1.-Các từ và thành ngữ diễn đạt về chứng-đạo trong Cựu-Ước.
2.-Ý-niệm về chứng-đạo trong Cựu-Ước.
CÁC TỪ VÀ THÀNH NGỮ DIỄN ĐẠT CHỨNG-Đ ẠO.
Trong Cựu-Ước có nhiều từ và thành ngữ diễn đạt về chứng-đạo. Ở ÊxeEd 33:7-9 ta đọc được những lời này:
“Hỡi con người, ta đã lập ngươi đặng làm kẻ canh giữ cho nhà Y-sơ-ra-ên; nên hãy nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo trước cho chúng nó. Khi ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc chết! Nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình; nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Nếu trái lại, ngươi đã răn bảo kẻ dữ đặng xây bỏ đường lối xấu của nó mà nó không xây bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó, còn ngươi giải cứu mạng sống mình.”
Tiên-tri Ê-xê-chi-ên được dạy phải răn bảo kẻ dữ. Động từ “răn bảo” trong nguyên văn Hy-bá nghĩa là “dẫn đạo, khuyên răn, chỉ dẫn”. Từ liệu “răn bảo” bày-tỏ về việc chứng-đạo, đưa dẫn tội-nhân đến sự hối-cải qua sứ-điệp của Đức Chúa Trời.
Thành ngữ khác trong Cựu-Ước diễn đạt về chứng-đạo: “đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm-nhường” (ÊsIs 61:1). Nguyên văn là “mang tin tức”, “công-bố tin mừng: Giảng-sự cứu-rỗi của Đức Chúa Trời”. Từ ngữ này cũng tìm thấy trong Thi Tv 96:2, “từng ngày hãy truyền-ra sự cứu-rỗi của Ngài”.
ChCn 11:30 cho ta thấy thêm một thành ngữ diễn đạt về chứng-đạo, “người khôn-ngoan có tài được linh-hồn người ta.” Từ liệu “có tài được” theo nghĩa đen là “lấy”, mang theo với mình “lấy ra”, “lấy đi, mang đi”. Từ liệu này nói lên sự chinh-phục hoặc chiếm lấy linh-hồn người ta. Việc chứng-đạo vì vậy đã bày-tỏ qua việc “được linh-hồn”, hay sự hối-cải của người chưa được cứu.
Ý-NIỆM VỀ CHỨNG ĐẠO TRONG CỰU-ƯỚC.
Cùng với các từ và thành ngữ diễn đạt việc chứng-đạo, ta cũng thấy ý-niệm về chứng-đạo được tỏ-bày trong hầu hết các sách của Cựu-Ước.
Sáng-thế ký chương 1 biểu-lộ kế-họach chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời qua người nam và người nữ đầu tiên. Ngài phán với họ: “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy-dẫy đất” (SaSt 1:23). Về sau Đức Chúa Trời lập lại lời đó cho Nô-ê. “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy-dẫy trên mặt đất” (9:1).
Tiếp theo Đức Chúa Trời chọn Áp-ra-ham và dòng dõi người để lập thành quốc gia Y-sơ-ra-ên. Ngài phán cùng Áp-ra-ham: “Các chi-tộc nơi thế-gian sẽ nhờ người mà được phước” (1:23). Kế-họach chứng-đạo toàn cầu tiếp tục trong thời đại tộc-trưởng với lời-hứa cho Y-sác:
“Ta sẽ thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, sẽ cho họ các xứ này; hết thảy dân thế-gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước” (26:4).
Với lời-hứa cho Gia-cốp:
“Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến đông tây nam bắc, và các chi họ thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước ” (28:14).
Qua thời đại Môi-se, kế-họach chứng-đạo toàn cầu vẫn không gián đoạn. Khi Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, có một số đông khách kiều ngụ giữa họ, được phép gia nhập vào hội chúng Y-sơ-ra-ên (XuXh 12:38). Rồi người Y-sơ-ra-ên làm-chứng cho dân ngoại và dạy họ giữ lễ Vượt-qua (DânDs 9:14), dạy họ biết riêng ngày nghỉ đặng làm nên ngày Thánh (XuXh 20:10), dạy dâng của lễ thiêu (LêLv 17:8). Thiên Chúa cũng chỉ dẫn tuyển dân Ngài làm-chứng qua nếp sống đạo:
“Khi kẻ khách nào kiều ngụ trong xứ các ngươi, thì chớ hà hiếp người. Kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi sẽ kể như kẻ đã sanh đẻ giữa các ngươi: hãy thương yêu người như mình, vì các ngươi đã làm khách kiều ngụ trong xứ Ê-díp-tô” (19:33,34).
