top of page

Chương 2: GIẢI NGHĨA (1)

HungT

Jul 7, 2026

Tác-giả: Robert A. Traina

GIẢI NGHĨA


I. Chủ đích của công tác lý giải và Chức năng của người giải kinh


II. Các giai đoạn chính của công tác lý giải


A. Giai đoạn định nghĩa


B. Giai đoạn thuần lý


C. Giai đoạn mặc nhiên


III. Tiến trình đặc thù của công tác lý giải


A. Các câu hỏi dẫn tới việc lý giải


1. Ý nghĩa, chức năng, và tầm quan trọng của các âu hỏi dẫn tới việc lý giải


2. Các loại câu hỏi dẫn tới việc lý giải


3. Các thí dụ minh họa cho các loại câu hỏi dẫn tới việc lý giải


a. Các thí dụ riêng biệt minh họa cho các câu hỏi dẫn tới lý giải


1. Câu hỏi định nghĩa hay giải nghĩa


2. Câu hỏi thuần lý


3. Câu hỏi có hàm ý


4. Các câu hỏi về nhận diện thể thức, thời gian và địa phương (nơi chốn).


b. Thí dụ minh họa tổng quát về các câu hỏi dẫn tới công tác lý giải


B. Các câu hỏi trả lời nhằm mục đích lý giải


1. Các thành tố quyết định của những câu trả lời nhằm mục đích lý giải


a. Các thành tố quyết định chủ quan


1. Ý thức thuộc linh


2. Ý thức thông thường


3. Từng trải


b. Các thành tố quyết định khách quan


1. Ngữ nguyên, thông dụng, đồng nghĩa, ngữ học, đối chiếu và loại từ ngữ


2. Ý nghĩa của phép biến cách


3. Các hàm ý của các mối liên hệ và liên hệ hỗ tương trong văn mạch


4. Ý nghĩa của các hình thức văn chương tổng quát


5. Tầm quan trọng của bầu không khí


6. Chủ đích và quan điểm của trước giả


7. Bi cảnh lịch sử


8. Yếu tố tâm lý


9. Các hàm ý về ý (thức) hệ


10. Diễn tiến của sự mặc khải


11. Nhất quán tính hữu cơ


12. Quan điểm quy nạp về linh cảm


13. Phê bình văn bản


14. Cách lý giải của những người khác


2. Hình thành các câu trả lời nhằm mục đích lý giải.


C. Tóm tắt và đúc kết công tác lý giải


IV. Vài loại lý giải sai lầm


A. Lý giải manh mún


B. Lý giải độc đoán


C. Lý giải suy ly


D. Lý giải theo thần thoại


E. Lý giải theo lịch sử


F. Lý giải theo dự ngôn


G. Lý giải theo nghĩa đen


H. Lý giải theo hình bóng học


I. Lý giải bằng cách phỏng đoán


J. Lý giải hệ thng hóa


K. Lý giải bằng phương pháp tham khảo


L. Lý giải bách khoa


M. Lý giải bằng phương pháp bình văn


V. Những gợi ý khác nhau cho công tác lý giải


VI. Tóm tắt công tác giải kinh


VII. Bài tập giải kinh


Chú thích



Sau khi các thành phần cấu tạo nên một khúc sách đã được ghi nhận - đó là bước thứ nhất của phương pháp quy nạp - thì bước hợp lý tiếp theo là xác định ý nghĩa của chúng. Như vậy, giai đoạn thứ hai của việc nghiên cứu một cách có phương pháp là lý giải (tùy từng trường hợp, từ interprete, interpretation... này có thể được dịch là: lý giải, kiến giải, giải nghĩa, giải thích, giải kinh, thông giải, thông dịch...).


I. CHỦ ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC LÝ GIẢI VÀ CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI GIẢI KINH


Trong quyển đầu tiên của bộ sách Năm thế kỷ Tôn giáo (Fine centurius of Religion) của mình, Coulton có đưa ra câu phát biểu này “Sử gia phải phấn đấu dùng cái nhìn thông tuệ sát sao nhất của mình để tự hòa mình (đồng nhất hóa) với quá khứ...” (1). Trong tác phẩm nhan đề Toscanini và nhạc đại hòa tấu (Toscanini and Great Music), Gilman cứ dùng đi dùng lại từ “tái-sáng tạo” (re -creation) để mô tả chủ đích của công tác lý giải âm nhạc và chức năng của Toscanini với tư cách là người lý giải (2). Như thế, cả Coulton lẫn Gilman đều gợi ý về cùng một nguyên tắc, tức là vấn đề lý giải là vấn đề tái-sáng tạo”. Nguyên tắc này chẳng những áp dụng cho sử ký và âm nhạc mà cũng được áp dụng cho tất cả những cái gì khác đòi hỏi sự lý giải.


Webster định nghĩa “tái-sáng tạo” là “làm hồi sinh, ban sức sống tươi mới cho một vật gì đó” (3). Như vậy, “tái-sáng tạo” Kinh điển là giải thích sách ấy sao cho từng chữ viết ra được khiến trở thành một lời hằng sống. Ta chỉ có thể thực hiện việc ấy bằng thiện cảm (empathy), nghĩa là “sự dự phóng tưởng tượng của chính ý thức một người vào một hữu thể (being) khác” (4). Như thế, tiến trình tái sáng tạo bao gồm việc tự hòa mình (đồng nhất hóa) của người lý giải với các trước giả của Kinh Thánh, sao cho bản thân người ấy sống trở lại các từng trải đã đưa các vị ấy đến chỗ viết ra các văn phẩm ấy. Nó có nghĩa là phải “thu tóm” lại các thái độ, động cơ thúc đẩy, tư tưởng và tình cảm của các trước giả của bộ sách ấy và những nhân vật mà các vị ấy đưa ra làm đối tượng để viết sách.


Vì việc tái sáng tạo văn chương của Kinh Thánh phải được thực hiện trước nhất nhờ có thiện cảm, việc sử dụng óc tưởng tượng trở thành thiết yếu. Sở dĩ phần đông chúng ta e sợ sử dụng tư tưởng của mình là vì chúng ta không thể không gắn liền nó với điều vẫn được cho là quái đản, hư cấu, và chủ quan. Nhưng quả thật là trí tưởng tượng có thể được sử dụng với điều kiện phải biến các phẩm chất ấy trở thành những điều đặc sắc. Mặt khác, nó cũng có thể được thánh hóa hầu có thể chu toàn chức năng hợp pháp và hữu ích của nó trong việc giải kinh. Vì óc tưởng tượng có thể cung cấp chiếc thảm thần kỳ để đưa chúng ta trở về với các thời kỳ của Kinh Thánh, và có thể giúp chúng ta sinh sống, suy nghĩ và cảm thông với các trước giả và nhân vật trong Kinh điển. Chẳng hạn nó có thể giúp chúng ta từng trải các tư tưởng và tình cảm của Áp-ra-ham lúc ông bị Thượng Đế đòi hỏi phải dâng Y-sác là con trai một theo lời hứa của ông để làm sinh tế (SaSt 22:1-24). Nó có thể cung cấp cho chúng ta các phương tiện để thích thị hóa các biến cố từng xảy ra khi luật pháp được ban bố tại núi Si-na-i (XuXh 19:1-20:26). Nó có thể cung ứng cho chúng ta các công cụ nhờ đó người ta có thể sống trở lại các từng trải của chính Chúa Giê-xu, để ta có thể phát giác được cái thần trí (mind: tâm tình) vốn có trong Chúa Cưú Thế Giê-xu. Toscanini có lần kể lại câu chuyện sau đây:


Lúc diễn tập bản Giao hưởng thứ Chín của Beethoven, các nhạc công đã đáp ứng bằng thái độ mẫn cảm đặc biệt đối với mọi ước muốn và ý thích của Toscanini. Hậu quả là buổi trình diễn ấy đã khiến mọi người trong ban nhạc tự nhiên cảm thấy hưng phấn. Họ cùng đứng lên và hoan hô cổ vũ con người nhỏ thó vừa giúp họ có được một cái nhìn thông tuệ mới mẻ và diệu kỳ vào âm nhạc. Toscanini đã cố gắng hoài công để ngăn họ lại bằng cách vừa ra dấu loạn xạ bằng đôi tay vừa thét to lên với họ. Cuối cùng khi những tiếng reo hò lắng xuống, ông đã nói bằng một giọng bị lạc cả đi “Các bạn ơi, không phải là tôi đâu - nhưng chính là Beethoven đấy!” (5).


Một công tác tái sáng tạo như thế cũng phải là mục tiêu của nhà giải kinh nữa. Và khi nó xảy ra, thiên hạ cũng sẽ nhìn nhận giá trị của nó tương tự như vậy, và biết chắc là Kinh Thánh đã trở thành sống động.


II. CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH CỦA CÔNG TÁC LÝ GIẢI


Có một nguy cơ trong công tác giải kinh là nó có thể thiếu sót, bất toàn, vì trong Kinh Thánh có nhiều điều hiển hiện lên ngay trước mắt. Nó không chỉ gồm có vấn đề định nghĩa, vốn hạn chế phần nào công tác lý giải, mà còn liên quan đến nhiều giai đoạn khác nữa. Để tránh nguy cơ có thể gặp trường hợp nông cạn hời hợt này, ngay từ đầu, chúng tôi xin lưu ý các phương diện chủ yếu của công tác giải kinh thấu đáo, triệt để. Cần chú ý là chúng vốn trùng lắp nhau đến một chừng mực nào đó.


A. Giai đoạn định nghĩa


Phương diện lý giải đầu tiên là việc khám phá ra nghĩa căn bản của những khúc sách cá biệt. Theo một ý nghĩa, nó tương ứng với chức năng của các bộ tự điển và từ vựng.


Điều này đặc biệt nghiệm đúng với các từ. Thí dụ từ “kính mến” trong PhuDnl 6:5 có thể định nghia như sau “yêu mến sâu xa, thiết tha mong chờ, khao khát ham muốn”. Tuy nhiên cùng một phương thức giải nghĩa như vậy thiết yếu cũng phải áp dụng cho các thành phần khác cấu thành một khúc sách, chẳng hạn như mối liên hệ và cách cấu trúc. Thí dụ ta phải khám phá xem sự tương phản về tiểu sử giữa Sa-lô-môn và Đa-vít được gợi ý trong IVua 1V 11:4 là có ngụ ý gì. Nghĩa là ta phải cố gắng cắt nghĩa là ngay trong câu ấy, hai nhân vật đó vốn khác hẳn nhau. Khi làm như vậy, là ta định nghĩa mối liên hệ tương phản như nó đã được dùng trong trường hợp cá biệt này.


B. Giai đoạn thuần lý (6)


Sau khi đã khám phá ra ý nghĩa căn bản của các thành phần cấu thành một khúc sách điều cần thiết tiếp sau đó là phải tìm ra các lý do tiềm ẩn trong đó. Một cố gắng như thế gồm hai yếu tố: một là các lý do tổng quát khiến Kinh Thánh đưa ra những câu phát biểu như thế - vì nằm trong đó, chúng vốn đúng và cần thiết; và hai là các lý do hay chủ đích cận tiếp để phải diễn tả như thế - nghĩa là chúng phù hợp với văn mạch và hoàn cảnh lịch sử đặc thù ấy. Hai điều này đều không biểu hiện ngay trong tất cả các trường hợp của những thành phần cấu thành Kinh Thánh, và nhiều khi ta không thể nào phát giác được chúng. Nhưng phải ý thức về chúng và cách dùng của chúng khi có thể tìm thấy được là tối quan trọng để có thể lý giải một cách sâu xa, sắc bén.


Thí dụ, ta phải cố gắng biện biệt các sự kiện sau đây liên hệ với việc sử dụng từ “kính mến” trong PhuDnl 6:5, một là các lý do khiến cho lời phát biểu rằng dân Y-sơ-ra-ên phải kính mến Đức Giê-hô-va là một chân lý và là một điều cần thiết, nghĩa là các lý do khiến cho lời khuyến giục này có giá trị; và hai là các chủ đích của lời khuyến giục phải kính mến Đức Giê-hô-va trong bối cảnh cụ thể mà nó được đưa ra.


C. Giai đoạn mặc nhiên


Một câu bao giờ cũng có hàm ý mặc nhiên nhiều hơn là điều nó nói ra một cách rõ ràng, minh nhiên, vì đó là hậu quả của một số điều được giả định trước (presuppositons), rồi đến lượt nó lại trở thành điều được giả định trước cho nhiều ý niệm khác nữa. Các mối liên hệ hỗ tương giữa các sự kiện khiến cho điều này trở thành không tránh né vào đâu được. Các sự kiện vốn liên hệ chằng chịt vào nhau đến nỗi một người không thể nhìn nhận một sự kiện này mà không nhìn nhận nhiều sự kiện khác đồng thời với nó. Như vậy, nếu một người muốn hiểu thấu đáo ý nghĩa của 6:5 thì cần phải tìm kiếm các ẩn ý thật rộng lớn của lời khuyến giục hãy kính mến Đức Giê-hô-va (7)


III. TIẾN TRÌNH ĐẶC THÙ CỦA CÔNG TÁC LÝ GIẢI


Có ba bước căn bản cần thiết cho việc nhận ra chủ đích và tác dụng của các giai đoạn lý giải khác nhau: một là các câu hỏi dẫn tới việc lý giải; hai là các câu trả lời tóm tắt và đúc kết nhằm mục đích lý giải. Từng bước một trong số các bước ấy sẽ được thảo luận sau đây.


A. Các câu hỏi dẫn tới việc lý giải


1. Ý nghĩa, chức năng, và tầm quan trọng của các câu hỏi dẫn tới việc lý giải.


Các câu hỏi dẫn tới việc lý giải là những câu hỏi nảy sinh và đặt cơ sở trên các nhận xét từ ngữ cách cấu trúc, hình thức (thể loại) văn chương tổng quát và bầu không khí mà hậu quả của việc trả lời được chúng sẽ dẫn tới việc khám phá ra ý nghĩa đầy đủ của chúng. Thật vậy, chúng được kết thành phần khung sườn dưới dạng câu hỏi vào nhiều giai đoạn lý giải khác nhau, tức là định nghĩa, các lý do, và các hàm ý (8).


Câu hỏi dẫn tới việc lý giải thật ra là bước nằm ngang giữa công tác khảo sát và công tác lý giải. Do đó, nhiều khi thật ra nó là một phần của công tác khảo sát; vào nhiều lần khác, nó nảy sinh sau khi công tác khảo sát đã hoàn tất. Dầu sao thì nó chính là nhịp cầu thiết yếu nối liền công tác khảo sát với công tác lý giải, mà nếu thiếu nó, thì công tác khảo sát có thể trở thành nông cạn hời hợt, và hầu như không có giá trị thực tế.


Để minh họa cho cách dùng câu hỏi dẫn đến việc lý giải sẽ có những kết quả như thế nào cho việc khám phá ra ý nghĩa của các công trình khảo sát chúng tôi xin đưa vào đây một phần của văn bản ở phần kính cáo (avertissement) của tác phẩm How to Read a Book của Mortimer J.Adler. Bài kính cáo này được đăng trong tờ New York Times, ngày 10 tháng Tư, 1940 dưới bức tranh một chàng thanh niên mới lớn lộ vẻ bối rối khi đọc bức thư tình đầu tiên của cậu ta.


CÁCH ĐỌC MỘT BỨC THƯ TÌNH


Chàng thanh niên này vừa nhận được bức thư tình đầu tiên. Đáng lẽ chàng ta đã có thể đọc nó ba bốn bận rồi, nhưng lại chỉ mới bắt đầu đọc mà thôi. Muốn đọc nó cho thật kỹ như ý muốn, chắc chàng ta phải có bên mình nhiều quyển từ điển và một tác phẩm viết thật nhiều, thật đầy đủ, và và chuyên viên về ngữ nguyên học và ngữ học.


Tuy nhiên, dầu chẳng có họ, chàng ta vẫn có thể đọc nó.


Chàng ta sẽ suy nghĩ thật kỹ về ý nghĩa bóng gió hết sức chính xác của từng chữ, từng dấu chấm. Nàng đã bắt đầu bức thư bằng “Anh John thân yêu” chàng tự hỏi “Ý nghĩa chính xác của mấy chữ này là gì? Phải chăng nàng cầm lòng mà không chịu viết “thân yêu nhất” vì còn rụt rè e thẹn? Phải chăng chỉ viết “Anh yêu” mà thôi, thì có vẻ quá hình thức, khách sáo?


Chán thật, phải chăng nàng từng có thể viết “Anh X. anh Y. thân yêu” với bất cứ ai?


Một cái nhíu mày bối rối giờ đây có thể xuất hiện trên gương mặt chàng ta. Nhưng nó biến mất ngay khi chàng ta thật sự chịu suy nghĩ về câu đầu tiên này rằng chắc nàng đã không hề viết như thế cho bất cứ ai!


Thế là chàng ta lần lần đọc hiết bức thư có khi như được nâng lên cao chín tầng mây, để rồi ngay sau đó lại bị vùi xuống tận đất đen. Hàng trăm câu hỏi đã nảy sinh trong trí chàng ta. Nếu cần, chắc chắn là chàng ta có thể trích dẫn nó thuộc lòng. Thật vậy chàng ta sẽ học thuộc lòng nó - cho chính mình - suốt nhiều tuần sắp tới.


Bài kính cáo viết tiếp “Nếu thiên hạ đọc sách và chịu tập trung chú ý giống như thế, chúng ta sẽ có một cuộc chạy đua của những con người khổng lồ mắc bệnh tâm thần”.


Quý độc giả chắc đã nhận thấy vai trò nổi bật của các câu hỏi dẫn tới việc lý giải trong bài kính cáo này. Chúng nảy sinh từ việc khảo sát nội dung của bức thư và tạo thành chiếc vòng liên lạc giữa chúng với những lời giải thích chúng. Trong việc nghiên cứu kinh điển, câu hỏi dẫn tới việc lý giải cũng sẽ chu toàn cùng một chức năng giống như thế.


Vì chủ đích của các câu hỏi dẫn tới việc lý giải, chúng ta chẳng bao giờ có thể nhấn mạnh đúng vào chúng cả. Vì ý nghĩa của nó cũng tương đương với ý nghĩa của công tác khảo sát, ta sẽ không thể nào hiểu được giá trị của nó nếu tách riêng nó ra khỏi cách dùng các câu hỏi dẫn đến việc lý giải hay những câu hỏi có ý nghĩa tương đương như thế. Do nhận thức được điều đó, mà có một sinh viên đã hỏi vị giáo sư của mình"Chỉ cần có được thầy ngồi bên cạnh để đặt các câu hỏi trong lúc em đang nghiên cứu, chắc em sẽ lãnh hội được ý nghĩa của mấy khúc sách đó” (9).


2. Các loại câu hỏi dẫn đến việc lý giải.


Các loại câu hỏi dẫn đến việc lý giải khác nhau có thể được chia thành hai hạng: các thành phần cấu thành khúc sách liên hệ với chúng, và các giai đoạn lý giải mà chúng trình bày.


Về hạng thứ nhất,c ác câu hỏi dẫn tới việc lý giải có thể chia thành các loại: theo từ ngữ, theo cách cấu trúc, theo hình thức (thể loại) hoặc theo bầu không khí tùy theo thành phầnc ấu tạo mà chúng liên hệ.


Còn về hạng thứ hai, có nhiều loại câu hỏi dẫn đến việc lý giải. Ba loại đầu tiên tương ứng với các giai đoạn chính của công tác lý giải đã được thảo luận trước đây: một là câu hỏi để định nghĩa hay giải nghĩa - nó có nghĩa gì”; hai là câu hỏi thuần lý - tại sao nó đã được nói (viết) ra và tại sao nó lại được nói (viết) ra ở đây?; và ba là, câu hỏi có ngụ ý (mặc nhiên) - nó có hàm ý gì? Sau đó, là bốn câu hỏi phụ thuộc: một là câu hỏi để nhận diện - ai hay việc gì đang tham dự vào đây?; hai là câu hỏi về thể thức - nó được thực hiện như thế nào?; ba là câu hỏi liên hệ đến thời gian - chừng nào thì việc ấy hoàn thành?; và bốn là câu hỏi về địa phương, nơi chốn - nó được thực hiện ở đâu?


