top of page

PHẦN 4 - VĂN HÓA CỦA DÂN VIỆT TRONG SỰ CHỨNG-ĐẠO.

HungT

Mar 12, 2026

CHỨNG-ĐẠO
Tác-giả: Viện Thần-Học Việt-Nam.



CHƯƠNG I: CÁC ĐẶC-TÍNH VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA DÂN VIỆT.


1.-Sự gắn bó đối với tôn-giáo.

2.-Tính cần cù.


Để có thể làm-chứng hữu hiệu cho dân Việt, ta phải biết rõ các yếu tố văn hóa, tuy rất độc đáo song có thể làm ngăn trở họ tiếp nhận Chúa.


SỰ GẮN BÓ ĐỐI VỚI TÔN-GIÁO.


Phần lớn người Việt hải ngoại là người theo Phật-giáo hoặc Khổng-giáo. Trong lúc vượt biên bằng đường biển, đường bộ hoặc được đi chính thức từ Việt Nam tới Hoa Kỳ, nhiều người tin rằng Đức Phật hoặc một vị thần nào đó đã che chở và giữ gìn họ khỏi mọi hiểm nguy. Vì vậy cho nên họ đã hứa-nguyện trung-thành với Đức Phật hay một vị thần nào đó. Bằng-chứng là ta thấy có nhiều bàn thờ, miếu thờ được dựng tại nhà hoặc ở các tiệm ăn do người Việt làm chủ.


Bởi thế, ta nên kiên-nhẫn và không nên mong đợi kết quả tức thì trong việc truyền-bá Phúc-Âm. Người Việt vì gắn bó với tôn-giáo mình, nên lúc nghe Phúc-Âm họ ít khi tiếp nhận ngay lần đầu. Họ viện dẫn nhiều lý-do:


Đạo Nào Cũng Tốt.


Khi gặp trường hợp trên ta nên hỏi thân-hữu xem họ hiểu đạo hoặc tôn-giáo là gì. Sau khi họ trả lời, ta sẽ làm sáng-tỏ bằng cách nói rằng: Nếu một người hiếu-đạo là sự cố gắng của con người để được thánh thiện và đạo đức; hoặc đạo là sự ráng sức của con người để có thể liên-lạc với Thượng-Đế, thì Cơ-đốc giáo không phải là một tôn-giáo. Cơ-đốc giáo là Đấng Christ, và Đấng Christ là Thượng-Đế Ngôi Hai mang lấy hình hài thể xác con người. Ngài là “Con đường, Chân-lý và Nguồn sống”. Nếu không nhờ Ngài, chẳng ai được đến với Đức Chúa Cha.


Cơ-Đốc Giáo Là Đạo Của Tây Phương.


Đây là sự ngộ nhận trải qua rất nhiều năm. Chúa Cứu Thế Giê-xu là một người Do-thái. Các tín-hữu đầu tiên cũng là người Do-thái, và người Do-thái không phải là người Tây phương. Họ thuộc về Trung Đông.


Tin Chúa Sẽ Không Còn Được Thờ-Cúng Tổ-Tiên.


Hiếu-kính là việc làm đáng khen-ngợi. Thánh Kinh cũng dạy ta phải tôn-kính ông bà, cha mẹ lúc còn sống (XuXh 20:12). Bất cứ sự thảo-hiếu nào ta có thể làm được, thì nên thực thi lúc ông bà, cha mẹ còn tại thế.


Theo truyền-thống, dân Việt thờ-cúng tổ-tiên. Nó được bắt đầu như hành động tưởng nhớ, để con cháu không quên cội nguồn. Về sau, người ta thêm vào sự thờ-phượng và cúng-bái. Tuy nhiên, truyền-thống trên không phải là dấu hiệu duy nhất của lòng hiếu-thảo. Để trở nên người con thảo-hiếu, ta phải lo lắng, chăm-sóc ông bà, cha mẹ lúc còn tại thế. Khi họ từ giả cõi đời, ta nhớ lời ông bà, cha mẹ dạy để sống không làm ô danh họ.


Tổ-tiên không có quyền ban phước hay giáng họa. Họ không phải là thần bèn là người cũng giống như mọi người nam người nữ khác, và vì vậy ta chỉ kính chớ không nên thờ. Duy có Thượng-Đế của Thánh Kinh mới đáng cho mọi người ngợi-khen và thờ-phượng, bởi lẽ chỉ mình Ngài mới có quyền ban phước cho con người.


TÍNH CẦN CÙ.


