top of page

HungT
Jul 9, 2026
Tác-giả: Robert A. Traina
DẪN NHẬP.
A. Tại sao ta lại làm như thế? - Nhu-cầu và phương thuốc.
B. Nó là gì? - Định nghĩa việc Nghiên-cứu Kinh-Thánh theo đúng phương pháp.
C. Phía sau đó có gì? - Các tiền-đề căn-bản.
1. Kinh-Thánh xứng đáng được nghiên-cứu.
2. Vài yếu-tố đặc sắc của việc nghiên-cứu Kinh-Thánh đúng phương pháp.
a. Nghiên-cứu Kinh-Thánh theo phương pháp Quy nạp.
b. Nghiên-cứu Kinh-Thánh trực tiếp, độc lập.
c. Nghiên-cứu Kinh-Thánh về mặt văn chương.
d. Nghiên-cứu Kinh-Thánh về phương-diện tâm-lý.
e. Nghiên-cứu Kinh-Thánh nhằm mục-đích xây dựng.
f. Nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách toàn diện.
g. Nghiên-cứu Kinh-Thánh bằng tấm-lòng chân-thành.
h. Nghiên-cứu Kinh-Thánh để đồng hóa.
i. Nghiên-cứu Kinh-Thánh với thái-độ tôn-kính.
D. Tôi sẽ sử dụng nó như thế nào? - Một bảng liệt kê các gợi ý.
Các chú thích.
A. TẠI SAO TA LẠI LÀM NHƯ THẾ? - Nhu-cầu và phương thuốc.
Có một số điểm giống nhau gây kinh ngạc giữa một thám-tử tài ba và một nhà nghiên-cứu Kinh-Thánh có hiệu năng.
Một thám-tử giỏi phải có tài trong một số kỹ thuật, như biết phải tìm các đầu mối ở đâu và phải có những biện-pháp nào để tìm ra chúng.
Thí-dụ anh ta phải biết rõ tầm quan-trọng của những yếu-tố như dấu tay hay các xét-nghiệm về trọng lượng liên-hệ với việc truy tìm tội phạm. Rồi một khi đã tìm được chứng-cứ, anh ta phải có khả năng giải thích nó thật phải lẽ, phải biết kết hợp chúng lại với nhau hầu khám-phá ra cái khuôn mẫu theo đó mọi việc đã xảy ra, phải đánh giá nó và rút từ đó ra những kết luận có giá-trị.
Và tất cả công việc đó của nhà thám tử đều có hệ-thống. Anh ta theo đuổi trong phạm vi mình có thể làm được một tiến-trình có trật tự mà mình nhận thấy là phù hợp nhất để tìm ra thủ phạm. Bằng mọi cách, anh ta phải tránh chuyện ngẫu nhiên, tình cờ vì biết rằng chuyện cầu may không dẫn tới việc phát giác hữu hiệu được.
Thế nhưng có một sự thật là quá nhiều người nghiên-cứu Kinh-Thánh lại ti ếp cận nhiệm-vụ của họ theo cách mà một thám-tử tài ba chẳng bao giờ làm, nghĩa là bằng phương pháp cầu may, bằng cách mò mẫm được chăng hay chớ. Họ không có một kế-hoạch hành động có thứ tự, được suy đi tính lại, cân nhắc hết sức kỹ càng. Họ có khuynh hướng noi theo các ngẫu hứng thất thường có thể xảy ra rồi chỉ một khoảnh khắc sau đó, lại thay đổi ngay.
Nhược điểm này không phải chỉ có ở các tín-đồ thường, là nơi người ta có thể trông đợi sẽ gặp nó, mà cả nơi nhiều người từng được đào tạo đặc biệt trong lãnh-vực nghiên-cứu Kinh-Thánh nữa. Một trong những lý-do chủ yếu của sự-kiện này, là nhu-cầu về phương pháp thường không được nhận thấy, mà hậu quả là người sinh-viên không được chỉ dạy để biết phân-tích tiến-trình lý-giải, nhằm khai triển một phương pháp thấu đáo, hợp lý, theo từng bước một mà người ấy có thể dùng để giải nghĩa bất luận một khúc Kinh điển nào. Một trong những hậu quả của một sơ sót như thế là bị mất thì giờ, thiếu chính xác và nông cạn.
Những niềm tin vừa kể trên cùng với những niềm tin có liên-hệ khác nữa đã đưa tới phần chuẩn bị cho cuộc thảo-luận sắp được nêu ra đây, trong đó tác-giả trình-bày một bảng phân-tích chi-tiết tiến trình nghiên-cứu Kinh-Thánh từng làm cơ-sở cho nỗ lực cá-nhân nhằm khai triển một phương pháp tiếp cận các khúc Kinh-Thánh một cách có hệ-thống.
Tác-giả không hề có ảo tưởng rằng quyển sách này hàm chứa một phương thuốc trị bá bệnh, bảo-đảm chữa trị được cho mọi khuyết điểm, mọi thói xấu trong việc nghiên-cứu Kinh-Thánh.
Tác-giả cũng không dám mơ ước rằng những gì mình nhận thấy là có ích lợi trong tư tưởng và công tác riêng tư, cũng sẽ được độc-giả nhắm mắt áp dụng ngay, vì nói cho cùng, thì tinh thần làm việc theo đúng phương pháp là một vấn-đề cá nhân. Tuy nhiên, tác giả hy-vọng tập tài-liệu này có thể góp một phần nhỏ mọn nào đó để gợi ý cho độc-giả về quan-niệm nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp, có hệ-thống, đồng thời với việc ý thức được tầm quan-trọng của nó. Nếu được như thế, số thì giờ chúng tôi đã dành ra để soạn thảo quyển sách đã không phải là bị phung phí đi vậy.
B. NÓ LÀ GÌ? - Định nghĩa việc nghiên-cứu Kinh-Thánh theo đúng phương pháp.
Tuy mấy lời phát biểu trên đây đã nói lên được đôi điều về ý nghĩa c ủa việc nghiên-cứu Kinh-Thánh theo đúng phương pháp, chúng tôi xin định nghĩa rốt ráo hơn nữa để biết chắc là sự việc đã trở thành thật rõ ràng.
Muốn tìm hiểu thấu đáo ý nghĩa của từ ngữ “có phương pháp” - (methodical) chúng ta cần khảo-xét trước hết ý nghĩa của danh từ “phương pháp” - (method). Danh từ “phương pháp” được căn-cứ trên từ ngữ Hi-văn methodos, nghĩa đen là “một con đường, một nẻo đường để chuyển vận”. Theo nghĩa đó, xin lưu ý thật cẩn thật các định nghĩa sau đây cho chữ “phương pháp”.
Phương pháp có thể nói lên một phương thức hoặc trừu-tượng hoặc cụ thể, nhưng trong cả 2 trường hợp nó đều hàm ý là một sự sắp xếp có thứ tự, hợp lý và hữu hiệu, như các ý-niệm của một người nhằm đưa ra một phần trình-bày giải thích hay một luận cứ, hoặc các bước phải noi theo trong việc dạy bảo, một cuộc điều-tra nghiên-cứu... hay trong bất kỳ một loại hay một công việc nào (1).
Về cơ-bản, phương pháp chỉ là cách làm việc cần noi theo trong một trường hợp nhất định nào đó... Các bước chủ yếu cần phải noi theo... và những điểm tối quan-trọng trong đó các điều-kiện phát triển phải được cẩn thận duy trì và nuôi dưỡng (2). Vậy, nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp liên-hệ với nẻo đường thích hợp cần phải noi theo hầu đạt tới chân-lý của Kinh điển. Nói rõ hơn nữa, nó bao gồm việc phát giác ra những bước nào là cần thiết nhằm đạt được mục-tiêu của mình, và cách sắp xếp chúng sao cho thật hợp lý và kiến hiệu.
Để minh họa, ta có thể rút ra những điểm giống nhau giữa công tác nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp với việc làm bánh. Dưới đây là phương pháp làm loại bánh nướng vàng. Xin lưu ý những điểm giống nhau giữa nó với việc nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp theo 2 câu định nghĩa vừa được nêu ra ở phần trên.
1. Thoa dầu và bột vào một khuôn 8x8.
2. Rây vào trong tô trộn:
- 13/8 tách bột rây
- 2 muỗng trà bột nổi
- 1/2 muỗng trà muối
3. Thêm 1/3 tách shortening.
4. Đổ vào 2/3 tách sữa.
- 1 muỗng trà va-ni
5. Đánh lên 2 phút.
6. Thêm 1 quả trứng to.
7. Đánh lên thêm 2 phút.
8. Đổ tất cả vào khuôn đã chuẩn bị sẵn và nướng 30 phút ở nhiệt độ 350độ.
