top of page

HungT
Mar 10, 2026
CHỨNG-ĐẠO
Tác-giả: Viện Thần-Học Việt-Nam.
CHƯƠNG I: CHỨNG-ĐẠO LÀ GÌ?
1.-Đặc-tính thật của chứng-đạo.
2.-Những quan-niệm khác nhau về chứng-đạo.
Chứng đạo là “trình-bày về Chúa Giê-xu trong quyền-năng của Thánh Linh hầu con người có thể đến đặt lòng tin-cậy nơi Ngài, tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và phục-sự Ngài như là Vua của mình trong sự thông-công với Hội Thánh Ngài”
Schelling cho rằng: “Chứng-đạo là công-bố tin-mừng về Chúa Cứu Thế Giê-xu qua lời nói và hành động, với mục-đích chinh-phục một sự đáp-ứng tích cực.”
Sweazey nói: “Chứng-đạo là sự rao-giảng bằng mọi cách có thể được, để dẫn đưa người ta đến đức-tin trong Đấng Christ và trở nên thuộc-viên của Hội Thánh Ngài.”
Tuy nhiên, ta cần xét qua vài từ liệu trong Thánh Kinh để hiểu đặc tính thật của việc chứng-đạo như được bày-tỏ trong Tân-Ước.
ĐẶC-TÍNH THẬT CỦA VIỆC CHỨNG-ĐẠO.
“Thuyết Phục, Làm Cho Tin, Hoặc Khuyên Dỗ” (peitho). Từ liệu này có nghĩa là “cố gắng để thúc đẩy một người chấp nhận một hành động hay thái-độ đặc biệt.” Dưới đây là cách dùng từ liệu này.
“Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng-luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc” (CôngCv 18:4).
“Phao-lô vào nhà hội, và trong 3 tháng giảng-luận một cách dạn dĩ ở đó: giải bày những điều về nước Đức Chúa Trời mà khuyên dỗ các kẻ nghe mình” (19:8).
“Các ngươi lại thấy và nghe nói, không những tại thành Ê-phê-sô thôi, gần suốt hết cõi A-si nữa, rằng tên Phao-lô này đã khuyên dỗ và trở lòng nhiều người, mà nói rằng các thần bởi tay người ta làm ra chẳng phải là Chúa” (19:26).
“Vua Ạc-ríp-ba phán cùng Phao-lô rằng: Thiếu chút nữa ngươi khuyên ta trở nên tín-đồ Đấng Christ” (CôngCv 26:28).
“Họ đã hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nhà trọ rất đông; từ buổi sáng đến chiều, người cứ làm-chứng và giảng-giải với họ về nước Đức Chúa Trời. Lấy luật-pháp Môi-se và các Đấng tiên-tri mà gắng sức khuyên bảo họ về Đức Chúa Giê-xu” (28:23).
“Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính-sợ, nên tìm cách làm cho người ta đều tin; Đức Chúa Trời biết chúng tôi, và tôi mong anh em cũng biết chúng tôi trong lương tâm mình” (IICôr2Cr 5:11).
“Ép Mời” (anagkazo). Từ liệu này có nghĩa là “bắt phải, hoặc ép mời do quyền lực hay sự thuyết phục.”
“Chủ nhà lại biểu rằng: Hãy ra ngoài đường và dọc hàng rào, gặp ai thì ép mời vào, cho được đầy nhà ta” (LuLc 14:23).
Đây là ngụ-ngôn về Nước Nghìn Năm. Người được dự tiệc cũng được vào Nước Trời. Được vào Nước Trời bao hàm sự cứu-rỗi. Bạn để ý Chúa muốn đầy-tớ Ngài ép mời họ đến.
“Hoán-cải” (epistrepho). Từ liệu này có nghĩa là “xây khỏi, hoặc khiến cho ai trở về”.
“Ta cũng sẽ giải cứu ngươi khỏi dân này và người Ngoại-bang mà ta sai ngươi đến để mở mắt họ, khiến họ xây khỏi tối tăm mà hướng về sự sáng, khỏi quyền-bính của Sa-tan mà hướng về Đức Chúa Trời, hầu cho họ nhận được sự tha tội và cơ-nghiệp trong vòng những kẻ được nên Thánh bởi đức-tin đến ta” (CôngCv 26:17-18 NBC).
Phao-lô nói mục-đích của việc Đức Chúa Trời sai ông đến là để khiến cho người ta trở về cùng Ngài. Theo LuLc 1:16-17, đây cũng là lý do tại sao Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến thế-gian.
“Thuyết phục, Xúi giục” (anapeitho)
“...Người Giu-da đồng lòng nổi lên nghịch cùng Phao-lô và kéo người đến tòa án, mà nói rằng: Người này xui dân thờ Đức Chúa Trời một cách trái luật-pháp ” (CôngCv 18:13).
NHỮNG QUAN-NIỆM KHÁC NHAU VỀ CHỨNG-ĐẠO.
“Chứng-đạo” đã từng là một khẩu hiệu chính yếu trong đời sống người tín-hữu Tin Lành Việt Nam. Tuy nhiên, những người Cơ-đốc hiểu từ liệu này không giống nhau.
Chứng-Đạo Là Sự Hiện Diện Của Cơ-Đốc Nhân.
Đối với một số người, chứng-đạo là “sự hiện diện của Cơ-đốc nhân”. Điều đó có nghĩa là các tín-hữu sống giữa đồng bào mình và các chủng-tộc khác để thiết lập mối quan-hệ với họ qua những việc lành và sự cứu giúp, nhưng không bao giờ chia-sẻ niềm tin do việc nói cho họ biết Đức Chúa Trời thương yêu họ (GiGa 3:16); hoặc tỏ-bày cho họ thấy tội-lỗi làm cho con người xa cách Đức Chúa Trời và trở nên thù nghịch cùng Ngài (RôRm 5:10), và Đức Chúa Trời đòi hỏi mọi người phải hối-cải, phải tin Chúa Giê-xu để được tha-tội (CôngCv 2:21, 38; 4:12).
Chứng-Đạo Là Công-Bố Sứ-Điệp Phúc-Âm.
Một số người khác quan-niệm rằng chứng-đạo là công-bố sứ-điệp Phúc-Âm cho mọi người, chỉ bấy nhiêu mà thôi. Họ căn cứ trên lời Chúa: “Hãy đi khắp thế-gian giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp-têm, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán-phạt” (Mac Mc 16:15, 16).
Các tín-hữu này nhấn mạnh ở những chữ “cho mọi người”. Họ quan-niệm rằng công việc của mình là gieo hạt giống Phúc-Âm qua vô tuyến truyền hình, truyền thanh, sách vở, báo chí và truyền-đạo đơn cho mọi người. Một khi người ta được nghe Phúc-Âm qua các hình thức này là đã hoàn tất việc chứng-đạo, chẳng cần biết người ta có quan-tâm hoặc đáp-ứng hay không.
Chứng-Đạo Là Trình Bày Phúc-Âm Và Khuyên Mời Tội-Nhân Đặt Đức-Tin Nơi Chúa Cứu Thế.
Nhóm người sau cùng thì không thỏa mãn với việc “chinh-phục tội-nhân do sự hiện diện,” hoặc không dừng lại qua việc “chinh-phục tội-nhân do sự công-bố Phúc-Âm.” Đối với những người này, chứng-đạo là đưa dẫn một người nam hoặc một người nữ đến mối liên-hệ mới với Chúa Cứu Thế -một kinh nghiệm hoán cải. Thiếu những yếu-tố này thì chưa phải là chứng-đạo.
Phần lớn tín-hữu Tin Lành Việt Nam áp-dụng loại thứ nhất và thứ hai trong việc chứng-đạo. Theo văn hóa Việt tộc, chứng-đạo theo 2 lối trên là bày-tỏ sự kính-trọng đối với người khác. Dân Việt luôn tỏ-ra khiêm-tốn trước mặt người giỏi, người khá hơn mình và vì vậy rất khó để đứng ra khuyên mời người khác tin Chúa. Tuy nhiên, nếu muốn có kết quả trong việc chinh-phục linh-hồn người Việt cho Chúa Cứu Thế, các tín-hữu phải tin tưởng và áp dụng loại thứ ba. Ta phải hăng hái đi ra đem người khác đến với Chúa Cứu Thế và nhất quyết đặt mục-tiêu rõ ràng cho việc chinh-phục linh-hồn tội nhân, đặc biệt cho dân Việt, là người đang tìm kiếm sự bình-an nội tâm và đang chờ đợi lời giải đáp về ý nghĩa của cuộc sống.