Người Việt có tiếng là siêng năng, chịu khó. Bản-tính của dân Việt là cần cù. Tại Việt Nam, đồng bào ta cũng đã làm việc chăm chỉ. Họ kiên-trì chịu đựng biết bao gian khổ giữa biển cả, trong rừng sâu, tại trại tỵ nạn... cho đến khi được định cư ở Hoa kỳ và nhiều quốc gia khác. Nơi đất khách quê người họ cũng kiên cường khắc phục mọi khó khăn để nói ngôn ngữ mới, hội nhập vào môi trường xa lạ, và học một nghề thích hợp để đi làm nuôi sống gia đình.


Ta nên hiểu rằng với những bận rộn đó thật khó cho họ có thể đi đến nhà thờ hoặc tham dự các sinh hoạt của Hội Thánh. Nhiều người Việt đã mở cơ xưởng, tiệm ăn hoặc nhiều hình thức buôn bán nhỏ khác. Họ làm việc rất nhiều giờ, kể cả những ngày cuối tuần. Ở hải ngoại lâu năm chừng nào, họ càng bận rộn nhiều chừng nấy.


Do đó ta nên biết để cảm thông, đồng thời tìm kiếm và bắt lấy cứ dịp tiện có thể được để đến với họ. Khi biết người đồng hương có tin vui, ta đến chia sẽ niềm vui với họ. Lúc nghe biết họ có chuyện buồn, bệnh tật, hoặc tang chế, ta có thể nhân cơ-hội đó bày-tỏ mối cảm-thông chân-thành với họ. Người Cơ-đốc giao tiếp với tình yêu-thương thành thật đó sẽ mở được nhiều cánh cửa để chia-sẽ Phúc-Âm cứu-rỗi của Đức Chúa Trời.


Đối với người mới định-cư, ta có nhiều cơ-hội hơn khi họ cần ta giúp đi thông dịch, tìm việc làm, kiếm chỗ thích hợp. Những người này biết rằng họ có thể tới nhà thờ để được giúp đỡ và họ thường đến với Hội Thánh. Ta phải gieo hạt giống Phúc-Âm cho họ trong thời gian này, tuy nhiên chớ mong mõi kết quả mau chóng. Ta nên kiên-nhẫn chờ đợi nhiều tháng, nhiều năm để hạt giống Phúc-Âm có đủ thời gian sinh bông kết trái. Kinh-nghiệm cho thấy có những người đã trở lại với Hội Thánh sau nhiều năm vắng bóng. Một số khác đã quay về, khi Hội Thánh giúp gia đình họ qua các lễ cưới hoặc lễ an táng.






CHƯƠNG II: NIỀM TIN NƠI THƯỢNG-ĐẾ CỦA VĂN HÓA VIỆT TỘC.


1.-Qua tục-ngữ, ca-dao.

2.-Qua thi-văn.


Trải gần 5.000 năm qua, niềm tin nơi Thượng-Đế của dân Việt là một niềm tin bất biến. Dân Việt tin rằng trước tất cả mọi sự, đã có ông Trời. Trời là bậc quyền-phép vô song ở trên cao. Từ thái cổ, lúc còn sống trong các bộ lạc Giao Chỉ, ngôn ngữ Việt đã có những câu vần được xếp đặt để ghi nhớ và lưu truyền kinh-nghiệm sống, thì niềm tin vào Thượng-Đế cũng đã được bộc-lộ qua nhiều hình thức như tục-ngữ, ca-dao và thi-phú.


SỬ DỤNG TỤC-NGỮ, CA-DAO TRONG LÚC TRUYỀN-BÁ PHÚC-ÂM.


Hầu hết các bậc cha mẹ Việt Nam đều quen thuộc câu này, “Sanh con chớ không sanh lòng”. Dựa vào câu trên ta có thể giảng giải về sự khác nhau của thể xác và tâm-linh. Đồng thời ta làm-chứng về Thượng-Đế là Đấng tạo dựng con người gồm cả thể xác và linh-hồn hầu con người thể hiểu được kế họach cứu-rỗi của Ngài.


Để giải thích về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, ta bảo họ cứ nhìn vũ-trụ, vạn vật thì biết:

Non kia ai đắp mà cao

Sông kia biển nọ, ai đào mà sâu?


Và lúc nhìn vũ-trụ, nhìn thiên nhiên rồi lại nhìn chính bản thân, mới biết chính mình cũng do Thượng-Đế sinh ra, do Trời tạo dựng.