Lúc Môi-se đến cùng Đức Chúa Trời ở trên núi, Ngài lập giao-ước cùng ông và phán rằng:
“Vậy, bây giờ, nếu các ngươi vâng-lời ta và giữ sự giao-ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế-lễ, cùng một dân -tộc Thánh cho ta” (XuXh 19:5-6).
Sách Ru-tơ làm nổi bật kế-họach chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời. Ru-tơ, một quả-phụ Mô-áp, đã làm cho mẹ chồng cảm động qua những lời chân-thành này:
“Xin chớ nài tôi phân-rẽ mẹ: vì mẹ đi đâu, tôi sẽ theo đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân-sự của mẹ, tức là dân-sự của tôi: Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi; mẹ thác nơi nào tôi muốn thác và được chôn nơi đó” (RuR 1:16-17).
Khi Na-ô-mi và Ru-tơ về đến Bết-lê-hem, “cả thành đều cảm động” (1:19). Ru-tơ - người ngoại bang - được nhập vào thành-viên chính thức trong hội chúng Y-sơ-ra-ên. Về sau, Ru-tơ trở thành tổ mẫu của vua Đa-vít (4:21-22) và Chúa Giê-xu (MatMt 1:5).
Đến thời đại Đa-vít, nhiều Thi-thiên được sáng-tác bày-tỏ kế-họach chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời. Đa-vít đã nói trong ThiTv 86:9 “Hết thảy các dân mà Chúa đã dựng nên sẽ đến thờ-lạy trước mặt Chúa, và tôn-vinh danh Chúa. Và, bốn phương thế-gian sẽ nhớ và trở lại cùng Đức Giê-hô-và; các họ hàng muôn dân sẽ thờ-lạy trước mặt Ngài” (ThiTv 22:27).
Vua Sa-lô-môn, trong khi cầu-nguyện cung hiến đền thờ, cũng nói lên kế-hoạch chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời, “để cho muôn dân của thế-gian nhận biết danh Chúa, kính-sợ Chúa, y như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và cho biết rằng danh Chúa xưng ra trên đền này mà tôi đã x ây cất” (IVua1V 8:43).
“Vả lại, về người ngoại bang là người chẳng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì danh lớn Chúa, vì cánh tay quyền-năng giơ thẳng ra của Ngài, họ sẽ từ xứ xa đi đến hướng về đền này mà cầu-nguyện, thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, hãy dủ nghe, và làm theo mọi đều người ngoại bang ấy cầu-xin Chúa: hầu cho muôn dân trên đất nhận biết danh Chúa, kính-sợ Ngài như dây Y-sơ-ra-ên của Chúa, và biết rằng cái đền này mà tôi đã xây cất, được gọi bằng danh Chúa” (IISu2Sb 6:32, 33).
Trong Cựu-Ước, có lẽ thời đại tiên-tri, bày-tỏ ý-niệm về chứng-đạo nhiều nhất và rõ ràng nhất. Ngay cả trong các sứ-điệp dành riêng cho dân Y-sơ-ra-ên, ta cũng nhận ra kế-hoạch chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời. Trước hết, qua tiên-tri Ê-sai, Đức Chúa Trời công-bố kế hoạch chứng-đạo của Ngài.
“Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác! Chẳng có Đức Chúa Trời nào khác là công-bình và là Cứu Chúa ngoài ta. Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ngoài ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác” (ÊsIs 45:21, 22).
Đức Giê-hô-va phán những lời này qua Ê-sai:
“Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu-việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi làm ô uế, và cầm vững lời giao-ước ta, thì ta sẽ đem họ lên trên núi Thánh ta, làm cho họ vui-mừng trong nhà cầu-nguyện ta. Của lễ thiêu và hy-sinh họ dâng trên bàn thờ ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà ta sẽ gọi là nhà cầu-nguyện cho mọi dân-tộc” (56:6, 7).