Chắc bạn đã nhận thấy thế nào phương pháp làm bánh chỉ cho người ta phải noi theo một số các bước, như sử dụng những thành phần chất liệu nào, hòa trộn chúng, và đặt khuôn bột bánh vào lò ở một nhiệt độ nào đó và bao lâu. Nếu muốn làm được loại bánh đặc biệt đó, người ta phải theo đúng các bước thiết yếu ấy. Tuy nhiên, không phải chỉ có những bước đặc-thù ấy là cần thiết mà thôi, nhưng điều cũng vô cùng quan-trọng là phải thực hiện theo đúng thứ tự đã được gợi ý. Vì nếu các thứ tự đều bị đảo ngược trong việc pha trộn bột bánh trước khi nó được đem nướng, thì hậu quả sẽ vô cùng tai hại.
Cũng vậy, nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp bao gồm 2 yếu-tố cần thiết: thứ nhất, một số các bước phải noi theo (nội dung), và thứ hai, một cách sắp xếp nào đó (thứ tự). Không thể bỏ đi một yếu-tố nào trong số đó, nếu ta muốn cho việc tiếp cận của mình là đúng phương pháp. Do đó, câu hỏi mà chúng ta phải tự đặt ra cho mình gồm 2 phương-diện: “Đâu là các bước cần phải noi theo, và theo trật tự hay cách sắp xếp nào, chúng ta sẽ đạt được mục-tiêu là nghiên-cứu Kinh-Thánh cho có kết quả?” (3)
C. PHÍA SAU ĐÓ CÓ GÌ? - Các tiền-đề căn-bản.
Ẩn bên dưới việc nghiên-cứu Kinh-Thánh đúng phương pháp là một số các định-đề (postulates). Người ta sẽ không tìm cách chứng-minh các định-đề này một cách dứt khoát, vì cả khi có thể làm được công việc ấy, thì chỉ riêng cái công việc ấy mà thôi cũng phải viết ra cả một quyển sách hoặc nhiều quyển sách rồi. Mục-đích chủ yếu ở đây là chỉ nêu chúng ra càng rõ ràng, ngắn gọn được chừng nào càng tốt chừng nấy (4).
1. Kinh-Thánh đáng được học hỏi nghiên-cứu.
2. Việc nghiên-cứu Kinh điển đúng phương pháp đòi hỏi một số các yếu-tố.
Các yếu-tố này sẽ được thảo luận như là những đặc điểm của việc nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp.
a. Nghiên-cứu Kinh-Thánh theo phương pháp Quy nạp.
Có một điều kiện cho việc tiếp cận một cách có phương pháp, ấy là về bản-tính, nó phải phù hợp với đối tượng, với mục-tiêu nhằm vào, vì đó chính là phương-tiện để đạt mục-tiêu.
Thí-dụ phương pháp đúng để ném quả bóng dã cầu - ngoài nhiều cử động khác ra - là phải cầm quả bóng thật chắc đưa cánh tay ra phía sau rồi ném quả bóng về phía trước bằng cách vung cánh tay lên thật mạnh. Điều này nhất thiết phải được làm cho đúng, vì nó chính là tính-chất của việc ném một quả bóng dã cầu. Vậy, muốn cho một phương pháp tiếp cận Kinh điển nào đó có giá-trị, nó phải có bản-chất giống như bản-chất của chính Kinh điển.
Kinh điển, vốn phân biệt với người giải kinh, và không phải là một thành phần chính thức của người ấy. Nếu các chân-lý của Kinh-Thánh đã nắm sẵn trong người ta rồi, thì chẳng cần gì phải có Kinh-Thánh và bộ sách ấy sẽ là dư thừa. Nhưng sự-kiện là Kinh-Thánh là một bộ-phận văn học khách quan, sở dĩ có là vì con người cần phải biết một số chân-lý mà con người không thể tự biết được, và phải đến với nó từ bên ngoài. Hệ-quả là, nếu phải khám-phá cho ra các chân-lý nằm trong bộ-phận văn học khách quan kia, con người phải sử dụng một phương pháp tiếp cận phù hợp với nó về bản-tính, nghĩa là một phương pháp tiếp cận khách quan.
Có 2 cách tiếp cận chính được mở ra cho người nghiên-cứu Kinh-Thánh.
-Một là diễn dịch pháp (deduction), bắt đ ầu bằng việc tổng quát hóa rồi truyền sức hậu thuẫn của mình cho những trường hợp riêng biệt. Tự bản-tính của nó, diễn dịch pháp có khuynh hướng chủ quan và có định-kiến. Nó tạo ra những người nắm quyền độc tài đối với Kinh điển chớ không phải là những người biết lắng nghe Kinh điển. Do đặc-tính khách quan của văn chương trong Kinh điển, một phương pháp tiếp cận như thế là không phù hợp với Kinh-Thánh, và do đó, là không đúng phương pháp.
-Mặt khác, phương pháp đối lập với nó, quy nạp pháp (induction) thì khách quan và vô tư, vì nó chỉ đòi hỏi ta trước hết là khảo-xét các điểm riêng biệt của Kinh điển, rồi các kết luận của ta đều được căn-cứ trên các điểm cá biệt đó. Một phương pháp như thế là đứng đắn vì vốn có tính-cách khách quan, phù hợp với bản-tính khách quan của Kinh điển. Nó tạo ra những con người chịu lắng nghe chớ không phải là những người chỉ biết nói ra mà thôi, và bản-tính của Kinh điển đòi hỏi những con người biết lắng nghe. Vậy, nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp, là nghiên-cứu theo quy nạp pháp, vì trong trường hợp này, theo quy nạp pháp là đúng phương pháp.
Trong phương trình phương pháp thích hợp và quy nạp pháp này, phải có 2 phẩm-cách (qualifications = phẩm-tính, phẩm-chất, đặc-tính).
-Một là chẳng hề có quy nạp pháp nào là thuần túy cả.
Khi ta nói về một cách tiếp cận bằng quy nạp pháp, thì điều đó chỉ có nghĩa là nó tương đối theo quy nạp pháp mà thôi. Cùng một nguyên-tắc ấy cũng áp-dụng cho diễn dịch pháp nữa.
-Điểm thứ hai là hệ-quả của điểm trước.
Vì chẳng hề có quy nạp pháp thuần tuý, nên cũng không có khách quan tính tuyệt đối. Gamaliel Dradford từng nhận-xét thật sáng suốt rằng: “Chỉ có những người tưởng rằng họ vô tư, và những người biết rằng họ không vô tư mà thôi”.
Tuy nhiên, một phương pháp nhấn mạnh trên quy nạp pháp đến mức tối đa, sẽ dễ tạo ra những nhà giải kinh vô tư và chính xác hơn bất kỳ một phương pháp tiếp cận nào khác.
b. Nghiên-cứu Kinh-Thánh trực tiếp, độc lập.
Hãy tạm cho rằng quy nạp pháp là cách tiếp cận Kinh điển một cách có phương pháp, vấn đề từ đó nảy sinh sẽ là đâu là các phương tiện nhằm khám-phá ra các sự kiện cá biệt để ta có thể dùng làm cơ-sở cho các kết luận của mình.
Dường như điều hợp lý để cho rằng phương pháp hay nhất để bảo-đảm cho việc khám-phá ra các điểm cá biệt, là nghiên-cứu một cách trực tiếp và độc lập chính các điểm cá biệt ấy. Như thế, chính bộ Kinh-Thánh chớ không phải là những quyển sách viết về Kinh-Thánh, mới là bộ sách giáo khoa căn-bản cho người nghiên-cứu Kinh-Thánh.
Việc nhấn mạnh như thế vào quyền ưu tiên của việc nhận xét trực tiếp giúp nhà giải kinh trở thành quen biết với tinh-thần của các trước-giả viết Kinh điển (5), khiến ông ta có thể có được cách suy tư độc sáng (orginal) và cung cấp cho ông ta một cơ-sở để phán đoán giá trị của nhiều nguồn tài-liệu rất khác nhau và thường thường lại trái ngược, xung đột nhau.
Việc nhấn mạnh trên quyền ưu tiên của phương pháp nghiên cứu trực tiếp này không hề hàm ý rằng không nên khảo-cứu thật kỹ các bộ sách chú giải. Trái lại, khi được thực hiện đúng cách, nó vốn được thừa nhận là một bước tiến cần thiết trong cách tiếp cận một cách có phương pháp. Spurgeon đã vạch ra rất đúng rằng: “có hai sai lầm trái ngược nhau bám sát người nghiên-cứu Kinh điển: khuynh hướng chỉ lợi dụng các tài-liệu hoặc ý kiến của những người khác, và không chịu lợi dụng bất cứ một điều gì của người khác cả” (6).