Vậy nếu bạn muốn làm-chứng nhân cho Chúa, xin nhớ định nghĩa này: Chứng-đạo là trình-bày Phúc-Âm và khuyên mời tội-nhân đặt đức-tin nơi Chúa Cứu Thế.
CHƯƠNG II: TẠI SAO CHỨNG-ĐẠO?
1.-Kế-họach cứu-chuộc của Đức Chúa Trời.
2.-Tình yêu Đức Chúa Trời cảm-thúc.
3.-Yêu-thương người lân-cận.
4.-Vâng theo mạng-lịnh trọng yếu của Chúa Cứu Thế.
5.-Sự vinh-quang của Đức Chúa Trời.
Một số tín-hữu đi chứng-đạo vì sợ tội. Họ nghe vị Mục-sư quản nhiệm nói rằng nếu không chứng-đạo, họ sẽ bị mất phần thưởng trên thiên-đàng nên họ đi chứng-đạo. Chứng-đạo vì sợ tội là cớ-tích thuộc mức-độ thấp nhất.
Một số người khác đi chứng-đạo vì phải theo những chương trình của Hội Thánh. Nếu họ không đi làm chứng, mọi người sẽ cho họ không thiêng-liêng. Nhưng nếu họ tham gia chương trình của Hội Thánh để đi làm chứng và mời nhiều khách đến dự lễ thờ-phượng, họ sẽ là tín-hữu sốt sắng. Họ sẽ được nhiều người khen-ngợi và... biết đâu sẽ được đề cử vào Ban Chấp-Sự hoặc Ban Điều-Hành!
Người khác nữa đi chứng-đạo vì áp lực bạn hữu. Bạn mình đi làm-chứng còn mình ngồi nhà coi sao được. Huống chi ta sẽ được tiếng khen nếu dắt đưa được người khác đến với Chúa, đặc biệt là lúc ta tường trình việc chứng-đạo. Mọi người sẽ khen-ngợi, cảm phục và kính-trọng ta biết dường bao! Tuy nhiên, nếu bạn đi chứng-đạo vì cớ tích này thì sẽ không lâu bền. Bởi lẽ khi bạn thoát khỏi áp lực đó, bạn sẽ không còn muốn làm một chứng-nhân cho Chúa nữa.
Các cớ-tích trên không ra từ Thánh Kinh và vì vậy nó không đem lại lợi ích hoặc phước hạnh gì cho bạn và người khác. Trong khi đó có nhiều cớ-tích chính đáng thúc đẩy người Cơ-đốc đi truyền-bá Phúc-Âm. Các tín-hữu đầu tiên đã nhận biết điều ấy và được thúc đẩy đi làm-chứng vì những cớ-tích đó.
Green cho rằng: “Trong hai thế kỷ đầu, dường như có 3 cớ-tích chính yếu thúc đẩy các Cơ-đốc nhân đi chứng-đạo: để bày-tỏ lòng tri-ân, tinh-thần trách-nhiệm và sự quan-tâm.” Thánh Kinh cũng cho thấy có nhiều cớ-tích quan-trọng thúc đẩy ta truyền-bá Phúc-Âm.
KẾ-HOẠCH CỨU-CHUỘC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Động-cơ thúc đẩy ta chứng-đạo là vì Đức Chúa Trời đã bày-tỏ cho con người kế-hoạch cứu-chuộc do tình thương qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. “Vì Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian; đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư-mất mà được sự sống đời-đời” (GiGa 3:16).
Lời Đức Chúa Trời cho biết rằng mọi người cần được cứu khỏi tội-lỗi và án phạt của tội-lỗi. Nhưng con người không thể tự cứu lấy mình (RôRm 1:18-20; 3:10-26; 6:23; ÊphEp 2:1-9). Việc giải cứu khỏi tội-lỗi và sự chết chỉ được thực hiện qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bởi lẽ “chẳng có sự cứu-rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (CôngCv 4:12). Chúa Cứu Thế Giê-xu là “đường đi, lẽ-thật, và sự sống” chẳng bởi Ngài thì không ai được đến cùng Đức Chúa Cha (GiGa 14:6). Chỉ do đức-tin nơi sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế mà ta được tha-thứ tội và được sự sống vĩnh cữu (RôRm 3:22-26; 6:23; ÊphEp 1:7; IGi1Ga 5:10-13; TitTt 3:4-7).
TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CẢM-THÚC.
Thánh Kinh bày-tỏ do cớ tích tình yêu mà chứng-đạo viên Giê-xu đã động lòng thương-xót người hư-mất.
“Ngài đang đi, có một người chạy lại, quỳ trước mặt Ngài, mà hỏi rằng: Thưa Thầy nhơn lành, tôi phải làm chi cho được hưởng sự sống đời-đời? Đức Chúa Giê-xu phán rằng: Sao ngươi gọi ta là nhơn lành? Chỉ có một Đấng nhơn lành, là Đức Chúa Trời. Người biết các điều răn: Đừng phạm-tội tà-dâm; đừng giết người; đừng trộm cướp; đừng làm chứng dối; đừng làm gian; hãy hiếu kính cha mẹ. Người thưa rằng: Lạy Thầy, tôi đã giữ mọi điều đó từ khi còn nhỏ. Đức Chúa Giê-xu ngó người mà yêu, nên phán rằng: Ngươi còn thiếu một điều. Hãy đi, bán hết gia tài mình, đem bố thí cho kẻ nghèo khổ, chắc sẽ được của báu ở trên trời, rồi hãy đến mà theo ta” (MacMc 10:17-21).
Về sau Phao-lô viết: “Vì tình yêu-thương của Đấng Christ cảm-động chúng tôi” (IICôr2Cr 5:14). Từ liệu “cảm động” là một chữ rất hay đã được dùng nhiều lần trong Tân-Ước. Tình yêu Chúa Cứu Thế thúc ép Phao-lô, đến nỗi ông thấy như bị tình yêu này bao quanh và vây lấy, rồi nó cảm-thúc ông đi chứng-đạo. Chúa Cứu Thế đã yêu-thương và chết thay cho ta. Tình yêu diệu kỳ này cảm-động và ràng buộc ta lại với Ngài, đến nỗi ta muốn hiến dâng đời sống phục-vụ Ngài.
Trong sự phục-vụ Chúa, không có công việc nào quan-trọng hơn việc truyền-bá Phúc-Âm. Thánh Kinh Tân-Ước có nhiều lần nhấn mạnh rằng cớ-tích thúc đẩy các Cơ-đốc nhân đi chứng-đạo là vì tình yêu của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế cảm-thúc họ.
Vì yêu Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-xu mà các Cơ-đốc nhân kiên gan, bền chí khi đi chứng-đạo; dù gặp thời hay không, họ vẫn giảng đạo, cố khuyên.
“Ngài dùng thí-dụ mà giảng nhiều điều cùng họ. Ngài phán như vầy: Có người gieo giống đi ra đặng gieo. Khi đương gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim bay xuống và ăn. Một phần khác rơi nhằm chỗ đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, bị lấp không sâu, liền mọc lên; song khi mặt trời mọc lên, thì bị đốt, và vì không có rễ, nên phải héo. Một phần khác rơi nhằm bụi gai, gai mọc rậm lên, phải ngẹt ngòi. Một phần khác nữa rơi nhằm chỗ đất tốt, thì sanh trái; hoặc một hột ra được một trăm, hoặc một hột sáu chục, hoặc một hột ba chục” (MatMt 13:3-8).
Vì yêu Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-xu mà các tín hữu có thể đứng vững trước sự bắt bớ trong khi đi làm-chứng.
“Vậy, các sứ-đồ từ tòa công luận ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Giê-xu” (CôngCv 5:41).
Vì yêu Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-xu mà người Cơ-đốc mạnh dạn đi truyền-bá Phúc-Âm, để dù ai ở nơi nào mỗi khi nghe danh Chúa Cứu Thế, đều tuyên xưng Ngài là Chúa Tể vũ-trụ và tôn-vinh Thượng-Đế là Cha.
“Và mọi lưỡi thảy đều xưng Giê-xu Christ là Chúa, mà tôn-vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha” (Phi Pl 2:11).
YÊU-THƯƠNG NGƯỜI LÂN-CẬN.
Thánh Kinh Tân Cựu-Ước đều đề-cập đến cớ-tích quan-trọng này trong việc chứng-đạo. Chúa Giê-xu dạy trong điều răn lớn nhất: “Ngươi hãy yêu kẻ lân-cận như mình” (Mat Mt 22:37-39). Trong LuLc 10:29-39, Chúa Cứu Thế Giê-xu, qua ngụ-ngôn “Người Sa-ma-ri nhân từ”, đã cho biết tất cả người đồng loại là kẻ lân-cận của ta, không phân biệt văn hóa, địa dư và tín-ngưỡng.
