top of page

HungT
Mar 11, 2026
CHỨNG-ĐẠO
Tác-giả: Viện Thần-Học Việt-Nam.
CHƯƠNG I: THỜ-CÚNG TỔ-TIÊN.
1.-Ý-niệm về sự chết.
2.-Ý-niệm về cuộc sống hiện tại.
3.-Ý-niệm về đời sau.
4.-Ý-niệm về năng-quyền.
5.-Ý-niệm về sự cứu-rỗi.
6.-Ý-niệm về sự hiếu-kính cha mẹ, ông bà.
7.-Ý-niệm về việc liên-lạc với người chết.
Người tín-hữu Việt Nam đều đồng ý rằng mối cản trở lớn nhất cho dân Việt trong sự tiếp nhận Phúc-Âm là vấn đề thờ-cúng tổ-tiên. Vì thế điều quan-trọng hàng đầu cho các Hội Thánh Cơ-Đốc Việt Nam là tìm cách giải thích việc thờ cúng này. Nhiều người Việt không muốn trở thành Cơ-đốc nhân vì sợ rằng họ không còn được phép thờ-cúng cha mẹ, ông bà.
Theo phong tục Việt Nam, việc thờ-cúng tổ-tiên rất là quan-trọng. Người Việt tin rằng:
Chết chưa phải là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh-hồn vẫn còn và hằng lui tới gia đình. Thể xác tiêu tan nhưng linh-hồn bất-diệt.
T ục ta lại tin rằng dương sao âm vậy, người sống cần gì, sống làm sao thì người chết cũng như vậy và cũng có một cuộc “sống” ở cõi-âm như cuộc sống của người trên dương-thế, nói khác đi, người chết cũng cần ăn uống tiêu pha, nhà ở như người sống. Tin như vậy, việc cúng lễ là cần thiết, và việc thờ-phụng tổ-tiên không thể không có được.
Tục cũng lại tin rằng vong-hồn các người khuất thường luôn ngự trên bàn thờ để gần gủi con cháu trong công việc hằng ngày và giúp đỡ con cháu trong những trường hợp cần thiết.
Dân Việt thường cúng-bái tổ-tiên vào các ngày lễ lớn như tết Nguyên Đán (ngày đầu năm Âm Lịch), tết Thanh Minh (Ngày thượng tuần tháng ba), tết Đoan Ngọ (mùng năm tháng năm), tết Trung Nguyên (rằm tháng bảy), tết Trung Thu (rằm tháng tám)... Ngoài ra, con cháu tin ở sự phù-hộ và sự hiện diện của tổ-tiên quanh mình nên bất cứ một việc lớn nhỏ gì xảy ra, liên-quan tới gia đình, gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên như: vợ sinh con; con đầy cử; đầy tháng; đầy năm; con cái bắt đầu đi học; con cái sửa soạn đi thi; con cái thi đỗ; gả chồng cho con gái, dựng vợ cho con trai; xây dựng nhà mới.
Ý-NIỆM VỀ SỰ CHẾT.
Sự chết thể xác, theo quan-niệm của dân Việt và của các trước-giả Kinh Thánh, là việc không thể tránh được. Tuy nhiên, ý niệm về sự chết của dân Việt khác với ý-niệm về sự chết trong Thánh Kinh. Sự chết theo Thánh Kinh là sự mở đầu cho việc đánh mất tất cả mối liên-hệ trên đất và cắt đứt mọi sự giao-tiếp với người sống.
Đó không phải là sự chuyển tiếp vào vũ-trụ thần-linh, cũng không phải là phương-tiện để người chết có thể biến nên thánh thần. Thánh Kinh quả quyết rằng sự chết là sự phân-rẽ quan-trọng cuối cùng giữa con người và Đấng Tạo Hóa do tội-lỗi gây ra.
Theo quan-điểm Thánh Kinh, sự chết là điều đi ngược lại ý chỉ của Đức Chúa Trời, Đấng ban cho sự sống. Nó là hiện thân của kẻ thù cuối cùng bị Chúa Phục-Sinh hủy diệt. Sự chết thống-trị nhân-loại vì “mọi người đều đã phạm-tội” (RôRm 3:23).
Thánh Kinh không chỉ vén màn bí mật về căn-nguyên của sự chết, mà còn báo trước về sự chấm dứt của sự chết. Sự phục-sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chiến thắng sự chết và trong thời đại hầu đến sẽ “không có sự chết, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi” (KhKh 21:4).
Ý-NIỆM VỀ CUỘC SỐNG HIỆN TẠI.
Không giống như quan-niệm của triết-gia Hy-lạp, dân Việt không cho rằng thân xác là một gánh nặng phải tống khứ. Mặc dù dân Việt tin rằng sự chết là lối vào vũ-trụ thần-linh, thì cũng không có nghĩa là sự chết có thể giải phóng con người khỏi các xiềng xích của thân xác. Thật ra thân xác là môi-trường mà qua đó con người có thể vui hưởng cuộc sống hiện tại. Con người là một sinh vật lịch-sử và thực sự này làm cho cuộc sống hiện tại càng trở nên quý giá. Vì thế ta không ngạc nhiên khi thấy dân Việt cầu-xin tổ-tiên đã khuất, ban cho con cháu có được một thể xác khỏe mạnh.
Tuy nhiên, Thánh Kinh lại quan-niệm khác hơn. Con ngư ời chỉ có thể vui hưởng cuộc sống hiện tại trong Chúa Cứu Thế Giê-xu mà thôi. Đối với Cơ-đốc nhân cuộc sống hiện tại không những là quý báu vì những điều họ có thể vui hưởng trong thế giới này, mà còn vì họ có thể thông-công với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Sự kiện quan-trọng hơn nữa là con người chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa thật của cuộc đời qua mối liên-hệ với Đức Chúa Trời hằng sống.
Ý-NIỆM VỀ ĐỜI SAU.
Dân Việt tin rằng chết không phải là hết. Chết chẳng phải là kết thúc sự hiện hữu của con người. Có sự sống bên kia cõi chết. Tuy nhiên quan-niệm về đời sau của Thánh Kinh không giống với quan-niệm của dân Việt. Thánh Kinh dạy rằng trong ngày cuối cùng những người chết trong Chúa Cứu Thế sẽ được sống lại để vào sự sống bất-diệt. Còn những người không tin sẽ sống lại để đi vào sự hư-mất đời-đời.
Ý-NIỆM VỀ NĂNG-QUYỀN.
Dân Việt tin rằng tổ-tiên đã khuất có quyền-năng trên người sống. Họ có thể bảo vệ con cháu khỏi mọi tật bệnh và có thể ban cho con cháu được sống lâu và sống phước hạnh. Tuy nhiên có vấn-đề khó khăn tại đây. Tổ-tiên đã quá-cố có thể chận đứng sự chết không?
Tổ-tiên có thể làm cho con cháu từ kẻ chết sống lại chăng? Tổ-tiên đã khuất không thể thực hiện được những việc đó vì chính họ cũng đã bị sự chết thống-trị. Ta nên nhớ rằng tổ-tiên đã quá-cố chỉ là người, và trải qua sinh, lão, bệnh, tử như mọi người khác.
Tổ-tiên không thể tự giải cứu chính mình, cũng không thể tránh được sự chết thì làm sao họ có thể che chở, bảo vệ con cháu? Thực ra niềm tin về một người sau khi chết sẽ có được năng-quyền mới, là niềm tin không đặt nền-tảng trên Thánh Kinh. Đức Chúa Trời không bao giờ ban cho tổ tiên đã khuất quyền-năng để ban phước hoặc giáng họa trên người sống.
Ngoài ra niềm tin nơi người chết có thể cứu giúp người sống là hành động phủ nhận quyền tể-trị, xử đoán cả kẻ chết lẫn người sống của Chúa Cứu Thế. “Đấng Christ đã chết và sống lại, ấy là để làm Chúa kẻ chết và người sống” (RôRm 14:9). Chúa Cứu Thế cầm quyền tể-trị trên 2 vương quốc của kẻ chết và người sống vì Ngài đã trải qua sự chết, đắc thắng thần chết và đã sống lại khải hoàn như là Chúa của sự sống.
“Vả, những chữ ‘Ngài đã lên’ có nghĩa gì, há chẳng phải là Ngài cũng đã xuống trong các miền thấp ở dưới đất sao? Đấng đã xuống tức là Đấng đã lên trên hết các từng trời, để làm cho đầy-dẫy mọi sự” (ÊphEp 4:9-10).
“Thượng-Đế là Nguồn Sống, nên Con Ngài cũng là Nguồn Sống. Thượng-Đế đã giao quyền xét-xử loài người cho Con, vì Con Thượng-Đế chịu làm Con người. Các ông đừng ngạc nhiên. Sắp đến giờ mọi người chết nằm dưới mộ sẽ nghe tiếng gọi của Con Thượng-Đế, và bước ra khỏi mộ. Người làm điều thiện sống lại để được sống mãi còn người làm ác sống lại để chịu hình-phạt” (GiGa 5:26-29 BDY).
Vì Chúa Cứu Thế là Đấng sống, Ngài đã chết, nhưng nay Ngài sống đời-đời, giữ chìa khóa cõi chết và Âm-phủ, nên ta không thể tin rằng người đã khuất có quyền ban phước hoặc giáng họa trên người sống.
“Tôi nói thế có nghĩa gì? Thần-tượng và của cúng thần-tượng (qua nghi thức thờ cúng tổ tiên) chẳng có giá trị gì, nhưng những lễ vật đó cũng cho ác quỷ chứ không phải dành cho Thượng-Đế” (ICôr1Cr 10:19-20 BDY).
Ý-NIỆM VỀ SỰ CỨU-RỖI.
Niềm tin về sự cứu-rỗi trong Thánh Kinh khác với niềm tin của dân Việt qua sự thờ-cúng tổ-tiên. Dân Việt tin rằng nhờ việc thờ-cúng tổ-tiên mà người đã khuất sẽ sớm được vào miền cực lạc. Khi con cháu thiết lập những nghi lễ thờ-cúng tổ-tiên, thì người quá cố sẽ hưởng được nhiều công trạng. Đáp lại tổ-tiên đã khuất sẽ che chở cho con cháu.