Vì Kinh-Thánh vốn có nhiều hình thức, nhiều phương-diện, cho nên cần phải quyết định xem nên lợi dụng phương-diện, hình thức nào. Việc lựa chọn tùy thuộc các đòi hỏi của cá-nhân nhà giải kinh; vì nếu chính ông ta phải tìm kiếm các điểm cá biệt, thì ông ta phải có trong tay một công cụ để sử dụng.
Cho nên trong phần lớn các trường hợp, một quyển Kinh-Thánh bằng tiếng mẹ đẻ là thích hợp nhất cho giai đoạn đầu tiên của việc nghiên-cứu theo quy nạp pháp. Điều này sở dĩ đúng, vì người học hỏi nghiên-cứu trung bình thường không đủ chuyên môn trong các nguyên văn để có thể sử dụng chúng thật thông thạo.
Và vì các bản dịch vốn là công tác của các nhà chuyên-môn thuộc lãnh vực ấy, nên chắc chắn là phần đông những người học hỏi nghiên-cứu Kinh điển sẽ không có khả năng để cải thiện chúng hay ít ra cũng chẳng cải thi ện được nhiều lắm. Hơn nữa, con người ta vẫn suy nghĩ bằng tiếng mẹ đẻ của mình, do đó, cũng sẽ học hỏi được dễ dàng hơn khi sử dụng loại ngôn ngữ thông dụng. Cũng còn sự-kiện là tiếng mẹ đẻ giúp người ta nhìn thấy các mối liên-hệ rộng rãi hơn, điều rõ ràng là không thể nào có được khi sử dụng các nguyên văn.
Vì các lý-do vừa kể và nhiều lý-do khác nữa, phần thảo luận đưa ra tiếp theo đây sẽ đặt trên cơ-sở là niềm tin rằng bước đầu tiên để tiếp cận Kinh điển một cách có phương pháp phải là việc nghiên-cứu trực tiếp và độc lập bằng ngôn ngữ thông dụng. Điều này không hề hàm ý việc phủ nhận sự hỗ trợ vô giá mà việc sử dụng nguyên văn có thể cung cấp cho. Mặt khác, người ta nhận thấy rằng việc sử dụng trực tiếp và độc lập ngôn ngữ thông dụng thường khiến mình quan tâm tìm hiểu nguyên văn (7)
c. Nghiên-cứu Kinh-Thánh về phương-diện văn chương.
Nghiên-cứu văn chương trong Kinh-Thánh cho thấy Kinh điển bao hàm một nền văn học lỗi lạc và do đó, cũng được cai-trị bởi các định luật vẫn cầm quyền kiểm soát tất cả các nền văn học lớn. Các sự-kiện này là quyết lệnh dạy người học hỏi nghiên-cứu Kinh điển phải kết thân và chịu sự hướng dẫn của các quy luật của văn học. V.Ferm vạch rõ:
Kinh-Thánh nói chung là văn học cao cấp và việc nghiên-cứu tính-cách cao siêu vĩ đại trong các quyển sách, nghiên-cứu về bản-tính của thiên tài về thi ca và các quá trình sáng tạo ra nó, ít ra cũng cần thiết cho việc thật sự thông suốt sách ấy ngang hàng với việc đào tạo nhà phê bình lịch-sử (8).
Thiết tưởng cần lưu ý rằng tiền-đề này vốn được đặt trên cơ sở là niềm tin quyết tuy Kinh điển có nội dung và một bức thông điệp độc nhất vô nhị, bộ sách ấy vốn cũng giống như các sách văn học khác về hình thức, vì nó cũng gồm có phần giao lưu ngôn ngữ bằng chữ viết. Nếu điều đó là đúng, thì phần hình thức của văn chương cũng thực hiện các chức năng đối với các tư tưởng, các ý-niệm của Kinh-Thánh, y như nó vẫn thực hiện đối với các ý niệm, các tư tưởng không phải là Kinh-Thánh, nghĩa là nó là một phương tiện truyền thông, giao lưu mà hệ-quả thì nó cũng chính là một phương-tiện để lý giải nữa. Do đó, việc một người cần phải quan-tâm đến các phẩm chất văn chương của Kinh điển nếu muốn tiếp cận bộ sách ấy một cách có phương pháp, là rất cần thiết vậy.
d. Nghiên-cứu Kinh-Thánh về phương diện tâm-lý.
Kinh-Thánh không phải là một văn bản trừu tượng về tôn-giáo, cũng không phải là một bộ lịch sách ghi ra các sự-kiện và tín-ngưỡng tôn-giáo. Về bản-tính, nó có tính cách tâm-lý. Do đó, phương pháp tiếp cận của nhà giải kinh phải luôn luôn lưu ý đến phương-diện thực nghiệm của Kinh điển.
V.Ferm đã viết đoạn sau đây trước câu phát biểu đã được trích dẫn ở phần trên:
Phần lớn Kinh-Thánh, cả Cựu lẫn Tân-Ước đều có đặc-tính của thi-ca, và phần lớn những gì không hoàn toàn có hình thức thi-ca cũng đều được linh-cảm (inspired = cảm hứng) do cảm xúc sâu sắc và có phẩm chất vĩ đại của văn chương. Tôi nhận thấy mình đã được tưởng thưởng xứng đáng khi tiếp cận Kinh-Thánh với niềm tin quyết rằng đó là một loại văn học vĩ đại, rằng người ta phải hưởng thụ thưởng thức, chớ không phải chỉ tìm hiểu nó mà thôi, hay nói cho đúng hơn là người ta sẽ không thể nào thật sự hiểu được nó nếu không thêm vào đó sự hiểu biết về nhiều sự-kiện từ bên ngoài, có thể giúp chúng ta nhìn thấy từng quyển sách một tại vị trí nguyên thủy với chủ-đích trực tiếp của nó (thêm vào đó) một cái nhìn thông-tuệ đầy ưu ái vào tâm-hồn của trước-giả, một sự thông-cảm có ít kiến-thức về các sự việc sự vật hơn là sự hiểu biết của một con người về những con người (9).
e. Nghiên-cứu Kinh-Thánh nhằm mục-đích xây dựng.
Có người đã nhận xét rất đúng rằng: “Hiện nay là thời mà những chiều kích vô hạn trong Thánh điển đã vượt khỏi tầm nhìn của chúng ta, trong khi đôi mắt mang kính của chúng ta lại chăm chú vào các tiểu tiết”.
Vì có sự hiện diện của khuynh hướng này và các nguy cơ gắn liền với nó, những người nghiên-cứu Kinh-Thánh chúng ta đã được lệnh nghiêm ngặt là phải tập trung chú ý vào những gì tích cực, rõ rệt và hiển nhiên là có tích-cách căn-b ản. Công tác giải kinh tất nhiên là có nhiều vấn-đề, nhưng chúng ta không cần và không nên để cho nó chiếm mất phần lớn thì giờ của chúng ta. Vì như có người đã nhận định, điều khiến chúng ta bận tâm không phải là những thành phần trong Kinh-Thánh mà chúng ta không hiểu, nhưng là những thành phần mà chúng ta hiểu được.
f. Nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách toàn diện.
Về mặt lý tưởng mà nói, nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp phải là làm công tác nghiên-cứu theo 2 phương diện, một là bằng mọi phương tiện, nghĩa là bằng bất cứ cách nào hữu ích mà chúng ta có thể sử dụng để nghiên-cứu chân-lý của Kinh điển, và hai là về phạm vi, tầm hạn - nghĩa là phải nắm vững toàn bộ Kinh điển, thấu triệt chủ đích của từng quyển sách một của toàn bộ Kinh điển (10).
g. Nghiên-cứu Kinh-Thánh bằng tấm-lòng chân-thành.
Đặc điểm này đã được đề-cập trong phần thảo luận về quy nạp pháp, nhưng nó rất quan-trọng đến độ chúng ta có thể nhắc lại. Khi tiếp cận Kinh điển, người ta “không nên thêm bất cứ điều gì vào đó, mà trái lại, phải rút mọi điều từ đó ra, và không chịu để cho bất cứ điều gì thật sự có trong đó còn bị giấu kín” (11).
Trong tác phẩm Giới thiệu Shakespeare, Hardin Craig nhận xét:
“Dường như chỉ có một phương pháp làm việc duy nhất là do lòng chân-thành mà thôi. Tôi đã phải phát quang môi trường khi cần phải khai quang, và tôi đã làm việc đó với đức-tin rằng nếu chúng ta chỉ cần nhờ vào phương-tiện ấy đề nghe được tiếng nói của Shakespeare mà thôi, thì sẽ chẳng còn gì nhiều hơn, xa hơn để bận tâm nữa.