Tiên-tri Giê-rê-mi rao-truyền kế-hoạch chứng-đạo của Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên: “Trong thời đó người ta sẽ gọi Giê-ru-sa-lem là ngôi của Đức Giê-hô-va, và hết thảy các nước đều nhóm về Giê-ru-sa-lem, về danh Đức Giê-hô-va” (GiêGr 3:17).
Tiên-tri Ha-ba-cúc dự-ngôn về kế hoạch chứng-đạo toàn cầu c ủa Đức Chúa Trời: “Vì sự nhận biết vinh-quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy-dẫy khắp đất như nước đầy tràn bờ biển” (HaKb 2:14).
Tiên-tri Ma-la-chi bày-tỏ kế-hoạch chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời: “Vì từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, danh ta sẽ lớn giữa các dân ngoại. Trong khắp mọi nơi, người ta sẽ dâng hương của lễ Thánh sạch cho danh ta; vì danh ta sẽ lớn giữa các dân ngoại, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (MaMl 1:11).
Đức Giê-hô-va phán bảo Giô-na thực thi kế-hoạch chứng-đạo của Ngài: “Người khá chờ dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và rao cho nó lời của ta đã dạy cho ngươi”. Tiên-tri Giô-na đi vào thành rao-giảng sứ-điệp Đức Chúa Trời và “dân thành Ni-ni-ve tin Đức Chúa Trời” (GiônGn 3:2, 5).
Đa-ni-ên cũng áp-dụng kế-hoạch chứng-đạo toàn cầu của Đức Chúa Trời tại đất khách quê người. Nhà tiên-tri làm-chứng cho các quan, cho các vua, cho mọi người. Kết quả khiến cho vua Nê-bu-cát-nết-sa truyền cho các dân-tộc, các nước, các thứ tiếng ở khắp mặt đất phải ngợi-khen Đức Chúa Trời rất cao: “Ôi Những dấu-lạ của Ngài lớn lao là dường nào! Những sự-lạ của Ngài mạnh sức là dường nào! Nước Ngài là nước còn mãi mãi, và quyền-thế Ngài từ đời nọ đến đời kia” (DaDn 4:3).
Các từ và thành ngữ trong Cựu-Ước đã diễn đạt rõ ràng ý-niệm về chứng-đạo và tỏ-ra rằng Đức Chúa Trời mong muốn con dân Ngài công-bố sứ-điệp cứu-rỗi của Ngài cho thế-nhân. Kế-hoạch chứng-đạo cho muôn dân trên đất nước tỏ-bày qua các sách Ngũ-kinh, sách Lịch-sử, Thi-thiên và các sách Tiên-tri. Dân của Đức Chúa Trời ngày xưa đã “răn bảo” “giảng tin-lành cho kẻ khiêm-nhường”, “truyền-ra sự cứu-rỗi của Ngài”, và “được linh-hồn người ta”.
Ngày nay Đức Chúa Trời cũng mong muốn con dân Ngài trở thành những chứng-nhân để công-bố sứ--điệp cứu-rỗi của Ngài cho thế-gian hư-mất. Mong ước chúng ta sẽ không bỏ qua đặc-quyền và trách-nhiệm là ch ứng-nhân cho Đấng đã yêu-thương và cứu-rỗi chúng ta, để bắt đầu từ đây đời sống chúng ta sẽ trở thành nguồn phước cho muôn dân trên đất, đặc biệt cho dân-tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
CHƯƠNG II: TÂN-ƯỚC DẠY VỀ CHỨNG-ĐẠO.
1.-Các từ và thành ngữ ngữ diễn đạt về chứng-đạo trong Tân-Ước
2.-Ý niệm về chứng-đạo trong Tân-Ước
CÁC TỪ VÀ THÀNH NGỮ DIỄN ĐẠT VỀ CHỨNG-ĐẠO.
Trong Tân-Ước có nhiều từ và thành ngữ được dùng để nói đến việc chứng-đạo. Một hôm, Chúa Cứu Thế Giê-xu đang đi ven bờ biển Ga-li-lê, gặp 2 anh em Si-môn Phi-e-rơ và Anh-rê đang thả lưới đánh cá. Chúa gọi: “Các ngươi hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người” (MatMt 4:19). Họ bèn bỏ cả lưới chài, đi theo Ngài, Chúa Cứu Thế Giê-xu đi khắp xứ Ga-li-lê, “dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành của nước Đức Chúa Trời” (MatMt 4:23).