Tuy nhiên, Thánh Kinh không chấp nhận việc làm này. Sự cứu-rỗi không phải do công-trạng, nhờ việc làm của con người: nhưng là do ân-phúc, bởi đức-tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu.
“Anh em được cứu nhờ ân phúc của Thượng-Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Sự cứu-rỗi là tặng-phẩm của Thượng-Đế chứ không do anh em tự tạo” (ÊphEp 2:8 BDY).
Sau sự chết là sự phán-xét đang chờ đợi người đã quá cố, vì “theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bê-rơ 9:27;). Và số phận đời-đời của linh-hồn người đã khuất, đã được định xong, căn cứ vào sự đáp-ứng của người trước Phúc-Âm cứu-rỗi lúc còn tại thế.
“Chúa sẽ thưởng phạt tùy theo công việc của mỗi người. Người nào bền lòng vâng-phục Chúa, tìm kiếm vinh-quang, danh dự và những giá-trị vĩnh-cửu, sẽ được sự sống đời-đời. Còn người nào vị kỷ, chối bỏ chân-lý, đi theo đường gian tà, sẽ bị hình phạt; Thượng-Đế sẽ trút cơn giận của Ngài trên họ. Tai ương, thống khổ sẽ giáng trên mọi kẻ làm ác, dù người Do-thái hay nước ngoài. Nhưng vinh quang, danh dự, bình an dành sẵn cho người vâng-phục Thượng-Đế, không phân biệt chủng-tộc vì Thượng-Đế không thiên-vị ai” (RôRm 2:6-11 BDY).
Do đó, thờ-phụng tổ-tiên đã khuất không đem lại lợi ích cho họ và cho con cháu còn sống. Con cháu không làm gì được cho người đã quá-cố, và người đã khuất cũng không thể che chở, bảo vệ cho con cháu còn sống. Thánh Kinh chép: “Sự yêu, sự ghét, sự ganh gỗ của họ thảy đều tiêu mất từ lâu; họ chẳng hề có phần nào về mọi điều làm ra dưới mặt trời” (TrGv 9:6).
Ý-NIỆM VỀ SỰ HIẾU-KÍNH CHA MẸ, ÔNG BÀ.
Dân Việt rất trọng lễ và trọng lễ thì ân-nghĩa giữ phần quan-trọng. Tổ-tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu-thảo phải biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ và thảo-hiếu với ông bà tổ-tiên. Dân Việt cho rằng một người con thảo hiếu là người phải thờ-cúng tổ-tiên đã quá-cố qua nhang đèn, bàn thờ, giỗ kỵ.
Thánh Kinh cũng d ạy Cơ-đốc nhân phải hiếu-thảo cha mẹ:
“Hãy hiếu-kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban-cho” (XuXh 20:12).
“Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng-phục cha mẹ mình trong Chúa vì điều đó là phải lắm. Hãy tôn-kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất có lời-hứa nối theo), hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất” (ÊphEp 6:1-3).
Tuy nhiên, cách thức người Cơ-đốc bày-tỏ lòng hiếu-kính không giống như những hình-thức thông thường của nhiều người, nghĩa là không bàn thờ, không nhang đèn. Vì Thánh Kinh dạy sự chân-thật từ tấm-lòng quan-trọng hơn những hình-thức của lễ bên ngoài (ThiTv 51:16-17; GiGa 4:23-24). Hơn nữa, Thánh Kinh dạy rõ rằng tổ-tiên đã khuất không còn có những nhu-cầu thể xác như người sống.
Người sống ít ra cũng còn biết mình sẽ chết, nhưng người chết còn biết gì nữa đâu, cả trí nhớ cũng chẳng còn. Tất cả những việc họ làm khi còn sống, dù là do yêu, ghét, đố kỵ... đều đi vào hư-vô từ lâu, chẳng gì còn lại cho họ trên đời (TrGv 9:5-6).
“Chúa Giê-xu đáp: Các ông lầm lẫn vì không hiểu Thánh Kinh, cũng chẳng hiểu quyền-năng Thượng-Đế. Khi sống lại, không ai còn cưới vợ lấy chồng nữa, mọi người đều giống như thiên-sứ” (MatMt 22:29-31 BDY).
Người chết không có nhu-cầu, và vì vậy ta không cần chu-cấp thực phẩm hay các phương-tiện sinh sống khác. Người con thảo-hiếu, theo lời Chúa dạy, là người thật lòng yêu-thương cha mẹ, tôn-kính tổ-tiên bằng cách lúc cha mẹ còn sống thì lo phụng-dưỡng và làm vui lòng đấng sinh thành. Lúc cha mẹ, ông bà không còn tại thế thì phải ăn ở sao cho đúng lời người dạy bảo và giữ danh thơm tiếng tốt cho người đã khuất.
Ý-NIỆM VỀ VIỆC LIÊN-LẠC VỚI NGƯỜI CHẾT.
Theo Thánh Kinh, tổ-tiên đã quá-cố không thể trở lại cùng người sống qua bất cứ hình thức nào. Trong Cựu-Ước, người chết được giữ nơi phần mộ và nơi âm-phủ (sheol) là nơi không thể trở lại trần-gian.
Từ liệu sheol (âm-phủ) chỉ nơi kẻ chết ở để chờ đợi sự sống lại. Từ liệu này cũng đồng nghĩa với chữ “hades” trong Tân-Ước. Tuy nhiên, chữ “hades” có ý rõ ràng hơn vì nó chỉ 2 nơi riêng biệt: phía trên gọi là “Ba-ra-đi” dành cho người công-bình; phía dưới dành cho kẻ ác phải ở trong tình-trạng khổ sở để chờ đợi sự phán-xét cuối cùng. Có một vực sâu ngăn cách giữa 2 nơi này, như được bày-tỏ trong LuLc 16:19-31.
Đó là tình-trạng trước khi Chúa thăng-thiên; nhưng sau khi Ngài thăng-thiên thì Ba-ra-đi được dời đến tầng trời thứ ba (ÊphEp 4:8-10; IICôr2Cr 12:1-4; LuLc 23:43). Như thế người chết bị cắt đứt mọi liên-lạc với cộng đồng nhân-loại cũng như chấm dứt tất cả sự phục-vụ Chúa. Họ không thể kêu-cầu Đức Chúa Trời và chẳng thể ngợi-khen Ngài. Họ không còn có thể chia-sẻ bất cứ điều gì dưới ánh mặt trời.
Gióp nói: “...bây giờ tôi sẽ nằm trong bụi đất, Chúa sẽ kiếm tìm tôi, song tôi không còn nữa” (Giop G 7:21) (Gióp không phải định nghĩa sự chết, bèn là nói lên sự xung đột giữa bản-thân với vấn-đề sự chết).
Tân-Ước dạy rõ là người chết vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chết. Tuy nhiên, Tân-Ước không cho biết hết về tính-chất xác thực sự tồn tại của người chết. Thánh Kinh không nói là có những nhịp-cầu liên-lạc giữa người đã quá-cố và người sống. Bởi vì tổ-tiên đã khuất không có phần trong cuộc đời người sống, nên họ không thể ban phước hoặc làm hại người sống. Điều ta cần nhớ là câu chuyện về người giàu có và La-xa-rơ nên giải nghĩa cho đúng mục-đích của nó và không thể dùng câu chuyện đó để chứng-minh cho tình-trạng có thể liên-lạc giữa kẻ đã quá-cố và người sống. Mục-đích của câu chuyện này dạy ta nên vâng-theo lòng ước muốn của tổ-tiên. LuLc 16:19-31 bày-tỏ rằng tổ-tiên mong muốn con cháu tiếp nhận Chúa Cứu Thế để khi chết khỏi phải xuống nơi khổ-hình.
Người giàu thưa: “Vậy xin tổ làm ơn sai Lã-xa đến nhà cha con, cảnh-cáo hăm anh em con, để khi chết họ khỏi phải xuống nơi khổ hình này’. Áp-ra-ham giải thích: “Đã có Thánh Kinh luôn luôn cảnh-cáo họ” Người giàu nài nỉ: “Thưa tổ, không được đâu! Nếu có người chết sống lại cảnh-cáo, họ mới ăn-năn”. Nhưng Áp-ra-ham nghiêm-nghị: “Nếu họ không tin lời Thánh Kinh, dù có người chết sống lại họ cũng chẳng tin” (LuLc 19:27-31 BDY).
Tuy nhiên, có 2 phân đoạn Thánh Kinh-một trong Cựu-Ước và một trong Tân-Ước-nói đến sự liên-lạc với người chết. Phân đoạn quen thuộc trong ISa1Sm 28:1-25, ghi chép về việc Sau-lơ liên-lạc với Sa-mu-ên. Ba sách Phúc-Âm Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca cũng tường thuật việc Chúa Giê-xu chuyện trò với Môi-se và Ê-li (MatMt 17:1-13; MacMc 9:2-8; LuLc 9:28-36).
Đây không phải là những ngụ-ngôn, nhưng là các bài tường thuật về cuộc nói chuyện của Chúa Giê-xu với các nhân vật nổi tiếng thời Cựu-Ước. Ta có thể giải thích đây là những trường hợp ngoại lệ, dù vậy ta vẫn không thể phủ nhận tính-chất lịch-sử của chúng. Tuy thế, ta cũng không thể dùng chúng để minh-chứng cho việc liên-lạc với người chết. Thánh Kinh nghiêm cấm về việc này và cho đó là hành động gớm ghiếc.
“Ở giữa ngươi chớ nên có ai đem con trai hay con gái mình ngang qua lửa, chớ nên có thầy bói, hoặc kẻ hay xem sao mà bói, thầy phù thủy, thầy pháp, kẻ hay dùng ếm chú, người đi hỏi đồng cốt, kẻ thuật số hay là kẻ đi cầu vong; vì Đức Giê-hô-va lấy làm gớm ghiếc kẻ làm các việc ấy và vì các sự gớm ghiếc ấy nên Giê-hô-va và Đức Chúa Trời ngươi đuổi các dân-tộc đó khỏi trước mặt ngươi” (PhucDnl 18:10-12).