Trời sinh ra đã làm người,

Hay ăn hay nói hay cười hay chơi.


Một khi đã suy biết có Trời, thì tôn-thờ Trời và cầu-nguyện cùng Ngài. Niềm tin này ăn sâu vào lòng từng người, đến nỗi ông bà ru cháu, cha mẹ ru con, anh chị em ru em cũng nhắc đến niềm tin đó: niềm tin ở Trời thương-xót, che chở cho:

Lạy Trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Lấy bát cơm đầy

Lấy khúc cá to.


Và một khi mưa nắng phải thì, người ta sẽ vui vẻ cần cù làm lụng, không quản đầu tắt mặt tối dãi nắng dầm mưa:

Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,

Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.

Người Việt rất biết ơn, kể lể:

Nhờ Trời Hạ kế sang Đông.

Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi,

Vụ năm cho đến vụ mười.


Người bình dân Việt can đảm chấp nhận đời sống, vì tin có Trời che chở cho:

Trời có mắt (Hoàng thiên hữu nhãn).


Xưa nay người Việt Nam vẫn coi Trời là Đấng Tạo Hóa đầy quyền phép an-bài mọi sự. Hơn thế, họ còn thấy nơi Ngài là một người Cha rất gần con người, vừa quyền phép vừa nhân hậu, lại vừa công-bằng.

Trời nào có phụ ai đâu,

Hay làm thì giàu có chí thì nên.


Người bình dân Việt nam tin rằng Trời còn lo cho họ nhiều hơn nữa:

Trời cho hơn lo làm.


SỬ DỤNG THI-VĂN TRONG LÚC TRUYỀN-BÁ PHÚC-ÂM.


Niềm tin vào Thượng-Đế chẳng những chỉ thấy nơi giới bình dân ít học, mà còn ở các nhà thơ tên tuổi. Ta hãy nghe Hàn Mạc Tử thì thầm:

Tôi van lơn thầm-nguyện Chúa Giê-xu.

Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối.

Xin tha thứ những câu thơ tội-lỗi;

Của bàn tay thi-sĩ kẻ lên trăng,

Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng.


Và đây là lời-nguyện đầy nước mắt của thi-sĩ Huy Cận. Sau những ngày đi hoang đã nhận ra rằng tất cả chỉ là ảo ảnh, duy có Thượng-Đế mới là hạnh phúc thật của mình:

Hỡi Thượng-Đế tôi cúi đầu trả lại.

Linh hồn tôi đã một kiếp đi hoang.

Sầu đã chín xin người thôi hãy hái,

Nhận tôi đi dù địa-ngục thiên-đường.


Dân Việt có một tâm-hồn tin tưởng Đức Chúa Trời, muốn Ngài có mặt trong mọi biến cố quan-trọng của cuộc đời. Tuy nhiên, niềm tin ấy hầu hết chỉ là tin có Thượng-Đế, có một Đấng Thiêng-Liêng. Đức-tin đó tốt nhưng chưa đủ. Vì thế ta phải giảng giải thêm rằng đức-tin để được cứu-rỗi chẳng những là “tin có Chúa ngự trên cao” mà con phải nhận Thượng-Đế làm Chúa, làm Chủ đời mình, theo như lời Thánh Kinh chép: “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (GiGa 1:12).

Động từ nhận trong câu Thánh Kinh trên bao hàm việc: Chấp nhận có Thượng-Đế, và chính Ngài đã sáng tạo cũng như đang bảo tồn muôn vật; tin rằng Thượng-Đế thương yêu con người, mặc dù con người là tội nhân, chẳng thể làm được điều lành, không phương giải thoát khỏi quyền lực của tội-lỗi, cũng chẳng thể nhờ một người nào đó ở đời này giải cứu cho mình được; tin rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã vào đời, mang hình hài thể xác con người để thay thế nhân loại mà chịu chết và cuối cùng là tin rằng Chúa Cứu Thế đã từ kẻ chế sống lại, có quyền ban cho nhân-loại sự sống mới để giải thoát con người khỏi quyền lực của tội-lỗi.


Tâm-tình của dân Việt rất gắn bó đối với Thượng-Đế, vì họ luôn muốn tôn-vinh và thờ-phượng Ngài. Tuy nhiên quan-niệm về Thượng-Đế về niềm tin tưởng vào Trời của họ chưa đủ để được cứu-rỗi. Ta cần giải thích thêm và dìu dắt họ đến với Chúa Cứu Thế.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page