng uống nước tôi cho sẽ thành một mạch nước trong tâm-hồn, tuôn tràn mãi mãi sức sống vĩnh-viễn”. Chị mừng rỡ: “Thưa ông, xin ông cho tôi uống nước ấy cho đã khát, để khỏi cực nhọc đến đây múc nước nữa.

Chúa bảo: Chị đi về gọi anh đến đây! Chị bẽn lẽn: “Tôi không có chồng”. Chúa ôn tồn: “Chị nói chị không có chồng cũng phải. Vì chị đã có năm đời chồng, còn người đang sống với chị cũng chẳng phải chồng chị. Chị nói thế mà đúng. Chị sợ hãi nhìn nhận: “Ông thật là nhà tiên-tri, biết hết mọi chuyện”, rồi chị hỏi Chúa: “Thưa ông, tổ-phụ chúng tôi thờ Thượng-Đế trên đỉnh núi này. Tại sao người Do-thái các ông bảo thủ đô Giê-ru-sa-lem mới đúng là nơi thờ-phượng? Chúa đáp: “Chị cứ tin lời tôi, đã đến lúc người ta không thờ-phượng Thượng-Đế trên núi này, cũng không phải là Giê-ru-sa-lem nữa. Thờ-phượng Chúa nơi nào cũng được, điều quan-trọng là thờ-phượng cho đúng cách, với lòng chân-thành, do Thánh Linh hướng dẫn. Vì Thượng-Đế là thần-linh, nên Ngài muốn con người thờ-phượng Ngài cách ấy. Người Sa-ma-ri không hiểu rõ sự thờ-phượng, còn chúng tôi biết rõ, vì sự cứu-rỗi nhân-loại bắt đầu từ người Do-thái. Chị ấy thưa: Tôi biết Chúa Cứu Thế sẽ xuất hiện. Ngài sẽ chỉ dẫn mọi việc cho chúng ta. Chúa đáp: “Tôi chính là Chúa Cứu Thế”.

Thiếu-phụ bỏ vò nước bên giếng, chạy vào thành phố, hăng say nói với mọi người: Đồng bào mau ra xem, Ngoài kia, có một người nói đúng tất cả những việc tôi đã làm. Đó không phải là Chúa Cứu Thế sao? Dân chúng kéo nhau đến gặp Chúa. Nhiều người Sa-ma-ri trong thành Si-kha tin nhận Chúa nhờ lời-chứng của thiếu-phụ: “Người nói đúng tất cả những việc tôi đã làm!”

Gặp Chúa bên bờ giếng, họ nài xin Chúa ở lại với họ, nên Chúa lưu lại hai ngày. Nghe Chúa giảng dạy, lại có thêm người tin Ngài. Họ bảo thiếu phụ: Bây giờ chúng tôi tin, không phải chỉ nhờ lời-chứng của chị, nhưng chúng tôi đã nghe Chúa dạy, và biết Ngài là Đấng Cứu Tinh của thế giới.” (GiGa 4:1-26, 28-30,39 -42 BDY)


Câu chuyện trên bắt đầu với những lời này: “Chúa phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri.” Tại sao Chúa phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri? Vì Ngài biết tại đó có một tội-nhân đang trông-chờ Chúa Cứu Thế. Vậy Chúa đã đến đúng chỗ hẹn, và đúng thời điểm để gặp một người, đó là thiếu-phụ Sa-ma-ri.


Chúa có thể chờ đợi thiếu-phụ này đến cùng Ngài, lúc đó danh tiếng Chúa đã được đồn khắp trong dân chúng. Chắc chắn thiếu-phụ đã nghe về Ngài và biết Chúa có thể giúp bà nếu bà đến với Ngài. Tuy nhiên, Chúa không chờ cho bà tìm đến Ngài. Chúa biết có nhu-cầu trong tấm-lòng đó và vì vậy Ngài đến với bà. Một câu châm-ngôn đã viết: “Nếu muốn bắt cá, bạn phải đi đến nơi có cá”. Chúa đã thực thi đúng như thế.


Chúa có cách gợi chuyện thật tuyệt tác. Từ một câu hỏi xin nước thiên nhiên, “Chị cho tôi uống nước!” Chúa đã dẫn thiếu-phụ đến chỗ ý thức về nhu-cầu nước sống. Một câu mở đầu rất đơn giản, nhưng có tác dụng sâu xa. Ta hãy học nơi Chúa phương cách gợi chuyện hữu hiệu này trong việc truyền-bá Phúc-Âm. Ta nên bắt đầu câu chuyện về các vấn-đề liên-quan đến cuộc sống hằng ngày.