“Nếu có ai bảo các ngươi: Hãy cầu hỏi đồng bóng và thầy bói, là kẻ nói ríu rít líu lo, thì hãy đáp rằng: Một dân-tộc há chẳng nên cầu hỏi Đức Chúa Trời mình sao? Há lại vì người sống mà hỏi kẻ chết sao?” (ÊsIs 8:19).
Trong cuộc sống hằng ngày, người Việt có thể kể lại nhiều trường hợp họ đã gặp gỡ hoặc nói chuyện với tổ-tiên đã quá-cố. Vì thế, câu hỏi được đặt ra: Những người đã khuất này là ai? Theo truyền-thống, người ta tin rằng đây là những ác thần mạo nhận danh nghĩa người đã quá cố để lường gạt người sống.
Moreau đã nói:
Cho những ai muốn “nói chuyện” với những người thân hoặc bà con đã khuất, thì không có gì đảm-bảo rằng các linh-hồn đó sẽ hiện ra. Duy có điều ta biết chắc là những hành động đó sẽ tạo cơ-hội cho sự lừa gạt của Sa-tan hơn là sự mặc-khải thuộc-linh thực sự.
Đức Chúa Trời nghiêm-cấm người sống liên-lạc với kẻ đã quá-cố, cho dù trong thực tế họ không làm được điều đó.
Trong lúc nhiều người tìm đến những người đã khuất để nhờ sự phù hộ, thì Cơ-đốc nhân nhất quyết không làm điều ấy. Thay vào đó, ta tìm đến Đấng đã từ cõi chết sống lại và hiện nay đang ngồi bên hữu Đức Chúa Cha cầu-thay cho chúng ta. Ngài cũng là vị quan án trong ngày phán-xét, là ngày mà hết thảy mọi người, gồm cả ông bà, cha mẹ ứng-hầu trước mặt Chúa.
Ngoài việc giải thích cho thân-hữu về vấn-đề thờ-cúng tổ-tiên, chứng-đạo viên cũng phải có chương trình dạy đạo cho tân tín-hữu. Ta nên nhớ rằng cho dù người Việt đã tiếp nhận Phúc-Âm và được cứu, họ vẫn còn bị ảnh hưởng bởi truyền thống thờ-kính tổ-tiên.
Vì thế:
-Thứ nhất, chứng-đạo viên nên dạy cho tân tín-hữu về Đức Chúa Trời. Có một Đức Chúa Trời thật.
“Đức Chúa Trời chẳng phải trời, chẳng phải đất, chẳng phải lý, chẳng phải khí, chẳng phải tánh, chẳng phải người, chẳng phải vật, chẳng phải quỷ thần, bèn là Đấng chủ tể dựng nên trời đất, muôn vật và loài người. Ngài làm Chúa của muôn dân, vua của muôn vua, không đầu tiên, không cuối cùng, trọn tài, trọn trí, trọn lành, chí tôn, không ái sánh kịp”
Ngài yêu thương, che chở con cái Ngài bằng quyền-năng siêu nhiên. Con người không phải sợ hãi vì Đức Chúa Trời đang cầm-quyền tể-trị. Ta dạy họ cách thờ-phượng Chúa.
“Thờ-lạy Đức Chúa Trời không cần phải xây đền đài, trổ tượng, vì Ngài ở khắp mọi nơi; không cần phải dùng hy-sinh, lễ vật và hương đèn, vì Ngài rất giàu có... Ngài chỉ thích người ta lấy tâm-thần mà thờ-lạy Chúa, bất luận chỗ nào, lúc nào cũng được cả... Đến Chúa Nhật đi vào nhà thờ, nhóm họp với anh chị em tín-hữu, trước thờ-phượng Chúa, sau nghe Mục-sư giảng dạy, tỉnh thức, yên-ủi, lại hát ngợi-khen và cầu-nguyện.”
Ta cũng dạy họ là có sự khác biệt rõ rệt giữa Đức Chúa Trời và loài người. Đức Chúa Trời là Đấng Sáng tạo, còn loài người là tạo vật Ngài. Con người không bao giờ trở thành thần-linh, và cũng không được phép thờ-phượng Đức Chúa Trời qua các hình-tượng như A-rôn và dân Do-thái đã làm:
“A-rôn đáp rằng: Hãy lột những vòng vàng đeo nơi tai vợ, con trai và con gái các ngươi, rồi đem lại cho ta. Hết thảy đều lột vòng vàng nơi tai mình mà đem lại cho A-rôn; người nhận lấy nơi tay họ, và dùng đục làm thành một con bò đúc. Dân chúng nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! Nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (XuXh 32:2-5).
Cơn giận của Đức Chúa Trời cháy phừng chống
nghịch người thờ hình-tượng:
“Sa-ma-ri hỡi, thần-tượng bò con vàng của ngươi bị Ta dứt bỏ. Cơn phẫn-nộ Ta cháy phừng chống nghịch các ngươi. Cho đến bao giờ các ngươi mới được tinh luyện trong Y-sơ-ra-ên” (OsHs 8:5 BDY).
-Thứ hai, chứng-đạo viên nên dạy cho tân tín-hữu về sự chết, người chết, và sự sống đời-đời. Ta phải biết quan điểm của cả người Việt lẫn người Cơ-đốc về ý niệm của sự chết để hướng dẫn tân tín-hữu. Đặc tính và ý nghĩa của sự chết là gì? Sự chết là kẻ thù, là kết quả của tội-lỗi; song đối với người Cơ-đốc, ý nghĩa đó đã thay đổi-người Cơ-đốc không còn sợ nọc độc của sự chết, Cơ-đốc nhân cũng trải qua sự chết, vì vốn mang huyết khí của A-đam; tuy nhiên có sự khác biệt giữa người tin Chúa và không tin Chúa khi bước qua cánh cửa của sự chết.
Người tin Chúa: theo Thánh Kinh, người tin Chúa không bị sự đoán-xét trong đời này và đời sau (GiGa 5:24), khi chết người sẽ được bước vào cõi sống đời đời, và thân thể sẽ sống lại trong ngày Chúa tái lâm. Vì thế sự chết đối với Cơ-đốc nhân chỉ là giấc ngủ, là phương-tiện để bước vào sự sống vĩnh viễn (ITês1Tx 4:13-18).
Người không tin Chúa: ngày từ trong cõi đời này người đã bị đoán-xét rồi, và sẽ chịu Chúa phán-xét sau khi qua đời để vào sự chết đời-đời (GiGa 3:18; KhKh 21:8).
-Thứ ba, chứng-đạo viên nên dạy cho tân tín-hữu về sự sống lại của kẻ chết. Theo sự bày-tỏ của Thánh, có hai sự sống lại.
Sự sống lại của kẻ tin: kẻ tin, hay người công-chính sẽ được sống lại để vào sự sống bất-diệt. Đây là sự sống vô cùng vinh-hiển, so với thân thể trước khi sống lại. Phao-lô diễn-tả:
“Chết là thân thể hư-nát, nhưng sống lại là thân thể không hư nát. Chết lúc bệnh tật già nua, nhưng sống lại đầy vinh-quang rực rỡ. Khi chết rất yếu ớt, nhưng sống lại thật mạnh mẽ. Chết là thân thể xương thịt, nhưng sống lại là thân thể thần-linh. Vì đã có thân thể xương thịt, tất nhiên cũng có thân thể thần-linh. Thánh Kinh chép: Người thứ nhất là A-đam có sự sống. Còn Chúa Cứu Thế là thần-linh ban sự sống. Chúng ta có thân thể bằng xương thịt trước, sau đó Thượng-Đế ban cho chúng ta thân thể thần-linh, A-đam ra từ cát bụi và thuộc về đất, còn Chúa Cứu Thế đến từ trời. Mọi người trần gian đều có thân thể bằng cát bụi như A-đam, nhưng người thuộc về Chúa Cứu Thế sẽ có thân thể thần-linh giống như Ngài” (ICôr1Cr 15:42-49 BDY).
Sự sống lại của kẻ chẳng tin: Kẻ chẳng tin, hay kẻ ác sẽ sống lại để chịu xét đoán trước tòa án chung thẩm và đi vào sự chết đời-đời, còn gọi là sự chết thứ hai. Sứ-đồ Giăng được Chúa cho biết trước về việc xét xử đó:
“Tôi thấy những người đã chết, cả lớn và nhỏ đều đứng trước ngai. Các cuốn sách đều mở ra, kể cả Sách sự Sống. Người chết được xét xử tùy theo công việc thiện ác họ làm mà các sách đó đã ghi. Biển trao trả các thi hài nằm trong biển. Tử vong và Âm-phủ cũng trao nộp người chết chúng giam cầm. Mỗi người bị xét-xử tùy theo công việc mình đã làm. Tử vong và Âm-phủ bị quăng xuống hồ lửa. Vào hồ lửa là lần chết thứ hai. Người nào không có tên trong Sách sự Sống phải bị quăng xuống hồ lửa” (KhKh 20:12-15 BDY).
Tiên-tri Đa-niên bày-tỏ sự khác biệt giữa sự sống lại của người công-chính và kẻ ác như sau:
“Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì được sống đời đời, kẻ thì chịu tủi hổ, miệt thị đời đời. Những người khôn sáng- tức là những người biết Chúa sẽ chiếu sáng như bầu trời giữa trưa và những ai dìu dắt những người về cùng Chúa sẽ rực rỡ như các ngôi sao cho đến đời-đời mãi mãi” (DaDn 12:2-3 BDY).
CHƯƠNG II: NHO-GIÁO.
1.-Nguồn gốc.
2.-Ý-niệm về cõi đời-đời.
3.-Ý-niệm về con người
4.-Ý-niệm về sự cứu-rỗi;
5.-Ý-niệm về đạo hiếu;
“Nho-giáo” (còn gọi là Khổng-giáo) là một trong tam giáo đã được dân Việt sùng tín từ thời Bắc thuộc, nghĩa là gần 2000 năm nay, đã du nhập vào Việt Nam cùng với sự đô-hộ của người Trung Hoa và cũng đã có những thời kỳ toàn thịnh”.
NGUỒN GỐC.