Văn mạch của câu Thánh Kinh trên cho thấy cách dùng của từ liệu “tay đánh lưới người”, và nói lên rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu muốn những người này phụ giúp Ngài trong việc công-bố Phúc-Âm cho nhân dân.
Ở 28:19, Chúa Cứu Thế Giê-xu phán cùng các môn-đệ: “Vậy, hãy đi khiến muôn dân trở nên môn-đồ ta, làm báp-têm cho họ nhơn danh Cha, Con, và Thánh Linh”. Từ liệu “khiến trở nên môn-đồ” là một chữ rất thông dụng trong Tân-Ước và xuất hiện 250 lần. Cách dùng của từ liệu nói lên trách-nhiệm cá--nhân của môn-đệ Chúa Cứu Thế Giê-xu trong sự công-bố Phúc-Âm cho tất cả các dân-tộc. Chữ này diễn đạt rõ ràng về việc chứng-đạo.
Chúa Cứu Thế Giê-xu trong ngày được rước lên trời, đã phán cùng các môn-đệ: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngơi sẽ nhận lấy quyền-phép và làm-chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (CôngCv 1:8).
Từ liệu “chứng tá của ta” được dùng 168 lần trong Tân-Ước. Bác-sĩ Lu-ca dùng từ liệu này để nói lên việc phối hợp của sự làm-chứng về các sự-kiện và sự làm-chứng trong ý nghĩa của việc xưng nhận Phúc-Âm. Lu-ca trình-bày cách dùng đặc biệt này trong sách Công-vụ các sứ-đồ và LuLc 24:48, “Các ngươi làm-chứng về việc đó”. Những sự-kiện Lu-ca nói đến là sự-kiện lịch-sử về Chúa Cứu Thế Giê-xu, đặc biệt là sự sống lại của Ngài.
Một từ ngữ khác được dùng trong Tân-Ước để diễn đạt về việc chứng-đạo là “giảng Tin lành”. Từ liệu này được tìm thấy 127 lần trong Tân-Ước. Nó có nghĩa là “công-bố tin-mừng, chỉ dẫn (con người) về những điều có liên-quan đến sự cứu-rỗi Cơ-đốc”.
Ý-NIỆM VỀ CHỨNG-ĐẠO TRONG TÂN-ƯỚC.
Cùng với các từ và thành ngữ diễn đạt cho việc chứng-đạo, ta cũng thấy ý-niệm về chứng-đạo được biểu-lộ trong các sách của Tân-Ước.
Phúc-Âm Ma-thi-ơ.
Sách này bắt đầu với lời rao-giảng Phúc-Âm: “Hãy ăn-năn tội-lỗi, quay về với Thượng-Đế, vì Nước Trời gần đến!”. Chương bốn cho ta thấy việc Chúa Cứu Thế Giê-xu kêu-gọi các môn-đệ đầu tiên. Chương 9 tường thuật rằng khi đi qua thành Ca-bê-na-um, Chúa Cứu Thế Giê-xu thấy một người tên Ma-thi-ơ đang làm việc tại sở thu thuế. Chúa gọi: “Con hãy theo Ta!” Ma-thi-ơ liền đứng dậy theo Ngài.
“Chúa Giê-xu từ đó đi qua”. Đây là những chữ rất quan-trọng, luôn được nhắc đến trong suốt những năm chức-vụ của Chúa Cứu Thế. Những chữ đó cũng nói lên rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu luôn tận dụng cơ-hội để chứng-đạo. Câu 9 ghi lại mấy chữ đáng chú ý: “Ngài thấy một người”. Chúa Cứu Thế Giê-xu nhìn thấy mọi người quanh Ngài hoặc thấy cả một đám đông. Đường phố vào thời Tân-Ước chật hẹp và đông đúc người qua lại. Ở đó có một người, một nhân-viên thu thuế, đang làm việc cho chính quyền La-mã. Ông thuộc về giai cấp bị xã hội ruồng bỏ. Trước khi chinh-phục người, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã thấy người.