Câu Chúa xin nước uống, đã phá đổ bức tường thành kiến về kỳ thị chủng-tộc giữa Do-thái và Sa-ma-ri, khiến người thiếu-phụ lấy làm lạ hỏi: “Ông là Ngài Do-thái, sao lại xin phụ nữ Sa-ma-ri cho uống nước?” Đây là điều người Do-thái chẳng hề làm. Sự ngạc nhiên ấy khơi dậy tính hiếu kỳ của thiếu-phụ, khiến bà càng thêm chú ý “người khách lạ” này, và thấy thích thú trong việc tìm hiểu người .


Để hướng dẫn thiếu-phụ đến chỗ ý thức nhu-cầu thuộc-linh, Chúa giục bà hãy tìm biết Ngài là ai, và hãy xin Ngài ban cho nước uống. Bà dè dặt hỏi: “Thưa ông, giếng thì sâu mà ông không có gàu dây gì cả, làm sao ông múc được nước sống đó? Liệu ông tài giỏi hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp sao? Người đã để giếng này lại cho chúng tôi. Chính người, con cái và súc vật người đều uống giếng này”.


Đôi lúc làm-chứng, ta cũng gặp lời chống đối tương tự: “tôi có đạo rồi.” “Chúa của ông lớn hơn vị giáo chủ của tôi sao?” Điều ta để ý là Chúa không cải-lý. Ngài không nói gì đến tên Gia-cốp, cũng chẳng lý-luận để minh-chứng Ngài lớn hơn Gia-cốp. Nhưng Chúa chuyển câu chuyện nước thiên nhiên qua nước thiêng-liêng.


Khi người nghe nhận thức được nhu-cầu thuộc-linh của họ, thì bước thứ hai là bày tỏ cho họ nhìn biết tội-lỗi mình. Vì thế Chúa bảo bà về gọi chồng đến, rồi Ngài sẽ ban cho nước sống. Bà không thể nào được nước sống, nếu chưa xưng ra tội-lỗi mình. Tội-lỗi trong lòng làm tắt nghẽn nguồn nước sống.


Bà đáp: “Tôi không có chồng.” Chúa ôn tồn: “Chị nói chị không chồng cũng phải, vì chị đã có năm đời chồng, còn người đang sống với chị cũng không phải là chồng chị.” Chị nói thế mà đúng. Điều ta chú ý là Chúa không lên án tội-lỗi của thiếu-phụ, cũng chẳng chỉ thẳng tội-lỗi của bà; nhưng Ngài nêu lên sự-kiện để cho bà biết thực trạng tội-lỗi của mình.


Thấy Chúa biết rõ cuộc sống riêng tư của mình, thiếu-phụ nhìn biết Ngài là nhà tiên-tri. Và một lần nữa bà lại tẻ đề. Để Chúa không nói thêm gì đến đời tư mình, thiếu-phụ đưa ra câu hỏi về vấn-đề thờ-phượng. “Thưa ông, tổ-phụ chúng tôi thờ Thượng-Đế trên đỉnh núi này. Tại sao người Do-thái các ông bảo thủ đô Giê-ru-sa-lem mới đúng là nơi thờ-phượng.”


Địa điểm thờ-phượng Đức Chúa Trời là vấn-đề tranh luận sôi nổi trong vòng người Do-thái và Sa-ma-ri thời bấy giờ. Người Do-thái cho rằng nơi đáng thờ-phượng là Giê-ru-sa-lem; trong khi đó người Sa-ma-ri chọn Ga-ri-xim làm nơi thờ-phượng Đức Chúa Trời.

Chúa Giê-xu không đi vào vòng tranh-luận hạn hẹp ấy. Ngài đặt trước mặt người thiếu-phụ một viễn tượng rộng lớn về sự thờ-phượng Đức Chúa Trời vượt quá giới hạn của không gian và thời gian: “Vì Đức Chúa Trời là thần của nên ai thờ-phượng Ngài phải lấy tâm-thần và lẽ-thật mà thờ-phượng”.

Chúa muốn nói cho bà rằng sự thờ-phượng không phải tại trên núi Ga-ra-xim hay tại thành Giê-ru-sa-lem mà tại trong lòng, tức là tâm-thần và lẽ-thật. Nếu Đức Chúa Trời chỉ ngự trên núi Ga-ra-xim hay trong thành Giê-ru-sa-lem, thì chúng ta hoàn toàn vô phước.

Điều quan-trọng nhất là chúng ta được Ngài ngự trong lòng và chúng ta thờ-phượng Ngài bằng tâm-thần và lẽ-thật. Khi người Y-sơ-ra-ên dâng tế-lễ cho Đức Chúa Trời thì họ phải làm thật đúng như Chúa đã dạy trong lời của Ngài là lẽ-thật. Họ phải lấy tâm-thần mà đến gần Đức Chúa Trời và giao-thông với Ngài.


