1.-Các từ và thành ngữ diễn đạt về chứng-đạo trong Cựu-Ước.
2.-Ý-niệm về chứng-đạo trong Cựu-Ước.
CÁC TỪ VÀ THÀNH NGỮ DIỄN ĐẠT CHỨNG-ĐẠO.
Trong Cựu-Ước có nhiều từ và thành ngữ diễn đạt về chứng-đạo. Ở ÊxeEd 33:7-9 ta đọc được những lời này:
“Hỡi con người, ta đã lập ngươi đặng làm kẻ canh giữ cho nhà Y-sơ-ra-ên; nên hãy nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo trước cho chúng nó. Khi ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc chết! Nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình; nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Nếu trái lại, ngươi đã răn bảo kẻ dữ đặng xây bỏ đường lối xấu của nó mà nó không xây bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó, còn ngươi giải cứu mạng sống mình.”
Tiên-tri Ê-xê-chi-ên được dạy phải răn bảo kẻ dữ. Động từ “răn bảo” trong nguyên văn Hy-bá nghĩa là “dẫn đạo, khuyên răn, chỉ dẫn”. Từ liệu “răn bảo” bày-tỏ về việc chứng-đạo, đưa dẫn tội-nhân đến sự hối-cải qua sứ-điệp của Đức Chúa Trời.
Thành ngữ khác trong Cựu-Ước diễn đạt về chứng-đạo: “đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm-nhường” (ÊsIs 61:1). Nguyên văn là “mang tin tức”,