Là những người học hỏi nghiên-cứu Kinh-Thánh cũng thế, chúng ta phải tiếp cận Kinh đển với mục-đích để cho chính Kinh điển phán dạy và với đức-tin rằng nếu chúng ta chỉ có thể nghe được tiếng phán của Kinh điển mà thôi, thì chúng ta chẳng còn cần phải bận tâm gì hơn nữa. L.Gilman từng nói về Toscanini”
Toscanini đã vô tình nhắc nhở chúng ta rằng chỉ có những nghệ sĩ đó mới chạm tới được những nguồn suối sâu xa nhất để tự biểu hiện tâm-trí đơn sơ thuần phác, ý thức thuần khiết và lòng thành thật không vấy chút băng hoại nào của họ (12).
Chỉ có những người chứng tỏ được mình có các đức tính ấy mới nhận thức được các chức năng đích thực của mình với tư cách những người nghiên-cứu Lời Chúa.
h. Nghiên-cứu Kinh-Thánh để đồng hóa.
Chủ đích trực tiếp của việc nghiên-cứu Kinh-Thánh liên-hệ với những người tham gia, là để chính họ lặp lại từng-trải đã xảy ra trước nhất trong Kinh điển. Nhà học-giả Trung hoa từng viết: “Tôi hiện đang đọc Kinh-Thánh và đang theo đó để ăn ở ứng xử” vốn đã lãnh-hội đư ợc tầm quan-trọng của nguyên-tắc căn-bản này. Điều thiết yếu là chân-lý khám-phá được trong Kinh-Thánh phải được đưa vào, phải được thể hiện trong đời sống. Điều này rất đúng vì nhiều lý-do, mà chúng tôi chỉ xin ghi ra đây 2 trong số đó mà thôi:
-Thứ nhất, việc thâu hóa chân-lý Kinh điển là điều khiến cho việc nghiên-cứu học hỏi Kinh-Thánh xứng đáng với công sức đã bỏ ra. Trong quyển sách nhan-đề Vấn-đề đọc sách của mình, Holbrook Jackson viết:
Tác động đầu tiên của việc đọc sách là thức tỉnh, chớ không phải là thông tin... Nếu không bằng một cách thế nào đó hay vào một lúc nào đó, những chữ, những câu hay các quyển sách của chúng ta không nổ tung ra như vậy một cách có lợi và sáng tạo, không những chỉ tiết lộ cho chúng ta về cuộc đời mà còn chỉ cho chúng ta cách thức phải sống nữa, thì việc đọc sách chỉ là phung phí thì giờ mà thôi.
Một lời phát biểu như thế đặc biệt nghiệm đúng cho việc nghiên-cứu học hỏi Kinh-Thánh.
-Thứ hai, việc tiếp thu chân-lý Kinh điển dẫn tới việc tăng thêm cái nhìn thông-tuệ (insight) trong khi nếu không đạt được điều đó sẽ đưa đến các hậu quả là bị suy nhược thuộc-linh. Chúa Giê-xu từng làm sáng tỏ vấn-đề này khi nói về các ẩn-dụ của Ngài:
“Ai có tai, nên lắng nghe! Phải để ý đến những lời các con nghe. Các con lường cho người ta mức nào, người ta sẽ lường lại cho các con mức đó, mà còn gắt gao hơn nữa. Vì ai có sẽ được cho thêm, nhưng ai không có, dù còn gì cũng bị mất luôn.” (MacMc 4:23-25).
i. Nghiên-cứu Kinh-Thánh với thái-độ tôn-kính .
Thái-độ kính cẩn cần thiết vì 2 lý-do chính yếu:
-Thứ nhất, nó khiến người ta có thể tiếp thu, mà tiếp thu rất thiết yếu để thông hiểu chân-lý thuộc-linh. Chính Chúa Giê-xu từng dạy về sự-kiện này trong ẩn-dụ các loại đất (MacMc 4:1-20). Horace Bushnell cũng có lần nhận định:
Tôi có từng-trải là Kinh-Thánh cứng khô khi nào tôi cứng khô. Khi tôi thật sự sinh động và đọc văn bản bằng ái lực sống động của một cơn thủy triều đang lên và đang gây áp lực, thì nó được mở rộng, nhân bội những gì có thể được khám-phá ra, và tiết-lộ những chiều sâu còn nhanh hơn cả khả năng ghi chép lại của tôi nữa.
Cảm thấy Kinh-Thánh khô hạn, cứng rắn là do thái-độ bất thích hợp đối với Kinh điển và chỉ có thể thắng vượt bằng cách làm phát triển lòng tôn-kính thật sự đối với Lời Cúa.
-Thứ hai, nó bao hàm một thái-độ vừa cầu-nguyện vừa chịu lệ thuộc vào Thánh Linh của Thượng-Đế, vì nếu không có Ngài, chúng ta sẽ không tài nào hiểu nổi Lời Thượng-Đế; vì Ngài chính là Đấng đã linh-cảm Lời Chúa mà cũng là nhà giải kinh tối thượng nữa. Bushnell có thêm vào lời phát biểu đã được trích dẫn ở phần trên “Tinh thần của thế-gian này đóng chặt Kinh-Thánh lại; Thánh Linh của Thượng-Đế biến nó thành một ngọn lửa bừng cháy, làm bộc-lộ các chân-lý có đầy đủ ý nghĩa và quang-vinh” (13).
D. TÔI SẼ SỬ DỤNG NÓ NHƯ THẾ NÀO? - Một bảng liệt-kê các gợi ý.
Vì phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh, có một nỗ lực tại điểm ráp nối này nhằm báo trước một số vấn-đề vẫn thường nảy sinh và nhằm giúp quý độc-giả chuẩn bị để hiểu rõ và sử dụng phần tài-liệu sắp được đưa ra. Việc này sẽ được thực hiện dưới hình thức một bảng liệt-kê các gợi ý khác nhau.
1. Hãy cố nhìn toàn diện vào tiến-trình nghiên-cứu một cách có phương pháp trước khi thử áp dụng một thành phần nào trong đó.
Một cái nhìn như thế rất cần thiết vì tính cách liên-hệ hỗ tương giữa các bước khác nhau cần phải noi theo. Chúng vốn lệ-thuộc lẫn nhau đến mức người ta sẽ không thể hiểu được chức năng của bất cứ một thành phần nào trong đó, nếu không biết mối liên-hệ giữa nó với thành phần đi trước và theo sau nó. Hệ-quả là, độc-giả được khuyến cáo hãy nghiên-cứu toàn thể quyển sách chỉ nam này trước khi thử sử dụng những điều gợi ý trong đó, hoặc thậm chí là trước khi muốn nghiêm túc cố gắng tìm hiểu trọn vẹn một thành phần nào trong đó. Hơn nữa nên lợi dụng các mục lục trước nhiều đoạn sách để ghi nhận cẩn thận nội dung và cách tổ chức của chúng. Theo các phương pháp ấy, quý độc-giả sẽ thấy đựơc các mối liên-hệ hỗ tương giữa các bước, để nhờ đó sẽ sẵn sàng ứng dụng từng bước một cho chính mình một cách thông minh hơn.
2. Nên sử dụng các bài tập đã cho hoặc các bài tập tương đương khi bạn sẵn sàng ứng-dụng phần tài-liệu ấy.
Việc đưa các bài tập vào đây nhằm gợi ý là có một số điểm giống nhau giữa việc khai triển một phương pháp tiếp cận các khúc Kinh-Thánh theo đúng phương pháp, với việc làm phát triển phần thân thể được khỏe mạnh. Cả hai đều được thực hiện trước hết là nhờ có thực tập, và cả hai đều từ từ, tiệm tiến mà hệ-quả là đòi hỏi phải kiên trì nhẫn nhục. Cho nên, như một thân thể khỏe mạnh không thể thực hiện được chỉ bằng cách đọc một công trình thảo luận về chủ đề ấy hay chỉ học một vài bài dễ, xin đừng trông mong rằng chỉ cần liếc sơ qua quyển sách này là người ta sẽ có được ngay tinh thần nghiên-cứu theo đúng phương pháp.
Nếu phần thảo luận này được chứng-minh là thật sự có giá-trị, ấy là vì nó chỉ ra một số biện pháp hành động mà quý độc-giả có thể noi theo, và nhờ noi theo đó mà tự dạy mình trở thành người biết nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có hệ-thống. Một tiến trình như thế sẽ cần rất nhiều năm, nếu không nói là cả một cuộc đời. Vì chẳng hề có một phương pháp nghiên-cứu Kinh-Thánh nào để chúng ta có thể tùy tiện đi tắt, cũng như không hề có lối đi tắt nào để có được sức lực thuộc thể cả. Tuy nhiên, tuy sự tăng-trưởng của một người không thể nào xảy ra nhanh chóng được, nếu người ta biết áp dụng các gợi ý sắp được đưa ra sau đây và thật sự dấn thân vào môn thể dục thẩm mỹ tinh thần và thuộc-linh đã được đề ra, thì người ta có thể được bảo-đảm rằng dưới quyền cai-trị của Thượng-Đế, các nỗ lực của mình sẽ đạt được kết quả ngày càng tăng.