Nhưng thầy dạy luật muốn tự bào chữa, nên hỏi lại: Ai là người lân-cận tôi? Để trả lời, Chúa Giê-xu kể chuyện này: Một người Do-thái đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, giữa đường bị cướp. Chúng lột hết quần áo, tiền bạc, đánh đập tàn nhẫn rỗi bỏ nằm dở sống dở chết bên vệ đường. Tình cờ, một thầy tế-lễ đi ngang qua, thấy nạn nhân liền tránh sang bên kia đường, đi luôn. Một thầy phó tế đi qua trông thấy, cũng bỏ đi. Đến lượt một người Sa-ma-ri qua đường nhìn thấy nạn nhân thì động lòng trắc ẩn, nên lại gần, lấy thuốc thoa bóp và băng bó các vết thương, rồi đỡ nạn nhân lên lưng lừa mình chở đến quán trọ cấp cứu. Hôm sau, người ấy trao cho chủ quán một số tiền bảo lo săn sóc nạn nhân và dặn: Nếu còn thiếu, khi trở về tôi sẽ trả thêm. Vậy trong 3 người đó, ai là người lân-cận với kẻ bị cướp? Thầy dạy luật đáp: Người đã cứu giúp nạn nhân. Chúa dạy: Ông hãy thi hành đúng như thế.
Phao-lô bày-tỏ sự quan-tâm mình đối với đồng bào ruột thịt Do-thái và mong ước dân-tộc mình được sự cứu-rỗi. Tình yêu đó ngày một nhiều hơn qua việc chân thành bộc bạch là ông sẵn lòng chịu Chúa Cứu Thế khai trừ và bị khổ hình vĩnh-viễn miễn là cứu vớt được người đồng chủng mình.
“Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương-tâm tôi làm-chứng cho tôi bởi Đức Thánh Linh: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn. Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác” (RôRm 9:1-3).
“Hỡi anh em, sự ước ao trong lòng tôi và lời tôi vì dân vì dân Y-sơ-ra-ên cầu-nguyện cùng Đức Chúa Trời, ấy là cho họ được cứu” (RôRm 10:1).
Tình yêu thương người lân cận của Phao-lô không dừng lại tại đó mà còn đến với tất cả người đồng loại.
“Tôi có bổn-phận nặng nề với các dân-tộc, thông minh lẫn dã man, tri-thức lẫn thất học. Vì thế, tôi thiết tha mong ước đi La-mã truyền-giảng Phúc-Âm của Thượng-Đế cho anh em” (1:14, 15BDY).
Chúng ta đã hằng ao ước và luôn cầu xin Đức Chúa Trời cứu dân-tộc Việt Nam thân yêu, thì chúng ta phải mang Phúc-Âm đến cho họ. Giống như Phao-lô, ta phải yêu thương dân-tộc mình, buồn rầu và đau xót đêm ngày vì cớ họ. Ta phải “sẵn lòng chịu Chúa Cứu Thế khai trừ và bị khổ hình vĩnh viễn, miễn là cứu vớt được anh em đồng bào ruột thịt” (9:2, 3 BDY). Tại hải ngoại có gần 2 triệu người Việt đang bị hư-mất và “sống xa cách Chúa Cứu Thế ... không hy-vọng, không Thượng Đế” (ÊphEp 2:12 BDY). Nhu-cầu lớn nhất của họ là biết đến tình yêu thương của Đức Chúa Trời và được hướng dẫn đến sự cứu-rỗi trong Chúa Cứu Thế. Đây là trách-nhiệm và đặc quyền của người Việt Cơ-đốc.
VÂNG THEO MẠNG-LỊNH TRỌNG YẾU CỦA CHÚA CỨU THẾ.
Sau khi hoàn tất kế-hoạch cứu-chuộc nhân-loại, Chúa Cứu Thế truyền-bảo các môn-đệ:
“Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến ngày tận thế” (MatMt 28:19, 20).
“Hãy đi khắp thế-gian, giảng Tin lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp-têm, sẽ được cứu-rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán-phạt” (MacMc 16:15, 16).
“Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây, ta sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền-phép từ trên cao” (LuLc 24:44-49).
“Ngài lại phán cùng môn-đồ rằng: Bình-an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy” (GiGa 20:21).
“Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền-phép, và làm-chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (CôngCv 1:8).
Theo mạng-lịnh của Chúa Cứu Thế, sự truyền-bá Phúc-Âm là một diễn tiến không ngừng đến khi nào sứ mạng được hoàn tất trọn-vẹn. “... cho đến cùng trái đất”_nghĩa là mọi người trên đất đều được nghe Phúc-Âm. Như thế công cuộc truyền-bá Phúc-Âm là một chương trình dài hạn, đặt trên bình diện rộng lớn cho “cả thế giới”, đòi hỏi Cơ-đốc nhân ở mọi thời đại cứ tiếp tục đến khi Chúa Cứu Thế trở lại thế-gian.
Hiện nay dân số trên thế giới ước lượng hơn 5 tỉ, trong đó khoảng một tỉ người thuộc Cơ-đốc giáo. Như vậy còn hơn 4 tỉ người cần nghe Phúc-Âm. Thêm vào đó trên thế giới mỗi năm có hàng triệu hài nhi chào đời. Đây là một thách thức lớn cho người Cơ-đốc trong công tác đem ơn cứu-rỗi của Chúa Cứu Thế cho thế giới mà dân số mỗi ngày một gia tăng.
Ta phải khẩn cấp đi ra nói cho mọi người biết “ai tin Con, thì được sống đời-đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (GiGa 3:36). Trong tình yêu Thiên Chúa, ta phải mạnh dạn đi ra mang Phúc-Âm đến cho con người hư-mất trước khi quá trễ.
SỰ VINH-QUANG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Sự vinh-quang của Đức Chúa Trời là cớ-tích khác được tìm thấy trong Tân-Ước thúc đẩy ta đi chứng-đạo. Mặc dù Chúa Giê-xu động lòng thương-xót muốn cứu vớt con người, song động-cơ quan-trọng cảm-thúc Ngài đi ra là sự vinh-quang của Đức Chúa Cha. Các sách Phúc-Âm cho ta thấy mục-đích chính yếu trong mọi công việc của Chúa Giê-xu là làm theo ý chỉ Đức Chúa Cha và tôn vinh Cha trên đất. Chúa nói, “Hỡi Đức Chúa Trời, này tôi đến-trong sách có chép về tôi-Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa” (HêbDt 10:7). Và rằng “Tôi luôn làm đẹp lòng Ngài” (GiGa 8:29 BDY). Khi sắp tình nguyện bước lên thập-tự giá. Chúa Giê-xu đã tổng kết chức-vụ Ngài bằng những lời này: “Con đã tôn-vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm” (17:4).
Phao-lô cũng bị thúc đẩy bởi cớ-tích trên trong việc truyền-bá Phúc-Âm. Ông nói với các tín-hữu tại Tê-sa-lô-ni-ca: “Hỡi anh em, hãy cầu nguyện cho chúng tôi, hầu cho đạo Chúa được đồn ra và được sáng danh,” để cho “mọi lưỡi thảy đều xưng Giê-xu Christ là Chúa, mà tôn-vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (IITês2Tx 3:1; Phi Pl 2:11).
CHƯƠNG III: TỘI-LỖI LÀ GÌ?
1.-Thần-học minh giải về tội-lỗi.
2.-Thánh Kinh minh giải về tội-lỗi.
3.-Áp-dụng vào việc chứng-đạo.
Kinh-nghiệm sống dạy ta biết, không chuyện gì có thể làm ta xúc động cho đến khi ta chú ý đến nó. Và khi ta quan-tâm đến một điều gì đó, là vì điều ấy có liên-hệ đến nhu-cầu, hoặc tình cảm của ta. Bạn có thể nghe hàng chục lần trên máy vô tuyến truyền hình về lời kêu-gọi đ óng góp cho các nhà chuyên-môn để họ nghiên-cứu chống lại bệnh “Cơ Thể Mất Sức Tự Kháng” (bệnh “Aids”), song bạn không để nó vào tai. Tuy nhiên, khi ta biết bạn hữu hoặc người thân mắc bệnh ấy, ta sẽ không còn làm ngơ trước lời kêu-gọi đó. Tại sao? Vì nó có liên-quan đến người nhà của ta, hoặc nói khác đi, nó có quan-hệ đến nhu-cầu của ta.
Cũng thế, người ta sẽ không bao giờ đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu cho đến khi họ thấy có nhu cầu. Nhiều Cơ Đốc nhân đã thực thi bí quyết này và lạm dụng nó. Nếu thấy ai sống cô đơn, họ sẽ khuyên người ấy nên đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế vì Ngài là người bạn thân thiết. Nếu biết ai đang có người thân qua đời, họ sẽ mời gọi người ấy đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế vì Ngài có thể mang đến sự an-ủi. Nếu thấy gia đình nào đang đổ vỡ, họ sẽ cố gắng thuyết-phục những người ấy đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế vì Ngài là Đấng thiết lập hôn-nhân và có thể ban cho hạnh phúc.
Các việc làm trên có đúng không? Dĩ nhiên là đúng. Tuy nhiên, có 2 điều bạn cần để ý: (1) Thánh Kinh không dạy ta làm-chứng theo lối đó, (2) Nó khiến người ta hiểu sai về Phúc-Âm. Do đó, nếu đây không phải là động-cơ thúc-đẩy chính đáng khiến người ta đ ặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế, vậy như thế nào mới là đúng đắn? Khi một người nhận thức được rằng chỉ có phương cách duy nhất để được tha-tội là đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế, thì đó mới là động-cơ chính đáng theo lời Thánh Kinh dạy. Câu hỏi đặt ra ở đây: Tội-lỗi là gì?
THẦN-HỌC MINH GIẢI VỀ TỘI-LỖI.
Ta nên phân biệt sự khác nhau của ý nghĩa thần-học và ý nghĩa Thánh Kinh về tội-lỗi. Ý nghĩa thần-học nhắm vào sự tương-quan giữa sự dạy dỗ của Lời Chúa và kinh-nghiệm; trong khi ý nghĩa Thánh Kinh dựa vào cách dùng từ ngữ.
Vậy nếu ta hiểu theo nghĩa thần-học, thì tội-lỗi là bất cứ điều gì trong một tạo vật có lý-trí mà không biểu-lộ bản chất Thánh-khiết của Đức Chúa Trời.
THÁNH-KINH MINH GIẢI VỀ TỘI-LỖI.
Cựu-Ước.
Trong chuyên văn Hy-bá của Cựu-Ước, Thánh Linh thường dùng nhiều chữ khác nhau để tỏ-ra quan-niệm của tội-lỗi rất rõ rệt.
1. Tội là phản loạn (pasha) cùng Đức Giê-hô-va.
Ngài đã lập giao-ước với dân-sự Ngài. Tội là sự chống lại với giao ước đó. Trong bản văn Việt Ngữ, từ liệu pasha được dịch ra nhiều cách:
“Xin Chúa ở trên trời, tức nơi Chúa ngự, hãy dủ nghe lời cầu-nguyện nài xin của họ, và binh vực quyền lợi của họ; tha cho dân Chúa tội-lỗi và các sự trái mạng mà họ đã phạm cùng Ngài” (IVua 1V 8:50).
“Vì tôi nhận biết các sự vi-phạm tôi, tội-lỗi hằng trước mặt tôi” (Thi Tv 51:3).
2. Tội là sai trật mục đích (chatta’ah) của Đức Chúa Trời.
Chữ này gồm cả ý nghĩa tẻ tách, xây bỏ mục đích của Đức Chúa Trời. Nó không những chỉ về sự phạm tội, mà còn chỉ về địa-vị hư họai, bản-tánh gian ác của tâm-trí do tội-lỗi mà ra.
“Tôi đã phạm-tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa” (Thi Tv 51:4).
“Chúng nó sanh sản nhiều ra bao nhiêu, thì chúng nó phạm tội nghịch cùng ta bấy nhiêu” (OsHs 4:7).
3. Tội là vặn cong (avah) điều ngay thẳng.
Chữ này không tả ra chính việc phạm-tội, nhưng tả ra chính việc đặc tánh của việc ấy là cong quẹo, quanh co, gian tà v à bại hoại.
“Người nói cùng vua rằng; Cầu xin chúa tôi chớ kể tội ác cho tôi và đừng nhớ đến sự gian tà, mà kẻ tôi-tớ vua đã phạm trong ngày vua chúa tôi đi ra khỏi Giê-ru-sa-lem” (IISa 2Sm 19:19).
“Nếu trong xứ mà họ bị dẫn đến làm phu-tù, họ suy nghĩ lại, ăn-năn, và cầu-khẩn Chúa, mà rằng: Chúng tôi có phạm-tội, làm điều gian ác và cư-xử cách dữ tợn” (IISu 2Sb 6:37).
4. Tội là sự cứng lòng (chazaq).
Chữ này nghiã là “cứng lòng, cố chấp”.
“Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Khi trở về xứ Ê-díp-tô, hãy cẩn thận về các dấu-lạ của ta đã giao nơi tay ngươi mà làm trước mặt Pha-ra-ôn: nhưng ta sẽ khiến người cứng lòng chẳng cho dân-sự đi” (XuXh 4:21).
5. Tội là lừa dối (ma’al) Đức Chúa Trời.
Nghĩa đen của chữ này là “che đậy” còn nghĩa bóng là phạm-tội rồi che đậy tội ấy, cốt ý là lừa dối Đức Chúa Trời.
“Nhưng theo cách người ta, chúng nó đã phạm lời giao-ước, và ở đó chúng nó đã phỉnh dối ta” (OsHs 6:7).
Còn ít nhất 3 chữ căn-bản khác minh giải về tội-lỗi. Dân Y-sơ-ra-ên có thể phạm-tội qua nhiều cách, mỗi cách được diễn đạt bằng một chữ khác nhau. Đồng thời, ta cũng nên biết rằng dưới ánh sáng của Cựu-Ước thì “không có người chẳng phạm-tội” (IVua 1V 8:46). “Không ai có thể nói: Ta đã luyện sạch lòng mình, ta đã trong sạch tội ta rồi” (ChCn 20:9). Và “Chẳng có người công-bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm-tội” (TrGv 7:20).
Tân-Ước.
Có rất nhiều từ ngữ trong Tân-Ước diễn đạt về tội-lỗi. Tuy nhiên, ta chỉ xét qua 4 chữ chính yếu dưới đây:
1. Tội-lỗi (hamartia)
Chữ này có nghĩa là “thiếu hụt tiêu chuẩn”. Nó đồng nghĩa với chữ chatta’ah trong Cựu-Ước, và được dùng nhiều hơn hết trong Tân-Ước, 275 lần để nói về tội-lỗi. Tội là không biểu-lộ tiêu-chuẩn, vì chính Ngài là tiêu-chuẩn. Nói cách khác, bất cứ điều gì trái ngược với Đức Chúa Trời là tội.
“Vì mọi người đều đã phạm-tội, thiếu mất sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời” (RôRm 3:23).
2. Vi-phạm (paraptoma)
Nghĩa đen của chữ này là “trợt chân”, “vấp ngã” trong chỗ mình đáng nên đứng vững. Giống như một người đang đi trên đường, đột nhiên trợt chân té vào hầm và bị đau đớn. Cũng vậy, mỗi khi tội-nhân trái ý Đức Chúa Trời thì vấp ngã, sa vào tội-lỗi và bị thiệt hại.
“Tôi lại hỏi rằng: Có phải dân Y-sơ-ra-ên vấp chơn dường ấy hầu cho té xuống chăng? Chẳng hề như vậy” (RôRm 11:11).
3. Phạm-pháp (parabasis)
Chữ này có nghĩa là “vượt quá”. Tân-Ước dùng chữ này để tỏ-ra tội của kẻ phạm mạng-lịnh Đức Chúa Trời.
“Vì pháp-luật sanh ra sự giận; song đâu không có luật-pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật-pháp” (RôRm 4:15).
4. Bất-pháp (anomos)
Tân-Ước dùng chữ này để minh giải chân tánh của tội phản loạn. Nghĩa đen là “trái luật”, “không có luật-pháp”.
“Vì người công-bình này (ông Lót) ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ, bèn cảm biết đau xót trong lòng công-bình mình” (IPhi 1Pr 2:8)
ÁP DỤNG VÀO VIỆC CHỨNG-ĐẠO.
Xác-Minh Rằng Mọi Người Đều Phạm-Tội.
1. Cho người chưa từng đến nhà thờ.
Những người này không biết nhiều về Cơ-đốc giáo, ta cần giúp họ hiểu về thân-vị của Đức Chúa Trời. Nói cho họ biết bản-chất của Đức Chúa Trời chẳng những là Thánh-khiết và công-bình, mà còn toàn-năng và toàn-tri. Con người là tội-nhân trước một Đức Chúa Trời Thánh-khiết (CôngCv 17:1-34).