Mắt của bà dường như sáng lên, lòng của bà mở ra, bà nói với tất cả niềm tin: “Tôi biết Chúa Cứu Thế sẽ xuất hiện. Ngài sẽ chỉ dẫn mọi việc cho chúng ta”. Chúa đáp: “Tôi chính là Chúa Cứu Thế.” Tại đây, ta thấy bài làm-chứng của Chúa đã qua bước thứ ba là giới thiệu Chúa Cứu Thế và sự cứu-rỗi của Ngài cho tội-nhân.


Trong lúc tuyệt-vọng mà gặp được Chúa Cứu Thế, thiếu phụ vui-mừng khôn xiết. Bà quên việc múc nước, quên cả cái vò, chạy vào thành Si-kha nói với mọi người: “Đồng bào mau ra xem. Ngoài kia, có một người nói đúng tất cả những việc tôi đã làm. Đó không phải là Chúa Cứu Thế sao?” Dân chúng kéo nhau đến gặp Chúa.


Qua cách Chúa chứng-đạo, ta học được những nguyên-tắc này:

- Chúa đi đến nơi tội-nhân ở, thay vì chờ tội-nhân đến với Ngài.

- Chúa không cảm thấy phẩm giá bị hạ thấp do việc tiếp xúc với người tội-lỗi xấu xa.

- Chúa gợi nhu-cầu thuộc-linh bằng cách đề-cập các vấn-đề liên-quan đến cuộc sống thường nhật.

- Chúa bày-tỏ cho người nghe biết tội-lỗi mình qua việc để họ tự nhận, chớ không lên án.

- Chúa tránh tranh-biện.

- Chúa giới thiệu Ngài là Đấng Cứu Thế và kêu-gọi sự đáp-ứng bởi đức-tin.






CHƯƠNG III: PHI-LÍP LÀM-CHỨNG CHO THÁI-GIÁM Ê-THI-Ô-BI.


1.-Phi-líp là người bận rộn với công việc Chúa, vì người chẳng những có tài-năng mà còn mong muốn được phục-vụ Chúa.

2.-Phi-líp có sự tương giao mật thiết với Chúa, nhờ đó đã được Thánh Linh hướng dẫn trong mọi công tác phục-vụ Ngài.

3.-Phi-líp vâng-theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, không thắc mắc cũng chẳng trễ nãi.

4.-Phi-líp mở đầu việc làm-chứng bằng cách gọi gợi sự thích thú cho người nghe.

5.-Phi-líp am hiểu về Kinh Thánh và sử dụng Kinh Thánh trong lúc truyền-bá Phúc-Âm.

6.-Phi-líp trung-tín thực thi công tác truyền-bá Phúc-Âm cho đến lúc hoàn tất.

7.-Phi-líp tỏ ra nóng cháy trong sự phục-vụ Chúa, qua hành động chạy theo xe thái-giám.

8.-Phi-líp tỏ ra kiên-nhẫn qua việc giảng-giải từ đầu về bối cảnh và sự ứng-nghiệm của đoạn Kinh Thánh cho thái-giám hiểu.


“Một thiên-sứ đến bảo Phi-líp: Hãy đứng dậy đi về hướng Nam, tới quãng đường giữa Giê-ru-sa-lem và Gaxa, là nơi hoang vắng! Phi-líp đứng dậy lên đường trong khi viên thái-giám quản đốc ngân khố nữ hoàng Can-đác nước Ê-thi-ô-bi cũng đi đường ấy. Ông vừa lên Giê-ru-sa-lem thờ-phượng tại đền thờ. Trên đường về, ông ngồi xe đọc sách tiên-tri Ê-sai. Thánh linh bảo Phi-líp: “Con tiến lên! Đuổi cho kịp xe đó! Phi-líp chạy đến, nghe thái-giám đang đọc sách Ê-sai, liền hỏi: Ông có hiểu đoạn văn đang đọc không? Thái-giám trả lời: Không có người giải nghĩa, làm sao tôi hiểu được! Rồi ông mời Phi-líp lên xe.