Cần ghi nhận những sự kiện sau đây liên hệ với các câu hỏi trên.


Thứ nhất, hai loại câu hỏi này sẽ được kết hợp lại với nhau để nhận định (nhận diện, nhận ra) các câu hỏi cá biệt. Thí dụ một câu hỏi dẫn tới việc lý giải nhằm mục đích định nghĩa một từ sẽ được gọi là câu hỏi “để định nghĩa một từ” (definitive term-al), trong khi một câu hỏi nhằm xác nhận các lý do của mối liên hệ cấu trúc sẽ được gọi là câu hỏi “thuần lý về cấu trúc” (Rational structural).


Thứ hai, thỉnh thoảng một số câu hỏi như vậy có thể có bản tính là khảo sát, tùy theo đặc tính của khúc sách. Thí dụ câu hỏi liên hệ đến thời gian có thể được trả lời chỉ đơn giản bằng tiến trình ghi nhận các từ trong một khúc sách. Nhiều lúc khác câu trả lời có thể đòi hỏi một phần giải bày cặn kẽ. Cần lưu ý là có thể có một câu hỏi mà người ta có thể trông mong được đặt ra nhưng đã không được đưa vào, đó là “Ở đây có gì?” Lý do là vì câu hỏi này trước hết vốn có bản tính của một câu hỏi nhằm mục đích khảo sát và đã được nêu riêng biệt trong bước khảo sát rồi. Có một sự kiện chắc chắn, ấy là tiến trình khảo sát toàn diện vốn đã là một giải đáp cho câu hỏi này rồi. Tuy nhiên, ta khám phá được rằng câu hỏi nhằm mục đích khảo sát nhiều khi sẽ tự tái khẳng định mình trong công tác lý giải, nhất là trong mối liên hệ với các cấu trúc. Vì như đã được nhấn mạnh, một số khảo sát về cách cấu trúc không thể thực hiện được trước khi đã xảy ra ít nhất là việc hoàn thành một phần nào của bước lý giải (10).


Thứ ba, không phải tất cả các câu hỏi trên đều phù hợp với từng khúc sách cá biệt.


Thứ tư, các câu hỏi đều có bản tính tổng quát, và phải được áp dụng tùy theo phần kinh điển đặc biệt đang nghiên cứu.


Thứ năm, lằn ranh phân chia các câu hỏi này chẳng bao giờ là rõ rệt, minh bạch cả, vì chúng tiếp theo đều mở rộng thêm câu hỏi trước nó.


3. Các thí dụ minh họa cho các loại câu hỏi dẫn đến việc lý giải (11)


a. Các thí dụ riêng biệt minh họa cho các câu hỏi dẫn tới việc lý giải.


Phần lớn các thí dụ minh họa sau đây được rút ra từ EsIs 55:1-13 và GiGa 17:1-26. Quý độc giả được khuyến cáo hãy làm quen với hai chương sách ấy để việc minh họa đạt được hiệu quả tối đa.


* Câu hỏi định nghĩa hay giải nghĩa


- Câu hỏi để định nghĩa một từ (term-alquestion)


Trong GiGa 17:1, Chúa Giê-xu cau xin (Đức Chúa) Cha hãy đề cao, làm vinh quang rạng rỡ Con Ngài. Chỉ ghi nhận hiện diện của từ “làm rạng rỡ vinh quang” (tôn vinh, bản dịch cũ là “làm vinh hiển") mà thôi thì chưa đủ. Ta còn phải đặt thêm những câu hỏi sau đây hoặc những câu hỏi tương tự như vậy “Từ “bày tỏ vinh quang” hay “làm rạng rỡ vinh quang” trong văn mạch đặc biệt này có nghĩa gì? Có gì tham dự vào việc “bày tỏ vinh quang” của Chúa Giê-xu? Tất cả các từ không theo thông thường đều phải được đưa ra cho các câu hỏi dẫn tới việc lý giải “mổ xẻ” tương tự như vậy. Vì nếu không làm như thế, các từ sẽ trở thành cứu cánh của chính chúng thay vì là một phương tiện dẫn tới một cứu cánh, là biểu tượng để nhờ đó chúng ta lãnh hội được thực tại (12)


- Câu hỏi nhằm xác định các lý do của mối liên hệ cấu trúc (strutural question)


Ta có thể nhận thấu là hai câu 8-9 của EsIs 55:1-13 sử dụng các mối liên hệ cấu trúc là đặt tương phản và đối chiếu các ý niệm. Các ý tưởng và đường lối của Thượng Đế được đặt tương phản với các ý tưởng và đường lối của con người và sự tương phản này được đối chiếu với sự tương phản giữa trời và đất. Chỉ nhận thấy là có những tương phản và đối chiếu luận lý trong mấy câu này mà thôi thì không đồng nghĩa với việc dò sét các chiều sâu của tâm trí trước giả. Những nhận xét như thế bao hàm việc ghi nhận cách cấu trúc văn phạm vốn là phương tiện truyền thông và do đó, cũng là phương tiện để lý giải. Nhưng trong khúc sách này vẫn còn một điều gì đó vượt xa hình thức cấu trúc của khúc sách; có một nội dung về cấu trúc được hình thức cấu trúc ấy chỉ ra. Cho nên người ta sẽ phải đặt những câu hỏi nhằm mục đích định nghĩa (hay giải nghĩa) sau đây “Việc đặt tương phản các đường lối và lý tưởng của Thượng Đế với đường lối và ý tưởng của con người là ngụ ý gì? Các đường lối và ý tưởng của Thượng Đế thật sự khác hẳn các đường lối và ý tưởng của con người ở chỗ nào? Trời và đất khác nhau như thế nào, và sự khác nhau đó giống với sự khác nhau giữa các ý tưởng và đường lối của Thượng Đế với các ý tưởng và đường lối của loài người như thế nào?”


Cần lưu ý là các câu trả lời cho những câu hỏi liên quan về cách cấu trúc này sẽ tùy thuộc các câu trả lời cho một số câu hỏi liên hệ đến từ ngữ nảy sinh từ việc khảo sát các từ “ý tưởng”, “đường lối”, “trời” và “cao hơn”. Hơn nữa, chúng còn tùy thuộc cách nhận xét về mối liên hệ cấu trúc giữa hai câu 8-9 và những câu đi trước, tức là hai câu 6-7, rồi đặt các câu hỏi về cách cấu trúc thích đáng trên cơ sở của sự nhận xét đó. Ta chú ý là câu 8 được bắt đầu từ "Vì” (theo bản dịch Anh văn) cho thấy định luật về ý niệm được dùng làm hậu thuẫn đã được áp dụng. Hai câu 8-9 cung cấp một phần lời giải thích cho lý do đã có hai câu 6-7, mô tả phần hậu quả. Tuy nhiên, chỉ nhìn thấy mối liên hệ này mà thôi thì chưa đủ. Các câu hỏi sau đây phải được đặt ra và cuối cùng, phải được trả lời “Hai câu 8-9 đưa ra lý do của ý niệm nào trong hai câu 6-7? Hai câu 9 thật sự đưa ra lý do nào cho hậu quả đặc biệt này?”


Cũng vậy, người khảo sát nhận thấy sự hiện diện mặc nhiên của định luật về nguyên nhân của ý tưởng trong GiGa 17:4, 5. Trong câu 4 có lý do của câu 5. Các câu hỏi sau đây sẽ tự nhiên nảy sinh “Điều gì trong câu 4 là kết quả của điều được tìm thấy trong câu 5? Câu 5 là kết quả của câu 4 như thế nào?” Câu trả lời cho các câu hỏi này sẽ đưa đến kết quả là phải đứng phía sau phần hình thức để biện minh là đi tìm các ý niệm qua cách cấu trúc nếu không thực hiện được việc ấy, thì cuối cùng công lao khảo sát sẽ trở thành vô giá trị.


Các câu hỏi định nghĩa tương ứng có thể và cần phải được đặt ra liên hệ với tất cả các định luật về cách cấu trúc khác, để nhận ra ý nghĩa của chúng. Thí dụ việc tuân thủ định luật tổng quát hóa và cá biệt phải làm nảy sinh các câu hỏi như “Đâu là điểm trong nguyên tắc tổng quát để minh họa cho những điểm cá biệt? Nhờ các thí dụ đặc thù ấy, nguyên tắc tổng quát đã được làm sáng tỏ như thế nào? “Việc tuân thủ luật công cụ phải gợi ra những tra vấn như “Phương tiện dẫn tới cứu cánh này nằm ở đâu? Chủ đích này có thể hoặc phải được thực hiện nhờ phương tiện này như thế nào?” Cần lưu ý là định luật câu hỏi phải có kết quả gì trong những câu hỏi sau đây “Câu trả lời này giải đáp cho câu hỏi kia như thế nào? Câu trả lời này giải đáp cho điều nào của câu hỏi kia?” Việc tuân thủ mối liên hệ chuẩn bị hay dẫn nhập phải gợi ra những câu hỏi sau “Điều này chuẩn bị cho người ta như thế nào để hiểu rõ những điểm tiếp theo? Điều đi trước đã soi sáng cho điểm theo sau như thế nào?” Phải cẩn thận sao cho định luật hài hòa phải gợi lên các câu hỏi sau đây “Hai điểm này hòa hợp , nhất trí với nhau như thế nào? Giải pháp này đáp ứng được nhu cầu này như thế nào? Lời hứa đã đưa ra đó được ứng nghiệm ở đâu? Các yếu tố này khớp đúng với nhau như thế nào?” Cần lưu ý là định luật về điểm tối quan trọng phải dẫn tới những câu hỏi như “Biến cố này đã tạo ra sự thay đổi như thế nào? Khúc sách này phải khác hơn như thế nào, nếu biến cố ấy không xảy ra?” Việc tuân thủ định luật tuyệt đỉnh phải tạo hệ quả là những câu hỏi này “Đâu là tuyệt đỉnh của phần còn lại trong khúc sách này? Phần còn lại của khúc sách dẫn tới tuyệt đỉnh này như thế nào?” Phải làm thế nào để khi áp dụng định luật tóm tắt, nó phải làm nảy sinh các câu hỏi “Đoạn này là phần tóm tắt cho số tài liệu còn lại như thế nào? Phần tóm tắt thay thế cho phần còn lại của khúc sách này như thế nào?” Những câu hỏi tương tự có thể và cần phải được đặt ra cho các định luật viết văn khác nữa.


Quý độc giả được khuyến giục hãy nghiên cứu các khúc sách đã cho làm thí dụ minh họa về mối liên hệ trong phần thảo luận về việc khảo sát cách cấu trúc, và tập nêu ra những câu hỏi đã được gợi ý trên đây. Xin quý độc giả đừng quan tâm đến việc phải sử dụng cùng một thứ ngôn ngữ giống y như vậy, vì các câu hỏi này có thể được áp dụng hoặc được đặt ra một cách khác hơn, tùy đặc tính của đơn vị (văn bản) Kinh điển mà chúng ta đem ra thực tập. Điều quan trọng là phải chắc chắn rằng kết quả của chúng sẽ cho thấy là ý nghĩa của các hình thức cấu trúc đã được tuân thủ. Ta cũng phải chắc chắn rằng mình đưa ra các câu hỏi dẫn đến việc giải nghĩa một cách có ý thức có hiểu biết, chớ không phải chỉ như làm một bài tập suông, vì chỉ đặt ra chúng theo thói quen sẽ chẳng đưa đến lợi ích gì cho việc thấu hiểu thật sâu nhiệm các thực tại ẩn tàng bên dưới các biểu tượng văn chương của Kinh điển.


c. Câu hỏi về hình thức (thể loại)


Bây giờ chúng ta tiến sang việc tra xét câu hỏi định nghĩa (hay giải nghĩa) trong mối liên hệ giữa nó với công tác khảo sát các hình thức văn chương tổng quát. Trong trường hợp này, câu hỏi giải nghĩa có chức năng đầu tiên là định nghĩa thật chính xác các hình thức văn chương. Thí dụ, khi ta khẳng định rằng một đoạn văn nào đó sử dụng hình thức thi ca, các câu hỏi giải thích sau đây phải được đặt ra “Hình thức thi ca có ngụ ý gì? Đâu là các đặc điểm của nó? Nó khác với các hình thức khác như thế nào? Phần nào trong đoạn này là thơ?” Nhờ đặt ra và trả lời các câu hỏi ấy, người giải kinh sẽ được “giải phóng” để khỏi phải vội vàng đi tìm đặc tính của một thể loại văn chương của một khúc sách khi chưa nhận thức được ý nghĩa của việc đi tìm các đặc tính ấy.


Các câu hỏi trên đây cũng có thể áp dụng cả cho các hình thức văn chương khác đã được thảo luận trước đây (18). Phải nhớ là trong trường hợp các câu hỏi giải thích về hình thức, thì không cần phải cứ lặp đi lặp lại chúng như trong các trường hợp của những câu hỏi về từ ngữ và cách cấu trúc. Vì một khi ta đã nắm vững được câu trả lời cho câu hỏi “Các hình thức văn chương cá biệt đúng ra có hàm ý gì?” thì ta sẽ thấy là không cần gì phải cứ lặp đi lặp lại mãi cùng một câu hỏi ấy. Điều này cũng áp dụng cho câu hỏi nhằm giải thích bầu không khí sẽ được khảo xét sau đây.


- Câu hỏi về bầu không khí


Mục đích của các câu hỏi giải thích liên hệ đến bầu không khí là nhằm tìm ý nghĩa của những từ được dùng mô tả bầu không khí tiềm ẩn trong các khúc sách, và tìm ra đâu là các điểm trong những khúc sách ấy nói lên bầu không khí mà người ta đã gán cho chúng. Hệ quả là khi người ta dùng những từ như “niềm vui”, “tính cách cấp bách”, “niềm tin chắc chắn”, “thái độ đau thương thống hối” hoặc “khiêm hạ” để nhấn mạnh về một đoạn Kinh điển, người ta phải tự hỏi “Ý nghĩa chính xác của từ này là gì? Có những yếu tố nào cấu thành cái tâm trạng hay trạng thái tinh thần như thế? Có những góc cạnh nào trong khúc sách này hậu thuẫn cho việc mô tả như vậy?” Nếu đã làm như vậy rồi, thì việc nhận xét về bầu không khí sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng cho nó. Nếu không, việc làm ấy có thể hoàn toàn vô nghĩa, mà thà bỏ ngang không làm còn hơn (14)


* Câu hỏi thuần lý (15)


Loại câu hỏi này tương ứng với giai đoạn hai của công tác lý giải và đối tượng của nó là khám phá ra các lý do tổng quát, giải thích tại sao một số các câu Kinh điển đã được viết ra và các chủ đích đặc thù hơn để chúng được đưa ra trong một văn mạch cá biệt và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định nào đó. Vì thế mà nó là một câu hỏi then chốt; nó đi sâu vào chính những nơi trú ẩn kín đáo nhất của tâm trí trước giả, tâm trí của các nhân vật liên hệ mà trước giả đang viết về họ, và tâm trí của những người sẽ tiếp nhận những gì mà trước giả đang viết. Công tác giải kinh sẽ được nâng cao rất nhiều nhờ sử dụng thích đáng loại câu hỏi này.


Câu hỏi thuần lý có đặc điểm là câu hỏi “Tại sao”. Điều này không có nghĩa là nó không thể được đặt ra theo những cách khác, mà đúng hơn là từ “Tại sao” nói lên đầy đủ nhất ý nghĩa nội tâm của nó. Để minh họa có gì là đúng cũng như có ý nghĩa trong việc này, tác giả nhớ lại một từng trải đã gặp khi đi trên xe lửa để đến một địa điểm truyền giảng. Đối diện với tác giả ở ghế bên kia là một bà mẹ cùng ngồi với cô con gái khoảng ba bốn tuổi. Như phần đông trẻ con, bé gái này đặt nhiều câu hỏi dồn dập cho mẹ mình. Các câu hỏi cứ tăng dần về bản tính, câu hỏi sau lại càng khó hơn câu hỏi trước. Trước hết, cô bé đặt các câu hỏi có tính cách nhận xét “Cái này là gì, vật kia là gì?” Rồi cô bé tiến tới những câu hỏi nhằm mục đích giải nghĩa “Cái này làm gì, vật nọ làm gì?” Cuối cùng cô tả đặt loại câu hỏi sâu sắc và gây bối rối nhất “Tại sao vật này lại thế này, tại sao vật nọ lại thế kia?” Bà mẹ có thể trả lời nhiều câu hỏi thuộc hai loại đầu của cô bé, nhưng những câu hỏi sau thường vượt quá kiến thức của bà ta; Em gái kia đã phát giác được bí quyết đích thực của việc học hỏi, như điều các trẻ con vẫn thường gây bối rối cho người lớn. Và nếu bà mẹ kia có thể trả lời được tất cả các câu hỏi của em, nhất là các câu hỏi có vấn đề “tại sao” của các sự vật sự việc, chắc cô bé đã nhận được sự giao dục tổng quát lúc con tàu đến được nơi hai mẹ con họ muốn đến.


Câu hỏi “tại sao” phải được đặt ra cả khi các lý do và động cơ thúc đẩy các câu Kinh Thánh vốn không rõ ràng, minh nhiên; vì chúng luôn luôn hiện diện khi có một hữu thể (con người) thông minh đang hành động. Nếu chúng không bộc lộ rõ ràng, thì điều đó có nghĩa là chúng đã được nêu ra một cách âm thầm, mặc nhiên, và ta cần phải tìm ra chúng vì chúng vốn tối quan trọng để hiểu rõ tâm trí của trước giả.


Điều cũng quan trọng là phải biết rằng các câu hỏi “tại sao” thật ra chẳng bao giờ cạn kiệt. Vì mỗi một câu trả lời mà người ta đưa ra đều có thể bị chất vấn bằng một câu hỏi giống y như vậy “Tại sao?” Đó chính là bí quyết của năng lực phi thường của nó. Xin quý độc giả hãy tự mình thí nghiệm sự kiện này, và chắc chắn bạn sẽ bị hoàn toàn thuyết phục về tầm quan trọng của loại câu hỏi nhằm giải thích này.


Công việc giờ đây chỉ còn là đưa ra vài thí dụ minh họa cụ thể về cách tác động của các câu hỏi thuần lý liên hệ đến các thành phần khác cấu tạo ra một khúc sách.


- Câu hỏi liên hệ với từ ngữ


Trong GiGa 17:11, Chúa Giê-xu gọi Thượng Đế là Cha Chí Thánh và sau khi khẳng định câu định nghĩa cho nó bằng cách trả lời câu hỏi nhằm giải thích “Nó có nghĩa gì?” các câu hỏi sau đây có thể nảy sinh “Tại sao lại có thể gọi Thượng Đế là Thánh? Tại sao Chúa Giê-xu lại ngỏ lời với Cha Ngài lúc này?” Cũng vậy, khi ta đã khảo sát từ “thánh hóa” trong 17:17 và đã tra cứu ý nghĩa của nó, ta phải nêu lên câu hỏi sau đây “Tại sao ở đây, Chúa Giê-xu lại cầu nguyện để xin cho các môn đệ Ngài được thánh hóa?”


- Câu hỏi về cách cấu trúc


Trong EsIs 55:1 vế “khát” được dùng để “định tính” cho chủ từ “những kẻ nào”. Sau khi đã định nghĩa cho các từ được dùng trong nhóm từ này cũng như ý nghĩa của mối liên hệ giữa chúng, ta có thể đặt câu hỏi “Tại sao” những kẻ này lại được “khát” định tính cho? Hơn nữa, người lý giải ghi nhận rằng “những kẻ nào khát” được khuyên chạy đến suối nước. Sau khi đã xét đến cách giải nghĩa các từ và các mối liên hệ giữa chúng, nhà giải kinh còn phải tự hỏi “Tại sao 'những kẻ nào khát' lại được yêu cầu hãy đến suối nước?”.