Nho-giáo được lưu-truyền đã lâu. Bắt đầu vua Phục-Hy chế ra bát quái gồm tám quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tôn, Ly, Khôn và Đoài: vua Hạ-Vũ dựng ra cửu trùng tức là chín phép trị-dân, đã là gốc triết-học của Nho-giáo. “Điền, mô, huấn, cáo là những lời khuyên răn của Đại-Vũ, Cao-Dao, Y-Doãn, Phó-Duyệt, đã là gốc luân lý học của nho-giáo. Nghiêu, Thuấn đặt ra điển hình, Châu-công chế ra lễ nhạc, đã là gốc chính trị học của nho-giáo” Đến đời Xuân Thu Khổng-Tử góp nhặt các lời lẽ, văn chương, tư tưởng của tiền nhân để thuật lại cách mạch lạc, hệ-thống. Từ đó Nho-giáo ra đời.
Khổng-Tử-cũng gọi tôn kính là Khổng-Phu-Tử, là Vạn-thế Sư-biểu-người làng Xương Bình, nước Lỗ, nay thuộc Sơn Đông, bắc Trung Hoa. Tên huý của Khổng-Tử là Khâu, và tự là Trọng-Ni. Thân mẫu là Nhan-thị; thân phụ là Khổng-Thúc-Lương làm quan nước Lỗ. Lúc nhỏ Khổng-Tử thích chơi những đồ dùng trong nghi lễ cúng tế như đèn, nến... Năm 19 tuổi, lập gia đình và được bổ dụng làm Ủy-lại, chuyên coi việc lúa thóc của chính phủ. Sau đó lãnh chức Tư-chức-lại, chuyên coi việc nuôi bò, dê để dùng cho việc cúng tế.
Năm 22 tuổi, Khổng tử nổi tiếng là người tài giỏi. Năm 51 tuổi, vua nước Lỗ nghe tiếng Khổng-tử nên bổ nhiệm người làm quan Trung-đô-tử (tương đương Thị-trưởng ngày nay). Theo truyền-thuyết, ông cầm quyền thì cả kinh thành đua nhau lương thiện: của rơi ngoài đường không mất mà được trả lại cho chủ. Kế sau người được thăng lên chức Đại-tư-khấu (Bộ-trưởng Tư-pháp).
Năm 56 tuổi, được vua nước Lỗ thăng lên chức Nhiếp-tướng-sự (Thủ-tướng), nhưng chỉ ít lâu sau, Khổng-tử thấy nhà vua đam mê sắc dục, trễ nải việc triều chính, ông can ngăn không được liền bỏ ra đi chu du các nước. Khổng-Tử tới Vệ, sang Tần, qua Tống rồi đến Sở trong vòng 14 năm không được trọng dụng. Sau đó, Khổng-Tử trở về quê dạy học, viết sách cho đến ngày từ trần, thọ 73 tuổi.
Tất cả căn-bản của Nho-giáo có thể tra-cứu trong Tứ-thư và Ngũ-kinh. Tứ Thư gồm 4 cuốn sách: (1) Đại-Học: là sách dạy về đạo đức của người quân tử; (2) Trung-Dung: là những lời của Khổng-Tử do học trò truyền lại, rồi sau cháu người là Tử-Tư chép thành sách, gồm 33 chương; (3) Luận-Ngữ: là sách chép các lời Khổng-Tử khuyên dạy học trò, hoặc những câu chuyện Khổng-Tử nói với người đương thời về nhiều vấn đề như: luân lý, triết lý, chính trị, học thuật; (4) Mạnh-Tử: là sách do Mạnh-Tử viết ra gồm 7 thiên, bàn về các vấn đề luân lý, chính trị và kinh tế.
Ngũ-Kinh gồm 5 cuốn sách: (1) Kinh Thi: vốn là những bài ca dao ở thôn quê và nhạc chương ở nơi triều miếu của Trung Hoa về đời thượng cổ: (2) Kinh Thư: do Khổng-Tử sưu tập, trong đó chép về phép tắc, mưu bàn, kế sách, lời dạy dỗ, lời truyền bảo, lời răn tướng sĩ, và mệnh-lệnh của các vua tôi Trung Hoa từ đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông Chu (2357-771 TC); (3) Kinh Dịch: là sách giải thích về lẽ biến hóa của trời đất và muôn vật; (4) Lễ-ký: là sách chép các lễ nghi trong gia tộc, hương đảng và triều đình; (5) Xuân-Thu: nguyên là sử ký nước Lỗ, do Khổng-Tử làm lại, chép các công việc từ năm đầu đời Lỗ Ân Công đến năm 15 đời Lỗ Ai Công (772-481 TC).
Tứ-thư và Ngũ-Kinh vừa là Thánh Kinh của các môn đồ đạo Nho vừa là những tác phẩm triết-học tối cổ của Trung Hoa. Và triết-học Nho là nền-tảng triết-học chính yếu ở Đông phương.
Ý-NIỆM VỀ CÕI ĐỜI-ĐỜI.
Khổng-Tử nhắm mục đích tái lập kỷ cương, thuần hóa phong tục, xây dựng lại con người, nên xem nhẹ “Hình Nhi Thượng” là phần chuyên chú về cõi siêu nhiên, mà chú trọng vào “Hình Nhi Hạ” là phần đi vào nhân sinh xã hội. Ông là người theo thuyết bất khả tri (thuyết chủ trương con người không thể hiểu nổi những cái tuyệt đối như có Thượng-Đế không, có linh-hồn bất tử không, ai sinh ra loài người...) vì Khổng-Tử đề cập rất ít về thần-linh và cõi đời sau.
Trong Cổ-học Tinh-Hoa có kể lại: Ngày kia thầy Tử-Cống hỏi đức Khổng-Tử:
Người chết còn có biết gì nữa hay không?
Đức Khổng-Tử đáp:
“Nếu ta nói quả quyết người chết rồi còn có thể biết được, thì ta sợ những con cháu hiếu-thảo liều thân để chết theo cha mẹ, ông bà. Còn nếu ta nói quả quyết người chết rồi không thể biết được, thì ta lại e những con cháu bất-hiếu bỏ xác cha mẹ, ông bà mà không chôn. Ngươi muốn hiểu người chết có biết hay không biết, thì hãy thong thả đợi đến lúc chết rồi sẽ biết”.
Theo sự giải thích của Nguyễn-văn-Ngọc và Trần-Lê-Nhân, thì câu kết luận của Khổng-Tử: “Ngươi muốn hiểu người chết có biết hay không biết, thì hãy thong thả đợi đến lúc chết rồi sẽ biết”, chính là một câu từ chối trả lời khéo của Khổng-Tử. Bởi lẽ học thuyết của Khổng-Tử chỉ hướng về sự tai nghe mắt thấy, hằng ngày thường làm chớ không bao giờ dạy đến cõi đời sau. Cho nên, lần kia để trả lời cho một câu hỏi tương tự, Khổng-Tử đã nói: “Cái sống còn chưa biết, làm sao biết được cái chết”
Nhiều thế kỷ sau khi Khổng-Tử qua đời, các môn-đệ ông mới bàn đến cõi đời sau. Khi dạy về cõi đời-đời, Nho giáo có đề-cập đến Trời (Heaven) hoặc Thượng Đế (Shang Ti). Trời là “Đấng Tối Cao chỉ huy mọi vật trong vũ trụ” Trời có thể hiểu rõ người và có thể gây ra sự mất mát cho người qua việc cho phép thần chết cướp mất những người thân. Người có thể phạm-tội với Trời. Vì vậy người quân-tử cần tìm biết về “Thiên Đạo” (“Way of Heaven”) và thông hiểu “Thiên Mệnh” (“The Will of Heaven” hoặc “Heavenly Fate”).
Chữ Thiên-Mệnh trong Luận ngữ có 3 ý nghĩa:
Nghĩa thứ nhất trỏ một thái-độ thuần-triết của những người tin rằng trong vũ-trụ có một luật biến hóa nào đó có thể tìm hiểu được và nên rán tìm hiểu, để xử sự theo nó, đừng trái nó. Nghĩa thứ nhì và nghĩa thứ ba đều cho rằng trong đời có những điều không thể hiểu được, có khi vô-lý nữa: chỉ khác là nghĩa thứ nhì trỏ một thái-độ tích cực, làm hết sức mình rồi kết quả ra sao cũng mặc; còn nghĩa thứ ba trỏ một thái-độ tiêu cực, hoàn toàn để cho hoàn cảnh chi phối, chẳng cần làm gì cả.
Ý-niệm về Thiên-Mệnh được dân Việt khắp nơi đón nhận, và đã đưa vào các tác-phẩm văn chương như: Đoạn Trường Tân Thanh, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Lục Vân Tiên v.v...
Ý-NIỆM VỀ CON NGƯỜI.
Nho giáo xây dựng học thuyết trên chữ nhân. Có thể nói nhân là xuất phát điểm của hệ-thống tư tưởng Khổng-học. Nhân, theo gốc chữ Hán gồm có chữ nhân là người và chữ nhị là hai. Vậy nhân là sự tương-quan giữa người với người trong xã hội. Tương-quan giữa vua tôi gọi là Quân Thần, giữa vợ chồng gọi là Phu Phụ, giữa cha con gọi là Phụ Tử.
Ba tương quan đó là Tam Cương. Muốn tạo không khí thanh bình, tín cẩn, hòa ái trong cuộc sống hằng ngày, Nho giáo nêu cao 5 đức tính trong Ngũ Thường. Với căn bản luân lý này con người phải gắng tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên-hạ. Còn đàn bà thì phải biết Tam Tòng và Tứ Đức.
Nho-giáo quan-niệm rằng con người sinh ra với bản-tính toàn thiện (nhân chi sơ, tính bản thiện). Con người phải sống theo bản tính toàn thiện ấy để tập lấy nhân đức. Sở dĩ con người không đi tới chỗ toàn thiện chỉ vì không chịu tập nhân đức. Các Thánh nhân, các nhà đạo đức chỉ hơn người ở chỗ biết giữ lấy bản năng toàn thiện của con người.
Ý-NIỆM VỀ CỨU-RỖI.