2. Cho người mộ-đạo.
Những người này rất quen thuộc với lời Thánh Kinh dạy về Đức Chúa Trời, vì thế ta nên dùng luật Thánh Kinh để tỏ cho họ biết mọi người đều đã phạm-tội. Ta nói rằng “người nào giữ toàn bộ luật-pháp nhưng chỉ phạm một điều là coi như đã phạm tất cả” (GiaGc 2:10 BDY).
3. Cho người vô đạo (người hay chống đối)
Ta khuyến-cáo họ và... đi khỏi đó! Theo Giu-đe những người này “cứ sống mãi cuộc đời gian ác, làm nhơ nhuốc thân thể, khinh bỉ mọi uy-quyền... hễ điều gì không hiểu cũng đem ra nhạo cười chế giễu hết... để rồi hủy họai linh-hồn mình. Thật khốn cho họ! Họ đã đi con đường sa đoạ của Ca-in, vì ham lợi mà theo vết xe đổ của Ba-la-am, và phản nghịch như Cô-rê để rồi bị tiêu diệt” (GiuGd 1:7-8 BDY). Ta nên khuyên răn họ và rời xa họ.
Xác-Minh Rằng Tội-Lỗi Đã bị Xét-Đoán.
Án phạt của tội-lỗi là sự chết. Thánh Kinh thường dùng chữ “chết” (“thanatos”) theo 3 cách:
1. Sự chết thể xác.
Sự chết này là một phần của tội-lỗi bị trừng-phạt. Nếu không có tội-lỗi, thì chẳng có sự chết của thể xác. Thánh Kinh chép, khi con người đầu tiên phạm-tội tại vườn Ê-đen, thì họ nghe một lời phán kinh khiếp này: “Vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (SaSt 3:19). Từ đó đến nay, sự chết đã ngự trị ở thế gian. Thánh Phao-lô khẳng-định rằng sự chết của thể xác là sự đoán-phạt của Đức Chúa Trời đối với tội-lỗi (RôRm 8:10, 11).
2. Sự chết thuộc-linh.
Chết thuộc-linh không phải là sự tắt nghỉ, mà là linh-hồn bị phân-rẽ với Đức Chúa Trời, chẳng còn được giao-thông với Ngài. Do tội-lỗi của A-đam, tất cả mọi người đều bị án chết này. Hết thảy đều “chết vì lầm lỗi và tội ác mình” và “tự nhiên làm con của sự thạnh nộ” (ÊphEp 2:1, 3).
Tâm-trí con người “hư hoại, lòng họ vô cùng đen tối, xa cách hẳn sự sống của Thượng-Đế, tâm-hồn họ đóng kín, không thể nhận biết Ngài” (ÊphEp 4:17, 19 BDY). Chỉ do sự ăn-năn tội, sự tái-sanh bởi quyền-năng Thánh Linh mới có thể cứu linh-hồn “vượt khỏi sự chết mà đến sự sống”.
3. Sự chết đời-đời.
Chết đời đời là sự xa cách Đức Chúa Trời mãi mãi, sự tiêu diệt vĩnh viễn của linh-hồn. “Chúa sẽ báo ứng những người không muốn biết Thượng-Đế và khước từ Phúc-Âm của Chúa Giê-xu chúng ta. Họ sẽ bị hình-phạt đời-đời trong địa-ngục, vĩnh viễn xa cách mặt Chúa, không còn thấy vinh-quang và quyền-năng Ngài” (IITês2Tx 1:8, 9 BDY).
Thánh Kinh cũng coi sự chết đời-đời là sự chết thứ hai: “Những người được dự phần trong cuộc sống lại thứ nhất thật hạnh phúc và Thánh thiện biết bao! Vì sự chết thứ hai chẳng có quyền gì trên họ.” (KhKh 20:6 DBY). “Còn những kẻ hèn nhát, vô-tín, hư hỏng, sát nhân, gian-dâm, tà thuật, thờ thần-tượng và dối trá, đều phải vào hồ lửa diêm sinh. Đó là chết lần thứ hai” (21:8 BDY).
CHƯƠNG IV: PHÚC-ÂM LÀ GÌ?
1.-Ý nghĩa từ liệu Phúc-Âm.
2.-Sự biểu-lộ của Phúc-Âm.
3.-Giải nghĩa Phúc-Âm.
Khi bạn nghe những nhà truyền-đạo giảng Thánh Kinh hoặc khi đọc các sách truyền-đ ạo đơn, có lẽ bạn sẽ nhận thấy nghĩa của chữ “Phúc-Âm” không giống nhau. Phúc-Âm là “sự ăn-năn tội” và “mời Chúa Cứu Thế vào đời sống”. Phúc-Âm là “thừa nhận Chúa Cứu Thế là con đường duy nhất” và “đầu phục Ngài”. Sau đó bạn sẽ được dạy là phải bước đi trên đường hẹp và chịu Thánh lễ báp-têm để được nhận vào đại gia đình Cơ-đốc.
Nếu bạn muốn trở thành chứng nhân của Chúa Cứu Thế, bạn phải biết rõ Phúc Âm là gì, nhiên hậu bạn mới có thể chia sẻ Phúc Âm cho người khác.
Ý NGHĨA TỪ LIỆU PHÚC-ÂM.
Từ liệu “Phúc-Âm” xuất hiện 77 lần trong Tân-Ước với nhiều nghĩa khác nhau: nghĩa thông thường, nghĩa chịu ảnh hưởng của văn hóa và nghĩa cứu thục.
Nghĩa Thông Thường.
“Phúc-Âm” hiểu theo nghĩa này là “tin-mừng”. Đây là ý nghĩa rất thông dụng vào thời Chúa Cứu Thế. Bạn được điểm “A” trong bài khảo thí là “tin-mừng”. Bạn thi đỗ là “tin-mừng” vv... Phúc-Âm có nghĩa đơn giản là “tin-mừng”. Thánh Kinh đã dùng nó nhiều lần với nghĩa đó.
“Thiên-sứ đáp: Tôi là Gáp-ri-ên, thường đứng trước mặt Thượng-Đế. Chính Ngài sai tôi đến báo tin-mừng cho ông” (LuLc 1:19 BDY).
“Thiên-sứ liền trấn-an: Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin-mừng. Tin này sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người” (2:10 BDY).
Nghĩa Chịu Ảnh Hưởng Của Văn Hóa.
Theo văn hóa Hy-lạp, dân chúng sùng bái hoàng đế như thần Thánh. Các thông điệp, chiếu chỉ của hoàng đế hay những việc làm nào có liên-quan đến hòa-bình đều được mang nhãn hiệu “tin-mừng”. Bất luận biến-cố nào xảy ra với lời-hứa đem lại hòa-bình cho thế giới, đều được gọi là “tin-mừng”. Chúa Cứu Thế Giê-xu truyền-giảng Phúc-Âm của Thượng-Đế với mục-đích mang lại bình-an và hạnh phúc cho dân chúng, nên cũng được gọi là “Tin-mừng”.
Nghĩa Cứu Thục.
Nghĩa này có quan-hệ đến sự giải cứu thuộc-linh và liên-quan đến chúng ta. Phao-lô dùng từ liệu “Phúc-Âm” theo nghĩa này. Ta có thể tóm tắt như vầy: Phúc Âm là Tin-mừng về Thân-vị và Công-vụ của Chúa Cứu Thế.
SỰ BIỂU-LỘ CỦA PHÚC-ÂM.
Phao-lô bày-tỏ Phúc-Âm mà ông đã rao-giảng: “Thưa anh em, tôi xin nhắc lại Phúc-Âm tôi đã công-bố; anh em đã tin nhận và đứng vững cho đến ngày nay. Nhờ Phúc-Âm đó, anh em được cứu-rỗi, nếu cứ giữ vững đức-tin trừ phi anh em không thực lòng” (ICôr1Cr 15:1-2 BDY). Phao-lô định rõ Phúc-Âm qua các bước sau:
- Tôi công-bố Phúc-Âm cho anh em.
- Anh em đã tin nhận Phúc-Âm.
- Anh em đứng vững trong Phúc-Âm.
- Nhờ Phúc-Âm anh em được cứu-rỗi.
Các ý trên có thể tóm tắt như vầy: Tôi công-bố Phúc-Âm để nhờ đó anh em được cứu-rỗi.
GIẢI NGHĨA PHÚC-ÂM.