3. Hãy nhìn vào các thí-dụ minh họa trong quyển Kinh-Thánh của bạn (14) và nghiêm chỉnh cố gắng khám-phá trong đó những ý niệm soi sáng liên-hệ được tìm thấy. Thật vậy, việc làm ấy sẽ giúp bạn tìm ra những thí-dụ minh họa cho chính bạn tại rất nhiều điểm.
4. Trong phần đầu tiên có hơi rắc rối của quyển sách chỉ nam này, xin chớ quá bận tâm đến việc tìm đọc các chú thích vốn được đặt vào phần cuối của nhiều đoạn sách. Lý-do của gợi ý này là nhằm tránh việc phải thường xuyên làm gián đoạn giòng tư tưởng của độc giả khi quý vị muốn có được một cái nhìn bao quát toàn diện. Các chú thích sẽ được chứng minh là hữu ích ở những lần đọc lại quyển sách chỉ nam này về sau, lúc quý độc-giả đang ở trong tiến trình áp-dụng các gợi ý của nó.
Các chủ-đích của phần chú thích gồm 3 phương-diện: thứ nhất để chỉ ra các sách tham khảo; thứ hai để cung-cấp tài-liệu giải thích mà kinh-nghiệm đã chứng-minh là hữu ích, nhưng sẽ làm gián đoạn diễn tiến và cơ cấu tổ chức của vấn-đề chủ yếu đang được thảo luận; và thứ ba, để dùng như một hệ-thống tham khảo những phần khác nhau trong cùng quyển sách này.
Chức năng của phương-diện sau cùng này được xem là thiết yếu vì nhiều lý-do. Một là làm như thế thì các chú thích sẽ thay thế được phần nào cho bản mục lục, vốn không có trong quyển sách này. Hơn nữa, chúng đư ợc dùng làm phương tiện liên kết nhiều phần khác nhau trong quyển chỉ nam này, do đó, giúp quý độc-giả thấy được tính cách trung thực, đứng đắn của việc nghiên-cứu một cách có phương pháp; và chúng cũng góp phần làm sáng tỏ cuộc thảo luận, vì những phần khác nhau của quyển chỉ nam này sẽ giúp soi sáng lẫn cho nhau.
5. Sử dụng ít nhất vài gợi ý về các sách tham khảo. Điều này sở dĩ cần thiết vì phần trình bày tiếp theo đây không hề khai thác rốt ráo, vắt kiệt được lãnh-vực nghiên-cứu Kinh-Thánh hết sức bao la, rộng rãi. Thật vậy, chúng tôi không có đủ cả đến khoảng trống cần thiết để chứng-minh cho rốt ráo việc nghiên-cứu một cách có phương pháp liên-hệ với một khúc sách nhất định nào đó được đưa ra, vốn chắc chắn là sẽ có rất nhiều lợi ích. Phần thảo luận nhất thiết phải theo đúng phần hình thức và bố cục hướng dẫn, phải được sử dụng trong mối liên-hệ cộng tác với nhiều quyển sách khác trong cùng một lãnh vực. Một số sách ấy sẽ được chỉ ra trong tiến-trình thảo-luận và một số khác nữa trong thư mục tham khảo.
6. Hãy tự trắc-nghiệm lấy những câu phát biểu được đưa ra. Chính vì chúng là những câu kết luận của công trình nghiên cứu theo quy nạp pháp của tác-giả, hay ít ra là vì tác-giả hy-vọng như vậy, và chính vì chúng là niềm tin quyết không chuyển lay của tác giả, cho nên quý độc-giả không vì thế mà được trông đợi phải chấp nhận chúng không chút thắc mắc.
Trái lại, quý độc-giả được khuyến giục phải tự mình thực hiện lấy việc nghiên-cứu theo quy nạp pháp cho riêng mình. Và nếu khi làm như vậy, quý độc-giả đi đến những câu kết luận mâu thuẫn với các câu kết luận của sách này, thì quý vị không những chỉ có đặc quyền, mà còn bị bắt buộc phải tin vào điều chính mình đã tìm ra.
Các sự-kiện này phải được ghi khắc vào tâm trí xuyên suốt cuộc thảo-luận, thậm chí liên-hệ cả với những câu phát biểu có vẻ như độc đoán nữa. Vì quý độc-giả sẽ gặp những cơ-hội có những cảm tưởng như thế, mà lý-do chính là vì trong phạm vi hạn hẹp của một quyển sách, không ai có thể vạch ra được tất cả những điểm cá biệt mà người ta đã căn cứ vào đó để thực hiện việc tổng quát hóa.
7. Thực hành sẽ đánh tan việc chỉ phán đoán, phê bình suông. Bạn được khuyến cáo không nên chấp nhận hoặc phủ nhận những câu phát biểu ngay sau khi đọc chúng. Nhiều khi bày tỏ ý kiến sẽ có tác dụng. Chẳng hạn nếu bạn không thấy chủ đích của một số gợi ý, và nếu chúng có vẻ như dư thừa hay thậm chí là lố bịch nữa, hãy dành một ít chỗ cho việc rất có thể rằng chúng vốn có một chức năng cần thiết nào đó, và rằng nếu được phú mặc cho thời gian, chức năng ấy sẽ trở thành tỏ rõ. Cũng phải có những lý-do đặc thù để chấp nhận hay phủ nhận một số ý niệm. Và thậm chí sau khi bạn đã có được các kết luận rồi, bạn cũng phải sẵn sàng thay đổi đi, nếu và khi có những dữ kiện mới mẻ khác xuất hiện khiến cho việc thay đổi như thế trở nên cần thiết. Những gợi ý này được nghiệm đúng với cách tiếp cận bằng quy nạo pháp.
8. Nên nhớ là quyển sách này cố gắng giới thiệu một quan điểm giải kinh toàn diện và trước nhất nhằm dành cho những người đang được đào tạo để phục-vụ chuyên nghiệp trong Cơ-đốc giáo. Nói như thế không có nghĩa là trong đó không có những đoạn được rút ngắn, được viết vắn tắt. Chẳng hạn một tín-đồ thường trung bình cần phải có một bản sách đơn giản hơn nếu muốn tự nghiên-cứu, học hỏi Kinh-Thánh lấy một mình. Nhưng điều tối quan-trọng là phải biết rằng người ta không thể bắt đầu bằng những đoạn sách rút ngắn; vì người ta không thể tóm tắt được điều gì chưa có, chưa hiện hữu. Hay nói cách khác, một ý-niệm đã có hoặc ít hoặc nhiều trong tư tưởng là điều-kiện tiên quyết, cho việc rút ngắn, viết tóm tắt có giá trị.
9. Nên nhớ rằng sự-kiện lặp đi lặp lại đã được sử dụng có chủ-đích trong quyển sách này, như một ý đồ sư phạm cần thiết và nhằm bảo-đảm cho việc nó phải được trình-bày thật rốt ráo. Tác-giả đã cố gắng tự quan niệm mình là người hướng dẫn riêng cho từng độc giả một đang đọc tập tài-liệu này. Do đó, mối quan tâm đầu tiên của tác-giả không phải là sử dụng càng ít lời càng hay nhằm mô tả việc nghiên-cứu một cách có phương pháp, mà trái lại, là phải suy tư theo những điều kiện nào có thể đưa tới việc truyền thông cho có kết quả. Và nhắc đi nhắc lại là một trong những phương tiện kiến hiệu nhất để chia-sẻ, phân phối các ý niệm (16).
10. Xin đừng chán nản ngã lòng bởi cách sử dụng danh từ và phần tổ chức có vẻ phức tạp trong tập tài-liệu này. Bạn sẽ nhận ra rằng nhiều danh từ được dùng đều giản dị tuy có vẻ rắc rối, mắc mỏ. Bạn cũng sẽ khám-phá ra rằng nhiều chữ trong số đó đều đã được định nghĩa trong tiến trình thảo-luận; bộ tự điển của bạn sẽ giúp bạn với các danh từ khác. Bạn sẽ từng trải được ý thức là mình đã thành công trong một việc gì đó khi phát triển được khả năng biết sử dụng nhiều danh từ khác nhau.
Còn về phần tổ chức, điều thoạt nhìn có vẻ rắc rối, phức tạp, thì rốt cuộc sẽ trở thành rõ ràng dễ hiểu. Vì điều có vẻ như phức tạp chẳng những là do nỗ lực muốn giới thiệu một phương pháp giải kinh rốt ráo, mà còn do ước muốn báo trước các vấn-đề không thể tránh né vào đâu được liên-hệ với ý-niệm này hay cách làm nọ trong việc nghiên-cứu Kinh-Thánh bằng quy nạp pháp.