Nho-giáo chú trọng đến việc con người sống trong thế giới này, vì vậy sự cứu-rỗi đặt trọng tâm trên các nguyên tắc đạo đức của Khổng-Tử cùng một số lễ nghi mà con người phải vâng giữ. Nho-giáo cho rằng con người sinh ra với một bản-thể toàn thiện nên có thể tự làm nên sự cứu-rỗi cho mình. Về sau, Nho-giáo dạy rằng tâm-trí con người có thể được đổi mới qua sự học hỏi, giáo dục và sửa mình. Khó khăn nhất là bước đầu tiên phải tu sửa bản-thân cho tâm lành, trí cao.
Muốn vậy, đối với chính mình phải “giữ lòng cho ngay thẳng, ý cho thành khẩn” (“chánh tâm, thành ý”). Đối với tha nhân “không có thành-kiến với bất cứ ai, chẳng nên quan-niệm rằng việc đời sẽ diễn tiến đúng như mình dự liệu, gặp ý kiến bất đồng đừng khăng khăng tự cho là đúng, và trong khi tiếp xử với người, phải quên cá nhân mình đi” (“vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”). Sống trong bất cứ môi-trường nào, người quân tử cũng phải “hòa nhã khiêm cung với tất cả mọi người, nhưng tuyệt nhiên không a dua theo ai” (“quân-tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa”).
Khổng-Tử cũng lấy Ngũ Thường gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, giáo hóa con người:
1. Nhân: nhân-hậu, độ-lượng bác-ái. Nhân là yêu thương tha nhân như bản thân mình. “Thương người như thể thương thân” (“ái nhân như kỷ”).
2. Nghĩa: là lòng biết ơn cảm tạ, báo đáp đền bù cho c ác ân nhân của mình. Nghĩa còn là thi ân cho các người cần đến mình.
3. Lễ: là lễ phép kính trên nhường dưới. “Tiên học lễ hậu học văn”. Lễ với cha mẹ, với người lớn tuổi, với cấp trên, với chủ nhà. Lễ ở mọi nơi, Lễ cả khi bị làm phiền “dĩ hòa vi quí”.
4. Trí: Những gì cần biết thì phải biết. Biết sống sao cho hợp Đạo Tam Tài (Thiên, Địa, Nhân). Biết coi nhẹ Danh Lợi Thú.
5. Tín: tin tưởng cậy nhờ được, đã nói thì làm, đã hứa thì giữ, đã nhận công tác thì chu toàn, không lật lọng tráo trở.
Do việc giữ các nguyên-tắc trên, Nho-giáo tìm kiếm một xã hội nhân loại toàn hảo và một bản-thể con người trọn-lành. Các nguyên-tắc sống trên có thể tóm lại trong câu này: Hễ điều gì mình không muốn kẻ khác làm cho mình, thì cũng đừng làm điều đó cho kẻ khác.
Cho dù học thuyết Nho-giáo rất tốt song nó cũng là một sự ngăn trở lớn cho việc truyền-bá Phúc-Âm. Các nhà nho-học và những người trí-thức cho rằng đạo của Khổng-Tử là trọn lành và họ lấy đó làm tiêu-chuẩn đạo đức cho mình. Họ khước từ Phúc-Âm vì cho rằng đạo học của Khổng-Tử đã quá đủ và không cần thiết phải nghĩ đến đạo mới hay giáo-lý mới.
Dĩ nhiên ta biết họ lầm lẫn vì không ai có thể làm lành lánh dữ đủ để có thể tự cứu mình khỏi tội. Thánh Kinh quả quyết:
“Chẳng một người nào công-chính, dù chỉ một người thôi… chẳng một ai làm lành, dù một người cũng không” (RôRm 3:10,12 BDY)
Và:
“Ấy là nhờ ân-điển bởi đức-tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (ÊphEp 2:8-9).
Họ có thể sẽ chỉ ra vài Cơ-đốc nhân không có đời sống tốt đẹp để so sánh với những người chưa tin khác hoặc với chính họ. Lúc ấy ta nên mời gọi họ hãy nhìn xem Chúa Cứu Thế, tuy nhiên thường là rất khó khi có nhiều người Cơ-đốc không sống giống như Chúa.
Ý-NIỆM VỀ ĐẠO HIẾU.
Khổng-Tử dạy chỉ người con trai mới được thừa kế việc hương hỏa, vì thế dân Việt tin rằng không sinh được con trai là bất hiếu. Không có con trai thừa kế để thực hiện việc thờ-cúng tổ-tiên là một điều bất hạnh. Hoặc nếu có con trai, các bậc cha mẹ cũng không muốn con mình trở thành Cơ-đốc nhân, vì sợ con cái không cúng bái.
Để khắc phục ngăn trở này, người Cơ-đốc phải bày-tỏ sự hiếu-kính trong nếp sống hằng ngày hầu tránh sự hiểu lầm trên. Tiến-sĩ Chow Lien-Hwa, giáo-sư Chủng viện Thần-học tại Đài Loan, trong một bài viết về “Sự Đáp Ứng của Cơ-đốc Nhân Đối Với Việc Hiếu Kính Trong Văn Học Cổ Điển Trung Quốc” đã nói rằng, ngoại trừ các nghi lễ cúng bái, thì không gì sai cho người Cơ-đốc khi thực hành truyền thống hiếu-kính tổ-tiên. Chow đề nghị nên gọi là “hiếu-kính tổ-tiên” thay cho “thờ kính tổ-tiên” vì người Cơ-đốc không thể thờ-phượng một người nào hoặc thần nào khác ngoài Thiên Chúa.
Ông gợi ý thêm rằng để được kết quả trong việc truyền bá Phúc-Âm, người Cơ-đốc nên tránh phê bình hoặc chỉ trích truyền-thống cũ, thay vào đó là giải thích cho người chưa tin hiểu về cách thức bày-tỏ lòng hiếu-thảo theo Thánh Kinh. Chow dựa vào hai tác phẩm cổ điển Trung Quốc: Lòng Thảo-Hiếu Của Con Cái và Luận Ngữ (của Nho-giáo), mà viết rằng:
“Đạo hiếu là trọng tâm của Nho-giáo. Đạo hiếu thúc đẩy dân chúng kính-trọng cha mẹ và đó cũng là nền-tảng đạo đức của người Trung Hoa… Việc khẩn yếu của người Cơ-đốc ở Đông phương là chớ nên phê phán các truyền-thống cũ, nhưng hãy để cho dân chúng thực hành việc tưởng nhớ tổ-tiên, song tránh các hình-thức thờ-phượng và cúng-bái.”
Liang cũng đồng quan-điểm trên khi nói rằng: “Chúng ta đã chỉ trích, chê bai quá nhiều đối với việc thờ-cúng tổ-tiên, cho nên người Cơ-đốc bị hiểu lầm là không hiếu-kính ông bà, cha mẹ và điều đó đã ngăn trở người khác tiếp nhận Phúc-Âm.” Liang kêu-gọi các tín-hữu nên có thái-độ tích cực để cho cả người Cơ-đốc lẫn người chưa tin đều nhận thấy răng đức-tin Cơ-đốc không phải là bỏ ông bỏ bà. Ông nhấn mạnh rằng ta nên chinh-phục người hư-mất bằng nếp sống đạo hơn là đoán-xét, thay thế hơn là phá đỗ.
Liang giải thích:
Hai yếu-tố căn-bản cần thiết để thực hiện việc này là: Dạy lời Chúa cho họ và khéo léo hướng dẫn họ thay đổi cách thức bày-tỏ lòng hiếu-kính. Dạy lời Chúa sẽ khiến cho mọi người có thể đến với Đức Chúa Trời, nhận được sự sống sung mãn nơi Ngài để có thể thực hiện việc thay đổi.
Tiếp đến ta sẽ chứng-minh lòng hiếu kính qua lối sống đạo... thảo-hiếu với cha mẹ lúc còn sống bằng cách phụng-dưỡng chu-đáo, và tổ chức lễ an táng trọng thể cho cha mẹ khi qua đời... thường là do vị Mục-Sư cử hành lễ. Ta có thể đặt trước quan tài những vòng hoa và bức hình rọi lớn của người đã quá-cố.
Sau đây là các thể thức tưởng nhớ cha mẹ, ông bà đã khuất. (1) Treo lên tường ở giữa nhà những câu Thánh Kinh hoặc Mười Điều Luật hay bức hình Chúa Giê-xu để thay cho bàn thờ tổ-tiên và các thần khác. (2) Treo bức ảnh người đã quá-cố ở một nơi dễ nhìn thấy. (3) Hằng năm tổ chức tại nhà lễ kỷ-niệm ngày ông bà, cha mẹ qua đời và mời vị Mục-sư làm chủ tọa buỗi lễ. (4) Đi thăm và dọn sạch cỏ ở ngôi mộ vào ngày Thanh Minh nhưng không cúng bái và đốt giấy vàng bạc. (5) Giữ tình thông-công với bà con chưa tin Chúa và bày-tỏ cho họ thấy ta không bao giờ quên ông bà, cha mẹ đã khuất... Ngoài ra, người Cơ-đốc còn có thể dành riêng một quyển Thánh Kinh đặc biệt, gọi là Quyển Thánh Kinh của Gia Tộc, và ghi tên của ông bà, cha mẹ vào các trang đầu bỏ trống. Hoặc hằng năm nên tổ chức một ngày gọi là Ngày của Tổ-Tiên tại nhà thờ hay nghĩa trang.
CHƯƠNG III: LÃO-GIÁO.
1.-Nguồn gốc.
2.-Ý-niệm về “Đạo” trong Lão-giáo.
3.-Ý-niệm về sự cứu-rỗi.
Lão-giáo cũng là một trong tam giáo đã du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và đư ợc nhiều người tin tưởng. Lão-giáo bành trướng mạnh vào các đời vua Đinh Tiên Hoàng, Lý Anh Tôn. Đến đời nhà Lê trở về sau, vẫn còn nhiều người tin theo đạo-Lão dù chẳng thịnh đạt như Nho-giáo và Phật-giáo.