Chương 10 bày-tỏ Đấng chinh-phục linh-hồn tội-nhân, chẳng những đã động lòng thương-xót trước đoàn dân đông, mà còn “sai phái” 12 môn-đệ đi ra truyền-giảng Phúc-Âm. Chương 11 cho thấy sau khi dặn bảo 12 môn-đệ xong, Chúa Cứu Thế Giê-xu đi vào các thành phố miền đó giảng dạy. Chương cuối của sách Ma-thi-ơ đã ghi chép mạng-lịnh trọng yếu của Chúa Cứu Thế: “Tất cả uy-quyền trên trời dưới đất đều về tay ta. Vậy, các con hãy đi dìu dắt tất cả các dân-tộc làm môn-đệ ta, làm báp-têm cho họ, nhân danh Cha, Con, và Thánh Linh, và dạy họ vâng giữ mọi mệnh-lệnh ta! Chắc chắn ta ở với các con luôn luôn, từ nay cho đến ngày tận thế!” (MatMt 28:18-20).
Phúc-Âm Mác.
Sách này mở đầu với câu chuyện Lê-vi theo Chúa. Chương sáu ghi chép việc Chúa gọi 12 sứ-đồ, sai đi từng đôi truyền-giảng Phúc-Âm, khuyến giục mọi người ăn-năn tội-lỗi.
Phần cuối của sách Mác cũng ghi chép mạng-lịnh trọng yếu của Chúa Cứu Thế: “Hãy đi khắp thế giới, công-bố Phúc-Âm cho cả nhân loại. Ai tin và chịu báp-têm sẽ được cứu, còn ai không tin sẽ bị kết tội” (Mac Mc 16:15 BDY)
Phúc-Âm Lu-ca.
Trong sách Lu-ca, Chúa Cứu Thế phán cùng các môn-đệ: “Từ nay trở đi, ngươi sẽ trở nên tay đánh lưới người”. Sau đó, Chúa chọn thêm 70 môn-đệ sai từng đôi đi truyền-bá Phúc-Âm.
Các ngụ-ngôn “Tiệc Lớn”, “Chiên Thất lạc”, “Đồng bạc mất”, và “Người con lưu lạc trở về” cũng diễn đạt việc chứng-đạo. Khi các người Biệt lâp chế giễu Chúa, Ngài khuyến-cáo họ về sự ăn-năn qua ngụ-ngôn “Người giàu và La-xa-rơ”. Lúc đó một nhà lãnh đạo Do-thái hỏi Chúa. “Tôi phải làm gì để được sống vĩnh viễn?” Khi nghe Chúa trả lời là bán hết tài sản lấy tiền phân phát cho người nghèo, ông buồn rũ rượi vì tài sản quá nhiều.
Kế đó, Chúa Giê-xu đi ngang qua thành phố Giê-ri-cô kêu gọi Xa-chê. Ngài đến thăm ông tại nhà và dìu dắt cả gia đình tin nhận Ngài. Phần cuối của sách Lu-ca thuật lại việc một tên cướp tin Chúa trong giờ hấp hối trên thập-tự giá.
Phúc-Âm Giăng.
Sách này trước hết ghi chép về công việc truyền-bá Phúc-Âm của Giăng Báp-tít. Kế đó, khi thấy Chúa Cứu Thế Giê-xu đi ngang qua, Giăng đã giới thiệu Chúa cho các môn-đệ, lập tức Anh-rê và một môn-đệ khác theo Chúa. Anh-rê đưa anh mình là Si-môn Phi-e-rơ đến tin Chúa. Sáng hôm sau, Chúa Cứu Thế Giê-xu đi lên xứ Ga-li-lê làm-chứng cho Phi-líp. Phi-líp làm-chứng cho Na-tha-na-ên và mời bạn đến gặp Chúa. Khi Ngài ở Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt qua, nhiều người tin Chúa, vì thấy các phép-lạ Ngài làm.
Chương 3 của sách Giăng thuật lại việc Chúa Cứu Thế Giê-xu chứng-đạo cho giáo-sư Ni-cô-đem. Sau đó, Chúa và các môn-đệ qua xứ Ga-li-lê. Theo lộ-trình, Chúa phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. Gần đến thành Si-kha, Chúa dừng chân bên giếng Gia-cốp. Nơi đây Chúa làm-chứng cho thiếu phụ Sa-ma-ri. Sau khi tin Chúa, thiếu phụ bỏ vò nước bên giếng, chạy vào thành phố, hăng say nói về Chúa cho mọi người. Dân chúng kéo nhau đến gặp Chúa.