Cho nên quý độc-giả được yêu cầu là không nên chán nản, thất vọng, mà trái lại, hãy tự tạo cho mình niềm tin quyết rằng bầu trời đầy mây hôm nay sẽ trong sáng ngày mai. Vì chủ đích của cuộc thảo-luận này không phải là ngay lần đọc đầu tiên mọi sự đều sẽ trong sáng như pha lê cả, nhưng là một điều gì đó được đưa đến cho quý độc-giả sẽ cứ ngày càng rõ ràng hơn khi chúng ta đem ra áp dụng, và nhờ đó, chúng ta sẽ có thể tăng trưởng trong phần còn lại của đời sống mình. Một sách nghiên-cứu Kinh-Thánh cấp tốc có thể sẽ rõ ràng hơn trong hiện tại gần, nhưng người ta sẽ có nihều nghi ngờ nghiêm trọng về phẩm chất lâu dài của nó. Giá trị của cuộc thảo luận sắp được đưa ra sau đây là do các hậu quả dài hạn, chớ không do các kết quả tức thì của nó.
11. Nên nhớ cơ-học là một thành phần cần thiết cho bất kỳ một hoạt động xứng đáng với công sức bỏ ra nào. Einstein sở dĩ trở thành một nhà vật lý học vĩ đại vì trước hết, ông đã học các định luật vật lý học. Paderewski từng dành nhiều thì giờ để luyện tập các ngón tay trước khi phát triển khả năng lý giải tinh-thần của những nhà soạn nhạc lừng danh. Chẳng có ai trong số các nhân vật ấy, có thể đạt được địa vị như đã có nếu không nắm vững được các định luật cơ-học trong phạm vi hoạt động của mình để chúng có thể trở thành một bản-tính thứ hai của họ, và nhờ đó, đã biến thành phương-tiện cho họ khai quật các huyền nhiệm của vũ-trụ hay nắm bắt được phẩm chất của cảm xúc trong âm nhạc đại hòa tấu. Nếu bạn loại bỏ phần cơ-học trong Vật lý học và cách chơi dương cầm, tức là bạn khai trừ Einstein và Paderewski vậy.
Cùng một nguyên-tắc ấy cũng được ứng dụng cho việc nghiên-cứu Kinh-Thánh. Một người càng muốn tránh đi phần cơ-học trong việc nghiên-cứu Kinh-Thánh bao nhiêu, sẽ càng nhận thức ra rằng mình không tài nào loại bỏ được nó. Vì chẳng hề có một phương-tiện thần bí hay thuần túy do trực giác nào giúp người ta đạt tới chân-lý của Kinh điển được. Người ta không thể bỏ qua các kỹ thuật giải kinh mà lại trông mong trở thành một nhà giải nghĩa Kinh-Thánh sâu nhiệm, cũng chẳng khác gì người muốn trở thành nghệ sĩ đánh dương cầm tài danh mà lại không nắm vững được phần cơ-học về cách vận chuyển của các ngón tay trên mặt cây đàn ấy. Đây là sự thật, cả khi đối với một số sinh viên, cơ-học và tinh-thần có vẻ như chẳng ăn nhập gì với nhau, vì cơ-học đòi hỏi tinh-thần tự chủ và nhiều khi có vẻ như tẻ nhạt. Tuy nhiên, phải thận trọng là chớ nên đánh đồng sự tẻ nhạt với điều chẳng có gì quan-trọng, vì một nhầm lẫn như thế sẽ vô vùng tai hại cho người học hỏi nghiên-cứu Kinh-Thánh, cũng chẳng khác chi cho người chơi dương cầm. Hay nói cho rõ hơn, chúng ta phải vui vẻ tự khép mình vào kỷ luật để nắm vững cơ-học, vì biết rằng con đường phải đi tuy có gian khổ, nhưng niềm vui khi thấy mình đi đến đích sẽ rất xứng đáng với những khó khăn trong hành-trình.
12. Tinh thần làm việc có phương pháp không thể tự đặt mình làm cứu cánh cho chính mình. Đây là một nguy cơ thật sự, vì cơ-học có thể mê hoặc người ta đến mức che kín chủ đích của nó. Việc phát triển một phương pháp tiếp cận theo đúng phương pháp chỉ là phương-tiện đào luyện tâm-trí để nó trở thành một công-cụ phù hợp cho tác động của Thánh Linh của Thượng-Đế. Vì từ khi công tác chú giải Kinh-Thánh, về cơ-bản, đã trở thành một tiến-trình thuần lý, thì tâm-trí phải vận hành thật đúng đắn, thật thích hợp, mới có thể có giá trị được. Nhưng tâm-trí không thể tự nhiên, tự động vận hành đứng đắn, thích hợp. Đây là gánh nặng của lời phát biểu sau đây, đã được A.E.Mander đưa ra liên-hệ với vấn-đề này trong quyển Logic for the Millions:
Suy nghĩ là công việc của xảo thuật. Bảo rằng chúng ta tự nhiên được phú bẩm khả năng tư duy minh bạch và hợp lý - nghĩa là chúng ta chẳng cần gì phải học hỏi phương pháp, chẳng cần phải thực hành chi cả - là không đúng... Người có tâm-trí không được huấn luyện, đào tạo không thể trông mong mình có thể suy tư minh bạch và hợp lý, cũng chẳng khác chi người chẳng bao giờ học tập, hành nghề mà lại trông mong mình tự nhiên trở thành thợ mộc, tuyển thủ đánh cù (golfers)... hay nhạc sĩ dương cầm tài giỏi...
Vậy, chúng ta phải đi đến kết luận rằng tâm-trí cần phải được đào luyện, nếu không, nó có thể trở thành phương-tiện để phủ nhận Thánh Linh của Thượng-Đế. Tinh-thần làm vi ệc có phương pháp bao gồm một phần mô-tả việc Thánh Linh đang vận hành qua trung gian tâm-trí như thế nào, và một người có thể cộng tác với Đức Thánh Linh như thế nào, để Ngài có thể hành động thật tự-do.
Do đó, xin đừng bao giờ quên rằng chủ-đích tối hậu của cơ-học và của tập sách chỉ nam này, là quý độc-giả có thể nhờ sử dụng nó để nghiên-cứu Kinh điển, để sẽ đạt đến chỗ nhận biết tác giả đích thực của bộ sách ấy, là Thượng-Đế duy nhất, và Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng đã được Ngài sai đến thế-gian này. Sở dĩ sách này ghi ra những gợi ý tìm thấy trong mấy trang này, chỉ vì trong từng trải cá-nhân, việc áp dụng chúng đã giúp tác giả nhận ra được một mối thông công càng mật thiết hơn với Thượng-Đế trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
13. Xin đừng quan-niệm sách này là một cố gắng áp đặt cho việc nghiên-cứu Kinh-Thánh (17). Gợi ý này được đưa ra vì nhiều lý do.
-Thứ nhất, chính bản-tính của tiến trình tư duy không cho phép nó cưỡng ép tâm trí, để đặt nó vào một thứ khuôn đúc cứng nhắc hay một chiếc áo khoác trí thức bó rọ. Chẳng hạn người ta có thể chỉ vào một số các bước cần noi theo trước giai đoạn bắt đầu việc nghiên-cứu học tập cách lý giải.
Nhưng nhiều khi, các tư tưởng của người ta sẽ tự nhiên hướng đến việc giải thích, nhất là khi ý nghĩa của điều đáng chú ý đã rõ ràng rồi, Tính cách uyển chuyển đó vốn nằm ngay trong tâm-trí, và không thể bị xúc phạm.
-Thứ hai, những điểm dị biệt cá-nhân cũng khiến chẳng ai có thể ép buộc được người khác phải theo một công thức nghiêm ngặt trong việc nghiên-cứu Kinh-Thánh. Nhưng quả thật là có một số nguyên-tắc cơ bản có thể quy định là thiết yếu và không thể bị vi phạm, nếu muốn cho cách tiếp cận của mình là đứng đắn, phải lẽ. Nhưng khi đến phần ứng dụng chính xác các nguyên-tắc ấy, mỗi cá nhân phải được để tự-do, hầu tự làm lấy sự cứu-rỗi cho mình.