Khi nghiên cứu GiGa 17:1-26, ta nhận thấy các định luật về ý tưởng được dùng làm nguyên nhân và công cụ đã được sử dụng ở mức độ cao. Những lời khẩn xin được nêu ra trong bài cầu nguyện đều có các cơ sở của chúng đi trước hoặc theo sau. Nhiều khi mối liên hệ giữa lời khẩn xin và lý do của nó chỉ là một liên hệ nhân kèm theo hậu quả, hay chỉ có nguyên nhân mà thôi, như trong hai câu 4-5; nhiều lần khác thì đó lại là mối liên hệ quả kèm theo sau là nhân hoặc mối liên hệ đã hậu thuẫn, như trong hai câu 10-11. Trong câu 21, mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ từ phương tiện đến cứu cánh, hay mối liên hệ công cụ. Hơn nữa, ta nhận thấy hai phần ba của bài cầu nguyện được dành cho lý do để khẩn xin và chỉ có một phần ba là dành cho chính những lời khẩn xin. Như vậy, đã có việc lựa chọn định lượng trong khúc sách này (16). Sau khi đã nhận thấy các nhân, các quả và các chủ đích, và đã giải thích các nguyên nhân đưa đến các hậu quả nào, và các phương tiện đã có thể dẫn đến các cứu cánh nào, thì ta còn phải đặt các câu hỏi sau đây “Tại sao các định luật về nguyên nhân hậu thuẫn như thế trong khúc sách này? Tại sao Chúa Giê-xu lại dành phần lớn bài cầu nguyện của Ngài cho các nền tảng của các lời khẩn xin thay vì cho chính những lời khẩn xin?” (17)


Trong việc nghiên cứu 17:1-26, ta cũng nhận thấy một sự tiến triển nào đó trong lời cầu nguyện liên hệ với số người mà vì họ những lời cầu xin ấy được dâng lên. Trước hết, Chúa Giê-xu cầu nguyện cho chính Ngài, rồi cho các môn đệ thân cận Ngài, và cuối cùng là cho các môn đệ tương lai của Ngài. Theo bước tiến triển này, thì các câu hỏi thuần lý sau đây, phải được đặt ra “Tại sao Chúa Giê-xu lại bắt đầu với chính Ngài, rồi cầu nguyện tiếp tục cho các môn đệ thân cận Ngài và cho Hội thánh tương lai của Ngài?” (17)


Cần lưu ý là trong một số các trường hợp, các câu hỏi thuần lý vốn đã được trả lời một phần nào khi trả lời cho các câu hỏi nhằm lý giải rồi. Thí dụ 17:21 chép “Xin Cha cho các môn đệ mới cũ đều hợp nhất, cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, và họ ở trong chúng ta, để nhận loại biết Con là sứ giả của Cha”. Mối liên hệ về cấu trúc căn bản trong câu này là mối liên hệ dùng ý tưởng làm công cụ. Ý nghĩa của nó là “để tất cả (bọn) họ đều hợp nhất, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, và họ cũng đều có thể ở trong chúng ta”. Chủ đích là “để nhân loại biết là Cha đã sai Con đến”. Căn cứ vào việc nhận xét mối liên hệ cấu trúc này, các câu hỏi nhằm giải thích sau đây có thể được đặt ra “Đâu là phần trong câu chỉ ra 'phương tiện' thật sự bởi đó điều được gọi là 'chủ đích' được thành tựu?” Hay cụ thể hơn “Nhờ đâu mà sự hợp nhất giữa Thượng Đế với Chúa Cứu Thế và giữa mỗi người với nhau đặt được mục đích của nó và hậu quả là thế gian tin rằng Chúa Giê-xu vốn là sứ giả của Thượng Đế. Các câu trả lời cho những câu hỏi nhằm giải thích này sẽ được sử dụng ít nhất là một phần để trả lời cho câu hỏi thuần lý. “Tại sao mối liên hệ công cụ lại được dùng trong trường hợp này và tại sao Chúa Giê-xu lại đòi hỏi điều này đúng vào lúc này?”. Như vậy, trong những trường hợp khác, các câu hỏi nhằm lý giải và các hỏi câu hỏi thuần lý trùng lắp nhau. Nhưng cả trong những trường hợp ấy, các câu trả lời cho những câu hỏi nhằm thuần lý rất có thể siêu vượt trên các câu hỏi nhằm mục đích giải thích. Hơn nữa, trong những trường hợp khác, hai loại câu hỏi này vốn phân biệt với nhau hơn. Do đó mà nhà giải kinh dứt khoát phải học tập cách sử dụng cả hai câu hỏi (18)


- Các câu hỏi về hình thức và bầu không khí (19)


Liên hệ với các hình thức (thể loại) văn chương, câu hỏi hoàn toàn thuần lý có thể đặt ra như vầy “Tại sao hình thức văn chương này lại được sử dụng tổng quát, và tạo sao nó lại được dùng trong trường hợp cá biệt này? Câu hỏi này có thể áp dụng chẳng hạn cho hình thức ẩn dụ của các sách Phúc âm (20). Câu hỏi thuần lý sau đây có thể nêu ra trên cơ sở việc khảo sát và giải thích bầu không khí “Tại sao loại bầu không khí này lại ngự trị trên khúc sách cá biệt này”


* Các câu hỏi có hàm ý


Nói chung, loại câu hỏi này hop5 thành đợt sóng các câu hỏi quan trọng cuối cùng do việc ném một tia nhìn dò xét vào vùng biển tư tưởng. Thật vậy, đúng ra nó là việc mở rộng câu hỏi thuần lý, và câu trả lời cho nó bắt đầu hình thành chiếc cầu bắc giữa công tác lý giải và công tác ứng dụng. Trước hết có công tác khảo sát, trả lời cho câu hỏi “Ở đây có gì?” Tiếp theo là câu hỏi định nghĩa “Nó có ý nghĩa gì?”. Câu hỏi này được nối tiếp bằng một câu hỏi liên hệ đến lý do “Tại sao điều cá biệt này, với ý nghĩa cá biệt của nó là đúng, và tại sao nó lại nằm ở đây?” Cuối cùng là câu hỏi có hàm ý “Đâu là các hàm ý đầy đủ của điều cá biệt này với ý nghĩa cá biệt đó, lại được đặt tại đây vì các lý do cá biệt ấy?”


- Câu hỏi về từ ngữ


Trong 17:1-26 nhà giải kinh ghi nhận từ “một” được sử dụng nhiều lần liên hệ với các môn đệ Chúa. Sau khi đã khẳng định ý nghĩa và các lý do khiến nó được đưa vào nhà giải kinh còn phải tìm cách trả lời đầy đủ hơn cho câu hỏi này “Đâu là các hàm ý đầy đủ của bài cầu nguyện của Chúa Giê-xu cho sự hợp nhất của các môn đệ Ngài?”


- Câu hỏi về cách cấu trúc


Trong EsIs 55:7 định luật về nguyên nhân của ý tưởng vốn ở thể hàm ngụ. Nguyên nhân mặc lấy hình thức của một lời khuyến giục “Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng; hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va”. Hậu quả là “Ngài sẽ thương xót cho”. Câu hỏi nảy sinh sau những câu trả lời nhằm giải thích và thuần lý là “Đâu là ý nghĩa trọn vẹn của sự kiện thương xót tha thứ do kẻ ác chịu từ bỏ đường lối mình và trở lại với Đức Giê-hô-va?”


- Các câu hỏi về hình thức và bầu không khí


Câu hỏi về hình thức tổng quát là “Đâu là các hàm ý khác nhau của một hình thức văn chương cá biệt, như thể văn viết kịch tuồng hay thể văn biểu tượng?” (21)


Câu hỏi tổng quát về bầu không khí là “Đâu là ý nghĩa trọn vẹn của sự hiện diện của bầu không khí trong khúc sách này?”


* Các câu hỏi về nhận diện, thể thức, thời gian và nơi chốn (địa phương)


Bốn loại câu hỏi này có thể xếp chung lại với nhau do chúng họp thành một nhóm phụ thuộc vào ba nhóm trên. Sở dĩ chúng là phụ thuộc, vì theo một ý nghĩa đích thực câu trả lời cho chúng vốn nằm luôn trong các câu trả lời cho ba loại câu hỏi kia rồi, tuy thỉnh thoảng chúng có một phần đóng góp phân biệt bằng cách chỉ ra một vài yếu tố đặc thù có thể đã bị bỏ qua khi trả lời cho các câu hỏi tổng quát hơn. Thật vậy, nhiều khi chúng được dùng để trả lời cho câu hỏi nhằm nhận xét “Ở đây có gì?”


Trong số bốn loại câu hỏi được đề cập trong loại này, câu hỏi về thể thức (modal) có lẽ là có ý nghĩa nhất. Hơn nữa, ta phải lưu ý rằng tất cả các câu hỏi thuộc loại này đều không thể áp dụng cho mọi thành phần cấu thành một khúc sách. Chúng chủ yếu chỉ thích hợp cho các từ và cách cấu trúc mà thôi.


- Câu hỏi về nhận diện


Liên hệ đến từ ngữ. Trong 55:4 có các từ “người”, “(người) chứng kiến”, “các nước “quan trưởng”, và “quan tướng”. Câu hỏi này rất phù hợp “Đúng ra thì mỗi từ đó có nghĩa gì?”


Liên hệ đến cách cấu trúc. 55:5 có nhóm từ “(một) nước mà các ngươi chưa biết”. Ta có thể hỏi “Nước đó là nước nào? Căn cứ vào mối liên hệ giữa câu này với câu liên hệ trước và sau nó?”


- Câu hỏi về thể thức (modal)


Cũng như câu hỏi hàm ý, loại câu hỏi này thường bắc một nhịp cầu giữa công tác lý giải với công tác ứng dụng.


Liên hệ đến từ ngữ - GiGa 17:11 có dùng từ ngữ “bảo vệ”. Câu hỏi về thể thức có thể được diễn tả như sau “Điều mà từ này ngụ ý sẽ được thực hiện bằng những đường hướng (phương pháp, cách thức) đặc thù nào? Thượng Đế “bảo vệ” như thế nào?


Liên hệ đến các cấu trúc - Đã có sự đối chiếu về ý niệm giữa việc mưa và tuyết hoàn thành chủ đích của chúng, với việc Lời của Thượng Đế trong EsIs 55:10-11 hoàn thành ý định của Ngài. Ta có thể hỏi “Sự đối chiếu này trở thành hiện thực như thế nào, và do đó được kể là đúng?”


- Các câu hỏi liên hệ đến thời gian và địa phương


Liên hệ đến từ ngữ - Trong GiGa 17:1, Chúa Giê-xu cầu xin Cha Ngài “bày tỏ vinh quang Con”. Các câu hỏi liên hệ đến thời gian và địa phương (nơi chốn) sẽ là “Điều ngụ ý trong việc vật chất hóa việc bày tỏ vinh quang (tôn vinh) Đức Chúa Con, xảy ra khi nào và ở đâu?”


Liên hệ đến từ ngữ - Liên hệ đến sự tương phản trong EsIs 55:13, ta có thể đặt câu hỏi “Đến bao giờ và tại đâu, những điều tương phản nhau ở đây sẽ thành hiện thực?”


Thí dụ minh họa tổng quát về các câu hỏi dẫn tới việc lý giải.


Để làm sáng tỏ hơn có gì gắn liền với việc đặt ra và chức năng của các câu hỏi dẫn tới việc lý giải, sau đây sẽ có một thí dụ minh họa về cách tác động của tiến trình ấy liên hệ với một khúc sách, mà ở đây là với Thi Tv 23:1-6 (22). Ở một cột chúng ta sẽ ghi ra vài nhận xét về bài thi thiên ấy, và ở cột kia chúng ta sẽ ghi các câu hỏi mà các nhận xét ấy làm nảy sinh.


Thí dụ minh họa đưa ra đây phải đặc biệt hữu ích trong việc giúp quý độc giả phân biệt các loại câu hỏi khác nhau, do đó giúp người ấy hiễu rõ hơn công dụng và ý nghĩa của chúng. Để có thể thực hiện được chủ đích ấy dễ dàng hơn, hệ thống sau đây sẽ được dùng để phân loại các câu hỏi. Nếu một câu hỏi có bản tính là nhằm mục đích khảo sát, nó sẽ được đánh dấu bằng KS (23). Nếu câu hỏi nhằm mục đích lý giải nó sẽ được đánh dấu như sau đây để chỉ giai đoạn lý giải của nó: ĐN để chỉ giai đoạn định nghĩa, TL để chỉ giai đoạn thuần lý; MN để chỉ giai đoạn mặc nhiên (hàm ý, ẩn ý); ND để chỉ giai đoạn nhận diện; TT để chỉ giai đoạn thể thức; TG để chỉ giai đoạn thời gian, và ĐP để chỉ giai đoạn địa phương. Các thành phần cấu thành, khúc sách sẽ được chỉ ra bằng những biểu tượng sau: t chỉ từ, ct chỉ cấu trúc, tl chỉ thể loại (hình thức) văn chương, và bk chỉ bầu không khí. Đây là một thí dụ: một câu hỏi quan tâm đến việc định nghĩa một từ sẽ được đánh dấu là ĐNt.


CÁC NHẬN XÉT (do KS ) CÁC CÂU HỎI - LÝ GIẢI


1. C.1a - Đức Giê-hô-va 1. “Giê-hô-va” có nghĩa là gì? “Đấng Chăn giữ tôi” - Danh Giê-hô-va (ĐNt). Tại sao nó lại được dùng mà được dùng chỉ Thượng Đế thay vì một không phải là một danh khác, như tên hay một danh hiệu khác. “Thượng Đế” chẳng hạn? (TL-t)


2. C.1a - Đức Giê-hô-va được ví với 2. Người chăn chiên có các đặc điểm người chăn chiên các thái độ và chức năng gì? (ĐNt).


Tại sao Đức Giê-hô-va lại được mô tả


là một người chăn chiên? (TL-ct)


(24). Những hàm ý đầy đủ hơn của


cách dùng lối mô tả này là gì?


(MN-ct).


3. C.1a - “Đấng Chăn giữ” được hình 3. Chữ “tôi” này ngụ ý nói về một dung rõ ràng bằng đại danh từ chủ mối liên hệ như thế nào? (ĐN-ct). hữu “của tôi” (theo bản AV). Thi thiên Tại sao lại có sự nhấn mạnh vào tài này không viết “tổng hợp” là một người sản tư hữu này? (TL-ct) chăn chiên (nào đó), nhưng vạch rõ là người chăn chiên “của tôi”.


4. C.1a - Cách dùng nhóm từ “Đấng Chăn 4. Bản tính của con chiên là gì? giữ tôi” ngụ ý rằng trước giả tự kể (ĐN-t) giữa con chiên với người chăn mình là một con chiên trong bầy (25) chiên có liên hệ gì? (ĐN-ct). Tại


sao con chiên cần có người chăn?


(TL-ct)


5. C.1a - Bài Thi thiên bắt đầu một 5. Tại sao tác giả Thi thiên lại bắt lời công bố tính cách chẳng chút mơ hồ đầu với một lời công bố về sự kiện? “Đức Giê-hô-va”. Câu phát biểu này (TL-ct) một khởi điểm như vậy hàm ý không có những chữ “nếu” hoặc “những”. gì? (MN-ct) Nó không nói “Tôi mong rằng” hay “Tôi muốn là”. Đây là một lời khẳng định, chắc chắn. Thật ra, nó bảo rằng “Đây là một hiện thực chẳng có gì để thắc mắc nghi ngờ” Đức Giê-hô-va chính là Đấng đang chăn giữ tôi”.


6. C.1b - “Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì” 6. Tại sao lại có sự tương ứng giữa Chủ từ không phải là Đức Giê-hô-va, “tôi” (ở vế trước) với “tôi” ở đây? nhưng là “tôi”. Vì có một điều gì đó (TL-ct). Ý nghĩa thật đầy đủ của sự đã được nghiệm đúng với Đức Giê-hô-va, tương hợp này là gì? (MN-ct) cho nên nó cũng nhiệm đúng với tác giả Từ “tôi” này tương ứng với “(của) tôi” trong vế đầu. Câu này không nói “Đức Giê-hô-va là” Đấng Chăn giữ bạn, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.


7. C.1 “sẽ chẳng thiếu thốn gì” thuộc 7. Thì hiện tại có gồm luôn trong thì tương lai, trong khi “là” ở vế đầu thì tương lai không? (ĐN-t). Tại sao thuộc thì hiện tại. Vế sau cũng có thể lại không dùng thì hiện tại trong vế hiểu “Tôi (đang) chẳng thiếu thốn gì” sau? (TL-t)


8. Tác giả Thi thiên nói “Tôi sẽ chẳng 8. Đâu là tầm quan trọng của từ thiếu thốn (Bản dịch Anh văn là want: “thiếu thốn”? (ĐN-t). Nó có đồng nghĩa thiếu, cần, điều mà mình rất cần (nhu với ước ao, ham thích không? (ĐN-t). cầu tối thiểu), mình ưa thích, thèm Từ ngữ này bao hàm những gì; nó có khát, ao ước...) gì. Ông không nói “Tôi gồm luôn cả sự ước ao khao khát cả sẽ chẳng bị thiếu thốn chi cả” thuộc thể lẫn thuộc linh không? (ĐN-t)


Tại sao lại không dùng một từ khác,


như “cần” “chẳng hạn”? (TL-t)


9. Đã không có liên hệ rõ rệt giữa hai 9. Phải chăng đây là mối liên hệ đích phần của c.1 Mối liên hệ của chúng có thực giữa hai phần? (KS). Nếu đúng tính cách mặc nhiên trong nội dung tư như thế, thì sự kiện được vạch rõ tưởng và vị trí. Mối liên hệ này dường trong phần đầu dẫn đến hậu quả nào như là do nguyên nhân của tư tưởng: vì trong phần thứ hai, và đâu là kết quả Đức Giê-hô-va là Đấng Chăn giữ tôi, do do nguyên nhân phát triển, tăng trưởng đó, tôi sẽ chẳng còn mơ ước mong muốn mà có? (ĐN-t) Tại sao tác giả lại gì hơn. dùng mối liên hệ nhân quả ấy? (TL-ct)


Đâu là những hàm ý khác nhau của nó?


(MN-ct)


10. Lưu ý biến chuyển từ tích cực sang 10. Tại sao tác giả lại sự dụng mặt tiêu cực trong c.1 Đức Giê-hô-va là - tiêu cực thay vì tích cực? (TL-ct) tôi sẽ không. Tác giả Thi thiên có thể viết: Đức Giê-hô-va là Đấng Chăn giữ tôi, tôi sẽ có được mọi sự”


11. C.2a - “Ngài khiến tôi (nằm) an nghỉ 11. Đâu là ý nghĩa của việc thay đổi nơi đồng cỏ xanh tươi”. Chủ từ là ngôi các đại danh từ chỉ tác giả và Thượng thứ ba và là một với chủ từ của c.1. Hơn Đế này? (MN-ct). Tại sao Đức Giê-hô-va nữa, nó tương phản với ngôi thứ nhất lại được đổi từ ngôi thứ hai sang ngôi “tôi”, là chủ từ của c.1b. Nếu căn cứ thứ ba? (TL-ct). Tại sao lại có một vào đó mà nhìn lướt qua phần còn lại của giọng điệu cá nhân, riêng tư, mạnh khúc sách, ta phát giác ra sự thay đổi mẽ như vậy xuyên xuốt bài thi thiên? cho nhau giữa “Ngài” và “tôi”, cũng như (TL-ct) cách dùng ngôi thứ hai của Ba Ngôi Thượng Đế thay vì ngôi thứ ba (xem c.4). Đến lượt nó, điều này dẫn đến việc nhận thấy giọng điệu riêng tư hết sức mạnh mẽ của bài thi thiên này.


12. C.2a - “khiến” dường như hàm ý có 12. Động từ này có đưa chuyện ép buộc yếu tố ép buộc. vào đây hay không? (ĐN-t) Động từ này


có nghĩa gì? (ĐN-t)


13. C.2a - “Khiến” được “an nghỉ” và 13. Nhóm từ “an nghỉ” nói lên điều gì “nơi đồng cỏ xanh tươi” làm rõ nghĩa nhất là theo nghĩa bóng? (ĐN-ct). Tại thêm bằng cách chỉ ra điều gì và ở đâu sao Đức Giê-hô-va lại khiến chiên của động từ. Hai từ này có nghĩa bóng Ngài “an nghỉ” như người chăn chiên và tiếp tục hình ảnh của người (Đấng) vẫn làm? (TL-ct). Đồng cỏ là gì? (ĐN-t). chăn (giữ) chiên mà bài thi thiên đã Đồng cỏ xanh tươi là gì? (ĐN-t). Tại bắt đầu. sao lại “an nghỉ” thay vì “ăn, gặm”?