15:3-8 là lời giải nghĩa Phúc-Âm đầy đủ và đúng đắn nhất: “Trước hết, tôi truyền lại cho anh em những chân-lý tôi đã tin nhận: Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta theo lời Thánh Kinh. Chúa được mai táng, qua ngày thứ ba Ngài sống lại theo lời Thánh Kinh. Chúa hiện ra cho Phi-e-rơ, rồi cho các sứ-đồ. Ngài lại hiện ra cho hơn 500 anh em xem thấy cùng một lúc, phần đông vẫn còn sống, nhưng một vài người đã qua đời. Sau đó Chúa hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ-đồ. Sau hết, Ngài cũng hiện ra cho tôi, như một hài nhi sinh non”.
CHÚA CỨU THẾ CHỊU CHẾT.
Phúc-Âm không chỉ là Chúa Cứu Thế chịu chết, vì như vậy chẳng có tin-mừng trong đó. Tin-mừng là Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta.
-Vì tội chúng ta.
Ta không cần phải làm gì để trả giá cho tội lỗi, Chúa Cứu Thế đã chịu chết và trả xong nợ tội cho ta.
-Theo lời Thánh Kinh.
Thực sự này làm nổi bật lẽ-thật đã được công-bố. Sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập-tự giá không phải tình-cờ, ngẫu nhiên, bèn là sự ứng-nghiệm lời Thánh Kinh Cựu-Ước.
-Chúa Được Mai Táng.
Đây là bằng-cớ Chúa Cứu Thế đã chết thật.
CHÚA CỨU THẾ SỐNG LẠI.
Sự sống lại là giấy biên nhận có dấu-ấn của Đức Chúa Trời chứng-rằng sự chết của Chúa Cứu Thế đã đủ.
-Qua ngày thứ Ba.
-Theo lời Kinh Thánh.
-Sự sống lại của Chúa Cứu Thế đã làm ứng-nghiệm Thánh Kinh Cựu-Ước
-Chúa hiện ra.
Đây là chứng-cớ Ngài đã sống lại:
- Yếu-tố thứ nhất của Phúc-Âm: Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội-lỗi chúng ta.
- Yếu--tố thứ hai của Phúc-Âm: Chúa Cứu Thế đã từ kẻ chết sống lại.
CHƯƠNG V: ĂN-NĂN LÀ GÌ?
1.-Lịch-sử của từ liệu “ăn-năn”
2.-Mối liên-hệ giữa ăn-năn và đức-tin
Giăng Báp-tít, khi bắt đầu chức-vụ trong đồng vắng Giu-đe, đã rao giảng: “Các ngươi phải ăn-năn, vì nước thiên đàng đã đến gần” (Mat Mt 3:2) Chúa Cứu Thế Giê-xu, lúc khởi đầu chức-vụ công-khai trên đất, đã tuyên giảng: “Các ngươi hãy ăn-năn, vì nước Thiên-đàng đã đến gần” (4:17). Phi-e-rơ, trong ngày lễ Ngũ tuần, đã đứng lên giảng giải: “Hãy ăn-năn, ai nấy phải nhơn danh Giê-xu Christ chịu phép báp-têm, để tội mình được tha, rồi sẽ nhận lãnh sự ban tứ là Thánh Linh” (CôngCv 2:38 BNC).
Ngày nay nếu bạn nghe các chương trình phát thanh hoặc xem các buổi truyền-giảng trên vô tuyến truyền hình, bạn cũng thấy các nhà truyền-đạo luôn rao giảng về lẽ cần của sự ăn-năn. “Quý vị phải ăn-năn để được cứu-rỗi”. “Quý vị cần khóc lóc cho tội-lỗi mình, đồng thời ăn-năn và đặt đức-tin nơi Chúa Cứu Thế để được cứu-rỗi”.
Ta được nghe nói nhiều về sự ăn-năn, và cũng biết lẽ đạo ăn-năn rất quan-trọng. Nhưng ăn-năn là gì? Có nhiều sự lầm lẫn về phương-diện lịch-sử của các chữ được phiên dịch là “ăn-năn” trong các bản Kinh Thánh Anh và Việt ngữ. Vậy, trước hết ta cần xét qua lịch-sử của từ liệu này.
LỊCH-SỬ CỦA TỪ LIỆU “ĂN-NĂN”.
Thời Cựu-Ước.
Chữ “sub”, được dùng vào thời Cựu-Ước, nghĩa là “quay lại hoặc trở lại cùng Đức Chúa Trời” bao hàm một sự thay đổi ý chí. Trong khi chữ “nàham” dịch là “ăn-năn” bao hàm ý niệm buồn rầu.
-Giai đoạn năm 100 Trước Chúa Cứu Thế (Giai Đoạn Bản Bảy Mươi-LXX)
Trong thời kỳ này, bản Bảy Mươi (LXX)-bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy-bá ra tiếng Hy-lạp-dùng chữ “metanoia” với nghĩa đen là “cảm thấy đau buồn”.
Thời Tân-Ước.
Qua giai đoạn này chữ “metanoia” đã biến nghĩa thành “thay đổi thái-độ”, chớ không còn là “cảm thấy đau buồn”.
-Giai đoạn Bản Dịch Kinh Thánh La-tinh.
Trong thời kỳ này, các dịch giả thay vì chọn chữ “metanoia” với nghĩa của thời Tân-Ước “thay đổi thái-độ”, họ lại chọn chữ “metanoia” với nghĩa của bản Bảy Mươi “cảm thấy đau buồn”. Vì thế, các vị ấy dịch chữ “ăn-năn” là “hành xác để hối lỗi”.
-Thời-Kỳ Các Bản Dịch Kinh Thánh Anh và Việt Ngữ.
Trong giai đoạn này, các bản dịch Kinh Thánh Anh và Việt Ngữ lại dựa vào bản La-tinh để chọn và dịch chữ “ăn-năn” với nghĩa “cảm thấy đau buồn”. Chữ “metanoia” được dịch là “cảm thấy đau buồn”, thì chưa lột hết được nghĩa của nó. Khi bạn đọc Thánh Kinh, ngoại trừ 5 lần không kể, còn lại tất cả thì phải hiểu chữ “ăn-năn” là “thay đổi thái-độ” hoặc “đổi ý”.
Điều quan-trọng kế tiếp, trong thời Tân-Ước có hai chữ Hy-lạp khác nhau được dịch là “ăn-năn”. Chữ “metanoia”-thay đổi thái-độ, và “metamelomai-cảm thấy đau buồn”. “Cảm thấy đau buồn” không giống như “thay đổi thái-độ”. Ta có thể “cảm thấy đau buồn” về tội-lỗi mình nhưng vẫn không có ý định từ bỏ phạm-tội. Đó không phải là ăn-năn. Ăn-năn là hành động do đó một người nhận biết tội-lỗi mình, xưng nó ra với Đức Chúa Trời và xây khỏi tội-lỗi ấy (thay đổi thái-độ khác hoặc đổi ý).
Dưới đây là những tội-nhân chỉ cảm thấy đau buồn về tội-lỗi mình chứ không ăn-năn:
1. Pha-ra-ôn: Khi Pha-ra-ôn cứng lòng không cho tuyển dân Đức Chúa Trời ra khỏi xứ nô-lệ Ai-cập để đến đất hứa Ca-na-an thì Ngài giáng tại họa xuống. Pha-ra-ôn run sợ và trong hãi hùng đã thốt ra: “Trẫm đã phạm-tội” nhưng không hề ăn-năn (XuXh 9:27).
2. Ba-la-am: Trong DânDs 22:34, Ba-la-am đã thưa cùng thiên-sứ của Đức Giê-hô-va: “Tôi có phạm-tội.” Song sự đau buồn nông cạn như thế không ích lợi gì cả.
3. A-can: Giô-suê chương 7 ghi chép lời A-can nói với Giô-suê: “Phải, tôi đã phạm-tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên” nhưng không hề ăn-năn.
4. Sau-lơ: Sa-mu-ên nhìn thấy Sau-lơ phạm-tội và bảo cho vua biết rằng sẽ chẳng được làm vua nữa. Sau-lơ bèn nói: “Tôi có phạm-tội,” song chẳng bày-tỏ sự ăn-năn.
5. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt: Sau khi nộp Thầy mình cho thầy tế-lễ và các trưởng-lão. Giu-đa cảm thấy hối tiếc về việc làm mình, và nói “Tôi đã phạm-tội vì nộp huyết vô-tội.” Ông không hề ăn-năn.
Và đây là những tội-nhân đã bày-tỏ sự ăn-năn thật:
1. Đa-vít: Đa-vít đã phạm-tội tà dâm và giết người. Sau đó ông xưng-tội, than khóc cầu-xin sự tha-thứ và ăn năn. Từ đó Đa-vít không bao giờ tái-phạm. Ông đã thật-lòng ăn-năn.