-Thứ ba, ngay với phần khuôn mẫu tổng quát và các bước cụ thể gợi ý, phải dành chỗ cho “thì giờ giải lao”. Vì các giai đoạn nghiên-cứu khác nhau, đều có liên-hệ hỗ tương; bước thứ nhất góp phần vào bước thứ hai, và ngư ợc lại, bước thứ hai cũng có phần đóng góp của nó cho bước thứ nhất. Chúng tôi sẽ có cơ-hội kêu-gọi phải chú ý đến nguyên-tắc này thường xuyên trong phần thảo-luận sẽ trình-bày tiếp theo đây. Hơn nữa sẽ chẳng hề có phương-diện cá-nhân nào được hoàn tất trong tiến trình nghiên-cứu; cho nên nếu cần kết thúc bước thứ nhất trước khi chuyển sang bước thứ hai, thì bước thứ hai cũng sẽ chẳng bao giờ đạt được.
Vì các lý-do vừa kể và nhiều lý-do khác nữa, nội dung của những trang tiếp theo đây sẽ không được kết cấu thành một công thức chính xác phải noi theo từ trang này sang trang khác mỗi lần chúng ta nghiên-cứu một khúc sách được đề ra nào đó. Trái lại, trước hết, chúng sẽ gồm có một phần nghiên-cứu Kinh-Thánh có thể được dùng làm cơ-sở để hình thành một cách tiếp cận các khúc Kinh-Thánh một cách có phương pháp. Điều tối quan-trọng là sự-kiện này phải được hiểu rõ, nếu muốn sử dụng phần tài-liệu sau đây thật đúng cách, phải l ẽ. Sách chỉ nam này cố gắng mổ xẻ tiến trình học hỏi nghiên-cứu để phát giác ra các thành phần cấu tạo ra nó.
Do đó, có thể vì sánh nó với các bài tập dùng dạy đánh máy chữ, trình bày việc phân tích tiến trình đánh máy chữ. Chẳng hề có ai trông mong một ai đó sẽ đồng thời dấn thân vào việc thực tập tất cả các bài tập đánh máy chữ mỗi lần người ấy đánh máy một bức thư. Cho nên cũng chẳng hề có ai trông mong rằng cứ mỗi lần nghiên-cứu Kinh-Thánh, thì một ai đó sẽ phải dùng lại đúng quyển sách này. Trái lại, quý độc-giả được khuyên nên dùng các ý-niệm theo đây để làm nền móng hầu xây dựng một phương pháp tiếp cận đúng phương pháp, phù hợp với các tài năng và các nhu-cầu cá-nhân.
14. Xin đừng lý giải phần khuôn m ẫu tổng quát này là một phương pháp tiếp cận duy nhất, có tính cách tối hậu có thể đem ra dùng một lần là dứt khoát và chẳng bao giờ còn lặp lại nữa. Gợi ý này được đặt cơ-sở trên nhiều sự-kiện.
-Thứ nhất, bản-tính của Kinh điển khiến việc làm này là cần thiết. Có thể ví sánh Kinh-Thánh với một giếng nước có mạch không bao giờ cạn, cho dầu chúng ta có uống được đến đâu đi nữa. Hệ-quả là cho dầu một công-trình nghiên-cứu có giá trị đến đâu, người ta vẫn không thể trông mong là nó đã đạt được điềm tận cùng của chân-lý trong phần Kinh điển mà người ta đem ra áp-dụng.
-Thứ hai, sự tăng-trưởng cá-nhân giúp chúng ta đến ngày mai, sẽ tìm được trong Kinh điển nhiều điều hơn là những gì chúng ta tìm được hôm nay.
-Thứ ba, nhiều khi các dữ-kiện tìm được vẫn chưa có thể đưa đến kết luận dứt khoát, và người ta cảm thấy cần phải dùng phương pháp giả thiết mà các nhà khoa học vẫn dùng. Gặp những trường hợp như vậy, ta cần phải thử nghiệm các kết luận để khám-phá xem chúng có phù hợp với tất cả các dữ-kiện đã có hay không. Thật vậy, trong một số trường hợp, cách lý giải của ta có thể vẫn cần phải được thử nghiệm luôn vì kết luận đưa ra chẳng bao giờ là hiển nhiên để có thể kết luận dứt khoát cả.
Do các sự-kiện trên, thật là sai lầm nếu có ai cho rằng có một phương pháp tiếp cận nào đó có thể đựơc đem ra dùng chỉ một lần là có ngay kết luận dứt khoát. Trái lại, khuôn mẫu nghiên cứu bằng quy nạp pháp phải được lặp lại toàn phần hoặc từng phần, và mỗi lần áp dụng sẽ nâng cao điều đã gặp bế tắc lần trước được nhiều bao nhiêu càng hay bấy nhiên (18).
15. Đừng để các thắc mắc khiến cho bạn bị sa lầy. Bạn sẽ thấy rằng rất nhiều điều trong số đó sẽ được giải đáp khi bạn cứ tiếp tục tháo gỡ, còn những thắc mắc không giải đáp được thì lần lần cũng sẽ giảm bớt ý nghĩa đi.
16. Đừng cầu toàn. Bất luận một công trình phân tích nào cũng đều có khuyết điểm; điều này đặc biệt nghiệm đúng trong các quá-trình phân tích tâm-lý. Tuy nhiên, một vài bảng phân loại sẽ được sử dụng, bất chấp các giới hạn rõ rệt của chúng, bởi vì chúng được xét thấy là có góp phần vào việc làm phát triển một công trình nghiên-cứu sáng suốt và kiến-hiệu. Cần có một nỗ lực nhằm thảo-luận một số vấn-đề nảy sinh nhân dịp này (19).
CHÚ THÍCH
1. Webster, Dictionary of Synonyms, p.545
2. Dewey, J., “Method”, Cyclopedia of Education, edited ba Monroe, Volume IV, pp.204-205.
3. Điểm giống nhau giữa việc nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp với cách làm một loại bánh ngọt không nên được đẩy đi quá xa.
Có nhiều điểm khác nhau quan-trọng giữa 2 phương pháp ấy, sẽ được lưu ý về sau (Mục 13, 14 sau đây).
4. Tác-giả vốn biết rằng các tiền-đề này đụng chạm đến nhiều vấn đề triết-học căn-bản, và không nên căn-cứ vào việc thảo luận quá vắn tắt này để suy diễn rằng tác-giả không nhận thấy tầm quan-trọng của chúng. Cũng không nên suy diễn rằng lập trường đã nêu là thiếu hậu thuẫn. Khuôn khổ eo hẹp của quyển sách không cho phép chúng tôi phát biểu dài giòng. Nếu quý độc-giả muốn khai thác các vấn-đề này đầy đủ hơn, xin tham-khảo các tác-phẩm sau đây: Eberhardt, C.R., The Bible in the Making of Principles of Education; và Kuist, H.T., These Words Upon Thy Heart.
5. Xem Adler, M.J., How to Read a Book, pp.8-9
6. Sđd. pp.3-32. Cũng xem phần sau sách này (CHƯƠNG HAI, Mục III, phần B, tiểu mục 1, điểm b, số 14). Cần lưu ý là việc nghiên-cứu trực tiếp Kinh điển bao gồm việc sử dụng trợ cụ bên ngoài như các sách từ vựng, văn phạm, phù dẫn, các trợ cụ có tính cách lịch sử, v.v...(Xem phần sau sách này: CHƯƠNG HAI, Mục III, phần B, tiểu mục 1, điểm b, số 1).
7. Phải thừa nhận rằng điểm này bị hiểu lầm với điều vốn có tính cách lý tưởng, nhưng sở dĩ như thế là vì thực tế đòi hỏi như vậy. Về một bộ sách đầy đủ hơn khảo luận về các lý-do phải lấy ngôn ngữ thông dụng làm cơ sở đầu tiên cho việc nghiên-cứu, xin tham khảo bài tiểu luận ngắn nhan-đề: “The Use of the Bible in the Forming of Men,” trong đó có bài diễn văn khai mạc của H.T. Kuist cũng như của Charles T.Haley, Giáo-sư Thánh-Kinh Thần-học tại Chủng viện Thần-học Princeton. Cũng xem quyển The Study of the English Bible của L.M. Sweet pp.46-70. Vai trò của nguyên văn trong việc nghiên-cứu Kinh-Thánh có phương pháp sẽ được thảo luận về sau trong quyển chỉ nam này (xem phần sau sách này tt.128-129)
8. Ferm, V., Contemporary American Theology, p.216. Sự kiện có nhiều trường đại học chỉ nghiên-cứu Kinh-Thánh hoàn toàn vì các giá trị văn chương của bộ sách ấy cho thấy dư luận chung thừa nhận Kinh điển là một áng văn tuyệt tác.
9. Sđd. tr.214
10. Lời phát biểu này hàm ý rằng đơn vị căn bản để nghiên-cứu là chính quyển sách ấy, vì toàn bộ Kinh-Thánh là cả một thư viện có nhiều quyển sách. Có một vài ngoại lệ đáng lưu ý, như 4 sách Các Vua và Sử-ký. Tuy nhiên cả trong các đơn vị lớn hơn này cũng có một ý thức thật sự về một thực thể có cùng cơ cấu (a structural entity).