Không kể đến phương-diện tín-ngưỡng, Lão-giáo ảnh hưởng hầu hết vào thi-ca Việt Nam. Trong tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và trong tập hát nói của Nguyễn Công Trứ, những bài vịnh cảnh nhàn đều chịu ảnh hưởng của đạo Lão. Ngày nay Lão-giáo tại Việt Nam đã biến thể thành lối thuật-số, đạo phù-thủy, với đủ thứ dị-đoan và mê-tín.
NGUỒN GỐC.
Lão-Tử là người sáng lập ra Lão-giáo. Lão-Tử chỉ là một tiếng để tả ông, chứ không phải là tên, và có nghĩa là “ông thầy già”. Khác với 2 vị giáo chủ của Nho-giáo và Phật-giáo, lai lịch Lão-Tử thiếu hẳn sử liệu chính xác. Các học-giả Trung-hoa, Nhật-bản và cả Âu-Mỹ từ trước đến nay khi nói đến thân thế và sách vở của Lão-Tử, cũng chỉ bàn theo giả thuyết chớ không ai biết đích xác lai lịch của Lão-Tử.
Theo truyền-thuyết được đa số học-giả Trung-hoa chấp nhận (trong số đó có Tư-Mã-Thiên, một sử-gia đầu tiên của Trung Quốc vào thế kỷ I trước Công Nguyên về đời nhà Hán), thì Lão-Tử họ là Lý, tên là Nhĩ, tự là Bá Dương, thụy là Đam. Ông gốc người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, thôn Khúc Nhẫn, thuộc tỉnh Hồ Nam ngày nay. Lão-Tử ra đời trước Khổng-Tử chừng 20 năm, sống từ năm 510-490 trước Công nguyên, đồng thời với Heraclitus (540-480 TC) và Pythagoras (580-500 TC) của Hy-lạp.
Lão-Tử nổi tiếng về đạo cao đức trọng nên được nhà Châu mời giữ chức Thủ-Tàng-Thất, chuyên lo giữ công văn. Làm quan nhiều năm, ông chán ngán về tư cách đê-tiện của các chính khách, quyết tâm rời Trung Quốc, đi tìm một nơi hẻo lánh, xa xôi để ẩn dật. Khi ông tới cửa ải Hàm cốc, Doãn Hỉ, viên quan giữ ải, ra đón chào và nói: “Ông sắp đi ẩn, vậy xin ông vì tôi mà để lại một sách.” Lão-Tử cảm lời, viết một cuốn trên 5000 chữ, gồm hai phàn về Đạo và Đức gọi là Đạo Đức Kinh. Đây là một cuốn sách thuộc về Tâm-linh Đạo-học, hướng đạo cho những người theo con đường Huyền-học và siêu thoát. Viết xong, ông bỏ đi về phía Tây (Cam Túc) rồi biệt tích luôn.
Ý-NIỆM VỀ “ĐẠO” TRONG LÃO-GIÁO.
Lão-Tử cho rằng vũ-trụ bắt nguồn từ Đạo mà ra. Đạo là nguyên lý tuyệt đối của vũ-trụ đã có từ trước khi khai thiên lập địa, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm. Đạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh ra vạn vật (Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh Vạn vật).
Đạo là một nguyên lý rất huyền diệu do đấy mà sinh ra trời đất và vạn vật. Đạo vốn là đơn nhất sinh ra âm dương; âm dương sinh ra trời, đất và khí; trời, đất và khí sinh ra muôn vật, muôn vật sinh ra khắp cả thế gian, rồi lại quay trở về Đạo. Trở về Đạo, rồi lại hóa ra vạn vật, cứ đi đi về về mãi thế, tức là cái cuộc biến-cải sống chết ở đời, mà là cái cuộc tuần hoàn theo lẽ tự nhiên.
Đạo là một nguyên-lý hoàn toàn siêu hình và bất khả tư nghị. Người ta không thể định danh nó, không thể phân chia nó, nghĩa là không thể dùng lý-trí mà hiểu, muốn hiểu ta phải dùng tâm mà thôi. Lão-tử quan niệm r ằng khi ta định cho Sự-Vật một cái tên là ta tự làm cho ta xa lìa với cái “chân diện mục” của chúng: “Đạo mà nói ra được, không còn phải là Đạo thường nữa; Danh mà gọi tên ra được, không còn phải là Danh thường nữa” (“Đạo khả đạo phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh”).
Về sau các triết-gia Hy-lạp cũng đã phát huy quan-niệm về Đạo. Zeno (335-263 TC) đã dung hòa chủ trương của Socrates gọi Đạo là nguyên lý của con người trong khi Heralitus chủ trương Đạo là trật tự của vũ-trụ. Plato (427-347 TC) và Aristotle (384-322 TC) quan-niệm Đạo là một kiến thức tuyệt đối.
Thánh Kinh cũng viết về Đạo: “Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng Đức Chúa Trời, và Đạo là Đức Chúa Trời” (GiGa 1:1 Bản Nhận Chánh). Nhưng Đạo của Thánh Kinh khác với Đạo của Đông phương và của triết-học Hy-lạp. Đạo của Thánh Kinh không phải là nguyên lý tuyệt đối của vũ-trụ, hoặc nguyên-lý của con người, hoặc trật tự của vũ-trụ, hoặc kiến thức tuyệt đối.
Đạo ấy là Thượng-Đ ế Ngôi Hai sáng tạo vạn vật và vũ-trụ: “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (1:3). Đạo đã xuống đời, mang hình hài thể xác con người để hy-sinh mạng sống cứu chuộc nhân-loại: “Đạo đã trở nên xác thịt, đóng trại giữa chúng ta...” (1:14 Bản Nhuận Chánh). Con người chỉ có thể biết Thượng-Đế và được cứu-rỗi là nhờ Đạo, tức là Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Ý-NIỆM VỀ SỰ CỨU-RỖI.
Lão-Giáo dựa vào khả năng con người để thực hiện sự cứu-rỗi. Có 3 giai đoạn con người phải trải qua: (1) phải tập đời sống giản dị, tự nhiên, ít tư riêng và ít tham dục (“Kiến tố, bão phác” và “thiểu tư, quả dục”). Đây mới chỉ là bước đầu để dứt bỏ cái “ta” nhân tạo nhiều giả dối để trở về cái “ta” đồng nhất với đạo, nghĩa là cố gắng đạt đến chỗ “thanh tỉnh” và “vô vi” (2) giai đoạn “Ngộ đạo”, (3) cuối cùng đạt tới trạng thái “huyền động”, nghĩa là đến lúc mọi vật đều hòa đồng với nhau thành một, không còn thấy riêng tư, phân biệt nữa. Khi đã đạt tới chỗ Huyền Động là lúc tâm hồn được yên tĩnh và khoan khoái vô cực. Đó là sự nhẹ nhàng lâng lâng khác thưòng, chỉ có thể diễn-tả bằng 2 chữ “thoát tục”.
Sau này người ta cho rằng theo Lão-giáo tức là đi tu tiên để học luyện những “quyền-phép lạ lùng thần tiên” hầu được trường sanh bất tử, bay bổng lên tiên.
CHƯƠNG IV: PHẬT-GIÁO.
1.-Nguồn gốc.
2.-Ý-niệm về Thượng-Đế.
3.-Ý-niệm về con người.
4.-Ý-niệm về sự cứu-rỗi.
Phật-giáo khởi thủy ở Ấn-độ, truyền đi khắp xứ lân cận do 2 đường bộ và thủy. Về đường bộ thì qua miền Trung-Á như Mông-cổ, Tây Tạng và Trung-hoa; rồi từ Trung-hoa qua Cao-ly và Nhật-bản. Về đường thủy thì qua Tích Lan truyền sang Nam Dương. Nước Việt ở giữa 2 con đường ấy, và do sự ghé lại của những thương gia Ấn-độ, đã mang hạt giống bồ đề trồng trên đất Giao Chỉ ngay từ đầu kỷ nguyên Tây lịch. Nhưng đó chỉ là việc khởi đầu. Đến cuối thế kỷ thứ II (189) và đầu thế kỷ III, Phật-giáo mới thực sự du nhập Việt Nam do 3 đạo-sĩ Thiên Trúc và một vị sư Trung-hoa truyền sang.
Phật-giáo rất thịnh đạt và được coi như quốc giáo ở triều đại nhà Lý và nhà Trần. Triều đình đặt chức quốc sư, mở khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão). Nhiều vị vua đã đi tu sau khi thoái vị và chùa chiền dựng nên trong nước rất nhiều.
Từ đời Hậu Lê trở về sau, Phật-giáo bị phái Nho-công kích, và triều đình cũng không quan tâm tới, do đó đạo-Phật mỗi ngày một suy, lâu dần thành một tôn-giáo của dân chúng, không có tổ chức, hệ-thống gì nữa, các tăng-ni phần nhiều là ít học bày ra các mối dị-đoan, các lễ-nghi phiền phức, còn giáo-lý cao siêu của nhà Phật ít người hiểu đến.
Mãi đến năm 1931, hội Nam Kỳ nghiên-cứu Phật-Học mới được thành lập tại Sài-gòn. Đây là một hội Phật-học đầu tiên xuất hiện với mục-đích phục hưng Phật-giáo. Kế đó, năm 1932 hội An Nam Phật Học ra đời ở Trung Việt, và năm 1934, hội Phật-giáo Bắc Kỳ được thành lập ở Bắc Việt. Năm 1938, Phật Học Đường đầu tiên mở cửa để đào tạo tăng-ni.
Năm 1955, Phật-giáo toàn quốc thành lập hội Phật-giáo Thống Nhất. Đây là một bước tiến quan-trọng của Phật-giáo Việt Nam, vì đạo Phật tuy du nhập vào Việt Nam 20 thế kỷ, nhưng chỉ chính thức được thống nhất vào năm ấy.
Từ năm 1920-1960 là thời kỳ Phật-giáo hưng thịnh, và các tổ chức bắt đầu có quy củ, lại có thêm nhiều tổ chức Phật tử: Thanh niên, sinh viên, học sinh...
Năm 1960-1963, Phật-giáo bị đàn áp, nhiều Phật-tử đã tranh đấu và đã hy-sinh. Sau đó, các hội và các phái Phật-giáo đã đoàn kết thành hội Phật-Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau năm 1975, Phật-giáo cũng bị bắt bớ như nhiều tôn-giáo khác tại Việt Nam. Hiện nay, Phật-giáo là tôn-giáo lớn nhất Á Đông.