2. Đứa con phóng đãng: Ngụ-ngôn này cho thấy sự đổi ý. Ta hãy nghe lời xưng-tội của người con này: “Cha ơi, con đã phạm-tội với Trời và với cha” (LuLc 15:21). Đứa con phóng đãng đã sống hư hỏng. Khi anh nhâïn thức điều ấy, anh hạ mình trong tro bụi và sẵn sàng quay về cùng cha mình. Nói cách khác, người ấy còn đổi ý về địa-vị mình nên quyết định đứng dậy trở về nhà cha.
3. Phi-e-rơ: LuLc 22:54-62 ghi chép việc Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần. Nhưng khi được Chúa thức tỉnh, ông bước ra ngoài khóc lóc đắng cay, cầu-xin sự tha-thứ và ăn-năn. Về sau, Phi-e-rơ không hề tái phạm-tội ấy.
MỐI LIÊN-HỆ GIỮA ĂN-NĂN VÀ ĐỨC-TIN.
Sự ăn-năn đối với Đức Chúa Trời và đức-tin đến Chúa Giê-xu cần phải đi đôi với nhau. CôngCv 20:21 bày tỏ mối liên hệ đó: “Tôi kêu-gọi cả người Do-thái lẫn Hy-lạp ăn-năn quay về Thượng-Đế và tin-cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa chúng ta.”
Calvin cho rằng ăn-năn và đức-tin là 2 hành động không thể tách rời nhau, tuy nhiên chúng có sự khác biệt về ý nghĩa.
Hastings, khi bàn về mối liên-quan giữa đức-tin và ăn-năn, đã nói: “Chúng là vòng xích không thể tách rời được... đức-tin thuộc về phía tích-cực, và ăn-năn thuộc về phía tiêu-cực”.
Thiessen tuyên-bố: “... sự ăn-năn thật không bao tách rời khỏi đức-tin... đức-tin thật không bao giờ thiếu sự ăn-năn. Cả 2 ràng buộc nhau đến độ không thể chia lìa”.
Strong viết: “... đức-tin không thể tách rời với sự ăn năn cũng như sự ăn-năn không thể tách rời với đức-tin” .
Loài người chẳng khác gì đứa con phóng đãng đã bỏ nhà cha mẹ mà đi phương xa sống đời hư hỏng. Khi người con tỉnh ngộ, nói rằng: “Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha” (LuLc 15:11-24). Hành động đó chứng-tỏ người con tin nơi cha có sự tha-thứ và sự cứu-rỗi mới dám quyết định như vậy. Cũng thế, khi tội-nhân cảm biết Chúa Cứu Thế có quyền cứu-rỗi mình, mới dám quyết định đến cùng Chúa, đặt đức-tin nơi Ngài, cầu-khẩn Ngài thương-xót mà cứu vớt mình.
Tóm lại, khi ta nói về sự ăn-năn để được cứu-rỗi, ta phải hiểu đó là một sự thay đổi thái-độ đối với tội-lỗi và đối với Đức Chúa Trời. Khi một người nói rằng muốn tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhưng không chịu từ bỏ tội-lỗi, thì đó không phải là sự ăn-năn, và người ấy không thể được cứu-rỗi.
CHƯƠNG VI: ĐỨC-TIN LÀ GÌ?
1.-Ý nghĩa từ liệu “đức-tin”.
2.-Các yếu-tố của đức-tin.
3.-Phân loại đức-tin.
Bạn có bao giờ làm-chứng cho một người nào đó, mà người ấy tỏ ra biết nhiều sự việc và đồng ý với mọi điều bạn nói, song bạn không cảm thấy người đó đã được cứu? Trong tận nơi sâu thẳm của linh-hồn, bạn sợ cho số-phận đời-đời của người ấy. Bạn càng làm-chứng cho người đó nhiều chừng nào, bạn càng cảm thấy dường như người ấy chưa được cứu. Tuy nhiên, bạn không thể khẳng định cách chính xác tại sao bạn có cảm nghĩ như thế.
Nếu điều đó đã từng xảy ra cho bạn trong lúc chứng-đạo, hy-vọng bài này sẽ là lời giải đáp cho bạn.
Ý NGHĨA TỪ LIỆU “ĐỨC-TIN”.
Từ liệu “pisteuo” của tiếng Hy-lạp được dịch là “tin-cậy”. Chữ ấy có nghĩa là “tùy thuộc vào”, “dựa vào”, hoặc “tin-cậy vào”. Một người đã được cứu là người đặt sự tin-cậy vào Chúa Cứu Thế Giê-xu chớ không phải vào chính mình, gia đình, Hội Thánh hoặc vào việc làm.
Bạn có bao giờ nhìn thấy những người nhảy dù chưa? Họ đứng trên chiếc máy bay cho nó cất cánh khỏi mặt đất và họ... nhảy dù xuống! Những người này tin rằng chiếc dù sẽ cứu mình. Họ tin-cậy đến độ biết rằng nếu chiếc dù không mở ra, họ sẽ chết. Đó là ví-dụ về đức-tin theo Thánh Kinh. Con người để được cứu-rỗi, phải tin-cậy Chúa Cứu Thế và chỉ tin một mình Ngài thôi.
CÁC YẾU-TỐ CỦA ĐỨC-TIN.
Berkhof cho rằng đức-tin có 3 yếu-tố. Thiessen cũng đồng ý như thế. Ba yếu-tố đó là: Trí năng, cảm tình và ý chí.
Yếu-Tố Quan-Hệ Với Trí-Năng.
Cách dùng từ liệu “đức-tin” của Tân-Ước bao hàm sự nhận biết. Trước khi có đức-tin thật, tội-nhân phải nhận biết:
1. Chúa Cứu Thế là Con Thượng-Đế.
“Đức Chúa Giê-xu đã làm trước mặt môn-đồ Ngài nhiều phép-lạ khác nữa mà không có chép trong sách này. Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (GiGa 20:30-31).
2. Sự trở thành người, mang thân thể phàm nhân của Chúa Cứu Thế.
“Anh em thân yêu, đừng vội tin những người tự cho mình được thần-linh cảm-ứng, trước hết phải thử xem có thật không. Vì hiện nay nhiều nơi đã có giáo-sư giả xuất hiện. Muốn biết điều họ giảng dạy có thật do Thánh Linh cảm-ứng không, chỉ cần xem nó có phù hợp với giáo-lý Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Thượng-Đế, đã trở thành người, mang thân thể phàm nhân hay không. Nếu có, đó là do Thượng-Đế. Nếu không, lời giảng-dạy họ không do Thượng-Đế, nhưng do thần-linh Kẻ Phản Chúa, như anh em đã nghe nó xuất hiện. Hiện nay, tinh-thần phản Chúa đã biểu-lộ trên thế giới” (IGi1Ga 4:1-3 BDY).
3. Sự chết của Chúa Cứu Thế.
“Thượng-Đế đã cho Chúa Giê-xu hy-sinh chuộc-tội chúng ta, những người tin-cậy huyết Ngài. Việc cứu-chuộc này chứng-tỏ đức công-chính của Thượng-Đế đối với loài người trong quá-khứ và hiện tại. Trong quá-khứ, Ngài nhẫn-nhục bỏ qua tội-lỗi. Trong hiện tại, người tin Chúa Giê-xu được Ngài tha-tội và nhìn nhận là công-chính” (RôRm 3:25-26 BDY).
4. Sự sống lại của Chúa Cứu Thế.
“Nếu miệng anh em xưng nhận Giê-xu là Chúa, và lòng anh em tin Thượng-Đế đã khiến Ngài sống lại thì anh em được cứu-rỗi” (RôRm 10:9 BDY).
Đây là bốn lẽ đạo quan-trọng mà tội-nhân cần biết, trước khi người có thể được cứu-rỗi. Nếu ai chối bỏ một trong các lẽ-thật này th ì không thể được cứu. Giả dụ có người nói rằng: “Tôi muốn tin Chúa Giê-xu, song tôi nghĩ Ngài chỉ là một vĩ nhân” thì người đó không thể được cứu-rỗi. Ni-cô-đem trước khi đầu-phục Chúa, đã có đức-tin ấy, vì người nói cùng Chúa: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là Giáo-Sư Thượng-Đế sai xuống, vì nếu Thượng-Đế không cộng tác, chẳng ai thực hiện nổi những phép-lạ Thầy đã làm” (GiGa 3:1 BDY).
Yếu-Tố Quan-Hệ Với Tình Cảm.