Đoạn Thánh-Kinh ông đọc như sau: Người khác nào chiên bị dẫn đến lò thịt, như chiên con nín lặng trước mặt thợ hớt lông, người không hề mở miệng phản đối… người ta sỉ nhục người, bất chấp cả công-lý, còn ai sẽ kể lại cuộc đời người? Vì mạng sống người đã bị cất khỏi mặt đất.” Thái-giám hỏi Phi-líp: Nhà tiên-tri nói về ai đây? Về chính ông ta hay người nào khác? Bắt đầu từ đoạn Thánh Kinh ấy, Phi-líp giảng giải về Chúa Giê-xu. Dọc đường, đi ngang lạch nước, thái-giám hỏi: “Sẵn nước đây! Có gì ngăn trở tôi chịu báp-têm không? Thái-giám ra lệnh dừng xe, hai người xuống nước và Phi-líp làm báp-têm cho thái-giám.” (CôngCv 8:26-38 BDY)


Trong sự phục-vụ Chúa có một lời khuyên quan-trọng này: “Nếu bạn muốn sử dụng ai làm công việc gì cho Chúa, thì hãy dùng người bận rộn.” Một thực sự dường như nghịch lý là người bận rộn có thể làm được nhiều điều, vì người có khả năng làm việc và mong muốn làm việc. Trong khi đó một người ăn không ngồi rồi là người chẳng muốn sử dụng tài-năng hoặc không muốn làm việc.

Và lý-do chẳng muốn làm việc thường thấy nơi người ở không. Tuy nhiên, Hội Thánh thường cần những người biết dâng hiến tài-năng hơn là chỉ mong muốn được bận rộn với công việc. Và trong hầu hết các trường hợp người ta nhận thấy rằng nếu một người muốn phục-vụ Chúa thì sẽ có cánh cửa mở ra cho họ.


Truyện tích Phi-líp làm-chứng cho thái-giám Ê-thi-ô-bi là câu chuyện Chúa dùng một người bận rộn cho mục-đích đặc biệt của Ngài. Khi Chúa kêu-gọi Phi-líp làm công việc này chính là lúc ông đang bận rộn với công tác truyền-bá Phúc-Âm đầy kết quả tại Sa-ma-ri. Nhưng ngày kia, một thiên-sứ của Chúa bảo ông chờ dậy đi qua con đường vắng vẻ từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-xa. Có lẽ Phi-líp ngạc nhiên lắm vì thiên-sứ không cho ông biết đến đó để làm gì, hoặc để gặp ai. Tuy nhiên Phi-líp “đứng dậy lên đường”. Đó là sự vâng-lời trọn-vẹn, phục-tùng hoàn toàn. Đó là tư-cách của một chứng-đạo viên.


Đức Chúa Trời chẳng hề sai lầm. Khi đến nơi chỉ định, Phi-líp thấy một người ngồi trên xe ngựa và đang đọc sách. Đức Thánh Linh bảo Phi-líp: Con tiến lên! Đuổi cho kịp xe đó. Phi-líp liền chạy theo và nghe người đang đọc sách tiên-tri Ê-sai. Phi-líp hỏi: Ông có hiểu đoạn văn đang đọc không? Thái-giám trả lời: Không có người giải nghĩa làm sao tôi hiểu được! Rồi ông mời Phi-líp lên xe.


Phi-líp bắt đầu từ đoạn Thánh Kinh thái-giám đang đọc mà giảng giải về Chúa Giê-xu. Phi-líp rất khéo léo khi nêu lên câu hỏi mở đầu. Ông cũng am tường Kinh Thánh nên đã giải nghĩa Ê-sai 53: 7-8 là chỉ về Chúa Cứu Thế. Cuộc làm-chứng thật đầy đủ và rõ ràng.


Đến một chỗ, có lạch nước vệ đường, thái-giám xin Phi-líp nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu làm báp-têm cho mình. Họ vừa ra khỏi nước, Thánh Linh của Chúa đem Phi-líp đi ngay. Thái-giám không thấy ông nữa, nhưng cứ hân-hoan lên đường. Còn Phi-líp được Chúa đưa đến thành A-xốt, tiếp tục công-bố Phúc-Âm tại các thành phố trên đường đi đến hải cảng Sê-sa-rê.


Qua công tác “cá-nhân chứng-đạo” của Phi-líp ta học được những điều như sau:

- Phi-líp là người bận rộn với công việc Chúa, vì ngươi chẳng những có tài năng mà còn mong muốn được phục--vụ Chúa.

- Phi-líp có sự tương-giao mật thiết với Chúa, nhờ đó đã được Thánh Linh hướng dẫn trong mọi công tác phục-vụ Ngài.

- Phi-líp vâng-theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, không thắc mắc cũng chẳng trễ nải.

- Phi-líp mở đầu việc làm-chứng bằng cách gợi sự thích thú cho người nghe.

- Phi-líp am hiểu Kinh-Thánh và sử dụng Kinh Thánh trong lúc truyền-bá Phúc-Âm.

- Phi-líp trung-tín thực thi công tác truyền-bá Phúc-Âm cho đến lúc hoàn tất.