NGUỒN GỐC.
Người sáng lập ra Phật-Giáo là Siddhartha (Tất Đạt Đa), họ Gautama (Cổ-Đàm), thuộc dòng Thích Ca - Kinh sách nhà Phật hay gọi người bằng những tên khác nhau như: Tathagata (Như-Lai), Bhagavat (Thế-Tôn), và nhất là Buddha (Phật). Người sinh năm 563 trước Công Nguyên, tại xứ Nepal. Lớn lên trong cảnh trưởng giả, Thích Ca thấy đời là bể khổ, và con người là sinh lão bệnh tử, nên đến 29 tuổi (có sách nói 19 tuổi), người quyết định đi tu. Suốt 6 năm tu khổ hạnh trong rừng không kết quả gì, người đến gốc cây bồ đề tịnh tọa, rồi tự thệ nguyện: “Nếu ta ngồi đây mà không tìm ra đạo lý nhiệm mầu, không tìm ra lẽ huyền bí của vũ-trụ vạn pháp thì dù thịt nát, xương tan, ta cũng quyết không rời bỏ chỗ này.”
Sau 49 ngày ngồi suy tư thì Thích Ca giác ngộ và thành Phật. Năm ấy người 35 tuổi. Từ đó Thích Ca đi khắp nơi giảng thuyết về phép diệt khổ. Sau 45 năm thuyết giáo, người được 80 tuổi và biết sắp từ trần, nên hội họp các môn-đệ tại rừng Sa-La để giảng giải lần chót. Các lời giáo-huấn cuối cùng đó được gọi là Kinh Đại Bát Niết Bàn. Nói xong Kinh ấy một ngày một đêm thì viên tịch. Thi thể người được hỏa táng với tất cả danh dự dành cho hàng đế vương và các hoàng thân, các kỳ hào chia nhau hài cốt của người để đặt vào trong các linh miếu.
Phật-giáo có rất nhiều kinh sách, nhưng chỉ có 5 bộ kinh là do đức-Phật dạy dỗ: Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Chuyển Pháp Luận, Vô Ngã Tướng, Kinh “Tất Cả Bị Thiêu Hủy” và Kinh Đại Bát Niết Bàn. Tuy nhiên toàn bộ kinh sách Phật-giáo được đúc kết thành 3 bộ kinh gọi là Tam Tạng Kinh.
(1) Kinh Tạng: gồm những điều chính yếu do đức Phật thuyết về “Giáo, Lý, Hành, Quả” để hướng dẫn người học đạo (“Giáo: những lời dạy của đức Phật là Như Phật (chân-lý); Lý: lý giải chân lý; Hành: thực hành phương pháp thực hiện chân lý; Quả:thể hi ện chân lý”).
(2) Luật Tạng: là kinh bao gồm các luật: đừng làm các việc ác, gắng làm những việc lành. Thánh sạch trong ý nghĩa, lời nói và hành động.
(3) Luận Tạng: là những bài thuyết giáo do các Bồ Tát, Tỳ Kheo trứ thuật và ghi chú những giáo lý mầu-nhiệm trong 2 bộ trên.
Giáo-lý Phật-giáo rất nhiêu khê, song tựu trung có 3 điều căn-bản:
Tứ Thánh Đế.
Tứ Thánh Đế là “bốn cái chân-lý huyền diệu” mà ta có thể gọi là tất cả tinh-hoa của Phật-Giáo nguyên thủy. Đây là con đường đưa loài người đến chỗ diệt khổ. Tứ Thánh Đế gồm:
(1) Khổ Đế: là nói về cái khổ của con người. Sinh là khổ, bệnh là khổ, lão là khổ, rầu rĩ, than khóc, táng tâm chí, thất-vọng là khổ.
(2) Tập Đế: là lấy Thập Nhị Nhân Duyên mà tìm ra cái căn do bởi đâu mà kết tập thành khổ.
(3) Diệt Đế: là theo lần Nhị Thập Nhân Duyên mà dứt từ ngọn cho tới gốc rễ cái khổ. Người càng diệt nhiều càng đắc đạo cao.
(4) Đạo Đế: là các con đường phải theo để được giải thoát. Những con đường đó gọi là Bát Chánh Đạo, tức là tám con đường diệt khổ.
Vũ Trụ Quan.
Tứ Thánh Đế là tinh hoa của giáo-lý nhà Phật, còn luận về vũ-trụ thì vay mượn của Ấn-độ giáo. Vũ-trụ này do nghiệp mà ra. Thế giới vô biên, chúng sinh vô hạn lượng nhưng tất cả đều do “nghiệp” biến hiện. Ngoài thuyết nghiệp còn có thuyết S ắc và Không. Sắc là những hình thể của sự vật mà ngũ quan cảm biết được. Không là trạng thái vô thể, vô sắc, vô âm nên chẳng thể dùng giác quan mà suy tưởng. Dưới nhãn quan Phật-học, “vũ-trụ vạn hữu không ngoài định đề Sắc, Không, nó tiếp nối nhau như luật nhân duyên, nhân quả và luôn luôn biến chuyển, nếu bất động thì vạn vật sẽ tự diệt.
Nghiệp Báo Luân Hồi.
Trung tâm đạo Phật là thuyết về luân-hồi, nghĩa là vạn vật đã vào vòng sinh tử để cứ sống đi chết lại mãi mãi, không bao giờ cùng, cũng như cái bánh xe đã quay thì càng quay càng nhanh, không bao giờ dừng... Theo thuyết ấy, đã có sinh ra tất phải chết đi, đã chết đi tất phải sinh lại, sinh tử, tử sinh, vô cùng, vô hạn, hết đời nọ đến kiếp kia, hết kiếp này đến đời khác, gọi là luân-hồi.
Song những đời đời kiếp kiếp ấy, tử tử sinh sinh ấy, là làm nhân quả lẫn cho nhau, không phải là vô bằng vô cứ. Các việc hiện xảy ra ở đời này là sự thưởng hay sự phạt những việc đã xảy ra trong kiếp trước, và là nguyên nhân mầm mống những việc sẽ xảy ra về kiếp sau. Đạo-Phật gọi phép báo ứng ấy là nghiệp báo, Phạn tự gọi là Karma, Nghĩa chữ nghiệp báo là vừa chỉ cái việc làm, vừa chỉ cái kết quả việc ấy về sau này.
Nói cho dễ hiểu, ta sống đời này đây, nhưng ta đã sống kiếp trước rồi. Do kiếp trước của ta mà ta có kiếp này. Bởi vì theo thuyết luân hồi thì người ta sống kiếp này, lại hóa ra kiếp khác. Mỗi một kiếp của ta là đã đeo theo cái nghiệp của ta đã gây ra khi ta sống ở kiếp trước. Cái nghiệp là một công-lệ chung của tạo hóa. Vạn vật không có vật nào tránh khỏi dù là thần Thánh cũng vậy. Chỉ có khi nào thành Phật rồi là đã phá được “vô minh” thì cái nghiệp ấy không có mầm mà sinh nảy ra được, là tự nó phải chết. Còn các vật ở trong vô minh, thì vật nào cũng có nghiệp. Người làm điều lành, điều phải thì có cái nghiệp tốt để báo-ứng cho điều lành, điều phải. Người làm điều ác, điều dở thì có cái nghiệp xấu để báo-ứng cho điều ác, điều dở. Xấu hay tốt, dữ hay lành là tự mình làm ra, rồi tự mình được hưởng hay phải chịu lấy, chứ không có ai làm cho mình tránh được cái nghiệp của mình đã gây ra. Như thế, nghiệp là cái đạo báo-ứng tự nhiên chí công.
Ý-NIỆM VỀ THƯỢNG-ĐẾ.
Đức Phật phủ nhận sự hiện hữu của Đấng Tạo Hóa. Người không bao giờ nói đến Thượng-Đế, chẳng dạy Phật-tử cầu Thượng-Đế. Toàn bộ Tam Tự Kinh của Phật-giáo tuyệt đối không đề-cập đến một sự hiện hữu nào của Đấng Tạo Hóa. Tuy nhiên khi khảo-cứu về Tạo Hóa, ta thấy đức Phật có đề-cập đến Đấng Chí Cao, nhưng Ngài chính là Đấng đã tạo nên những con người dâm-ô độc ác, vì vậy Đấng Chí Cao còn độc ác hơn cả loài người. Cho nên Đấng Chí Cao của Phật-giáo không giống như Đấng Chí Cao của Do-thái giáo hoặc của Cơ-đốc giáo mà Ngài chính là Brahma của Ấn-độ giáo và đạo Bà-la-môn.
Đức Phật cũng không tin có thần-linh. Người cho rằng: “Thật là điên khùng mới nghĩ rằng một người khác có thể làm cho ta sung sướng hoặc cực khổ”. Đức Phật cũng phủ nhận thiên-đàng, hỏa-ngục, cũng không tin sự thưởng thiện phạt ác, vì con người bệnh và chết là do luật sinh hóa tự nhiên chứ chẳng do ý một vị thần-linh nào cả. Thần-học của Ngài là một thứ thần-học vô-thần, mà tâm-lý học của Ngài cũng là một thứ tâm-lý học vô linh-hồn.
Ngài tuyệt nhiên không chấp nhận thuyết linh-hồn và ngay đến con người cũng không có linh hồn. Tuy nhiên về giáo-lý Phật-giáo thì lại tin có sự thưởng thiện phạt ác, có thiên-đàng, hoả-ngục, song các nơi ấy là những chặng xứng hiệp với nhân quả con người đã gieo trong sinh tử, tử sinh. Còn niết-bàn thì dành cho ai đã thoát được vòng luân-hồi đó.
Ý-NIỆM VỀ CON NGƯỜI.
Đạo Phật lấy con người làm cứu cánh và đối tượng chính để phục-vụ và triển khai, bằng cách dạy cho con người thoát mọi ràng buộc khổ đau mê tối của nhiên giới, siêu giới và tâm giới; đồng thời đặt con người trước trách-nhiệm của chính cuộc đời mình: cuộc đời này hoặc dở là do con người “tự tác tự thụ”.