11. Theo Bengel và được trích từ một bài báo nhan-đề: “The Kind of Study the Bible Teachers Training School Stands for” trong The Biblical Review Jannary 1916. Tác giả chịu ơn bài báo này về nhiều ý niệm đã được dùng trong phần thảo luận về các tiền đề căn bản.
12. Gilman, L., Toscanini and Great Music. p.13.
13. Mấy câu này không hề hàm ý rằng chúng ta phải tiếp cận Kinh điển với niềm tin vào sự linh-cảm và uy-quyền của bộ sách ấy để nhận được từ đó một điều gì. Vì nếu chúng ta cần phải tin rằng Kinh-Thánh là Lời Thượng-Đế trước khi nhờ đó mà được lợi ích, thì nguyên tắc quy nạp sẽ hoàn toàn bị triệt tiêu. Thật vậy, chính giá trị của lý trí sẽ bị phủ nhận và sẽ nảy sinh cái hàm ý rằng chúng ta đã phải lựa chọn một cách mù quáng. Đức-tin sẽ bị biến thành nhẹ dạ.
Thí-dụ, hãy tưởng tượng một người sống trên một hoang đảo, nơi anh ta không hề có cơ-hội được nghe nói về Kinh điển. Có hai giáo-sĩ, một của Cơ-đốc giáo và một của Hồi-giáo đến đảo ấy, và cả hai điều khăng khăng bảo rằng các quyển sách của riêng họ mới là sự mặc-khải của Thượng-Đế cho loài người. Nếu người sống trên hoang đảo kia bị bắt buộc phải chấp nhận lời tuyên-bố của các giáo-sĩ trước khi đọc kỹ các quyển sách, anh ta sẽ chẳng hề có cơ-sở nào để chọn giữa quyển Kinh-Thánh với quyển Kinh Koran.
Sự-kiện là anh ta có thể cứ chọn bừa, vì cơ-sở để chọn quyển này hoặc quyển kia đều như nhau mà thôi. Vị giáo-sĩ Cơ-đốc giáo sẽ chẳng có gì để hấp dẫn anh ta hơn vị giáo-sĩ Hồi-giáo. Mặt khác, nếu anh cư dân sống trên hoang đảo kia được bảo: “Hãy lấy hai quyển sách, hãy đích thân đọc chúng cho thật kỹ; hãy tra-xét, suy gẫm về chúng; hãy thử nghiệm từng câu trong đó, và tin nhận quyển nào mặc khải Thượng-Đế rõ ràng nhất”, thì anh ta sẽ có một cơ-sở hợp lý để đưa ra một quyết định. Hơn nữa, chúng ta có thể tin chắc rằng nếu Kinh điển được tiếp cận bằng một tâm-trí và một tấm-lòng mở rộng, vì bộ sách ấy chứa chất sự mặc-khải của Thượng-Đế cho loài người thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, chính bộ sách ấy sẽ tự làm-chứng cho mình qua sự vận hành, tác động của Thánh Linh. Người kêu-gọi người ta căn-cứ trên cơ-sở sau này có nhiều đức-tin vào Kinh điển là Lời Thượng-Đế hơn người yêu cầu thiên-hạ nhìn thấy sự linh-cảm và uy-quyền của bộ sách trước khi tra-xét nó thật kỹ. Vậy điều càng thiết yếu hơn khi người ta tiếp cận Kinh điển, là thái-độ sẵn sàng tin nhận chân-lý một khi nó được tìm thấy. Do đó, mấy câu đưa ra dưới phạm trù là lòng tôn-kính và những câu tương tự như vậy đều được áp dụng vào một hoàn cảnh ít nhiều có tính cách lý tưởng, là hoàn cảnh trong đó những người tham gia ít ra cũng đã có một phần nào kiến thưc về Kinh điển.
Bộ sách ấy diễn-tả điều thiết yếu tối hậu để (một người) có được sự hiểu biết đầy đủ hơn về Kinh điển; chớ không phải điều cần thiết đầu tiên để khám-phá một chân-lý bất kỳ nào trong đó. Điều này phù hợp với tinh-thần của quy nạp pháp.
14. Có người đã gợi ý rằng cả bản American Revised Version, lẫn bản Revised Standard Version - trường hợp của bộ Tân-Ước - đều có thể được dùng làm cơ-sở cho công tác nghiên-cứu. Hai bản dịch này, tích lũy được nhiều phát kiến mới nhất của các học-giả khảo-cứu Kinh điển, phù hợp hơn với ngôn ngữ thông dụng của thời đại chúng ta, được phân đoạn và là những bản dịch (đích thực), chớ không phải là những bản dịch diễn ý. Các yếu-tố trên đây v à còn nhiều yếu tố khác nữa, khiến chúng xứng đáng được dùng làm sách giáo khoa. Có thể mua bộ American Revised Version có phần chừa lề rất rộng để ghi chú khi nghiên-cứu.
15. Tác-giả đang trù hoạch một bản sách đơn giản hóa để các tín-đồ thường có thể sử dụng. Bản sách ấy, sẽ sẵn sàng trong vòng vài năm tới.
16. Xem quy luật lặp đi lặp lại (ở phần sau sách này, tr. 50) Sở dĩ tác giả sách này thành công phần nào trong công tác giảng dạy, là nhờ sự-kiện tác-giả đã không sợ việc cứ nhắc đi nhắc lại các ý niệm.
17. Đây là một trong nhiều điểm khác nhau giữa việc làm bánh ngọt với việc nghiên-cứu có phương pháp vì điều trước có khe khắt hơn việc sau.
18. Về vấn-đề này, xin tham khảo quyển: The Study of the English Bible, p.20, của L.M.Sweet. Cũng cần lưu ý là thỉnh thoảng, nên nghiên-cứu lại cùng một số khúc sách cá biệt nào đó để có thể lợi dụng những gì tiếp thu được trong quá-khứ; làm như thế sẽ được giúp ích rất nhiều, vì điều thường được nghiệm đúng, là một số phát kiến trước đó, sẽ không được nhìn thấy trong những lần tiếp cận về sau với một khúc sách. Tuy nhiên, nên tiếp cận một khúc sách mà trước hết ta không xem lại những lần nghiên-cứu về trước lại tốt hơn, nhằm tránh việc chúng ta có thể giới hạn tầm rộng của việc tin nhận do đã có sẵn thiên kiến trong tâm-trí. Sau đó, khi đã nghiên-cứu lần sau thật đầy đủ rồi, hãy đem nó ra đối chiếu với những lần nghiên-cứu trước để những lần tiếp cận cả trong quá-khứ lẫn hiện tại bổ túc cho nhau, là điều rất hay.
19. Tác-giả sách này đã học biết được rằng nêu ra các ý kiến và truyền thông chúng cho người khác có chỗ rất khác nhau. Chúng tôi vốn ý thức được rằng tuy những lời phát biểu nhập đề này chúng tôi đã chỉ ra một số nguyên tắc sẽ quyết định cho diễn tiến của phần thảo luận sau này, điều đó vốn không có nghĩa rằng tầm quan-trọng và các hàm ý của chúng đã được nhìn thấy ngay rồi.
Do đó, sẽ có nhiều cơ-hội các ý kiến ấy lại được nhắc lại hoặc đề-cập, tuy việc ấy vốn không thể thực hiện được tại tất cả những nơi mà việc làm ấy là phù hợp. Quý độc-giả được khuyến-cáo nên nghiêm chỉnh nỗ lực đặt ngay dưới tầm mắt mình những nguyên tắc đã được nhấn mạnh trong phần dẫn nhập này, vì nếu làm được như vậy, bạn sẽ thấy r ằng nhiều câu hỏi có thể nảy sinh sau này đều đã được giải đáp rồi.
Thiết tưởng cũng cần lưu ý rằng một số ý kiến tìm thấy trong phần dẫn nhập này vốn không nằm đúng chỗ của chúng, theo quan-điểm của trật tự quy nạp pháp, vì chúng đã là những câu kết luận ngay lúc mới bắt đầu công việc nghiên-cứu. Tuy nhiên, điều có vẻ như vi phạm quy nạp pháp đó có thể được biện minh căn cứ vào các cơ-sở sau đây: một là, các kết luận ấy, vốn là hậu quả của công lao khảo-cứu của chính tác-giả; hai là, chúng có thể được quý độc-giả thử nghiệm và bác bỏ nếu thấy là không đúng với quy nạp pháp; và ba là sở dĩ chúng được đưa ngay vào phần dẫn nhập là nhằm các chủ đích sư phạm.
bottom of page