- Phi-líp tỏ ra nóng cháy trong sự phục-vụ Chúa qua hành động chạy theo xe thái-giám.

- Phi-líp tỏ-ra kiên-nhẫn qua việc giảng-giải từ đầu về bối cảnh và sự ứng-nghiệm của đoạn Kinh Thánh cho thái-giám hiểu.






CHƯƠNG IV: PHI-E-RƠ LÀM-CHỨNG CHO CỌT-NÂY.


1.-Phi-e-rơ để cho Đức Chúa Trời chuẩn bị tấm-lòng trước khi đi ra truyền-bá Phúc-Âm.

2.-Phi-e-rơ ngăn cản người ta thờ-lạy mình.

3.-Phi-e-rơ lắng nghe để hiểu rõ tình-trạng thuộc-linh của người hư-mất trước khi đưa ra phương thuốc cứu chữa.

4.-Phi-e-rơ hiểu rằng cuộc sống đạo đức của Cọt-nây chưa đủ để phục-hòa với Đức Chúa Trời.

5.-Phi-e-rơ trung-tín giảng-giải sự cứu-rỗi qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.

6.-Phi-e-rơ vâng lời Đức Chúa Trời.

7.-Phi-e-rơ áp dụng từ từ từng bước về phương pháp truyền-bá Phúc-Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

8.-Phi-e-rơ giảng-giải Phúc-Âm rất đầy đủ và kết thúc bài làm-chứng với lời mời gọi tiếp nhận Chúa.

9.-Phi-e-rơ có hành động và lời nói khiêm-tốn, biết nhường sự vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.

10.-Phi-e-rơ dành thì giờ cầu-nguyện với Chúa mỗi ngày.


“Tại Sê-sa-rê, có một người tên Cọt-nây, làm đại đội trưởng trong trung đoàn Ý-đại-lợi. Ông và mọi người trong nhà đều có lòng mộ-đạo, kính-sợ Thượng-Đế. Cọt-nây rộng rãi cứu tế dân nghèo và siêng-năng cầu-nguyện.

Một hôm, vào khoảng ba giờ chiều, ông thấy rõ trong khải-tượng, một thiên-sứ của Thượng-Đế đến gọi: Cọt-nây, ông nhìn sửng thiên-sứ, sợ hãi: “Thưa Ngài, có việc gì?” Thiên-sứ nói: “Lời cầu-nguyện và việc cứu tế của ông đã được Thượng-Đế ghi nhận. Bây giờ ông cho người đến Gia-pha, mời Si-môn Phi-e-rơ về đây. Ông này đang trọ trong nhà Si-môn thợ thuộc da, gần bờ biển. Phi-e-rơ sẽ bảo ông mọi việc phải làm. “Khi thiên-sứ đi rồi, Cọt-nây gọi 2 gia-nhân và một binh sĩ có lòng mộ-đạo, thuật cho họ nghe khải-tượng rồi sai đi Gia-pha.

Hôm sau, khi người nhà Cọt-nây gần đến Gia-pha, Phi-e-rơ lên sân thượng cầu-nguyện, lúc ấy vào khoảng giữa trưa. Phi-e-rơ đang đói, muốn ăn, nhưng khi thức ăn dọn lên, ông xuất thần, thấy trời mở ra và một vật như tấm vải lớn buộc 4 góc hạ xuống đất, trong đó có đủ loài thú vật, loài bò sát và loài chim trời. Thình lình có tiếng gọi: “Phi-e-rơ con dậy làm thịt mà ăn! Phi-e-rơ nói: “Lạy Chúa con không dám, vì con không hề ăn vật gì phàm tục ô uế. Tiếng ấy lại bảo ông lần nữa: “Vật gì được Thượng-Đế tẩy sạch thì không còn ô uế nữa”. Lời đó lập lại ba lần, rồi vật kia được thu lên trời. Phi-e-rơ đang phân vân suy-nghiệm ý nghĩa khải-tượng thì nghe Thánh Linh bảo: Này, có 3 người đang tìm con. Con cứ đứng dậy xuống đi với họ. Đừng nghi ngờ, vì Ta đã sai họ đến.” Phi-e-rơ xuống bảo người nhà Cọt-nây. Tôi chính là người các ông đang tìm. Các ông đến đây có việc gì? Họ đáp: Đại đội trưởng Cọt-nây sai chúng tôi đến. Chủ chúng tôi là người công chính và kính-sợ Thượng-Đế, được cả người Do-thái khen-ngợi. Thượng-Đế sai thiên sứ bảo chủ chúng tôi mời ông về nhà để nghe lời ông chỉ dạy. Phi-e-rơ đưa họ vào nhà nghỉ đêm. Sáng sau, ông lên đường với họ, có vài anh em tín hữu Gia-pha cùng đi. Hôm sau, Phi-e-rơ đến thành Sê-sa-rê. Lúc ấy, Cọt-nây đã mời họ hàng, thân-hữu họp lại chờ đợi.