(TL-t). Bằng những đường lối cụ thể


nào, câu này cho thấy sự thật là Đức


Giê-hô-va khiến tác giả an nghỉ nơi


đồng cỏ xanh tươi? (TT-ct)


14. Không có mối liên hệ rõ rệt giữa 14. Trong các mối liên hệ này, thì mối hai câu 1 và 2. Các câu 2 trở về sau liên hệ nào là có giá trị? (KS). Có có thể có, hoặc là đặc điểm về ý tưởng thể nào có sự kết hợp các yếu tố trong được cá biệt hóa của c.1, hoặc là ý cả hai mối liên hệ ấy không? (KS). tưởng hậu thuẫn cho nó. Trong trường Nếu mối liên hệ gồm cả sự biến chuyển hợp đầu, tác giả thi thiên ngụ ý bảo từ tổng quát sang đặc thù, thì đâu là rằng “Vì Đức Giê-hô-va là Đấng Chăn cái tổng quát được cái đặc thù giải giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì; thích, và đâu là những câu phát biểu và điều tôi muốn nói khi bảo tôi chẳng đặc thù được cái tổng quát giải thích thiếu thốn gì, ấy là tôi sẽ được khiến (ĐN-ct). Nếu mối liên hệ là một mối an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi”, v.v... liên hệ có tính cách kết luận có các Trong trường hợp thứ hai, ông ngụ ý lý do kèm theo, thì đâu là câu kết muốn nói rằng “Vì Đức Giê-hô-va là luận vốn là hệ quả của các nguyên nhân, Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu và bằng các đường lối nào, các nguyên thốn gì; vì Ngài (đang) khiến tôi an nhân có thể đưa đến được một kết luận nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi” v.v... như thế? (ĐN-ct). Tại sao lại có sự xin lưu ý ở đây có sự biến chuyển từ chuyển biến từ thì tương lai sang thì thì tương lai ở c.1b sang thì hiện tại hiện tại? (TL-ct). trong c.2a


15. Đã không có mối liên hệ rõ rệt giữa 15. Các sự kiện này góm được phần gì hai phần của c.2. Tuy nhiên, sự kiện vào việc khám phá cách cấu trúc của phần thứ hai có cùng chủ từ với phần Thi thiên này? (KS). Đâu là yếu tính thứ nhất, tức là “Ngài”, gợi ý rằng yếu của các yếu tố cấu trúc đã nhờ đó mà tố mở rộng đang có mặt. Vế “(Ngài) dẫn được phát giác? tôi đến mé nước bình tịnh” dường như tiếp tục phần mô tả các hoạt động đặc thù của Đấng Chăn chiên là Đức Giê-hô-va Thật vậy, “Ngài” là chủ từ cứ tiếp tục mãi cho đến hết câu 3.


16. C.2b - Động từ là “dẫn”, dường như 16. Người chăn làm gì khi dẫn tác giả gợi ý có sự tương phản với ý niệm bị Thi thiên này? (MN-ct). Tại sao người kéo, bị lôi đi chăn lại “dẫn” thay vì “lôi, kéo, lùa


đi”? (TL-ct). Đâu là các hàm ý đầy đủ


hơn của sự kiện này (MN-ct)


17. C.2b - “đến mé nước bình tịnh” chỉ 17. Tại sao ở đây là từ “đến mé” chớ nơi tác giả được dẫn đến. Chú ý là chữ không phải chỉ là đến mà thôi? được dùng là “lại gần” (đến mé nước) (TL-ct). Đâu là chỗ khác nhau giữa là “đến” mà thôi. Điều người ta có thể phần chú thích bên lề với nguyên văn? trông mong. Chú thích bên lề (phần (ĐN-t và ct). Từ ngữ được dịch là cước chú) ghi “nước bình tịnh” là “nước “bình tịnh” mô tả phẩm chất của bình tịnh” là “nước an nghỉ” (giòng) nước, hậu quả do nước tạo ra,


hay cả hai? (ĐN-ct). Điều nào là đúng


tại sao Đấng Chăn giữ lại dẫn chiên


mình “đến mé nước bình tịnh”? (TL-ct)


18. C.2 - Từ trước cho đến đây, dường 18. Nếu quả đúng như vậy, thì đâu là như tác giả Thi thiên gợi ý rằng các ý nghĩa đầy đủ của các sự kiện ấy? nhu cầu của con chiên đều được Đấng (MN-ct) Chăn chiên là Thượng Đế đáp ứng như: đồng cỏ, sự an nghỉ và nước. Những điều này vốn không phải là dễ tìm tại xứ Palestine


19. C.3 - Ngài bổ lại linh hồn tôi, 19. Tại sao câu 3 lại cần đến nhiều dẫn tôi vào các lối công bình vì cớ từ theo nghĩa đen hơn? (TL-ct và t) danh Ngài”. Câu này có nhiều từ theo nghĩa đen hơn hai câu trước.


20. Có một vấn đề về mối liên hệ giữa 20. Đâu là mối liên hệ giữa c.3a với câu 3a với phần đi trước nó, vì không phần đi trước? (KS) Câu 3a là hậu quả thấy có sự liên quan rõ ràng nào cả. của c.2 hay song đối với c.2? (KS)


cho dầu có thế nào đi nữa, thì mối


liên hệ giữa chúng có ý nghĩa gì?


(ĐN-ct).


21. C.3a - Túc từ đối tượng của “bổ 21. “Bổ lại” có nghĩa gì? (ĐN-t) lại” không phải là “thân thể” nhưng “Linh hồn” được định nghĩa ra sao? là “linh hồn”. (ĐN-t). Nó giống hay khác với “tâm


linh”? (ĐN-t). Tại sao tác giả Thi


thiên lại dùng từ “linh hồn” mà không


dùng một từ nào khác, như “thân thể”


chẳng hạn? (TL-t). Việc dùng từ này


có thể chỉ ra điều gì vế mối liên hệ


giữa c.3a với phần đi trước? (KS).


Tại sao Đấng chăn giữa lại bổ lại


linh hồn của tác giả Thi thiên?


(TL-ct) Sự bổ lại này được thực hiện


bằng những đường lối đặc thù nào?


(TT-ct)


22. C.3a - “(Ngài) dẫn tôi vào các 22. “Dẫn” có nghĩa gì? (ĐN-t). Nó đồng lối công bình, vì cớ danh Ngài” - nghĩa với “lãnh đạo, cầm đầu” hay khác Từ “dẫn” được dùng, khác với từ “dẫn” nghĩa? (ĐN-t). Tại sao Đấng Chăn chiên ở c.2b (theo bản AV, ở c.2b là “dẫn” chiên Ngài? (TL-ct) “badeth” - có nghĩa là lãnh đạo, cầm đầu), còn ở đây là “guideth”, là hướng dẫn chỉ dẫn).


23. C.3b - Động từ “dẫn” được ba nhóm 23. Các mối liên hệ về cấu trúc này có từ có giá trị liên tứ từ thêm nghĩa nghĩa gì? (ĐN-ct) Chúng hàm ý gì? cho. Hai nhóm từ đầu “vào các lối (MN-ct) công bình” Chỉ hướng của sự dẫn dắt; nhóm tứ thứ ba, “vì cớ danh Ngài” nói lên lý do của sự dẫn dắt.


24. C.3b - “các lối” có số nhiều 24. Tại sao từ “lối” được dùng ở đây,


cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng?


(TL-t) lý do nào khiến nó phải có số


nhiều, nếu có? (TL-t)


25. C.3b - Các lối mà tác giả Thi 25. Từ “công bình” (công chính - thiên được dẫn vào đã được mô tả righteousness) nói lên điều gì? (ĐN-t) là “các lối công bình” Chủ đích của việc dẫn vào “các lối công


bình” là gì? (Tl-ct). Sự công bình


(chính) của ai? (ND-ct)? Phải chăng


“công bình (chính” chỉ nêu ra một đặc


điểm của các lối đi, nghĩa là chúng


vốn ngay thẳng công chính, hay còn chỉ


ra mục tiêu của các lối đi ấy, tức là


các đường lối dẫn đến sự công chính,


hay nhờ đó người ta có thể trở thành


công chính? (ĐN-ct). Đâu là các hàm ý


của câu định nghĩa được cho là có giá


trị? (MN-ct)


26. C.3b - “Vì cớ danh Ngài” nói lên 26. “Vì cớ” được định nghĩa như thế động cơ thúc đẩy việc dẫn vào các lối nào? (ĐN-t). “Danh” có nghĩa gì? công bình. Tiền từ của “Ngài” là Đức (ĐN-t). Tại sao từ “danh” được dùng ở Giê-hô-va Đấng Chăn giữa. “Vì cớ danh” đây thay vì một từ khác, như “riêng” lưu ý hai từ “vì cớ”. Do đó, chủ đích chẳng hạn? (TL-t). Điều gì trong danh của việc dẫn dắt đề cập ở đây liên hệ Ngài cung cấp động cơ thúc đẩy hay chủ đến Đức Giê-hô-va và đặc biệt là đến đích cho việc dẫn vào các lối công danh Ngài nhiều hơn khúc sách này bình? (ĐN-ct). Đâu là những hàm ý rộng không viết” vì cớ chiên”, có thể là lớn hơn trong sự kiện gắn liền với mối điều mà theo lẽ thường mọi người đều liên hệ cấu trúc này? (MN-ct) mong đợi.


27. Không thấy có mối liên hệ rõ rệt 27. Các vế này có liên hệ gì với nhau? giữa c.3b và c.3a. Ta có thể đặt câu (KS). Định luật công cụ có được sử dụng hỏi phải chăng c.3b song đối với câu hay không? (KS). Nếu đây là mối liên 3a, hay nó nói lên một sự tiến triển? hệ cấu trúc, nó có nghĩa gì? (ĐN-ct) Nếu có một bước tiến triển hệ quả của nó có thể là cách sử dụng một ý niệm làm công cụ. “Sở dĩ Ngài bổ lại linh hồn tôi là nhằm mục đích có thể dẫn tôi vào các lối công bình vì cớ danh Ngài” hoặc “Vì Ngài muốn dẫn dắt tôi, nên bồi bổ cho tôi”


28. C.4a - “Vâng) dầu khi tôi đi trong 28. Từ “Vâng, Phải” cố ý nhấn mạnh này trũng bóng chết” - Liên từ “Vâng” cố ý nói lên điều gì? (ĐN-ct). Tại sao tác này (theo bản AV) được dùng ở đầu câu. giả Thi thiên dùng loại liên từ này Đây là liên từ đầu tiên được dùng để tại điểm nối liền này? (TL-ct) nối liền các vế với nhau. Việc vắng bóng các liên từ rõ rệt ở đầu các vế đi trước khiến nó nổi bật hẳn lên nhờ phép đặt tương phản.


29. C.4a - “Đi” mô tả một hành động 29. Từ “(bước) đi” có nghĩa gì, nhất chưa hoàn tất, do đó, có thể ám chỉ cả là theo nghĩa bóng? (ĐN-t). Tại sao hiện tại lẫn tương lai. Điều này cũng thì này lại được dùng ở đây (TL-t) nghiệm đúng với các động từ khác trong c.4


30. C.4a - Một loạt ba nhóm từ có giá 30. Tiền trí từ “qua” nói lên điều gì? trị tiền tứ từ đã được dùng để mô tả (ĐN-t). Tại sao lại dùng “qua” mà việc “(bước) đi": một là nhóm từ có giá không dùng một tiền trí từ khác, như trị trạng từ chỉ nơi chốn “qua trũng”, “trong” chẳng hạn? (TL-t). Hơn nữa chỉ hướng hay nơi chốn của bước đi; hai “trũng” là gì? (ĐN-t). Tại sao “trũng” là nhóm từ có giá trị tĩnh từ “(của) lại được dùng ở đây? (TL-ct). “Bóng” bóng”, hình dung ra phẩm chất, đặc tính là gì? (ĐN-t) Tại sao nó được dùng ở của “trũng”; và ba là nhóm từ có giá ở đây ?(TL-t). Phải hiểu “chết” theo trịtĩnh từ “(cửa) chết” thêm nghĩa cho nghĩa đen hay nghĩa bóng? (ĐN-t). Có từ “bóng”. Cả hai (nhóm) từ sau đều gì tham dự vào mối liên hệ giữa định nghĩa cho “trũng”. Lưu ý phần chú “bóng” với “chết” (ĐN-ct). Việc chú thích bên lề “bóng tối sâu thẳm”, kết ý đến phần ghi chú bên lề góp phần hợp hai (nhóm) từ sau. gì vào việc hiểu rõ nhóm từ “bóng


chết”? (ĐN-ct). Phải chăng từ “chết”


được dùng hàm ý loại bóng tối tồi tệ


tàn hại nhất, trường hợp cùng cực,


đáng sợ nhất của sự tối tăm? (TC-ct)


31. Rất có thể mối liên hệ giữa c.3b 31. Phải chăng đây là mối liên hệ và c.4a là mối liên hệ cá biệt hóa ý chính đích thực trong sự chuyển biến tưởng. Nói khác đi, “trũng tối tăm sâu giữa c.3 và c.4? (KS). Nếu vậy, mối thẳm” có thể là một trong những “lối liên hệ ấy muốn nói lên điều gì? công bình” và “(bước) đi” (vào đó) có (ĐN-ct). Tại sao Đấng Chăn giữ lại thể là do Đức Giê-hô-va là Đấng Chăn dẫn chiên mình qua trũng của sự tối giữ hướng dẫn tăm sâu thẳm? (TL-ct). Đâu là các hàm ý đầy đủ của luật cá


biệt hóa ở đây? (MN-ct) (26)


32. C.4b - “Tôi sẽ chẳng sợ tai họa 32. Đâu là ý nghĩa của mối liên hệ nào” - Đây là vế độc lập mà vế đi trước cấu trúc giữa hai vế này? (ĐN-ct) nó chịu lệ thuộc vào. Tác giả muốn nói rằng “Bất chấp các hoàn cảnh đã được mô tả trong vế trước, điều này sẽ trở thành sự thật”


33. C.4b - Túc từ đối tượng của “sẽ... 33. “Sợ” là gì? (ĐN-t) “Tai họa” là sợ” là “tai họa” được từ “chẳng” phủ (bản AV là evil)? (ĐN-t). Tại sao định nêu rõ nghĩa, ngụ ý thể phủ định tác giả Thi thiên nghĩ cả đến nỗi sợ tuyệt đối: bất luận là tai họa nào. (TL-ct)? “Chẳng sợ tai họa nào” trong Cũng cần lưu ý là tác giả Thi thiên hoàn cảnh được mô tả ở c.4a có nghĩa không nói là sẽ chẳng có tai họa nào gì (ĐN-ct). Đâu là ý nghĩa đầy đủ hiện diện cả đâu, nhưng bảo rằng chẳng của sự kiện tác giả Thi thiên không có tai họa nào mình phải gặp là đáng nói lên việc không có tai họa, mà sợ cả. gợi ý về việc không sợ? (MN-ct)


34. C.4b và c - “Tôi sẽ chẳng sợ tai 34. Đâu là mối liên hệ chính xác họa nào” được hậu thuẫn bằng hai lý do: giữa hai vế đã được dùng để hậu thuẫn vì Chúa ở cùng tôi”, và “cây trượng và cho việc chẳng sợ tai họa nào? (KS) cây gậy của Chúa an ủi tôi”. Hai câu này Tác giả muốn lợi dụng mối liên hệ có thể được đưa vào vì lý do đối ngẫu, này để nói lên điều gì? (ĐN-ct) hoặc trường hợp sau có thể là một trường hợp trước. Trong trường hợp đầu, mối liên hệ rất rõ ràng như sau “Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào cả vì Chúa ở cùng tôi, lẫn vì cây trưởng và cây gậy của Chúa an ủi tôi”. Trong trường hợp sau, ý nghĩa có thể là như sau “Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào vì Chúa ở cùng tôi, mà một khi đã ở cùng tôi, thì Chúa sẽ dùng cây trượng và cây gậy của Ngài để an ủi tôi”


35. C.4b - “Chúa ở cùng tôi” - tiền từ 35. “Ở với” diễn tả điều gì? (ĐN-t) của Chúa là Đức Giê-hô-va Đấng chăn giữ Theo nghĩa nào tác giả Thi thiên có "Tôi” là chủ từ của cả hai vế đi trước thể nói là Đức Giê-hô-va Đấng chăn Mối liên hệ giữa “Chúa” với “tôi” là giữ “đang ở với ông? (ĐN-ct) ở đây có rõ ràng do sự bất kết hợp với nhau “ở” lý do nào để viết động từ “ở” theo với tiền trí tờ “cùng” “ở” thuộc thì thì hiện tại, trong khi động từ “sẽ. hiện tại, trong khi động từ đi trước nó ...sợ” của vế trước là được viết theo “sẽ...sợ” lại thuộc thì tương lai. thì tương lai hay không? (TL-ct) Hàm


ý rộng rãi hưn của mối liên hệ về


cấu trúc được dùng ở đây là gì?


(MN-ct)


36. C.4c - “Cây trượng và cây gậy của 36. Tại sao lại có việc lặp lại “của Chúa” - Lưu ý việc nhắc đi nhắc lại của Chúa”? (TL-ct). Cây “trượng” là gì? “của Chúa” (bản Anh văn dịch là: cây (ĐN-t) còn cây “gậy” là gì? (ĐN-t). trượng của Chúa và cây gậy của Chúa). Chúng giống nhay hay vốn khác nhau? Cũng lưu ý cách dùng hai từ “trượng” và (ĐN-ct). Tại sao tác giả lại đề cập “gậy” cả “trượng” lẫn “gậy”? (TL-ct)


37. C.4c - “an ủi tôi"- Yếu tố rườm rà 37. Tại sao lại dùng đại danh từ đã xuất hiện ở đây (bản Av là: chúng an chúng (bản AV) tuy dường như nó ủi tôi). Đại danh từ chúng mà tiền từ là chẳng có gì cần thiết cả? (TL-t) “trượng” và “gậy” thì thật rõ ràng nhưng Động từ “an ủi” có nghĩa gì? (ĐN-t) không cần thiết. Động từ nói lên hành Cây trượng và cây gậy của Đức động của trượng lẫn gậy, là “an ủi” Giê-hô-va là Đấng Chăn giữ “an ủi”


tác giả Thi thiên như thế nào?


(MN-ct). Do đâu mà một sự “an ủi”


như vậy cất đi nỗi sợ tai họa?


(ĐN-ct)


38. C.5a - “Chúa dọn bàn cho tôi trước 38. Nhận xét rằng đã có sự thay đổi mặt kẻ thù nghịch tôi” - Tiền từ của hình ảnh từ người chăn sang Chúa là Đức Giê-hô-va, nhưng dường như người chủ nhà, có không còn là Đức Giê-hô-va Đấng chăn đúng hay không? (KS). Nếu đúng thì giữ nữa, vì một người chăn không hề dọn tại sao lại có thay đổi như vậy? bàn cho chiên mình. Bức tranh dường như (TL-ct) giữa người chăn chiên với đã chuyển thành hình ảnh của một chủ ông chủ nhà tiếp khách, có những điểm nhà tiếp khách. Điều này hàm ý rằng tác tương đồng hoặc dị biệt nào không? giả Thi thiên là vị khách được Đức (ĐN-ct). Chỉ có sự thay đổi về hình Giê-hô-va trọng vọng. thức mà thôi hay về cả nội dung nữa?


(ĐN-ct) Đâu là mối liên hệ giữa các


ý niệm ở cc.5 và tt, với các ý niệm


trong cd.1-4? (KS). Người chủ nhà


dọn bàn ăn thì cần có những gì?


(ĐN-ct) Đức Giê-hô-va dọn bàn cho


tác giả Thi thiên có nghĩa gì?


(ĐN-ct). Nói rõ việc ấy có


thể được thực hiện như thế nào?


(TL-ct). Đúng ra thì Đức Giê-hô-va


là chủ nhà, còn tác giả Thi thiên là


vị khách được Ngài trọng vọng theo ý


nghĩa nào? (ĐN-ct). Đâu là những hàm


ý rộng rãi hơn của mối liên hệ Chủ


nhà - Thực khách này? (MN-ct)


39. C.5a - Một loạt hai nhóm giới từ 39. Ai là bọn người “thù nghịch” với đã được dùng để chỉ nơi tác giả Thi thiên? (ĐN-ct). Tại sao chiếc bàn ăn đã được dọn ra: một là tác giả Thi thiên lại có nhiều kẻ “cho tôi” - bàn ăn được dọn ra trước thù? (TL-ct). Đức Giê-hô-va dọn bàn mặt tác giả Thi thiên; và hai là “trước cho tác giả Thi thiên trước mặt các mặt (các) kẻ thù nghịch tôi” - chẳng kẻ thù nghịch ông, có nghĩa gì? những chỉ là trước mặt tác giả Thi thiên (ĐN-ct). Tại sao tác giả Thi thiên mà thôi, nhưng điều càng gây ngạc nhiên lại nghĩ rằng Đức Giê-hô-va sẽ làm nhiều hơn nữa, là trước mặt cả bọn người việc ấy? (TL-ct) thù nghịch tác giả Thi thiên nữa.


40. C.5b - “Chúa xức dầu cho đầu tôi” - 40. “Xức dầu” có nghĩa gì? (ĐN-t). Điều này dường như nói về một hành động Đầu là gì? (ĐN-t). Tại sao Đức khác nữa của Đức Giê-hô-va - Chủ nhà. Giê-hô-va - Chủ nhà lại “xức dầu”? Chẳng những Ngài dọn bàn ăn, mà còn (TL-ct). Tại sao lại cứ sự thay đổi xức dầu cho đầu của tác giả Thi thiên thì của động từ (theo bản AV) như đã nữa. “Dọn” thuộc thì hiện tại, trong khi được nhận xét? (TL-ct). Có gì can dự “(đã) xức dầu” lại thuộc thì hiện tại đã vào mối liên hệ giữa ca.5b và c.5a? hoàn tất. (ĐN-ct)


41. C.5a - “Chén tôi đầy tràn” - Dường 41. Cái “chén” được dùng nhằm chủ như đúng ra vế này phải tiếp sau c.5a, đích gì? (ĐN-t). Tại sao lại là cái thế nhưng nó lại tiếp sau c.5b. Cũng “chén” ở đây? (TL-ct). Chén của tác chú ý thì của câu nói của tác giả Thi giả đầy tràn có nghĩa gì? (ĐN-ct). thiên là chén của ông đang đầy tràn. Tại sao chén của ông được đổ cho đầy Đây là thì hiện tại đơn thuần, tương tràn, thay vì chỉ vừa đầy mà thôi? phản với thì hiện tại đã hoàn tất của (TL-ct). Tại sao lại có thay đổi thì “(đã) xức dầu”. Hơn nữa, câu này không của động từ đã hoàn tất sang hiện tại chỉ nói rằng chiếc chén đang đầy, mà đơn thuần? (TL-ct). Có mối liên hệ nó còn đầy tràn nữa. nào giữa câu đề cập việc xức dầu và


câu đề cập chiếc chén? (KS). Tại sao


câu sau lại nối tiếp câu trước


(TL-ct). Có mối liên hệ nào giữaviệc


xức dầu với tình trạng đầy tràn


không; nếu có thì đó là gì? (KS).


Tại sao tác giả lại lợi dụng điều


đó? (TL-ct).


42. Dường như có một số đối ngẫu giữa 42. Đây có phải là một nhận xét có giá hai hình ảnh về người chăn chiên với trị (đúng) hay không? (KS). Nếu có, tại người chủ nhà. Thí dụ có sự tương đồng sao tác giả đã sử dụng các phép đối giữa “đồng cỏ xanh tươi” của c.2 với ngẫu này? (TL-ct) “bàn” của c.5. Hơn nữa, dường như cũng có chỗ giống nhau giữa “sự tối tăm sâu thẳm” và “tai họa” của c.4, với các “kẻ thù nghịch” của c.5, cũng như giữa “chẳng sợ tai họa nào” của c.4, với việc dọn bàn “trước mặt kẻ thù nghịch tôi” trong c,5


43. C.6a - “Quả thật...phước hạnh và sự 43. “quả thật” và “chỉ có” là giống thương xót sẽ theo tôi” - Phần ghi chú nhau hay khác nhau? (ĐN-t). Từ nào bên lề về từ “quả thật” nhằm nhấn mạnh gần phù hợp với tư tưởng ở đây hơn? là “chỉ có”. Đây là từ thứ hai nhằm (KS). Đâu là sức mạnh đầy đủ của từ nhấn mạnh đã được dùng trong Thi thiên “quả thật” hoặc từ “chỉ có” nếu được này sau từ thứ nhất là “Vâng” của c.4 dùng ở đây (ĐN-ct). Tại sao Thi thiên “Phước hạnh” và “sự thương xót” dường lại dùng nó ở đây? (TL-ct) “Phước như đã được nhân cách hóa. “sẽ theo tôi” hạnh” được định nghĩa như thế nào? thuộc thì tương lai, tuy dường như nó (ĐN-t). Còn “sự thương xót”? (ĐN-t) cũng gồm luôn hiện tại nữa. Chúng liên hệ với nhau như thế nào?


(KS). Tại sao tác giả Thi thiên lại


dùng hai danh từ ấy? (TL-ct). Tại


sao ông lại dùng cả hai? (TL-ct)


“phước hạnh” và “sự thương xót” là


của ai? (ND-ct). Yếu tính của từ


“theo” là gì? (ĐN-t). Phước hạnh và


sự thương xót...theo “tác giả Thi


thiên như thế nào? (TT-ct). Tại sao


lại có việc nhân cách hóa rõ rệt


như vậy? (TL-ct). Tại sao lại là “sẽ


theo”, thuộc thì tương lai? (TL-ct)


44. Dường như có sự tương phản mặc nhiên 44. Các mối liên hệ giữa c.6a và giữa c.6a và c.5. Thay vì tác giả Thi những gì đi trước nó đó, có đúng là thiên bị các kẻ thù rượt đuổi, thì có hay không? (KS). Nếu không, thì “phước hạnh” và “sự thương xót” lại theo đâu là các mối liên hệ? (KS). Có gì ông. Chú ý các yếu tố tương phản và là tham dự vào việc sử dụng các mối liên nguyên nhân dường như đều có mặt khi ta hệ ấy? (ĐN-ct) nối liền sự kiện tác giả Thi thiên theo sự lãnh đạo của Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ ông trong cc.2-3, và sự kiện “phước hạnh” và “sự thương xót” bám theo ông trong c.6. Đã có sự tiến bộ từ “người noi theo” thành “người bị noi theo”


45. C.6a - “trọn đời tôi”. Đây là hai nhóm 45. Tại sao tác giả Thi thiên lại giới từ cùng chỉ đặc tính định tính cho “sẽ theo” như thế? thời gian của “sẽ theo”. Chúng trả lời cho (TL-ct) câu hỏi mà không cần phải định tính. Tác giả Thi thiên không nói “Phần lớn cuộc đời tôi” hay “Gần như trọn đời tôi”.


46. C.6b - “Tôi sẽ ở trong nhà Đức 46. Liên từ “và” gợi ý về mối liên Giê-hô-va cho đến lâu dài” - Liên từ giữa hệ gì với vế đi trước? (KS). Có gì hai phần của c.6 là “và” (theo bản AV, “Và tham dự vào mối liên hệ này? (ĐN- tôi sẽ..."). “Sẽ ở” thuộc thì tương lai, ct). Từ “ở” quan trọng như thế nào? tuy nó cũng có thể ôm choàng cả hiện tại Tại sao lại là thì tương lai? (TL-ct) “Trong nhà Đức Giê-hô-va” chỉ ra nơi chốn (ĐN-t). “Nhà Đức Giê-hô-va là gì? của hành động của động từ. “Cho đến lâu (ĐN-ct). Tại sao lại ở trong nhà dài” nói lên chiều dài thời gian. Phần ghi Đức Giê-hô-va “cho đến lâu dài”? chú bên lề cho nhóm từ cuối cùng này là (TL-ct) “Cho đến lâu dài” của c.6b “mãi mãi” Cần lưu ý là yếu tố thời gian với “trọn đời tôi” trong c.6a gợi ý ở đây rõ ràng là vô hạn định. Cũng giống nhau hay khác nhau như thế cần ghi nhận sự giống nhau rõ rệt giữa nào? (KS). Tại sao lại có những “cho đến lâu dài” của c.6b với “trọn đời điểm giống nhau hoặc khác nhau đó? tôi” ở c.6a (TL-ct)


47. Có vấn đề về mối liên hệ giữa c.6 với 47. C.6 có liên hệ gì với c.5? (KS) c.5 và với phần còn lại của Thi thiên này. Hình ảnh người chủ nhà có được tiếp


tục sang c.6, hay đã chấm dứt ở


cuối c.5? (KS). Mối liên hệ giữa


c.6 với c.5 có ý nghĩa gì? (ĐN-ct)


c.6 có liên hệ gì với toàn bài Thi


thiên này? (KS) Nó là phần tóm tắt


cho toàn bài, hay một điểm đặc


trưng khác nữa bao gồm trong việc


khuếch đại luận đề của c.1? (KS).


Hay nó tạo thành một tuyệt đỉnh,


liên hệ đến chuyển biến còn toàn


bài Thi thiên này? (KS) Mối liên


hệ của nó với toàn bài có khác với


mối liên hệ giữa nó với c.5 không?


(KS). Mối liên hệ của nó với toàn


bài có ý nghĩa gì hoặc nhằm vào


mục đích gì? (ĐN-ct)


48. Dường như bài Thi thiên này hàm chứa 48. Một phân tích như thế có giá trị ba yếu tố hàng đầu sau đây: đặc tính của (đúng) hay không? (KS). Nếu có, tại Đức Giê-hô-va và mối liên hệ giữa Ngài sao ba yếu tố ấy lại được sử dụng với tác giả Thi thiên; các hành động của trong bài Thi thiên này? (TL-ct). Đức Giê-hô-va nảy sinh từ đặc tính của Hiện diện và việc dùng chúng trong Ngài với tác giả; và các hậu quả của bài thi thiên này có những hàm ý những hành động ấy trong từng trải của tác gì? (MN-ct) giả.


49. Rõ ràng là không có những dấu chỉ dứt 49. Ai là tiền từ của đại danh từ khoát về thời gian và không gian (nơi chốn thuộc ngôi thứ nhất? (ND-t). Những vị trí) của bài Thi thiên này. Dấu chỉ rõ lời này đã được nói ra khi nào và ràng duy nhất là lý lịch đặc thù của tác ở đâu? (TG và ĐP) (27) giả bài Thi thiên và nhan đề của nó, là “Thơ Đa-vít làm”


50. Bầu không khí của bài Thi thiên có thể 50. Có gì bao hàm trong những mô được mô tả theo nhiều cách: lòng bình an tả như vậy? (ĐN-bk). Chúng được nhờ tin chắc, an tâm tin quyết, an nghỉ thực hiện như thế nào trong bài trọn vẹn, vui vẻ tin cậy. Thi thiên? (TT-bk). Đây là những


hàm ý của chúng? (MN-bk)


51. Đây là một bài Thi thiên nói về từng 51. Tại sao tác giả Thi thiên này trải. Nó có nền móng là sự thành công mỹ lại dùng từng trải trong quá khứ mãn cả trong quá khứ lẫn hiện tại và còn và hiện tại để làm cơ sở cho những vượt xa hơn với những cây đề cập các hoài mong ước tương lai của ông? (TL-ct) bão tương lai nữa. Những phát biểu liên Các hàm ý càng rộng lớn hơn liên hệ đến tương lai luôn luôn có cơ sở những hệ đến việc này là gì? (MN-ct) chiến thuật đã xảy ra trong quá khứ và hiện tại. Độc giả có thể tìm lại được sự kiện này khi theo dõi các dấu vết để lại trong tương bài Thi thiên này.


52. Tác giả Thi thiên này đã dùng thể loại 52. Có gì chứng minh rằng Thi thiên thi ca trong văn chương để diễn tả tư tưởng 23 là một bài thơ? (ĐN-tl). Tại của mình. sao tác giả lại lợi dụng thể loại


thi ca để tâm sự? (TL-tl). Việc


biết rõ thể loại thi ca của Thi


thiên 23 giúp ta giải nghĩa nó


đúng hơn như thế nào? (TT-tl) (28)


Để trả lời một vài thắc mắc có thể đã nảy sinh trong tâm trí quý độc giả liên hệ đến bài tập này, và nhằm tránh bất luận những hiểu lầm nào liên hệ đến nó, sau đây là một bảng liệt kê những lời giải thích mà quý độc giả được khuyến cáo là nên hết sức chú ý.


Thứ nhất, đừng quyết đoán rằng phần minh họa này vắt kiệt được mọi tiềm năng của Thi thiên 23. Trái lại, nó chỉ tiêu biểu cho một số khảo sát (nhận xét phân tích...) và những thắc mắc sơ đẳng có thể ghi nhận trong khi học hỏi nghiên cứu mà thôi.


Thứ hai, bài tập chứng minh này được căn cứ vào cách sử dụng bản American Revised Version. Phần tham khảo Hy bá lai văn đã bị cố ý lờ đi, nhằm mục đích chỉ minh họa cho việc nghiên cứu trực tiếp một bản dịch ra ngôn ngữ thông dụng (tiếng mẹ đẻ của người nghiên cứu) mà thôi. Hơn nữa, dự án được giới hạn chỉ trong một bản dịch mà thôi, để được thật ngắn gọn. Quý độc giả có thể đem đối chiếu với nhiều bản dịch khác nhau và nếu có thể thì khảo xét cả nguyên văn để có được nhiều nhận xét hơn.


Vì đoạn phát biểu này làm nảy sinh nhiều câu hỏi về mối liên hệ giữa nguyên văn với việc nghiên cứu đúng phương pháp căn cứ vào một bản dịch ra một ngôn ngữ thông dụng, ta có thể lợi dụng chút ít thì giờ để xem xét việc ấy ở đây.


Về vấn đề này, ta có hai cách chọn lựa chủ yếu. Một là đặt hai bản dịch và nguyên văn bên cạnh nhau khi làm công tác khảo sát để lúc nào cũng có thể sẵn sàng cả hai. Nếu làm theo cách này, thì tốt nhất là nên xem nguyên văn như một trợ cụ cho việc nghiên cứu bản dịch ra ngôn ngữ thông dụng, chớ không phải lấy bản dịch ra ngôn ngữ thông dụng làm trợ cụ cho việc nghiên cứu nguyên văn. Nghĩa là ta phải chú ý trước nhất vào bản dịch ra ngôn ngữ thông dụng. Gợi ý này phù hợp với nguyên tắc nghiên cứu trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ (29). Một trong những giá trị quan trọng của phương pháp tiếp cận này là có thể tránh được nhiều nhầm lẫn khi khảo sát nhất là khi có những biến cách (inflections) của từ ngữ. Cách chọn thứ hai là chỉ dùng các bản dịch khi ta tiếp cận lần đầu tiên với một khúc sách. Việc này giúp ta nhận thức rõ ràng hơn giá trị của ngôn ngữ thông dụng, vì ta chỉ tập trung chú ý vào đó mà thôi. Trong trường hợp này, ta chỉ sử dụng nguyên văn sau khi đã hoàn tất giai đoạn nghiên cứu trong đó các câu hỏi dẫn đến việc lý giải đều đã được trả lời cả rồi. Các nhầm lẫn có thể có trong lúc khảo sát có thể được sửa sai kịp thời. Quý độc giả được khuyến cáo hãy áp dụng cách thực hành nào phù hợp nhất với các khả năng và nhu cầu riêng của mình.


Thứ ba, có thể có người sẽ cho rằng Thi Tv 23:1-6 là một bài thơ, nên không thể bị đem ra phân tích để phê bình như thế,c ách chọn lọc có chủ đích và cấu trúc văn chương của nó. Chắc chắn rằng một bài thơ hay không thể là phi lý hay vô mục đích. Quả thật là trước hết, nó kêu gọi đến tình cảm, như chúng tôi đã vạch rõ từ trước cho đến giờ (39); nhưng dầu sao, nó cũng vẫn là một cách bộc lộ, diễn tả tâm tình. Do đó, ta phải cố gắng giữ cho các yếu tố tình cảm và lý trí được cân bằng khi lý giải.


Thứ tư, bài tập này không thể được dùng như một mẫu mực chính xác phải “cóp” theo khi nêu ra và ghi lại các câu hỏi có tính cách nhận xét (sau khi khảo sát) dẫn đến việc lý giải. Mỗi người đầu phải phát triển một loại phương thức cá nhân, phù hợp với mình hơn hết. Thí dụ phương pháp dùng hai cột song song nhau không được đề nghị cho tất cả mọi người vì nhiều lý do. Một trong số các lý do ấy, là không phải tất cả mọi người đều thích liệt kê các nhận xét và các câu hỏi dẫn đến việc lý giải đồng thời với nhau Sở dĩ tác giả sách này thích phương thức ấy, là vì các câu hỏi sẽ càng có ý nghĩa và dễ dàng đến với tâm trí mình hơn khi việc khảo sát, nhận xét hãy còn tươi mới. Tuy nhiên, nhiều người có thể nhận thấy có nhiều phương pháp tiếp cận khác sẽ đem đến nhiều hiệu quả hơn. Nếu quả đúng như thế, thì bằng mọi cách, phải sử dụng phương pháp tiếp cận khác đó. Phần minh họa rút ra từ 23:1-6 nhằm lý giải nảy sinh như thế nào từ công tác khảo sát, chớ không hề có tham vọng trình bày một mẫu mực lý tưởng để ai ai cũng phải noi theo. Điều này được hậu thuẫn bằng sự kiện bản thân tác giả cũng thường thay đổi cách tiếp cận của chính mình (31).


Thứ năm, chúng tôi không hề trông mong quý độc giả sẽ thấy ngay tức khắc ý nghĩa của tất cả các nhận xét và câu hỏi. Thật vậy, cả khi ý nghĩa của chúng được hiểu thật chắc chắn, ta sẽ thấy rằng tầm quan trọng của chúng sẽ thay đổi. Tuy nhiên, tất cả đều có một ý nghĩa nào đó; và nếu chẳng may phần ý nghĩa đó không được rõ ràng khi thoạt nhìn vào, và nhiều nhận xét và câu hỏi khác lại xuất hiện có vẻ sắc bén hơn, thì quý độc giả được khuyến cáo là nên nghiêm chỉnh cố gắng để tìm hiểu tầm quan trọng của chúng. Vì nếu chịu làm như vậy, quý độc giả sẽ thấy là cái nhìn xuyên suốt, thông tuệ của mình sẽ phát triển, tăng trưởng và chắc chắn là chúng sẽ càng tăng thêm phần ý nghĩa. Lý do thông thường khiến chúng ta không hiểu được ý nghĩa của các sự việc sự vật vốn không phải do chính các sự việc sự vật ấy, mà là do đôi mắt của chúng ta (32).


Thứ sáu, bài tập trên đây chứng minh loại công tác khảo sát bắt cầu bằng một phần phân tích chi tiết các thành phần và kết thúc bằng việc tổng hợp các thành phần. Trong một phương pháp tiếp cận như thế, sẽ rất hữu ích nếu ta kết luận việc khảo sát của mình bằng cách đọc đi đọc lại tất cả để nắm được sức tác động toàn diện của nó. Vì có nguy cơ là người ta có thể chỉ thấy cả khu rừng mà không nhìn thấy các cây mọc trong đó (33).


Thứ bảy, cần lưu ý là tiến trình khảo sát siêu vượt trên cái nhìn suông bằng thị giác mà thôi. Tuy các chữ trong văn bản sở dĩ được chép ra là để chắc chắn rằng đôi mắt người đọc đang dán vào văn bản, để tâm trí người ấy phải chăm chú vào đó, và để có cơ sở đối chiếu, tham khảo, việc ghi ra các nhận xét không kết thúc ở đó: Nhiều nhận xét về văn bản sẽ đẩy mạnh thêm phần ý thức, hiểu biết về nội dung của nó. Hơn nữa, một số những cách lý giải nào đó cũng đi vào tiến trình này. Để được chắc chắn, khi có việc lý giải như thế vượt khỏi những gì vốn hiển nhiên, thì nó có thể bị xem là chỉ có tính cách thử nghiệm mà thôi. Nhưng sở dĩ nó hiện diện là vì sự hiện diện của nó đã bao gồm trong những gì đã được ý thức, được hiểu. Tóm lại, tiến trình khảo sát bị hai nhận xét chủ yếu cai trị: nó được hướng dẫn để trở thành có ý nghĩa và đáng công, và nó được hướng dẫn sao cho nó khỏi tiếm vị của giai đoạn lý giải bằng cách nghiên cứu quy nạp (34)


Thứ tám, trong một số các trường hợp, phần phân tích văn phạm cố ý được đưa vào là để giúp quý độc giả ý thức rằng nó vốn gắn liền với tiến trình khảo sát, tuy người ta có thể không luôn luôn làm việc ấy một cách có ý thức (35)


Về việc này, cần nhấn mạnh rằng công tác phân tích văn phạm phải được sử dụng sao cho nó trở thành một cứu cánh chớ không phải chỉ như một phương tiện. Đây là điều phải cẩn thận cảnh giác, vì văn phạm là một tên đầy tớ chớ không phải là một chủ nhân ông. Thật vậy, nếu việc sử dụng ngôn ngữ về văn phạm lại trở thành một gánh nặng đến nỗi, nó bắt buộc người ta phải chú ý đến chính nó và do đó, gây trở ngại cho việc khảo sát, thì ta phải bằng mọi cách loại trừ nó đi (36). Cũng phải biết lợi dụng việc quan sát tiêu cực khi không thấy có các mối liên hệ minh nhiên.


Thứ mười, đơn vị căn bản để khảo sát là vế. Theo thói quen, vế thứ nhất được nhận xét toàn diện, sau đó là khảo sát các thành phần của nó. Đây là một phương thức thực tế, vì từ và mệnh đề không nằm riêng rẽ một cách có ý nghĩa ngoài các mối liên hệ của chúng bên trong các vế. Hơn nữa, nó giúp ta tránh được việc cắt rời các đơn vị tư tưởng thành nhiều phần quá nhỏ đến mức việc chúng hòa nhập vào nhau sẽ bị huỷ diệt đi.


Thứ mười một, nhiều khi nhiều nhận xét được ghi lại thành một nhóm vì các mối liên hệ giữa chúng với nhau, và nhiều lúc khác, các nhận xét phải được ghi nhận riêng ra. Chẳng hề có một định luật khe khắt và chặt chẽ nào hướng dẫn được cho người ta quyết định số nhận xét nào phải được nhập chung lại với nhau thành một nhóm hay được liệt kê riêng rẽ. Tuy nhiên, mỗi người phải chú ý để khám phá ra các phương tiện tổ chức và ghi ra các nhận xét sao cho chúng trở thành có ý nghĩa và thường xuyên tiện dụng cho mình (37)


Thứ mười hai, tuy không có nỗ lực triệt để nào dán lên được các từ cái nhãn hiệu là từ được dùng theo thói quen hay không theo thói quen, là có nghĩa đen hay nghĩa bóng, việc phân loại này phải được dùng khi làm bài tập. Thí dụ các từ do thói quen thì không cần phải khảo sát quá tỉ mỉ.


Thứ mười ba, việc phân loại các câu hỏi, trong nhiều trường hợp, phải được bỏ ngỏ cho việc thảo luận, tranh cãi. Điều này đặc biệt nghiệm đúng khi muốn phân biệt các câu hỏi liên hệ đến các từ hay đến cách cấu trúc. Vì tuy các từ vốn có một nội dung nột tại nào đó, chúng vốn chẳng có liên hệ gì với nhau đến nỗi lắm khi rất khó suy nghĩa về chúng ngoài các mối liên quan giữa chúng với nhau. Xin quý độc giả chớ cảm thấy bối rối khi mình không đồng ý với một cách phân loại nào đó hoặc không hiểu một vài trong số đó. Chủ đích căn bản của nỗ lực muốn phân loại các câu hỏi là lưu ý đến sự kiện các câu hỏi ấy liên quan tới nhiều thành phần khác nhau cấu thành một khúc sách, và để làm sáng tỏ ý nghĩa và giá trị của nhiều loại câu hỏi liên hệ với nhiều giai đoạn lý giải có cần đến chúng.


Thứ mười bốn, có một số câu hỏi nêu ra có thể sẽ không có câu trả lời. Nhiều câu trả lời cho các câu hỏi khác có thể chẳng có ý nghĩa quan trọng lắm. Tuy nhiên, các sự kiện ấy không thể loại trừ ta ra khỏi việc cứ đặt các câu hỏi, thí dụ có một số câu hỏi thoạt đầu có vẻ vô nghĩa, nhưng cuối cùng lại trở thành đầy ý nghĩa. Do đó, có thành kiến đối với khả năng của các câu hỏi và chỉ đưa vào những câu hỏi thoạt nhìn có vẻ như sẽ có thể trả lời được và quan trọng mà thôi, là một thói quen hết sức nguy hiểm. Một phương thức như thế có thể khiến ta bị mất đi những cái nhìn xuyên suốt thông tuệ rõ rệt nhất vào chân lý của Kinh Thánh. Trong trường hợp này cũng như nhiều trường hợp khác, tốt nhất là nên cẩn trọng để khỏi phải hối tiếc về sau.


Thứ mười lăm, các câu hỏi nhằm giải nghĩa không thể được ghi ra vội vàng hay bừa bãi, vì nếu không đắn đo suy nghĩ cho thật chín chắc, chúng sẽ trở thành vô nghĩa. Do đó nếu không thoáng thấy ít nhất một phần ý nghĩa và các tiềm năng của chúng, thì tốt nhất là đừng nên dùng chúng.


Muốn mài sắc ý thức của mình đối với các khả năng của những câu hỏi dẫn tới việc lý giải, xin quý độc giả hãy đọc đi đọc lại và suy nghĩa thật kỹ bảng liệt kê các câu hỏi ở phần trên, cố gắng nghiên cứu thật kỹ hầu phát giác ra chủ đích và giá trị của chúng. Nếu quý độc giả làm đúng theo như thế, chắc sẽ không bỏ qua điều gợi ý này.


Thứ mười sáu, các câu hỏi đã đặt ra có thể đem ứng dụng vào những nhận xét cá biệt. Điều này được nghiệm đúng đối với loại câu hỏi đã sử dụng cũng như cách sắp xếp chúng cho thành câu. Trong một số trường hợp, các câu hỏi nhằm định nghĩa, thuần lý và có hàm ý đều được sử dụng. Trong nhiều trường hợp khác, chỉ có các câu hỏi nhằm định nghĩa là đã được sử dụng mà thôi, trong khi có nhiều trường hợp khác nữa, các giai đoạn lý giải và thuần lý của việc lý giải lại được kết hợp với một câu hỏi thuần lý. Câu hỏi có hàm ý thường được dùng trước nhất liên hệ với một vài tư tưởng then chốt nào đó của khúc sách. Trong tất cả mọi trường hợp, bản tính của các nhận xét làm nảy sinh câu hỏi sẽ quyết định cho loại câu hỏi phải được sử dụng. Hơn nữa, cách dùng chữ trong các câu hỏi phải phù hợp với các nhận xét vốn là cơ sở cho chúng. Thí dụ câu hỏi nhằm định nghĩa nói chung là “Điều (từ) này có nghĩa gì?” khi ứng dụng cho một mệnh đề trong câu 2 đã được phát biểu như sau “Từ ngữ được dịch là “bình tịnh” mô tả phẩm chất của (giòng) nước, hậu quả do nước tạo ra, hay cả hai?” Một phương pháp tiếp cận như thế giúp cá biệt hóa câu hỏi, do đó để tập trung vào tư tưởng của ta. Nó cũng không cho phép người ta tập thói quen “rập khuôn” mà hậu quả là hấp tấp vội vàng. Một phương pháp phòng ngừa tốt khác nữa cho vấnđ ề ở đây là tìm những cách giống nhau để diễn tả cả đến những câu hỏi tổng quát. Có lẽ quý độc giả đã ghi nhận cách làm đó trong bài tập rồi (38).


Thứ mười bảy, ta có thể nhận thấy một số câu hỏi có vẻ rườm rà về một vài phương diện. Lắm khi một câu hỏi tổng quát được đặt ra, và theo sau nó là những câu hỏi đặc thù mà câu trả lời đòi hỏi phải gồm luôn lời giải đáp cho câu hỏi tổng quát kia. Có một số trường hợp, cùng một câu hỏi được đặt ra bằng những lời lẽ khác nhau. Thêm vào đó, còn có sự kiện nhiều loại câu hỏi khác nhau có khi lại trùng lắp lên nhau. Thế nhưng việc đặt các câu hỏi dưới nhiều hình thức bất chấp yếu tố rườm rà như thế là có chủ ý và cần thiết vì chính bản tính của chân lý và của tâmt rí con người. Chân lý vốn có nhiều mặt, và tâm trí vốn bị giới hạn về khả năng lãnh hội chúng, cho nên cần phải “oanh tạc” nó hầu giúp nó có được sau khi trả lời một câu hỏi, có thể sẽ được tìm thấy khi trả lời một câu hỏi khác. Vì lý do đó, ta đừng bận tâm để chỉ lo đặt ra những câu hỏi mà câu nào cũng độc đáo cả, thậm chí khi ta có thể làm như thế. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng việc cứ lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa là điều nên tránh.


Thứ mười tám, xin đừng trông mong tất cảc các câu hỏi nhằm giải nghĩa được đặt ra, đến cuối cùng, đều sẽ được hình thành liên hệ với phương pháp tiếp cận nhằm khảo sát lúc ban đầu. Vì như chúng tôi đã từng lưu ý trước đây, ta sẽ không đưa ra một số nhận xét trước khi ít ra là một phần của tiến trình lý giải đã hòan tất. Những nhận xét như thế, đến lượt chúng, sẽ làm nảy sinh nhiều câu hỏi dẫn tới việc lý giải tương ứng. Có một sự kiện là cả việc khảo sát (nhận xét) lẫn việc đặt ra các câu hỏi, đều chẳng bao giờ được hoàn tất cả. Sẽ luôn luôn có những nhận xét cần phải đưa ra và những câu hỏi cần phải nêu lên (39).


Thứ mười chín, xin đừng trông mong các câu hỏi sẽ được giải đáp theo đúng thứ tự chúng đã được đặt ra. Ta sẽ cần phần xem xét bài tập một cách toản diện và noi theo phần trật tự phù hợp với các đòi hỏi hợp lý và của khúc sách. Rất có thể rằng một câu hỏi đã được đặt ra rất sớm trong công tác khảo sát, sẽ chỉ cần được trả lời ở gần cuối tiến trình lý giải mà thôi.


Và để kết luận tác giả vốn ý thức rằng người ta không thể dành quá nhiều thì giờ cho từng khúc sách một theo như đòi hỏi, để lập một bảng liệt kê đầy đủ các nhận xét và các câu hỏi dẫn tới việc lý giải, tuy điều khiến mọi người phải kinh ngạc là việc làm thật xuyên suốt thấu đáo công tác này, về lạu về dài, lại thường tiết kiệm được thì giờ. Quý độc giả được khuyến cáo phải cố gắng làm việc thật xuyên suốt, thấu đáo trong phạm vi mình có thể làm được trong công tác thực tập này, vì nhớ đó, quý độc giả sẽ phát triển được một số tài năng giúp ích được cho mình rất nhiều cả khi không thể dành nhiều thời gian theo ý muốn để nghiên cứu một khúc sách nào đó. Vì rốt cuộv, khả năng khảo sát, nhận xét và đặt câu hỏi một cách thông minh dẫn tới việc lý giải, là phần đóng góp chủ yếu vào việc nghiên cứu đúng phương pháp. Nếu quý độc giả phát triển được các tài năng theo các chiều hướng này, là quý vị đã tiến đúng hướng trên con đường đạt được mục đích của mình vậy.


Bài tập


Khảo sát thật đầy đủ các khúc sách sau đây: XuXh 15:1-21; Gios Gs 1:1-18; NeNe 1:1-11; Thi Tv 121:1-8; EsIs 6:1-13; 53:1-12; Mat Mt 4:1-11; 5:1-12; Mac Mc 7:1-30; GiGa 15:1-8; Cong Cv 9:1-19; RoRm 3:21-31; KhKh 5:1-14. (40). Lập những bảng liệt kê thật đầu đủ các câu hỏi dẫn tới việc lý giải đặt cơ sở trên các nhận xét của bạn. Phải loại từng câu hỏi về thành phần cấu thành khúc sách và giai đoạn lý giải mà nó quan tâm. Ghi khắc vào tâm trí các gợi ý của những trang sách trước đây.


B. Các câu trả lời nhằm mục đích lý giải


Công tác giải kinh không chỉ đứng vững nhờ khả năng đạt các câu hỏi dẫn tới việc lý giải thật thích hợp của nhà giải kinh, mà còn nhờ vào khả năng trả lời thật đúng các câu hỏi ấy nữa. Vì câu trả lời của một người chính là công tác giải kinh đích thực vậy.


1. Các thành tố quyết định của những câu trả lời dẫn tới việc lý giải.


Vấn đề đầu tiên nảy sinh trong việc khám phá phương pháp trả lời các câu hỏi dẫn tới việc lý giải, là phải tìm ra các thành tố xác định các câu trả lời đó phải như thế nào. Khi làm công việc ấy, ta phải nhớ rằng có hai yếu tố hàng đầu phải tham dự vào việc giải nghĩa: chủ thể - là cá nhân; và đối tượng - là Kinh điển. Như vậy, tiến trình giải kinh sẽ chịu ảnh hưởng của cả hai yếu tố chủ quan và khách quan này.


Giờ đây, cần nỗ lực lập một bảng liệt kê tất cả các thành tố quyết định - cả chủ quan lẫn khách quan - sẽ được dùng để trả lời bất luận một câu hỏi dẫn tới việc lý giải nào mà người ta có thể quan niệm được.


a. Các thành tố quyết định chủ quan


- Ý thức về điều thuộc linh


Vì yếu tố này rất dễ bị hiểu lầm, cho nên cần làm sáng tỏ ngay từ đầu rằng điều này không liên hệ trực tiếp đến nghĩa thuộc linh của văn bản, tương phản với nghĩa đen của nó. Nó liên hệ đến bản tính của người giải nghĩa văn bản ấy, chớ không phải là với bản tính của chính văn bản.


Nơi mỗi cá nhân đều có một yếu tố tinh thần và thuộc linh không thể không can dự vào tiến trình lý giải. Và tuy đó là điều không thể sờ mó được, nó vẫn có thật và có lẽ còn quan trọng hơn cả các yếu tố khách quan và có thể sờ mó được nữa. Phao-lô từng nghĩ đến nguyên tắc này khi ông viết “Người không có Thánh Linh không nhận lãnh những ân tứ của Thượng Đế chỉ coi (đó) như chuyện khờ dại, vì phải nhờ Thánh Linh mới hiểu giá trị những ân tứ đó” (ICo1Cr 2:14). Chúa Giê-xu cũng dùng cùng một nguyên tắc ấy khi Ngài phán với đám người Do-thái vốn ngạc nhiên về cách dạy dỗ của Ngài nên thắc mắc chẳng hay nó bắt nguồn từ đâu “Tôi không đặt ra những lời này. Đó là lời Thượng Đế, Đấng sai tôi xuống trần gian. Người nào sẵn lòng làm theo ý muốn Thượng Đế hẳn biết lời tôi dạy là của Thượng Đế hay của tôi” (GiGa 7:16-17).


Vì thế, chẳng bao giờ nên quan niệm việc giãi bày Kinh Thánh như một tiến trình hoàn toàn máy móc hay có tính cách trí thức, vì nó còn đòi hỏi sự tham dự cua phần tâm linh (Spirit: tinh thần) con người nữa. Như vậy, nếu có hai người cùng có các tài năng như nhau về các kỹ thuật giải kinh, họ vẫn sẽ khác nhau về khả năng thông hiểu chân lý Kinh điển, tỷ lệ thuận với phần ý thức thuộc linh này quan trọng đến nỗi lắm khi ta có thể gặp những người tuy có phần nào khiếm khuyết về kỹ xảo giải Kinh, nhưng lại có được cái nhìn xuyên suốt, thông tuệ vượt xa những người đã được đào tạo tốt nhất về các phương thức giải kinh.


Ý thức về điều thuộc linh có được là nhờ hiện diện của một số đặc điểm. Trong số đó có thái độ khiêm nhu dễ dãi, chân thành, và có sự hiểu biết mật thiết với Thượng Đế. Một người càng có nhiều các đức tính ấy, sẽ càng có được cái nhìn xuyên suốt thông tuệ sâu nhiệm hơn vào chân lý Kinh Thánh. Vì chúng giúp người ta có thể sẽ tiếp thu Thánh Linh của Thượng Đế, là Đấng đã từng tạo ra động cơ thúc đẩy và hướng dẫn từng trải của các trước giả viết ra Kinh điển, cũng sẽ là Đấng giải nghĩa đúng nhất, hay nhất bộ sách ấy (42)


- Ý thức thông thường (Lương tri, lương thức)


Tuy thành tố này cũng có tính cách chủ quan có lẽ nó chỉ quan trọng sau yếu tố thuộc linh mà thôi. Ý nghĩa của nó là do thái độ của họ đối với Kinh điển mà nhiều người có thể bị một tầm nhìn xa đặc biệt áp đảo khiến họ để ra ngoài cửa phần lương tri (lương thức, ý thức thông thường) của mình khi họ bước vào nơi thánh của công tác giải kinh. Hệ quả là họ sẽ đi tìm những lối lý giải xảo trá hay thuần kỳ. Họ không hài lòng chấp nhận ý nghĩa rõ ràng của văn bản, họ phải tìm cho kỳ được một điều gì “giật gân” trong đó. Điều tưởng tượng được hiểu theo nghĩa đen, còn những câu theo nghĩa đen lại được hiểu theo nghĩa bóng. Không có chỗ nào được dành cho khoa trương pháp cả Nếu người ta mà đọc nhật báo theo kiểu ấy, thì hậu quả sẽ vô cùng tai hại.


Phương thuốc phòng ngừa duy nhất cho những cách làm nguy hiểm như thế là phải tự mình nhớ luôn là cần phải tận dụng lương tri của mình trong công tác giải kinh. Đây có lẽ chính là điều mà Coleridge đã nghĩ đến khi ông khuyến cáo phải đọc Kinh Thánh y như bất kỳ một quyển sách nào khác. Nếu nguyên tắc đơn giản này được áp dụng thật đúng, nhiều vấn đề rắc rối và kết luận sai lầm sẽ có thể bị loại trừ.


Lời khuyên này cần thiết đặc biệt khi lý giải những lời truyền dạy của Chúa Giê-xu. Người ta vẫn thường quên rằng tuy Chúa Giê-xu vốn là một giáo sư khôn ngoan, thỉnh thoảng Ngài vẫn dùng những câu phát biểu chẳng lấy gì làm đặc sắc để gần với chân lý và để gán ép ấn tượng vào tâm trí những người nghe Ngài. Thí dụ ta có thể gặp những câu như thế trong Mã 5-7. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không chấp nhận các ngoại lệ. Chúa Giê-xu chính là người đầu tiên thừa nhận sự kiện này, vì Ngài vốn có đủ lương tri để biết rõ những điều phức tạp mà thiên hạ phải đương đầu trong các hoàn cảnh sinh hoạt thực tế. Ngài chỉ làm điều mà các giáo sư khôn ngoan khác vẫn làm trong những hoàn cảnh tương tự, nghĩa là Ngài dùng những câu nói có tính cách khoa trương (nói quá, cường điệu) nhằm nhấn mạnh nhiều chân lý tối cần thiết. Quan điểm này tiêu biểu cho phương pháp tiếp cận theo lương tri trong lời truyền dạy của Chúa Giê-xu, trải hẳn với phương pháp không cho phép có sự khoa trương trong những lời phán của Ngài. Trong phần thảo luận này, chúng tôi xin khuyến cáo nên dùng lương tri theo cách đó.


Thiết tưởng cần nhấn mạnh rằng nguyên tắc theo lương tri cũng như nhiều việc tốt hơn, vẫn có thể bị ứng dụng sai lầm. Nó có thể trở thành, phương tiện để hạ thấp các định chuẩn của Thượng Đế nhằm thỏa mãn các tiêu chuẩn của loài người. Nó có thể được dùng để biện hộ cho việc thiếu chú ý đến các lời khuyến giục của Kinh điển. Tuy nhiên, hiện diện của những nguy cơ đó không thể che giấu đi giá trị của chính nguyên tắc ấy, mà chỉ nên khiến mọi người phải thận trọng khi áp dụng nó mà thôi (43)


- Từng trải


Liên hệ chặt chẽ với hai yếu tố vừa kể trên là yếu tố từng trải, vốn quan trọng đủ để bảo đảm cho một phần khảo luận riêng biệt. Nó rất có ý nghĩa theo nhiều quan điểm.


Về một mặt các từng trải độc đáo của một người thường luôn luôn phản ảnh trong tiến trình lý giải. Nguyên tắc này rất dễ thấy rõ khi nghiên cứu sử ký Hội thánh Cơ-đốc. Các nhân vật thuộc một số bối cảnh hoặc gặp một số vấn đề nào đó, bao giờ cũng giải thích các chân lý của Kinh điển trên cơ sở là quan điểm cá nhân của họ. Bằng chứng là các cách giải kinh của Origen và Augustine. Thế thì, mỗi người đều đến với Kinh điển với một từng trải độc nhất vô nhị, và từng trải ấy không thể không có ảnh hưởng trên cách giải nghĩa Kinh Thánh của người ấy. Sự kiện này này có cả các giá trị lẫn các nguy cơ của nó, nhưng đó là điều không thể tránh được.


Hơn nữa, sự thông hiểu Kinh điển của một người chịu ảnh hưởng của sự hiểu biết vế từng trải của người ấy. Vì Kinh điển là việc diễn tả từng trải, bộ sách ấy phải được lý giải dưới làn ánh sáng của từng trải. Như thế, ta sẽ khám phá ra rằng khả năng phân tích đời sống nói chung thường trùng hợp với khả năng có được những cái nhìn xuyên suốt sâu nhiệm vào Kinh điển, và ngược lại.


Có thể quyết đoán rằng nếu những lời phát biểu của Kinh Thánh là đúng, thì chúng cũng trùng hợp với các sự kiện của đời sống và của từng trải con người. Vậy, nếu có một vài cách lý giải nào đó mâu thuẫn với các dữ kiện có thể quan sát được trong đời sống, thì ít nhất người ta cũng có quyền thắc mắc đặt vấn đề về chúng, nếu không nói là phải loại bỏ chúng đi. Người ta thường nhận thấy rằng việc đối chiếu các cách lý giải Kinh Thánh với từng trải như vậy sẽ giúp ích nhiều nhằm sửa sai cho việc giải kinh nhầm lẫn.


Vì các sự kiện trên, bản thân người giải kinh phải là một nhà quan sát thận trọng, biết phân tích đời sống. Vì một người càng thông suốt từng trải làm người nhiều bao nhiêu - kể cả các kinh nghiệm hoặc bản thân - thì sẽ càng có được cái nhìn thông tuệ vào ý nghĩa của sự từng trải trong Kinh Thánh nhiều bấy nhiêu.


b. Các yếu tố quyết định khách quan


- Ngữ nguyên, cách dùng theo thói quen, các chữ đồng nghĩa, ngữ học đối chiếu và loại từ ngữ (44)


Ngữ nguyên của các từ bao gồm hai yếu tố: nghĩa gốc của nó, và các nghĩa từ nghĩa gốc mà ra. Các yếu tố này soi sáng rất nhiều cho việc định nghĩa các từ ngữ trong Kinh Thánh. Thí dụ hãy xét từ Pasha, một trong những chữ đã được Cựu ước dùng để mô tả tội lỗi. Nghĩa gốc của nó là nổi loạn hay không chịu đầu phục uy quyền hợp pháp, phải lẽ. Nó được tìm thấy theo đúng nghĩa nguyên thủy của nó trong IVua 1V 12:19. Từ nghĩa gốc này nảy sinh ra ý niệm thuộc linh do nguồn gốc của nó,nên hàm ý là phản loạn hay chống lại Thượng Đế. Chữ này được dùng theo nghĩa ấy trong EsIs 44:22. Dó đó, khi dùng từ này, tội lỗi được hình dung ra là một hành động cá nhân, tự ý, phi lý, là thách đố uy quyền hợp pháp, phải lẽ của vũ trụ. Nhờ biết rõ nghĩa gốc và nghĩa từ đó mà ra của từ pasha như thế, người ta được cung cấp những cái nhìn xuyên suốt vào những điều sâu nhiệm mà tội lỗi nói lên, vượt hẳn những gì có được từ một bản dịch.


Có rất nhiều tác phẩm cung cấp các thông tin về ngữ nguyên. Một số trong đó, là: Abbott-smith, A Manual Greek Lexicon of the New Testament; Liddell and Scott, A Greek English of the New Testament; Trench, Synonyms of the New Testament; Vincent, Word studies in the New Testament; Gesenius Hebrew anf English Lexicon; và Girdlestone, Synonyms of the Old Testament. Các Thánh Kinh Từ điển như International Standard Bible của Hasting cũng giúp ích được rất nhiều.


Nhà giải kinh phải cẩn thận để chớ quá lệ thuộc vào các yếu tố về ngữ nguyên khi lý giải vì các các từ ngữ trong Kinh điển nhiều khi vốn bị đưa đi khỏi các nghĩa gốc nguyên thủy rất xa. Hệ quả là nếu gặp những trường hợp ấy mà ta lại nhấn mạnh quá đáng vào nghĩa gốc và nghĩa từ đó mà ra, thì kết quả sẽ là giải nghĩa sai. Do đó, phải nhớ rằng hãy còn một yếu tố khác, có thể còn quan trọng hơn cả ngữ nguyên nữa. Đó là yếu tố về cách dùng thông thường của các từ ngữ, cả trong Kinh Thánh lẫn trong các tác phẩm ngoại kinh.


Quan trọng nhất trong số đó, là cách dùng theo thói quen trong Kinh Thánh. Và còn quan trọng hơn nữa là cách mà trong một quyển sách hay một nhómc ác sách riêng biệt nào đó trước giả lại dùng một từ ngữ nào đó. Vì điều rất đúng và chẳng có ai thắc mắc cả là không phải tất cả các trước giả Kinh Thánh đều dùng cùng một chữ theo cùng một cách giống nhau. Có thể là sai nếu ta quyết đoán, chẳng hạn như từ ngữ “đức tin” trong thư La-mã, cũng chính là từ ngữ “đức tin” trong thư Hy-bá; vì thật ra, dường như có sự nhấn mạnh khác nhau trong hai cách ấy (45).


Ngoài một số các quyển sách đã được đề cập liên hệ đến ngữ nguyên, các cách sau đây sẽ giúp được chúng ta trong việc nghiên cứu cách dùng chữ theo thói quen cả trong Kinh Thánh lẫn các sách ngoại kinh: bộ Bảy Mươi Dịch Giả (Septuagint) là bản dịch Cựu ước ra Hi-văn; các tác phẩm Cổ văn Hi-lạp, như các tác phẩm của Plato; các tác phẩm của các Sứ đồ và các giai đoạn tiếp sau các Sứ đồ; Moulton and Milligan, The Vocabulary of the Greek Testament; công trình hòa hợp (phù dẫn) các sách Phúc âm của Wieand trong văn bản bản Revised Standard Version hay các công trình hòa hợp khác hoặc trong Anh văn hoặc trong nguyên văn, như công trình của Burton và Robinson; và bộ Analytical Concordance to the Bible của Young hoặc các bộ phù dẫn khác, như của Cruden chẳng hạn (46)


Một phương tiện khác nữa để quyết định ý nghĩa chính xác của một từ là đối chiếu và đặt tương phản nó với những chữ đồng nghĩa. Tác phẩm Synonyns of the New Testament của Trench, và quyển Synonymms of the Old Testament của Girdlestone đều đặt cơ sở trên phương pháp tiếp cận này. Một công trình nghiên cứu đối chiếu các chữ đồng nghĩa với “tội lỗi” trong cả Cựu lẫn Tân ước sẽ cung cấp một thí dụ tuyệt hảo về giá trị của phương thức này.


Gồm luôn vào việc khám phá ra cách định nghĩa cho các từ trong Kinh Thánh còn phải có việc nghiên cứu đối chiếu các bản dịch nổi tiếng khác nhau, tiêu biểu cho các nỗ lực của các chuyên gia trong việc nói lên ý nghĩa của ngôn ngữ trong nguyên văn Kinh Thánh bằng ngôn ngữ thông dụng. Trong số các bản dịch ấy, phải kể các bản dịch sau đây: bản American Revised Version, bộ Revised Standard Version of the New Testament, bản dịch Cựu và Tân ước của Moffatt, bản dịch Tân ước của Weymouth, và bộ The American translation of the Bible, trong đó có bản dịch tân ước của Goodspeed. Người ta còn có thể kể thêm nhiều công trình có giá trị khác nữa (47)


Các bản dịch cổ cũng có thể được xếp vào loại các bản dịch, tuy chúng không có giá trị trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thông dụng cho bằng nghiên cứu các bản dịch Anh văn. Ngoài bộ Bảy Mươi Dịch Giả ra mà chúng tôi đã đề cập trên đây rồi, Terry còn liệt kê các bản sau đây:


...bản Vulgate, bản Peshito Syriac Version, bản Targums, hay bản dịch diễn ý Cựu ước ra tiếng Canh-đê, nhất là bản Onkellss về Ngũ kinh (Onkelss of the Pentateuch), và bản Jonathan BenUzziel về các sách tiên tri và các bản dịch ra Hi-văn của Aquila, Symmachus và Theodotion.


Ông còn thêm vào đó các bản dịch ra các thứ tiếng A-rạp, Cổ Ai-cập (coptic), Ê-thi-ô-bi, Ạt-mê-ni, và Gót mà ông vạch rõ ”...là kém giá trị hơn, và khi xác định ý nghĩa của các từ nghĩa hiếm gặp, không thể tin cậy là có nhiều sức nặng hay thẩm quyền” (48)


Nhiều khi sử dụng khoa ngôn ngữ học đối chiếu để giải nghĩa các từ ngữ trong Kinh Thánh cũng giúp ích được cho chúng ta. Việc làm này bao hàm công tác truy tầm các từ ngữ theo cùng họ của các ngôn ngữ. Các sách từ vựng (lexicons) lắm khi có cung cấp thông tin loại này.


Một công trình khảo sát khác nữa nhằm định nghĩa các từ ngữ trong Kinh Thánh quan tâm đến loại từ hiện diện, nghĩa là nó có nghĩa đen hay nghĩa bóng (49). Thí dụ ta có thể khảo sát cách dùng từ “men” theo nghĩa bóng trong Mac Mc 8:14. Căn cứ vào việc khảo sát này, các câu hỏi sau đây có thể được đặt ra “Men của phái Biệt lập có nghĩa gì? Tại sao Chúa Giê-xu lại dùng một câu như vậy trong trường hợp này?”


Một trong nhiều yếu tố xác định lời đáp cho các câu hỏi trên gồm có ý nghĩa và mục đich của việc dùng một hình ảnh. Vì chứa năng của một hình ảnh là rút ra điểm giống nhau giữa một từ theo nghĩa đen và nghĩa thuộc linh tương đương của nó để soi sáng cho chân lý thuộc linh. Nhưng phải nhớ rằng trong từng trường hợp, một “loại suy” như thế đều nhằm vào một thành phần nào đó mà thôi, và hậu quả là không thể cưỡng ép để hàm ý là có sự đồng nhất hóa hoàn toàn. Do đó, khi lý giải từ “men” theo nghĩa bóng, trước hết ta phải biết chắc các phẩm cách thuộc linh của phái Biệt lập và các đặc tính của men là một vật thể, rồi đặt cả hai bên cạnh nhau để xác định xem chúng thật sự giống nhau ở điểm nào. Trong tất cả việc làm đó, trên hết, ta phải sử dụng lương tri và các mối liên hệ toàn văn của một khúc sách, vì các yếu tố ấy có sức trợ giúp vô giá cho việc lý giải đúng bất luận một từ có nghĩa bóng nào.


Cũng phải lưu ý là nhiều khi người ta không thể phân biệt được nghĩa đen với nghĩa bóng trước khi đã lý giải một phần rồi. Cả trong trường hợp này nữa, chẳng hay một từ được dùng theo nghĩa đen hay nghĩa bóng trở thành một nhận xét quan trọng cho tiến trình giải nghĩa. Xin lưu ý một câu nói của Chúa Giê-xu trong Mac Mc 8:35-37 để làm thí dụ.


Ngay khi đọc phần thảo luận ngắn ngủi này, ta đã có thể suy diễn ngắn ngủi này, ta đã có thể suy diễn ra rằng khám phá được ý nghĩa trọn vẹn của tất cả các từ ngữ trong Kinh Thánh là một công việc không tài nào kham nổi. Nhưng xin đừng để cho sự kiện này gây hoang mang, nếu ta nhớ rằng Kinh điển hàm chứa một số từ ngữ “chìa khóa” không nhiều lắm. Chúng ta cần phải hoàn toàn nắm vững được các từ ngữ này. Rõ ràng là muốn nắm được tất cả các từ ngữ trong Kinh Thánh, thì chắc chắn là chúng ta sẽ chẳng nắm vững được một từ ngữ nào trong số đó cả. Tuy nhiên, nếu ta biết chọn lựa căn cứ vào cách chọn lựa của các trước giả viết Kinh Thánh, ta sẽ phát giác được những từ ngữ có tính cách chiến lược để biến chúng thành vật sở hữu trọn vẹn của mình, bỏ mặc các từ ngữ còn lại để chỉ nghiên cứu kém ráo riết hơn. Nếu ta chịu noi theo phương thức này, chẳng những ta sẽ lợi dụng được hữu hiệu nhất thì giờ của mình đồng thời cũng tránh được sự chán nản ngã lòng nữa, mà còn sẽ tiếp xúc được với các ý niệm quan trọng mà các từ ngữ trong Kinh Thánh muốn nói lên (50).


- Ý nghĩa của phép biến cách (51)


Có thể rút ra cả Cựu lẫn Tân ước nhiều thí dụ để minh họa cho việc sử dụng phép biến cách (inflections) để giải nghĩa các từ ngữ. Tuy nhiên, vì quá nhiều thí dụ tự chúng cũng chẳng dạy được cho người ta cách sử dụng các trường hợp biến cách, tiếp sau đây sẽ chỉ có một thí dụ minh họa mà mục đích chủ yếu của nó là thúc giục độc giả hãy tự mình đào sâu thêm vào chủ đề này.


11:24 chép “Vì thế, ta bảo các con khi cầu nguyện hãy tin đã được tất cả các con xin gì được nấy. Biến cách của động từ “được” trong Hi văn cho thấy nó thuộc thì quá khứ (aorist). Khi ta đã nhận thấy sự kiện ấy và đã đặt vấn đề “Thì quá khứ đó nói lên điều gì? Tại sao nó lại được dùng trong trường hợp này?”, ta cần khảo sát các cách thức khau nhau mà thì quá khứ trong Hi văn có thể được dùng để chắc chắn rằng trong trường hợp này nó đã được dùng theo cách nào, và ý nghĩa của nó là gì. Khi đã làm như vậy, ta khám phá ra rằng thỉnh thoảng nó được dùng theo cách nói ít hiểu nhiều (gnomic). Dana và Mantey mô tả loại thì quá khứ này bằng những lời lẽ như sau:


Có một sự kiện hay chân lý được mọi người chấp nhận có thể xem là nhất định chắc chắn hoặc có tính chất của một định đề, khiến nó được mô tả bằng thì quá khứ, dường như nó đã thật sự xảy ra rồi vậy. Về cách dùng lối nói đặc biệt này (idiom) thì nói chung, chúng ta dùng thì hiện tại (52)


Vậy, việc hoàn toàn có thể xảy ra, là thì quá khứ nói ít hiểu nhiều (the gnomis aorist) ấy đã được dùng trong 11:24; và nếu thế thì từ “được” bắt buộc phải trở thành hết sức rõ ràng. Chúa Giê-xu muốn nói rằng “Khi các con cầu nguyện mà muốn khẩn xin điều gì, nếu các con có rất nhiều đức tin rằng lời khẩn xin đó sẽ được nhậm, nếu các con tin rằng điều đó sẽ thành tựu mạnh mẽ đến mức cho rằng nó đã được thực hiện rồi, thì các con chắc sẽ thấy nó được ứng nghiệm”. Chúa Giê-xu ngụ ý dạy rằng người cầu nguyện phải có đức tin mặc nhiên đặt vào Thượng Đế đến mức cho rằng lời cầu xin của mình đã được nhậm rồi. Và Ngài bảo đảm với những người nghe Ngài rằng loại đức tin của Ngài khi rủa cây vả vậy. Trên đây chỉ là một thí dụ về cách thức theo đó việc hiểu rõ ý nghĩa của phép biến cách có thể giúp người giải kinh tìm được một ý nghĩa sâu nhiệm hơn cho các từ ngữ trong Kinh điển sâu nhiệm hơn cho các từ ngữ trong Kinh điển, và do đó là cho các lời phát biểu trong Kinh điển.


Bản dịch Anh văn thường nói lên được yếu tố biến cách này. Ngay trong thí dụ trên đây, là nơi dường như có mâu thuẫn giữa phép biến cách trong nguyên văn với bản dịch, người quan sát thận trọng phần ngôn ngữ thông dụng sẽ nhận thấy động từ “được” đã được chuyển sang thì hiện tại tổng quát chớ không phải là thì tương lai. Theo thói thường chắc ta trông mong câu 11:24 viết như vầy “Vì thế, ta bảo các con, khi cầu nguyện, hãy tin sẽ được, thì các con sẽ được”. Nhưng trái lại, từ ngữ bổ trợ sẽ chỉ thì tương lai đã không có, và động từ được thuộc thì hiện tại (theo bản AV). Vậy, nếu chỉ căn cứ vào bản dịch Anh văn mà thôi ta có thể khám phá được rằng ít ra Chúa Giê-xu cũng ngụ ý bảo rằng lời cầu nguyện linh nghiệm là lời cầu nguyện trong đó người dâng nó lên vốn tin mạnh mẽ rằng những điều cầu xin của mình sẽ được nhậm, đến nỗi đối với người ấy, điều mà bình thường người ta dự đoán cho tương lai đã trở thành sự thật ngay bây giờ rồi. Điều này dường như không mạnh mẽ bằng sự suy diễn có thể rút ra từ nguyên văn, nếu chắc chắn là Chúa Giê-xu đã dùng thì quá khứ nói ít hiểu nhiều; và điều này được dùng để minh họa cho sự kiện rằng khi lý giải một số chi tiết trong một khúc sách, việc thông hiểu nguyên văn là cần thiết cho loại bình giải thật đầy đủ. Tuy nhiên, vì một phần lớn đã có thể được tìm thấy trong ngôn ngữ thông dụng, những người không biết nguyên văn có thể lợi dụng nó; và hơn nữa, nó có thể được dùng làm khởi điểm cả khi người sinh viên đã quen biết với các ngôn ngữ của nguyên văn (53)


- Các hàm ý của các mối liên hệ và liên hệ hỗ tương trong văn mạch.


Chẳng những các từ ngữ phải được khảo xét từ quan điểm ngữ nguyên, cách dùng theo thói quen, các chữ đồng nghĩa, các bản dịch, ngữ học đối chiếu, các loại và các phép biến cách, mà còn phải căn cứ vào các mối liên hệ hỗ tương và liên hệ về cấu trúc, tạo ra một mê cung gồm nhiều yếu tố mà hàm ý của chúng cần được khảo xét trong tiến trình lý giải. Chúng phức tạp như thế nào là điều có thể thấy ngay khi mọi mối liên hệ đã được kể ra trước đây được đem đặt bên cạnh nhau (54). Chúng dẫn đến các mối liên hệ và liên hệ hai chiều cả trực tiếp lẫn từ xa, bên trong các mệnh đề các vế các câu các phân đoạn, các đoạn ngắn, đoạn trung bình, đoạn dài, các phần lớn, các quyển sách và các nhóm gồm nhiều quyển sách (55). Chúng tham dự vào tất cả những gì có liên hệ với sự chuyển biến và chuyển biến hai chiều, vào tác động và tác động hai chiều của tư tưởng. Như thế, ta có thể nói rất đúng là văn mạch của mỗi một từ trong một quyển sách là chính quyển sách ấy.


Chủ đích của việc nhấn mạnh tính cách phức tạp của các mối liên hệ bên trong văn mạch và ý nghĩa của việc lý giải chúng, là nhằm khích lệ quý độc giả phải luôn luôn cảnh giác e có thể quên mất một số các mối liên hệ quan trọng về cấu trúc trong tiến trình bình giải. Vì một sự bỏ qua như vậy, cuối cùng sẽ có thể dẫn đến hoặc là giải sai hay ít nhất cũng là lý giải thiếu sót. Thật vậy chính vì điều này mà việc gợi ý trước đây rằng cần phải khảo sát cả khúc sách trước khi nghiêm chỉnh thử lý giải một phần nào trong đó, đã được nêu ra. Thiết tưởng cũng cần phải nhắc thêm luôn rằng việc giải nghĩa từng đơn vị một trong một quyển sách nào đó, phải cứ được kể là việc thể nghiệm, cho đến khi nào toàn quyển đã được nghiên cứu hầu có thể nhận xét các mối liên hệ rộng lớn hơn về cách cấu trúc, vốn thường rất quan trọng cho việc bình giải.


Nhằm làm sáng tỏ vấn đề, sau đây là một thí dụ ngắn, minh họa các mối liên hệ trong một văn mạch có ý nghĩa như thế nào trong việc lý giải những câu riêng rẽ trong RoRm 12:1-15:13. Phần đầu nêu ra một thí dụ về tầm quan trọng của các mối liên hệ cận tiếp hơn bên trong văn mạch, trong khi phần sau quan tâm đến ý nghĩa của các mối liên hệ từ xa.


Ta có thể ghi nhận rằng mối liên quan giữa 12:1-2 và 12:3 và tiếp theo, là mối liên hệ từ trước cho đến đây đã được chúng ta gọi là cá biệt hóa ý tưởng, bao gồm việc chuyển từ cái tổng quát sang cái đặc thù. Câu phát biểu tổng quát gồm nhiều phần lớn: một là một lời khuyến giục người Rô-ma hãy dâng thân thể họ làm một sinh tế sống động; hai là lời chỉ bảo rằng một sinh tế như thế là sự thờ phượng thuộc linh; ba là một lời khuyến giục gồm nét tương phản giữa một đời sống rập mẫu theo thế gian với một đời sống đã được biến hóa; và bốn là phương tiện và chủ đích của đời sống như thế, tức là nhờ phần trí tuệ đã đươc đổi mới ấy để biện biệt điều gì là tốt lành thiện hảo, đẹp lòng Thượng Đế và đâu là ý chỉ trọn vẹn của Ngài.


Khi ta áp dụng định luật cá biệt hóa và cố khám phá xem đâu là các ý niệm tổng quát đã được giải thích bằng những cái đặc thù của 12:3 và tt; ta nhận thấy là theo Phao-lô, sinh tế sống là thân thể, bao gồm việc đánh giá đúng các ân tứ của riêng mình, tránh việc lừa dối, chân thành yêu mến người khác, ghét điều ác, hiếu khách, sống hòa hảo với các Cơ-đốc nhân bạn, v.v...Đó là những bộc lộ cụ thể của một đời sống biết hi sinh (đã trở thành sinh tế). Sự thật hiển nhiên là những việc làm này và các lãnh đạo khác nữa được tìm thấy trong mấy chương 12:3-15:13 cấu thành ý chỉ tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Thượng Đế, mà người Rô-ma có thể biện biệt được nếu họ bằng lòng đầu phục Ngài. Đây là các thành tố bao hàm trong một đời sống đã được biến hóa, chớ không phải một cuộc đời rập khuôn theo thế gian. Người thế gian ngược đãi bách hại những ai ngược đãi bách hại họ, lấy ác trả ác. Nếu các Cơ-đốc nhân người Rô-ma cũng giống như người thế gian, thì họ cũng sẽ làm y như thế. Nhưng nếu đã hiến thân cho Thượng Đế, thì cách nhìn đời bần tiện của họ phải được thay đổi, và chừng đó, nếu các kẻ thù họ có đói, họ sẽ cho ăn; nếu có khát, họ sẽ cho uống. Họ sẽ lấy thiện thắng ác. Cách đầu phục Thượng Đế và ý chỉ Ngài như thế, là sự thờ phượng thuộc linh, là bài kinh đọc lên có chính tấm lòng của con người tham gia vào đó. Thật ra, Phao-lô ngụ ý bảo với người Rô-ma rằng “Anh em có muốn thờ lạy bằng tâm linh, do đó là thật sự thờ lạy Thượng Đế hay không? Thế thì, hãy chúc phước cho những người ngược đãi bách hại anh em thay vì nguyền rủa họ. Hãy cho các kẻ thủ của anh em ăn uống. Đó là sự thờ phượng chân chính vậy. Nếu không có chúng, sự thờ phượng chỉ là theo nghi lễ, hình thức, rỗng tuếch. Chỉ có đời sống đã được biến hóa mới có thể thờ phượng theo sự hướng dẫn của Thánh Linh được!” Việc khảo xét ý nghĩa và kết quả cua mối liên hệ cá biệt hóa như vậy mới giúp ta đạt tới ý nghĩa sâu nhiệm của những lời phat biểu của Phao-lô trong 12:1-15:13.


Nhưng giải nghĩa 12:1 và tt thì cần nhiều điều hơn thế. Về một phương diện, hãy chú ý là trong câu đầu có chữ “do”, cho thấy khúc sách này đưa ra các hậu quả nhiều nguyên nhân đi trước, nói khác đi, là định luật về nguyên nhân của ý tưởng đang tác động trong việc sắp xếp thư tín này. Điều này ném nhà giải kinh vào các mối liên hệ văn mạch xa xôi hơn của khúc sách này. Hệ quả là nếu người ấy không nắm chắc được sức thấm nhập trọn vẹn của những lời khuyến giục trong 12:1-15:13, thì phải tìm trong mười một chương đầu các cơ sở để biến việc người Rô-ma phải tuân thủ chúng thành một quyết lệnh. Đến lượt nó, điều này lại bao gồm việc phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ và liên hệ hỗ tương giữa các chương 1-11. Một công trình nghiên cứu như vậy không thể thực hiện được ngay tại điểm này mà thôi, nhưng có lẽ quý độc giả đã thấy một số tiềm năng gắn liền với việc khai thác tất cả các mối liên hệ về cấu trúc. Điều còn hiển nhiên hơn nữa, là nhiều mối liên hệ và liên hệ hai chiều vô cùng phức tạp thường phải được khảo xét khi lý giải một khúc sách.


- Ý nghĩa của các hình thức văn chương tổng quát


Một số hàm ý liên hệ đến việc lý giải các thể loại văn chương đã được chỉ ra trong phần khảo luận về chúng trước đây (56). Chủ đích của phần thảo luận tại giao điểm này là cung cấp một vài thí dụ minh họa sẽ làm sáng tỏ một số phương tiện nhờ đó việc sử dụng các thể loại văn chương sẽ có liên quan nghiêm trọng với vấn đề giải kinh, và nhằm đề nghị nhiều bài viết và tác phẩm có thể đọc hầu mở rộng kiến thức cho quý độc giả về tầm quan trọng của công tác giải kinh.


Chẳng hạn xin chúng ta hãy khảo xét một trong các yếu tố có can dự vào ý nghĩa của việc lý giải thể văn ẩn dụ. Như đã vạch rõ trước đây, ẩn dụ được đặt cơ sở trên một điểm giống nhau giữa một phần trần thuật một sự việc vật lý (thuộc thể) với một chân lý thuộc linh. Nhưng một điểm giống nhau như thế không hề hàm ý rằng phần chân lý thuộc linh kia với phần thí dụ minh họa vật lý (thuộc thể) là hoàn toàn giống nhau, vì chính chân lý thuộc linh với chân lý vật lý vốn thuộc về hai bình diện khác nhau, và chẳng bao giờ có thể được đặt thành ưhương trình tương xứng với nhau. Cũng chẳng có gì cần thiết phải làm như vậy, vì tất cả những gì mà người ta đòi hỏi ở một sự so sánh loại suy, là chỗ giống nhau ở một số điểm nào đó. Thật vậy, cần phải giới hạn rõ ràng giao điểm giữa chân lý thuộc linh với cái thí dụ minh hoa vật lý (thuộc thể) tại một chủ điểm mà thôi.


Nếu phần phân tích này là đúng, thì một trong các yếu tố tham dự vào ý nghĩa giải kinh của thể văn ẩn dụ sẽ trở thành hết sức rõ rệt. Đừng bao giờ cưỡng ép các góc cạnh vật lý (thuộc thể) của một ẩn dụ gồm tất cả các đặc điểm riêng biệt của nó, để tìm ý nghĩa của nó. Vì một ẩn dụ có thể ví sánh với một trái cây khô có hạt bên trong. Trái cây khô đó phải bị vứt bỏ cho đến khi nào chỉ còn cái hạt bên trong mà thôi, vì cả trái khô kia sở dĩ hiện hữu, chỉ vì cái hạt mà thôi. Phần hạt này có thể so sánh với chân lý thuộc linh duy nhất vì nó mà câu chuyện ẩn dụ đã được đưa ra. Một khi đã khám phá được phần hạt này, thì mặt vật lý (thuộc thể) như phần vỏ của trái khô nọ, có thể bị vứt bỏ đi. Vì xem yếu tố vật lý của một ẩn dụ là ngang hàng, là một với chân lý thuộc linh mà nó mang trong mình, và hậu quả là đi tìm ý nghĩa thuộc linh trong tất cả các thành phần riêng rẽ của đoạn trần thuật, tức là sử dụng sai lầm, là lạm dụng thể văn ẩn dụ vậy (57).


Cũng vậy, văn chương khải huyền có một số đặc điểm riêng, phải được sử dụng để lý giải chính nó. Thí dụ tính cách biểu tượng của văn chương khải huyền cũng chặt chẽ theo cách riêng của nó y như loại ngôn ngữ theo nghĩa đen nhiều hơn của các sách Phúc âm. Về vấn đề này, Benjamin A.Warfield vạch rõ:


Loại văn khải huyền được viết bằng thứ ngôn ngữ riêng, có những quy luật riêng và phải được lý giải phù hợp với loại văn ấy. Có điều có thể gọi là văn phạm của loại văn biểu tượng khải huyền; và những gì mà nhiều hình ảnh khác nhau trong đó muốn nói lên cũng là một vấn đề để trí tưởng tượng phải giải quyết chẳng khác chi vấn đề các dấu chấm trong cú pháp Hi-văn vậy (58)


Chỉ cần cho nguyên tắc này mà thôi được đem ra áp dụng để giải nghĩa các biểu tượng trong sách Khải thị, thì nhiều lời giải sai lầm đã có thể tránh được.


Một yếu tố khác nữa của công tác lý giải gắn liền với thể văn khải huyền là tính cách phi thời gian của nó. Nó nhìn vào lịch sử một cách bao quát mà chẳng chú ý bao nhiêu đến diễn tiến thời gian. Do đó một khúc sách khải huyền sẽ thường xuyên đề cập các nguyên tắc mà sự ứng nghiệm trong lịch sử của nó được phân cách bằng cả thiên niên kỷ nhưng không có các dấu chỉ đầy đủ nào về khoảng thời gian nằm giữa đó cả. Có thể nói bài thuyết giảng của Chúa Giê-xu trong 13:1-37 cho thấy đặc điểm này. Vì sự kiện này, cho nên đúng hơn là phải giải nghĩa loại văn chương khải huyền bằng các nguyên tắc căn bản, phổ quát, thuộc linh, chớ không phải là bằng các nguyên tắc cụ thể có thể định rõ thời gian như của sử ký. Vì đặt nó vào chuẩn mực thời gian được áp dụng cho loại tản văn thuật sự tức là cầm chắc sự hiểu lầm.


Trên đây mới chỉ là các thí dụ nghèo nàn minh họa cho những điều có liên quan với các hàm ý ẩn tàng trong công tác lý giải các thể loại văn chương nói chung. Tuy nhiên, chúng tôi hi vọng rằng qua chúng, quý độc giả sẽ bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng lớn lao của việc phải làm quen với chúng, hầu quý độc giả có thể trở thành một nhà giải kinh thành công hơn. Muốn dễ dàng đạt được mục tiêu rất đáng với công sức phải bỏ ra này, quý độc giả được khuyên nên nghiên cứu một số trong các tác phẩm sau đây hoặc các tác phẩm tương tự: (xem 23 tác phẩm được liệt kê ở trang 150 của nguyên tác)


- Tầm quan trọng của bầu không khí


Nhiều khi việc trung tín ứng dụng yếu tố bầu không khí rất có ý nghĩa trong việc xác định các câu trả lời đúng cho những câu hỏi dẫn tới việc lý giải. Một thí dụ về một khúc sách trong đó điều này được nghiệm đúng là RoRm 9:1-11:36. Thật vậy, chính Phao-lô dành phần mở đầu chương 9 để vạch rõ và nhồi nhét vào đó bầu không khí tiềm ẩn của toàn thể đơn vị, kẻo e nó có thể bị lý giải ngoài thái độ kiểm soát của ông và do đó, bỉ giải nghĩa sai đi chăng. Cần lưu ý cách nhấn mạnh của ông trong đó ông vạch rõ các cảm nghĩ của mình. Các câu ấy chép như sau:


Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Thánh Linh: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn. Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác, tức là dân Y-sơ-ra-ên, là dân đã được địa vị con thừa nhận, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa; là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự tức là Đức Chúa Trời, đáng ngợi khen đời đời A-men (Bản dịch cũ)


Rõ ràng là Phao-lô muốn cho mọi người hiểu rõ không chút sai lầm rằng tất cả những gì ông sắp nói ra vốn xuất phát từ một mối bận tâm nghiêm túc và một tình yêu thương sẵn sàng tự hi sinh vì cớ dân Y-sơ-ra-ên và một lòng ưu ái bao hàm sự tán thưởng sâu xa địa vị độc nhất vô nhị của họ. Thật ra, ông ngụ ý bảo rằng “Xin đừng có ai suy diễn khác đi những gì tôi nói. Trong lòng tôi chẳng hề có chút hận thù, cay đắng hay nhỏ mọn nào”. Việc thường xuyên sử dụng yếu tố là bầu không khí này sẽ giúp ta khám phá ra ý nghĩa của những lời phát biểu của Phao-lô trong mấy chương sách này, mà một số là lời tố cáo dân Y-sơ-ra-ên hết sức nặng nề.


Về những thí dụ khác vạch rõ tầm quan trọng của việc sử dụng yếu tố bầu không khí trong tiến trình lý giải, xin xem 1:8-17, thư Phi-líp và thư IPhê-rơ. Cần lưu ý là bầu không khí thường có liên quan chặt chẽ với chủ đích và quan điểm của trước giả, là những điều sẽ được thảo luận tiếp sau đây (59)


- Chủ đích và quan điểm của trước giả


Cách tiếp cận phải lẽ bất luận một công trình nghệ thuật nào để bảo đảm tính cách vô tư, do đó để lý giải chính xác, là tự đặt mình vào địa vị của chính tác giả, để có được cái tinh thần và quan điểm riêng của ông ta. Cuối cùng thì sẽ có lúc người ta sẽ có thể tự quyết định lấy, xem quan điểm của một nghệ sĩ là đúng (có giá trị) hay không. Nhưng phải chờ đợi, và chỉ sau khi ta đã tự đồng nhất hóa với người nghệ sĩ bằng thái độ đầy thiện cảm, đầy ưu ái, thì mới có thể có một quyết định như thế được.


Thí dụ muốn giải nghĩa là sách Giu-đe có giá trị, ta phải nhìn nó từ quan điểm của chính Giu-đe. Quyển sách ấy sẽ bị buộc tội nặng nề mà chẳng có gì bảo đảm cả, nếu nhà giải kinh không cố gắng đứng vào vị trí mà chính Giu-đe từng đứng. Cũng vậy, việc giải nghĩa các phép lạ sẽ trở nên đứng đắn và phong phú hơn khi người ta nhìn nó từ quan điểm của các trước giả các sách Phúc âm. Việc xác định xem một khúc sách nào đó có nghĩa đen hay nghĩa bóng cũng phải có cơ sở là việc khảo xét trước giả đã nghĩ gì trong trí lúc ông viết ra nó. Đó là một vài thí dụ về thế nào việc hiểu rõ quan điểm của một trước giả sẽ góp phần giúp ta thấu hiểu tác phẩm của ông ta.


Phải thừa nhận rằng nhiều khi rất khó phát giác ra được chủ đích và quan điểm của một trước giả. Tuy nhiên, điều này không hề loại trừ được việc nhà giải kinh phải làm hết sức mình để thông cảm với cái nhìn hướng ngoại của trước giả trước khi cố gắng lý giải và đánh giá tác phẩm của ông ta (60)


- Bối cảnh lịch sử


Bởi vì các sách trong Kinh Thánh vốn được viết ra trong một bối cảnh lịch sử đặc thù, và bởi vì chúng được gởi đến cho những người đã sống trong một hoàn cảnh lịch sử, cụ thể, cho nên muốn tái tạo bức thông điệp của các trước giả của nó, người ta bắt buộc phải sử dụng bối cảnh lịch sử của họ.


Trong số nhiều việc khác, việc khám phá ra bối cảnh lịch sử của một quyển sách gồm các yếu tố sau đây: niên đại, địa điểm và cơ hội viết sách; lý lịch của trước giả và của những người tiếp nhận quyển sách; các đặc điểm và các vấn đề của nhưng người đọc sách; nền văn học, các phong tục tập quán và tín ngưỡng đương thời; môi trường xã hội, chính trị, địa lý và thuộc linh đã vây quanh trước giả, những người nhận sách, các nhân vật, cùng với bối cảnh của họ.


Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng lắm khi thật là không thế nào biết chắc được một số các yếu tố ấy một cách tuyệt đối. Do đó, việc đầu tiên là ta phải cố gắng hết sức mình để khám phá ra phần bối cảnh lịch sử của từng quyển sách một của Kinh Thánh, và phải tận dụng những gì đã tìm được để giải nghĩa nó. Nói khác đi, chính sự kiện thừa nhận và lợi dụng nguyên tắc lịch sử chớ không phải là việc hoàn toàn đặt công tác giải kinh chịu lệ thuộc một sự hiểu biết đầy đủ và chăc chắn mọi dữ kiện lịch sử, mới là điều quan trọng hàng đầu.


Chính là nhờ có liên quan tới việc phát giác ra phần bi cảnh lịch sử, mà các phát kiến khảo cổ học trở thành hợp thời. Vì nhờ đó mà người ta đã học biết được nhiều điều về bối cảnh lịch sử các quyển sách trong Kinh Thánh mà nếu không có thì không còn cách nào khác để biết được.


Nhằm giúp quý độc giả bồi dưỡng cho phần ý thức về ý nghĩa quan trọng của bối cảnh lịch sử của các quyển sách trong Kinh điển, xin nhắn gởi quý độc giả hãy chăm chú nghiên cứu các tác phẩm sau đây:


(Xem 23 tác phẩm được liệt kê ở trang 153-154 của nguyên tác)



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2026 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page