Yếu-tố quan-hệ với tình cảm này sẽ khiến tội-nhân cảm xúc rằng, linh-hồn mình đang ở trong địa-vị hư-mất, tự mình chẳng có thể cứu được. Và khi người nghe Phúc-Âm của Chúa Cứu Thế, lòng cảm-động tin rằng Chúa Cứu Thế có đủ quyền cứu linh-hồn mình khỏi địa-vị hư-mất. Tuy nhiên, đức-tin người ấy dừng tại đó. Đời sống người chẳng kết được nhiều quả, vì người chưa thật tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa mình. Thánh Kinh nói về người có đức-tin bất-toàn đó như vầy:
“Hạt giống rơi nơi lớp đất mỏng phủ trên đá tượng trưng cho người nghe Đạo, vội vui-mừng tiếp nhận, nhưng quá hời hợt, mầm sống không vào sâu trong lòng. Khi bị họan nạn, khủng bố vì Phúc-Âm, họ vội buông tay đầu hàng” (MatMt 13:20-21 BDY).
Yếu-Tố Quan-Hệ Với Ý Chí.
Khi tội nhân đã hiểu biết Phúc-Âm cứu-rỗi, đã cảm xúc Chúa Cứu Thế có quyền cứu vớt linh-hồn mình, và bây giờ người phải công nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa thì mới được cứu-rỗi. Thánh Kinh quả-quyết rằng:
“Tất cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng-Đế -tiếp nhận Chúa là đặt niềm tin nơi Chúa” (GiGa 1:12 BDY).
“Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời (trí năng tin phục Ngài), và để khi c ác ngươi tin, nhờ danh Ngài mà được sự sống (lòng công nhận Ngài)” (20:31).
PHÂN LOẠI ĐỨC-TIN.
Đức-Tin Lịch-Sử.
Đức-tin lịch-sử là loại đức-tin của vua Ạc-ríp-ba. Phao-lô xác-quyết vua tin các tiên-tri: “Tâu vua Ạc-ríp-ba, vua có tin các đấng tiên-tri chăng? Tôi biết thật vua tin đó!” (CôngCv 26:28). Tuy nhiên, không có chứng-cớ nào cho thấy vua Ạc-ríp-ba là một Cơ-đốc nhân. Thật ra nếu có, chỉ là bằng-chứng ngược lại mà thôi.
Đức-Tin Phép-Lạ.
Đức-tin phép-là là tin rằng Thượng-Đế có thể làm phép-lạ qua người nào đó.
Đức-Tin Tạm Thời.
CHƯƠNG VII: SỰ CỨU-RỖI LÀ GÌ?
1.-Cứu-rỗi là được giải thoát khỏi tội-lỗi.
2.-Cứu-rỗi là được tái-sinh.
3.-Cứu-rỗi là được sở hữu sự sống đời-đời.
Từ liệu “sự cứu-rỗi” được dùng trong Thánh Kinh để chỉ về công việc của Đức Chúa Trời làm thay cho loài người”. Khi chữ này được biểu lộ trong Tân-Ước thì nó biểu-lộ tất cả hoặc một phần công tác của Đức Chúa Trời. Lúc chữ này được dùng để chỉ về toàn thể công trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời, nó nói lên sự biến-đổi toàn-diện từ tình-trạng hư mất của con người đến tình trạng vinh hiển sau cùng Chúa ban cho con người.
Công-trình cứu-rỗi toàn-vẹn này bao gồm các công tác của Đức Chúa Trời như: sự phục hòa, sự chuộc tội, sự tha-thứ, sự xưng công-nghĩa, sự thế mạng, sự tái-sanh, sự nhận làm con, sự nên-Thánh, sự cứu-chuộc và sự vinh-hiển. Thánh Kinh đã đề-cập đến 2 trạng-thái tương phản giữa tình-trạng hư-mất và được cứu của con người:
“Đừng quên rằng trước kia anh em là người nước ngoài, bị người Do-thái coi là vô đạo, ô uế, vì họ tự cho là Thánh sạch. Kỳ thực lòng họ vẫn ô uế, dù thân họ chịu Thánh lễ cắt-bì, một nghi lễ do tay người thực hiện. Đừng quên rằng thuở ấy anh em sống xa cách Chúa Cứu Thế, đối nghịch với đoàn thể con dân của Thượng-Đế, không được Thượng-Đế hứa hẹn bảo đảm gì cả. Giữa cuộc đời, anh em sống không hy-vọng, không Thượng-Đế ” (ÊphEp 2:11-12 BDY).
“Hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta biết bao, Ngài cho chúng ta được mang danh “con cái Chúa ”, và chúng ta đích thực là con cái Ngài! Nhưng người đời không biết chúng ta là con cái Chúa vì họ không biết Ngài. Anh em thân yêu, hiện nay chúng ta là con cái Thượng-Đế. Mặc dù chưa biết hết tương lai nhưng chúng ta biết chắc khi Chúa trở lại, chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy chính Ngài” (IGi1Ga 3:1-2 BDY).
Ngoài những giáo-lý có quan-hệ đến các phương-diện khác nhau của sự cứu-rỗi ở trên, còn 3 ý nghĩa quan-trọng ta cần biết.
CỨU-RỖI LÀ ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI TỘI-LỖI.
Mục-đích của Đức Chúa Trời trong sự cứu-rỗi con người là Ngài chẳng những chỉ giải phóng con người được tự-do khỏi án phạt tội-lỗi, mà còn tiêu diệt tội-lỗi trong đời sống con người.
“Vả, các con biết Đức Chúa Giê-xu Christ đã hiện ra để cất tội-lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội-lỗi” (3:5).
“Vì tội-lỗi không cai-trị trên anh em đâu; bởi anh em chẳng thuộc dưới luật-pháp, mà thuộc dưới ân-điển” (RôRm 6:14).
“Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội-lỗi, trở nên tôi mọi của sự công-bình rồi” (RôRm 6:18).
“Vì luật-pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ buông tha tôi khỏi luật-pháp của sự tội và sự chết” (RôRm 8:2).
“Vậy, nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự-do” (GiGa 8:36).
“Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao-thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Giê-xu con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (IGi1Ga 1:7).
“Chúa đã hy-sinh cứu ta khỏi mọi tội-lỗi, luyện lọc ta thành dân-tộc riêng của Ngài để ta sốt sắng làm việc thiện” (Tít 2:14; BDY).
CỨU-RỖI LÀ ĐƯỢC TÁI-SANH.
Khi Đức Chúa Trời cứu-chuộc con người, Ngài chẳng những giải thoát linh hồn ra khỏi án phạt và quyền năng của tội lỗi mà còn tạo dựng con người thành “tạo vật mới” qua biến động của sự sanh lại hoặc sự tái-sanh.
“Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới: những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (IICôr2Cr 5:17).
“Đức Chúa Giê-xu cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại” (GiGa 3:5-7).
“Anh em được laị sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” (IPhi1Pr 1:23)
Do sự tái-sanh, ta được sống đời mới, Đức Chúa Trời trở thành Cha chúng ta và chúng ta được gọi là con cái Đức Chúa Trời.
“Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời: và chúng ta thật là con cái Ngài. Ấy là vì đó mà thế gian chẳng biết chúng ta, vì họ chẳng từng biết Ngài” (IGi1Ga 3:1).
Với sự sanh lại, ta được sở hữu bản-tính mới. Ta đã được “sáng tạo trong Đấng Christ”.
“Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Giê-xu Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (ÊphEp 2:10).
“Vì điều cần yếu chẳng phải sự chịu cắt-bì, hay là sự chẳng chịu cắt-bì, bèn là trở nên người mới” (GaGl 6:15).
CỨU-RỖI LÀ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI-ĐỜI.
Ta được chính Đức Chúa Trời sanh thành, chứ không sanh ra theo huyết thống, hay theo tính ý loài người, vì vậy ta được sở hữu sự sống đời-đời, sự sống của Đức Chúa Trời.
“Anh em được tái-sinh, không phải do sự sống dễ hư họai của tổ-tiên truyền lại, nhưng do Lời Sống bất diệt của Thượng-Đế” (IPhi1Pr 1:23 BDY).
“Cũng với quyền-năng ấy, Ngài đã ban cho chúng ta mọi phúc lành quý báu kỳ diệu mà Ngài đã hứa; giải thoát chúng ta khỏi mọi dục-vọng, băng họai đang ngự-trị khắp nơi, và cho chúng ta được có cùng bản-tính với Ngài” (IIPhi 2Pr 1:4 BDY).
“Vậy Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ-thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (GiGa 14:6).
“Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (3:33).
“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời-đời, và không đến sự phán-xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (5:24).
“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin được sự sống đời-đời” (6:47).
bottom of page