Thấy Phi-e-rơ đến, Cọt-nây ra đón, quỳ lạy dưới chân. Nhưng Phi-e-rơ đỡ Cọt-nây đứng dậy: “Xin ông đứng lên! Tôi cũng chỉ là người như ông”. Vừa nói vừa bước vào nhà, Phi-e-rơ nhìn thấy có nhiều người đang nhóm họp. Ông nói: “Quý ông đều biết rõ, người Do-thái không được phép kết thân hoặc giao-thiệp với người nước ngoài. Tuy nhiên, Thượng-Đế đã dạy tôi không được kỳ thị chủng-tộc. Vì thế tôi không ngần ngại đến ngay khi quý ông mời. Vậy xin hỏi quý ông gọi tôi đến đây có việc gì? Cọt-nây trả lời: Bốn ngày trước cũng vào giờ này- ba giờ chiều --tôi đang cầu-nguyện trong nhà. Thình lình một người mặc áo sáng chói đến đứng trước mặt, bảo tôi: Cọt-nây, Lời cầu-nguyện anh đã được Chúa nghe, việc cứu tế anh đã được Ngài ghi nhớ. Vậy anh nên sai người đến Gia-pha mời Si-môn Phi-e-rơ. Ông ấy đang trọ nhà Si-môn, thợ thuộc da, ở cạnh bờ biển. Tôi lập tức sai người mời ông, nay ông đã vui lòng đến tận đây. Toàn thể chúng tôi đang nhóm họp trước mặt Thượng-Đế để nghe tất cả những điều Chúa đã truyền dạy ông. Phi-e-rơ nói: “Bây giờ, tôi biết chắc Thượng-Đế không thiên-vị ai. Bất cứ dân-tộc nào, hễ ai kính-sợ Chúa và làm điều công-chính, Chúa đều tiếp nhận. Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa muôn dân đã công-bố Phúc-Âm của Thượng-Đế cho dân Y-sơ-ra-ên. Như quý ông biết, sau khi Giăng giảng-dạy về lễ báp-têm, Đạo Chúa được truyền-giảng từ xứ Ga-li-lê, và phổ biến khắp xứ Giu-đê.

Thượng-Đế đã cho Chúa Giê-xu người Na-xa-rét đầy-dẫy Thánh Linh và quyền-năng. Chúa đi khắp nơi làm việc thiện và chữa lành tất cả những người bị quỷ áp bức, vì Thượng-Đế ở với Ngài. Chúng tôi đã chứng-kiến tất cả những việc Ngài làm trong nước Y-sơ-ra-ên và tại Giê-ru-sa-lem. Người Do-thái đã giết Ngài trên cây thập-tự.

Đến ngày thứ ba Thượng-Đế cho Ngài sống lại và hiện ra cho những người được Thượng-Đế lựa chọn làm nhân-chứng. Ngài không hiện ra cho mọi người, nhưng cho chúng tôi, những người được ăn uống với Ngài sau Ngài sống lại. Chúa bảo chúng tôi công-bố Phúc-Âm mọi nơi, làm-chứng rằng Thượng-Đế đã lập Ngài làm chánh án xét-xử mọi người sống và người chết. Tất cả các nhà tiên-tri đều viết về Chúa Cứu Thế: mọi người tin Ngài đều được tha tội nhờ Danh Ngài, Phi-e-rơ còn đang nói, Thánh Linh đã giáng trên mọi người nghe.

Các tín-hữu Do-thái đi theo Phi-e-rơ đều kinh ngạc vì người nước ngoài cũng nhận được ân-tứ Thánh Linh. Họ nghe những người ấy nói ngoại ngữ và tôn-vinh Thượng Đế. Phi-e-rơ hỏi: ai có thể từ chối làm báp-têm bằng nước cho những người này? Vì họ đã nhận lãnh Thánh Linh cũng như chúng ta. Vậy, ông làm báp-têm cho họ nhân Danh Chúa Cứu Thế Giê-xu. Sau đó họ mời ông ở lại vài ngày.” (CôngCv 10:1-48 BDY)


Thành-kiến là ý kiến đã có sẵn từ lâu, cố chấp, khó thay đổi. Trong Hội Thánh đầu tiên, có thành-kiến giữa người văn minh và bán khai, thành phần trí-thức và thất học, người tự chủ và người nô-lệ, người nam và người nữ, người Do-thái và ngoại bang. Song Hội Thánh Chúa sau đó đã chiến thắng thành-kiến.