Sau đó, Chúa giảng cho các môn-đệ về cánh đồng truyền-giáo:
“Các con nói còn 4 tháng nữa mới đến mùa gặt nhưng các con cứ phóng rộng tầm mắt xem khắp cánh đồng! Lúa đã chín vàng, sẵn chờ gặt hái. Thợ gặt được thưởng công để đưa nhiều linh-hồn vào cõi sống vĩnh-viễn, nên người gieo kẻ gặt đều vui-mừng. Thật đúng với câu:
‘Người này gieo, kẻ khác gặt’. Ta sai các con gặt hái ở những cánh đồng các con chưa gieo trồng; người khác đã gieo, nay các con gặt hái” (GiGa 4:35-38).
Hai ngày sau, Chúa lên đường về xứ Ga-li-lê. Chúa lại vào làng Ca-na, là nơi Ngài đã biến nước thành rượu. Một viên chức có con trai đau nặng gần chết, nghe tin Chúa Cứu Thế Giê-xu đã từ Giu-đê về Ga-li-lê, vội vã đến năn nỉ Chúa xuống thành Ca-bê-na-um chữa bệnh cho con. Chúa đáp: “Ông đi về đi! Con ông lành bệnh rồi!” Ông tin lời Chúa nên con ông đã được chữa lành. Ông và cả gia đình đều tin Chúa Cứu Thế.
Đến giữa kỳ lễ Lều tạm, Chúa Cứu Thế Giê-xu xuất hiện trong đền thờ và bắt đầu giảng dạy. Ngày chót trong kỳ lễ là ngày long trọng nhất, Chúa Cứu Thế Giê-xu đứng lên, lớn tiếng kêu-gọi: “Người nào khát hãy đến với tôi mà uống. Người nào tin tôi, các mạch nước hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng”. Nghe Chúa kêu gọi, trong dân chúng có nhiều người nhìn nhận Ngài là nhà tiên-tri. Có người quả quyết: ‘Đây là Chúa Cứu Thế!’ Nhưng một số người khác thắc mắc: “Chúa Cứu Thế sao quê quán ở Ga-li-lê? Dân chúng chia-rẽ nhau vì Chúa. Có mấy người định bắt Chúa nhưng không ai đụng đến Ngài được.”
Chương 9 tường thuật việc Chúa chữa lành cho người mù từ lúc sơ sinh. Qua phép-lạ đó, người mù tin Ngài là Chúa Cứu Thế. Chúa giảng giải cho các thầy Biệt lập về người chăn từ ái trong chương 10. Ngài nhấn mạnh: “Ta là người chăn từ ái. Người chăn từ ái sẵn lòng hy-sinh tính mạng vì đàn chiên”.
Chúa vượt sông Giô-đanh đến ngụ tại nơi Giăng làm báp-têm khi trước. Nhiều người đi theo Chúa và nhìn nhận: “Dù Giăng (Báp-tít) không làm phép-lạ, nhưng mọi điều Giăng nói về Ngài đều đúng cả. Tại đây có nhiều người tin Ngài là Chúa Cứu Thế.”
Ở làng Bê-tha-ni, nhiều người Do-thái đến thăm chị em Ma-ri, chứng-kiến phép-lạ Chúa kêu La-xa-rơ từ kẻ chết sống lại liền tin Ngài. Sứ-điệp chót của Chúa Cứu Thế Giê-xu cho dân Do-thái cũng là sứ-điệp về Phúc-Âm cứu-rỗi. Dù Chúa đã làm bao nhiêu phép-lạ trước mắt, dân Do-thái vẫn không tin Ngài. Tuy nhiên, có nhiều người trong giới lãnh đạo Do-thái tin Chúa Giê-xu không dám công nhận, vì sợ phái Biệt lập khai trừ.
Sách Công-Vụ Các Sứ-Đồ.
Sách này mở đầu với mạng-lịnh: “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền-năng làm-chứng cho ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, và khắp thế giới”. Biến-cố quan-trọng kế tiếp là Phi-e-rơ đứng ra giảng giải Phúc-Âm, có 3000 người tin Chúa. Tất cả các tín-hữu đều sống gần nhau và góp tài sản làm của chung. Hằng ngày nhóm họp tại Đền thờ, rồi về nhà bẻ bánh tưởng niệm Chúa. Mỗi ngày Chúa cứ tăng thêm số người được cứu.