Đức Phật dạy: Mọi người đều là những vị Phật trong tương lai, vì mọi người đều có Phật-tính và có khả năng thành phật. Con người chỉ cần làm hiển lộ được Phật tính (chân-lý) ấy, tức sẽ thành Phật.
Phật-giáo cho rằng “con người là một trong các sinh động vật, có những đặc-tính khác với các loài động vật, như có tình cảm rộng sáng, tư tưởng linh họat, hành động quả cảm. Cho nên, mặc dù con người cũng mang trong mình bao thú tính = dục-vọng, lầm lỡ, tội ác... nhưng nếu xét theo khả năng và giá-trị đặc biệt của nó thì trong tất cả các loài, con người có đủ điều kiện trở thành ưu việt.”
Ý-NIỆM VỀ SỰ CỨU-RỖI.
Đức Phật Thích Ca nhận thấy cuộc đời là bể khổ mà người ta bị trầm luân trong đó. Sự khổ ấy không phải là một kiếp này phải chịu mà hết kiếp sang kiếp khác, cứ sinh tử, tử sinh mãi mãi mà chịu nỗi khổ ấy không bao giờ thôi. Cái nghiệp ra chịu kiếp này là cái quả của công việc ta về kiếp trước mà những công việc ta về kiếp này lại là cái nhân của nghiệp ta về kiếp sau. Thế là ta phải cứ chịu nghiệp báo ấy mãi mãi.
Nguyên nhân sự khổ là gì? Chính là lòng tham muốn của người ta: tham sống, tham sướng, tham mạnh.
Vậy muốn diệt khổ, thì phải tiêu trừ lòng ham muốn. Muốn thế, phải dốc chí tu hành, chánh tâm theo đạo để cắt đứt những cái nhân duyên nó ràng buộc mình ở trần thế. Khi đã diệt được cái khổ rồi, tức là được giải thoát, thì ra khỏi vòng luân-hồi, nghiệp báo, không sinh, không tử nữa mà tới cõi niết bàn.
Để đạt tới sự giải thoát, con người phải trải qua Tứ Thánh Đế: Khổ, Tập Diệt và Đạo Đế. Sau đó đi vào Bát Chánh Đạo, tức là 8 con đường để tu cho thành chánh quả:
(1) Chính Kiến: là thấy rõ, biết rõ chân-lý, không để cho cái tà kiến che lấp sự sáng suốt của mình, khiến cho sự tin tưởng của mình không sai lầm.
(2) Chính Tư Duy: là lập chí theo chân-lý mà suy nghĩ cho đến chỗ giác ngộ được đạo chính.
(3) Chính ngữ: là nói những điều đúng chân-lý, không nói những điều gian tà, giả dối.
(4) Chính Nghiệp: là làm những việc ngay chính công-bình, không làm những việc tàn bạo gian ác.
(5) Chính mệnh: là sống theo con đường công-chính, không tham lợi lộc mà bỏ những điều nhân-nghĩa.
(6) Chính Tinh Tiến: là cố gắng học tập, tu luyện cho đến Đạo, giữ tâm trí cho ngay chính sáng suốt đừng để những điều tham, sân-si và những tà-kiến, vọng tưởng làm cho ta đi lầm đường lạc lối.
(7) Chính Niệm: là đem ý-niệm của mình chú vào đạo lý chân chính, không tưởng nhớ đến những điều bạo ngược gian ác.
(8) Chính Định: là định cái tâm-trí của mình vào đạo lý chân chính, không ai để cái gì lay chuyển được. Nếu theo tám con đường chính ấy mà tự-trị lấy mình, tự giác ngộ lấy mình thì sẽ tới cõi Niết bàn.
Vấn-đề căn-bản trong Phật-giáo là sự đau khổ; còn trong Cơ-đốc giáo là tội-lỗi.
Sự cứu-rỗi theo Phật-giáo là giải thoát khỏi khổ đau; còn theo Cơ-đốc giáo là giải phóng khỏi tội-lỗi và phục hòa với Đức Chúa Trời.
Đức Phật nói: “Ta đã tìm được con đường và bây giờ ta chỉ cho ngươi con đường đó”; còn Chúa Cứu Thế Giê-xu tuyên bố: “Ta là con đường”.
Phật-giáo đặt trọng tâm vào khả năng con người-nhu cầu ảnh hưởng-trong khi Cơ-đốc giáo đặt trọng tâm vào Đức Chúa Trời-mục đích và sự cung ứng của Ngài.
Động lực giải thoát trong Phật giáo là sức tu của mỗi người. Ai dũng mạnh, có tâm lực cương kiện, người ấy tu được chính quả. Ai yếu đuối thì cứ phải chịu muôn kiếp trầm luân trong bể khổ. Như thế, người bình dân thật khó mà đạt tới sự giải thoát vì người chẳng bao giờ thực hiện nổi đường tu ấy.
Quan-niệm về sự cứu-rỗi của Phật-giáo là do việc làm, song việc làm ấy ít ai thể hiện được. Trong khi đó, Cơ-đốc giáo tin rằng con người được cứu là nhờ ân-phúc Thượng-Đế, do đức-tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu. Đây là một tặng-phẩm của Thượng-Đế, chứ không do kết quả của công-đức con người vì con người không thể tự cứu mình.
Thánh Kinh chép: “Vả, ấy là nhờ ân-điển, bởi đức-tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban-cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (ÊphEp 2:8-9).
CHƯƠNG V: MUỐN CHỨNG-ĐẠO CHO DÂN VIỆT.
1.-Chấp nhận bối-cảnh tôn-giáo sẵn có của dân Việt.
2.-Khởi đầu từ một nhu-cầu.
3.-Cởi mở ngay thật.
4.-Tránh tranh-biện.
5.-Sử dụng từ ngữ thích hợp với bối cảnh tôn-giáo của Việt tộc.
Để có thể chứng-đạo hữu hiệu cho dân Việt, ta nên để ý các nguyên-tắc quan-trọng như sau:
CHẤP NHẬN BỐI CẢNH TÔN-GIÁO SẴN CÓ CỦA DÂN VIỆT.
Nguyên-tắc quan-trọng để bắt đầu việc làm-chứng cho người khác tôn-giáo là chấp nhận cả con người lẫn bối-cảnh tôn-giáo của họ. Ta thừa nhận rằng mỗi người có quyền suy nghĩ, cảm xúc, nhìn sự vật theo cách riêng của mình. Mỗi người đều có quyền tự-do tín-ngưỡng. Sự kính-trọng đó sẽ giúp cho việc đối thoại thêm thân mật và hiệu quả.
Một trong những lầm lẫn trong quá-khứ của việc truyền-bá Phúc-Âm cho người Việt là thiếu sự chấp nhận họ. Chứng-đạo viên tiếp xúc với họ trong cương vị của một Thánh nhân nói chuyện với một tội-nhân. Thái-độ ấy không phải là thái-độ của ngưòi Cơ-đốc. Chúa Giê-xu và các môn-đệ không làm-chứng theo cách đó.
Thánh Kinh chép Chúa Giê-xu, mặc dù là người Do-thái, đã ngồi bên giếng chờ thiếu phụ Sa-ma-ri và xin nước uống. Ngài đến chuyện trò và sống hòa mình với viên thu thuế Lê-vi. Ngài cứu giúp người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà-dâm. Nhà truyền-giảng Phi-líp cũng chẳng ngần ngại chấp nhận thái-giám Ê-thi-ô-bi.
KHỞI ĐẦU TỪ MỘT NHU-CẦU.
Mỗi người đều có nhu cầu hoặc nan-đề riêng, chứng-đạo viên phải biết và đáp-ứng nhu-cầu nầy. Hai môn-đệ trên trường Em-ma-út đã bối rối trước vấn-đề: sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu. Vì thế, Chúa khởi đầu từ nhu-cầu của họ để truyền-đạt sứ-điệp thuộc-linh mà họ cần phải biết.
Người Việt theo đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật cũng có nan đề thuộc linh. Nan đề của họ là làm sao để tránh tội, diệt khổ hầu đạt đến sự giải thoát. Họ đang ép xác ngày đêm để mong diệt được tham, sân-si hầu giữ tâm-trí cho ngay chính sáng suốt.
Đây là nhu-cầu của người Việt cần được giúp đỡ.
Tín-ngưỡng của dân Việt còn có nan-đề khác: tội-nhân không có sự cứu-rỗi, và thần của họ không giúp được họ về nan-đề đó. “Đường giải thoát của Phật-giáo chỉ có một, ai ai cũng buộc phải qua con đường đó... Đây là một định luật vô-tri giác, không cảm tình. Ai tới được thì đến Niết Bàn. Ai chưa tới được thì cứ ở trong luân hồi muôn kiếp. Đường tu trọn-vẹn của Đức Phật chỉ có thể giúp người khác nhận thấy đường tu cho chính mình, nhưng không có công nghiệp gì vào đường tu kẻ khác. Ai riêng phần nấy. Công nghiệp của đức Phật cũng chỉ giúp cho chính mình Ngài.”
Trong khi đó Phúc-Âm là tin-mừng cho Chúa Cứu Thế, Đấng đã đến để tìm kiếm tội-nhân, rồi chết thay cho người có tội và ban sự cứu-rỗi cho họ.
CỞI MỞ NGAY THẬT.
Có một luật quan-trọng nhất mà ta phải theo khi làm-chứng về Chúa cho người khác. Theo nó thì việc gì cũng hóa dễ, trở ngại gì cũng thắng được, ta sẽ có vô số người lắng nghe tin-mừng cứu-rỗi, s ẽ đưa dẫn nhiều linh-hồn về cho Chúa. Nếu làm trái luật đó tức thì nỗi khó khăn sẽ hiện ra.
Luật đó là: Cởi mở ngay thật khi giao tiếp với ngưòi khác. Bạn muốn những người bạn gặp gỡ đồng ý với bạn? Bạn muốn người Việt tiếp nhận sứ-điệp Phúc-Âm? Hãy cởi mở ngay thật trong lúc làm-chứng về Chúa.
bottom of page