Sự chết của “Chúa Cứu Thế đem lại hòa-bình cho chúng ta. Ngài hòa-giải hai khối dân-tộc thù nghịch, kết hợp làm một nhân-loại mới. Chúa hy-sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách đôi bên, chấm dứt hận thù, phế bỏ luật-pháp Do-thái với giới răn, quy luật. Chúa hợp nhất hai khối dân thù nghịch, cho họ gia nhập vào Thân thể Chúa để tạo nên một nhân-loại mới và xây dựng hòa-bình.

Hai bên đã là bộ-phận của một thân thể, hận thù tất nhiên tiêu tan, cả hai đều được giải-hòa với Thượng-Đế. Vậy chiến tranh đã chấm dứt tại cây thập-tự. Chúa Cứu Thế đã đến công-bố Phúc-Âm hòa bình ấy cho các dân-tộc gần xa. Nhờ Chúa Cứu Thế tất cả các dân-tộc đều được Thánh Linh dìu dắt đến cùng Chúa Cha.” (ÊphEp 2:14-18 BDY), “sự chia-rẽ kỳ thị giữa Do-thái và nước ngoài, giữa nô-lệ và tự-do, giữa nam và nữ, đã chấm dứt, vì chúng ta đều hợp nhất trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.” (GaGl 3:28 BDY)


Thật vậy, từ trước đã có thành-kiến lớn giữa dân Do-thái với các dân ngoại bang. Đức Chúa Trời đã tự tỏ mình ra cho Áp-ra-ham, chọn lựa dòng dõi ông làm dân thuộc riêng về Ngài để họ truyền-giảng chân-lý cho cả thế gian. Nhưng dân Do-thái đã hiểu sai rằng chỉ có họ mới là dân đáng được cứu-rỗi. Vì thế Phúc-Âm của Chúa Cứu Thế đã phá bỏ thành-kiến đó, và tỏ ra rằng Hội Thánh phải gồm muôn dân, muôn nước.


Sự hoán-cải của Cọt-nây đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời đại mới trong lịch-sử Hội Thánh. Câu chuyện mở đầu với những lời này: tại Sê-sa-rê, có một người tên Cọt-nây... có lòng mộ-đạo, kính-sợ Thượng-Đế. Mặc dù Cọt-nây hết lòng thờ-phượng Đức Chúa Trời, song dường như ông chưa được bình-an với Ngài. Tuy nhiên, nhờ sự siêng năng cầu-nguyện và tìm kiếm Chúa, Ngài ban thưởng ông qua việc mách bảo ông hãy cho người đến Gia-pha mời Si-môn Phi-e-rơ về nhà. Phi-e-rơ sẽ bảo ông mọi việc sẽ làm.


Phi-e-rơ là người Do-thái, nên cũng không tránh khỏi thành-kiến với dân ngoại bang, và không muốn truyền-bá Phúc-Âm cho họ. Vì thế trước khi Đức Chúa Trời dùng Phi-e-rơ mang Phúc-Âm đến cho người nước ngoài. Ngài phải chuẩn bị tấm-lòng ông. Đang khi các gia-nhân của Cọt-nây gần đi đến nơi Phi-e-rơ trọ, Ngài đã cho Phi-e-rơ thấy một khải-tượng. Ông thấy bầu trời mở rộng và có vật gì sa xuống, như thể là một tấm khăn to: 4 đầu túm lại và buông xuống đất. Bên trong thì có đủ mọi loài 4 chân, vật bò sát và chim bay trên trời. Rồi có tiếng bảo rằng: “Phi-e-rơ, con dậy làm thịt mà ăn.” Nhưng Phi-e-rơ trả lời: “Lạy Chúa con không dám, vì con không hề ăn vật gì phàm tục ô uế”. Và tiếng kia lại nói với ông lần nữa: “Vật gì được Thượng-Đế tẩy sạch thì không còn ô uế nữa”.

Sự việc ấy diễn ra 3 lần như thế, rồi vật kia liền rút lên trời. Phi-e-rơ còn đang suy nghĩ xem khải-tượng vừa rồi có ý nghĩa làm sao, thì mấy người Cọt-nây sai phái đã hỏi thăm được nhà của Si-môn và vừa tới ngay bên ngoài cửa. Họ kêu người hỏi xem có phải ông Si-môn gọi là Phi-e-rơ trọ ở đây chăng. Phi-e-rơ đang nghĩ về khải-tượng kia, thì Thánh Linh bảo ông rằng: “Này! Có ba người đang tìm con. Con cứ đứng dậy, xuống đi với họ. Đừng nghi ngờ, vì Ta đã sai họ đến”.


Bấy giờ, Phi-e-rơ hiẻu rõ ý nghĩa của khải-tượng là ông không được phép xem dân-tộc nào là ô uế khi Chúa đã làm cho họ tinh sạch. Ông phải nhận họ là anh em trong một Hội Thánh. Vậy nên sáng hôm sau, Phi-e-rơ và vài anh em tín-hữu Gia-pha cùng đi đến nhà Cọt-nây tại Sê-sa-rê, Phi-e-rơ đã chiến thắng thành-kiến đối với dân ngoại bang, vì đã để cho Đức Chúa Trời chuẩn bị tấm-lòng ông.


Chúa đã sắp đặt đâu đó một cách đáo. Trước khi Phi-e-rơ tới, Cọt-nây đã mời họ hàng, thân-hữu họp lại chờ đợi trong nhà. Vừa lúc Phi-e-rơ vào nhà, Cọt-nây ra đón, cúi xuống chân ông mà lạy, xem Phi-e-rơ là một sứ-giả từ trời. Phi-e-rơ vội vàng đỡ Cọt-nây dậy và nói: “Xin ông đứng lên! tôi cũng chỉ là một người như ông”. Biết bao lần ta không có lời nói và hành động như Phi-e-rơ. Biết bao lần ta quên rằng mình chỉ là người đại diện Chúa chớ chẳng phải là Chúa, và không ngăn cản người khác thần Thánh hóa mình.


Vào nhà xong, Phi-e-rơ liền bày-tỏ lý-do ông đến là do Đức Chúa Trời sai khiến, và ông hỏi Cọt-nây đã cho tìm ông có việc gì. Điều ta học được là Phi-e-rơ biết lắng nghe trước khi nói. Một lỗi lầm thường thấy nơi chứng-đạo viên là không lắng nghe trước khi nói, và vì vậy không hiểu rõ nhu-cầu của người hư-mất để có sự hướng dẫn đúng. Khi tiếp xúc với họ ta thường cho rằng mọi người đều có cùng một nhu-cầu, một hoàn cảnh và ta cư-xử với họ cùng một cách thức.

Đành rằng mỗi trường hợp của người hư-mất đều cần sự cứu chữa giống nhau - do huyết của Chúa Cứu Thế tẩy sạch tội-lỗi chúng ta. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta áp-dụng một phương pháp trình-bày Phúc-Âm như nhau, Phi-e-rơ đã làm một việc khôn-ngoan nhất: lắng nghe trước khi nói.


Sau khi lắng nghe, Phi-e-rơ nhận biết Cọt-nây là người đạo đức và rộng rãi cứu-tế dân nghèo, song bấy nhiêu chưa đủ để được cứu-rỗi. Cọt-nây cần biết về Chúa Cứu Thế và công lao cứu-chuộc của Ngài để có đời sống đổi mới trong Chúa.


Thấy được nhu-cầu đó, Phi-e-rơ hành động như một y-sĩ đại tài, bắt đầu chữa-trị cho bệnh-nhân thuộc-linh. Phi-e-rơ hăng say giảng-giải về Chúa Cứu Thế cho Cọt-nây. Ông còn nói thì Thánh Linh đã giáng-trên mọi người nghe, ai nấy được đầy-dẫy Thánh Linh, nói ngoại ngữ mà ca-tụng Đức Chúa Trời. Sau đó, Phi-e-rơ làm báp-têm cho họ, nhân-danh Chúa Cứu Thế Giê-xu.


Điều ta học được nơi chứng-đạo viên Phi-e-rơ là:

- Phi-e-rơ để cho Đức Chúa Trời chuẩn bị tấm-lòng trước khi đi ra truyền-bá Phúc-Âm.

- Phi-e-rơ ngăn cản người ta thờ-lạy mình.

- Phi-e-rơ lắng nghe để hiểu rõ tình-trạng thuộc-linh của người hư-mất trước khi đưa ra phương thuốc cứu chữa.

- Phi-e-rơ hiểu rằng cuộc sống đạo đức của Cọt-nây chưa đủ để phục-hòa với Đức Chúa Trời.

- Phie rơ trung tín giảng-giải sự cứu-rỗi qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.

- Phi-e-rơ vâng-lời Đức Chúa Trời.

- Phi-e-rơ áp dụng từ từ từng bước về phương pháp truyền-bá Phúc-Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

- Phi-e-rơ giảng-giải Phúc-Âm rất đầy đủ và kết thúc bài làm-chứng với lời mời gọi tiếp nhận Chúa.

- Phi-e-rơ có hành động và lời nói khiêm-tốn, biết nhường sự vinh-hiển cho Đức Chúa Trời.

- Phi-e-rơ dành thì giờ cầu-nguyện với Chúa mỗi ngày.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page