Chương 3 thuật việc Phi-e-rơ và Giăng công-bố Phúc-Âm. Chương 5 cho biết có đông người tin Chúa vì thấy các sứ-đồ làm nhiều phép-lạ và việc kỳ diệu giữa nhân dân. Chương 6 kể lại việc Ê-tiên bị bắt, bị thảm sát vì công-bố Phúc-Âm. Lúc ấy Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem bị khủng bố dữ dội. Trừ các sứ-đồ, tất cả tín-hữu đều đi tản mác các nơi trong xứ Giu-đê và Sa-ma-ri, đi đâu cũng truyền-bá Phúc-Âm. Phi-líp đến thành Sa-ma-ri truyền-giảng về Chúa Cứu Thế và thực hiện nhiều phép-lạ. Các sứ-đồ tại Giê-ru-sa-lem nghe tin xứ Sa-ma-ri đã tiếp nhận Đạo Chúa, liền sai Phi-e-rơ và Giăng đến thăm. Tới nơi 2 ông cầu-nguyện cho tín-hữu Sa-ma-ri được nhận lãnh Thánh Linh. Sau khi làm-chứng và công-bố Lời Chúa. Phi-e-rơ và Giăng trở về Giê-ru-sa-lem. Trên đường về, họ truyền-bá Phúc-Âm tại nhiều làng mạc Sa-ma-ri.
Chương 9 cho biết Sau-lơ vẫn tiếp tục đe dọa giết hại các tín-đồ của Chúa. Sau khi khủng bố Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem, ông lên đường đi Đa-mách để lùng bắt những tín đồ trốn tránh ở đó. Dọc đường Chúa hiện ra cùng Sau-lơ và ông tin Chúa. Sau-lơ ở lại Đa-mách, kế đó đến Giê-ru-sa-lem nhân Danh Chúa truyền-giảng Phúc-Âm cách dạn dĩ. Ông tranh luận với nhóm người Do-thái theo văn hóa Hy-lạp, nên họ tìm cách giết ông. Anh em tín-hữu được tin ấy, liền đem ông xuống hải cảng Sê-sa-rê, rồi đưa đi Tạt-sơ. Mấy năm sau, Ba-na-ba đưa ông đến truyền-bá Phúc-Âm ở An-ti-ốt.
Chương 10 cho thấy Phúc-Âm lan truyền đến các dân ngoại. Cọt-nây là người ngoại bang đầu tiên tin Chúa. Phi-e-rơ tiếp nhận Cọt-nây vào Hội Thánh mà không đòi ông phải chịu cắt-bì. Qua đến chương 11 thì có rất đông người ngoại gia nhập Hội Thánh An-ti-ốt. Từ đó An-ti-ốt trở thành tổng hành dinh cho công cuộc truyền-giáo của Phao-lô.
Chương 12 và 13 ghi chép hành--trình truyền-giáo thứ nhất của Phao-lô. Ông đi qua xứ Ga-la-ti, ghé các thành An-ti- ốt, Y-cô-ni, Lít-trơ, Đẹt-bơ, rồi trở về An-ti-ốt.
Chương 15 đến 18 nói về hành-trình truyền-giáo thứ hai của Phao-lô. Ông đi qua xứ Hy-lạp, ghé các thành Phi-líp, Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê, A-thên, Cô-rinh-tô, rồi trở về Giê-ru-sa-lem và An-ti-ốt.
Chương 18 đến 20 ghi chép vòng truyền-giáo thứ ba của Phao-lô. Ông ghé thăm Ê-phê-sô và đi qua xứ Hy-lạp.
Các chương cuối của sách Công-vụ các sứ-đồ cho biết Phao-lô đi Giê-ru-sa-lem đem theo số tiền lớn. Tại Sê-sa-rê, ông là tù nhân trong dinh quan Thống Đốc. Tại La-mã, ông vẫn là tù nhân, Phao-lô công-bố Phúc-Âm rất nhiều năm. Trong thời gian ấy, ông dắt đem vô số người đến cùng Chúa Cứu Thế và thành lập Hội Thánh ở phần nhiều đô thị trọng yếu.
Kane cho rằng ý-niệm về chứng-đạo trong Tân-Ước bao gồm 2 khía-cạnh: phép-lạ và mệnh-lệnh. Ông viết: