top of page

HungT
Jul 5, 2026
Tác-giả: Robert A. Traina
ĐÁNH GIÁ VÀ ỨNG DỤNG.
I. Công tác đánh giá.
A. Ý nghĩa và vai trò của công tác đánh giá.
B. Tiến trình đánh giá.
1. Tiến trình đánh giá tổng quát.
2. Tiến trình đánh giá đặc thù.
II. Ứng dụng.
A. Tiến trình của công tác ứng dụng.
1. Phân tích tình hình đương đại của khúc sách.
2. Ứng dụng khúc sách.
B. Các loại ứng dụng.
C. Các khu vực ứng dụng.
III. Tóm tắt công tác đánh giá và ứng dụng.
IV. Bài tập về đánh giá và ứng dụng.
Chú thích:
Sau khi đã khám phá ra ý nghĩa của một khúc Kinh-Thánh, bước hợp lý thứ hai là khẳng định xem có thể rút ra từ đó những giá trị gì để gây dựng đời sống. Bước này nhất thiết gồm hai giai đoạn đã được gọi là “đánh giá” và “ứng dụng”
Chúng ta sẽ không thể thảo-luận về nhiều điều kiện nội tại, gắn liền với bước nghiên-cứu này. Do đó, chủ đích của phần trình bày sắp nêu ra đây sẽ là đề ra vài nguyên-tắc thiết yếu và phác họa các góc cạnh chủ yếu bao hàm trong công tác đánh giá và ứng dụng các câu Kinh-Thánh. Các chi-tiết phải được dành cho quý độc-giả tự xoay sở lấy.
I. CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ.
A. Ý nghĩa và vai trò của công tác đánh giá.
Đánh giá là gán cho một điều gì một giá trị nào đó, là tán thưởng điều hay đẹp, hợp thời và hữu ích của nó. Như vậy, tiến trình đánh giá bao gồm việc trả lời những câu hỏi như: Trước-giả này có thành công hay không trong công tác mà ông ta muốn làm? Ông ta đã thực hiện được mục đích của mình đến mức độ nào? Những phát biểu của ông ta có giá trị hay không? Nếu có, thì cho ai, khi nào, và chúng có giá trị cho những chủ đích nào? (2)
Về ý nghĩa của công tác đánh giá, có 2 sự-kiện cần nhấn mạnh về vai trò đích thực của nó trong vấn-đề nghiên-cứu có phương pháp.
-Sự-kiện đầu đã được vạch rõ ở cuối phần thảo luận về công tác lý giải, tức là công tác đánh giá phải tiếp theo sau công tác lý giải chớ không thể đi trước nó hay cả hai được thực hiện đồng thời với nhau (3).
-Sự-kiện thứ hai là công tác đánh giá phải đi trước công tác ứng dụng thực thụ. Trái với điều mà nhiều người vẫn tin tưởng và thực thi, một đơn vị Kinh điển vẫn chưa sẵn sàng được ứng dụng ngay khi ý nghĩa của nó đã được phát giác. Công tác lý giải phải được nối tiếp bằng một tiến trình đánh giá, nhờ đó tính cách hợp thời và giá trị của khúc sách được khẳng định trước khi việc sử dụng nó có thể có được một nền móng có giá trị. Thật vậy, công tác đánh giá có thể xem là giai đoạn chủ yếu của tiến-trình ứng dụng nói chung. Sử dụng hấp tấp những câu Kinh điển khi chưa được đánh giá có thể dẫn tới đại họa thuộc linh. Mặt khác, sau khi đã có việc lượng giá rồi, thì việc ứng dụng có thể sẽ êm xuôi và có giá trị.
Do đó, ta không nên tìm cách miễn trừ việc phải đưa Kinh điển ra để phê phán theo đúng lẽ công-bằng (4). Vì từng thành phần cá biệt của Kinh-Thánh đều có các cấp bậc hợp thời và giá trị khác nhau. Điều này đã được minh họa bằng sự-kiện nếu có ai đó chỉ muốn có một số các quyển sách nào đó trong Kinh điển mà thôi, thì cũng có một số khác lại thích có những số các quyển sách khác. Đây chắc chắn là do có ý kiến dị biệt về số các quyển sách đặc thù nào đó phải lựa chọn, nhưng sự kiện còn lại vẫn là người ta có thể chọn, và việc chọn lựa giả thiết là có một số giá trị khác nhau. Các sự kiện này chỉ nhằm nhấn mạnh cái chân lý rằng muốn tránh né việc đánh giá hợp lý hợp pháp các đơn vị Kinh-Thánh như nhiều người vẫn làm, là vô lý. Trái lại, việc đánh giá các khúc Kinh điển phải được thực thi thật trung thực để việc nghiên cứu Kinh-Thánh sẽ đạt được tuyệt đỉnh đích thực của nó.
B. Tiến trình đánh giá.
1. Tiến trình đánh giá tổng quát.
Khi đánh giá các câu Kinh-Thánh ta cần quan tâm hai vấn đề chủ yếu. Vấn-đề thứ nhất liên-hệ với giá trị bao quát của toàn bộ Kinh điển hay những thành phần rộng lớn hơn trong bộ sách ấy. Nó có thể được phát biểu như sau “Kinh-Thánh (hay một phần lớn Kinh-Thánh) có giá trị gì cho con người hiện đại hay không, hay nó không đúng và chẳng có giá trị gì cả?”
Câu hỏi này là căn bản cho tất cả các công trình đánh giá và ứng dụng Kinh-Thánh. Vì nếu câu trả lời cho nó là toàn bộ Kinh-Thánh hay một phần lớn bộ sách ấy chẳng có giá trị gì cho đời sống cận đại cả, thì tiến trình hoàn toàn bị lệ thuộc vào vấn-đề vật chất, và hơn nữa, việc có thể đem nó ra ứng dụng không còn đặt ra nữa, vì giả thiết được đưa ra để đem những câu Kinh-Thánh ra ứng dụng, là chúng phải có giá trị, và do đó, cần được đưa ra sử dụng để cải thiện cuộc sống.
Tiến-trình tham dự vào việc trả lời câu hỏi này vốn quá phức tạp để có thể thảo luận chi tiết trong quyển sách này. Tuy nhiên, nói chung nó bao hàm việc ứng dụng tất cả các bảng trắc-nghiệm về chân-lý và giá trị có thể dùng để khẳng định tính cách chân thật và giá trị của bất kỳ một lời phát biểu có tính cách siêu hình hay có liên-hệ với lịch-sử nào. Đối với siêu hình học thì những trắc-nghiệm như thế cũng gồm luôn vào số các trắc nghiệm thực dụng khác, và các trắc nghiệm về tính cách phù hợp. Đối với sử tính của Kinh điển, ta có thể sử dụng mọi trắc-nghiệm đã được áp dụng tại một tòa án để quyết định xem các biến cố đã có thật sự xảy ra hay không. Ngoài nhiều điều khác nữa ra, những điều vừa kể trên sẽ bao gồm vào vấn đề xác định tính cách chân thực của các tài liệu và tính cách đáng tin của các nhân chứng, cùng nhau hợp tác để đánh giá các cứ liệu và phê phán tính cách đứng đắn về phương diện tâm lý của những câu Kinh-Thánh (5)
2. Tiến trình đánh giá đặc thù.
Sau khi đã khẳng định đối với vấn đề thứ nhất, rằng nói chung, Kinh điển có giá trị cho đời sống cận tại, ta lại còn phải đương đầu với vấn đề quan trọng thứ hai của công tác đánh giá. Bản tính của nó có tính cách đặc thù hơn và có thể phát biểu như sau “Vì Kinh-Thánh có giá trị cho sinh hoạt cận đại, đâu là giá trị chính xác của những lời phát biểu trong những khúc sách cá biệt nào đó? Chúng có giá trị cho ai, ở đâu và khi nào?”
Nhiệm vụ đầu tiên của giai đoạn đánh giá này là phân tích các câu trong một khúc sách để xác định có những chân lý nào là phi thời gian và do đó, có giá trị cho thời cận đại. Điều này hàm ý rằng vì các sách của Kinh Thánh đã được viết ra vào một thời điểm nào đó của lịch sử và đã được dùng cho bối cảnh thời bấy giờ, một số các câu ấy có tính cách địa phương, do đó bị giới hạn về giá trị. Cho nên, phải phân biệt các chân lý điạ phương ấy với các chân lý tổng quát sử dụng các chân lý địa phương dường như đó là các chân lý tổng quát sẽ đưa rắc rối vào lãnh vực ứng dụng.
Chính Kinh điển cho thấy tiêu chuẩn tối hậu để quyết định các chân lý nào vốn phổ quát là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng vốn là Con Thượng Đế Nhập thể, nên có trong Ngài những gì là phi thời gian và có giá trị tối cao. Do đó, mọi sự phải do Ngài lượng định. Như thế, vì Tân ước có nội dung là đời sống Ngài và các hàm ý của nó, bộ sách ấy trở thành nền móng đ ể lượng giá những câu trong Cựu ước.
Tiến trình đặc thù gồm có việc xác định những chân lý nào là phổ quát, bây giờ sẽ được minh họa liên hệ với ba loại khúc sách chính mà ta đem ra đối chiếu với nhau.
Loại thứ nhất là gồm những khúc sách Cựu ước nhất là các khúc sách của kỷ nguyên tiền tiên tri, có những chân lý bị hạn chế vì chúng vốn được viết ra vào những giai đoạn sớm hơn của sự mặc khải đang phát triển (6). Ta có thể kể Phục 27-30 như một thí dụ cho loại này.
Khi lý giải khúc sách này ta khám phá ra rằng bức thông điệp chính của nó, là phước hạnh thuộc thể và thuộc linh sẽ giáng trên dân Y-sơ-ra-ên nếu họ vâng lời Thượng Đế; mặt khác, nếu họ không vâng lời Ngài, họ sẽ bị phán xét thuộc thể và thuộc linh. Điều này được vây bọc bằng các bảng liệt kê về các phước lành và lời nguyền rủa trong các chương 27-28, cũng như bằng phân đoạn tóm tắt ở cuối chương 30.
Vì khúc sách này nằm trong Cựu ước, vốn bị Tân ước siêu vượt, vì bộ sách ấy chứa đựng sự mặc khải cuối cùng và tối cao của Thượng-Đế cho loài người trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, ta phải đánh giá Phục 27-30 căn cứ vào Tân ước. Một khi đã làm như vậy rồi, ta khám phá được rằng một số chân lý trong khúc sách này vốn có bản tính địa phương và giới hạn. Vì người tín hữu Tân ước không hề được hứa ban cho sự thịnh vượng c ả thuộc thể lẫn thuộc linh khi người ấy trở thành môn đệ của Chúa Cứu Thế. Về một số thí dụ liên hệ với lời truyền dạy này, xin xem MatMt 5:10-12; LuLc 6:20-26; GiGa 15:20-27, và sách Công-vụ.
Hơn nữa, chính sự chết của Chúa Giê-xu là điều mâu thuẫn tối cao của mối liên hệ không thể tránh né vào đâu được giữa sự thịnh vượng thuộc thể và thuộc linh. Vì tuy Chúa Giê-xu vốn là Con Thượng-Đế và là Đấng Mê-si-a thuộc linh, Ngài không phải là Đấng Mê-si-a thuộc thể mà một số người đã trông đợi. Trái lại, Ngài tuyên bố rằng chức năng của Ngài là chức năng trở thành một Đấng Cứu Chuộc thuộc linh thông qua sự chết thuộc thể của mình và hơn thế nữa, Ngài còn đòi hỏi các môn đệ Ngài phải có một cái nhìn như thế, vì Ngài phán “Nếu ai muốn làm môn-đệ ta, phải phủ nhận chính mình, vác cây thập tự mình theo ta” (Mac Mc 8:34).
Như vậy, Tân ước đã phân biệt rõ ràng giữa phước hạnh thuộc thể và thuộc linh, là điều đã không thấy rõ trong PhuDnl 27:1-30:20, và vốn đã không được phần đông những người sống trong thời Cựu ước thấu hiểu. Điều này còn được một trong những công trình khảo sát những khúc sách Cựu ước nói lên khởi điểm của sự phân rẽ giữa phần thuộc thể và phần thuộc linh mà tuyệt đỉnh đạt đến là trong Tân ước, hậu thuẫn cho. Thí dụ hãy lấy EsIs 53:1-12. Phần bắt đầu của chương này rất có ý nghĩa “Ai tin điều đã rao truyền cho chúng ta?” Ý niệm về người đầy tớ thống khổ là điều mà những người được nghe nói không thể tin nổi. Vì làm thế nào một đầy tớ của Thượng Đế lại có thể chịu đau khổ cho được? Thật vậy, giới Biệt phái vào thời của Chúa Giê-xu đã tỏ ra có cùng một lòng vô tín như thế, vì họ không thể nào phân biệt giữa cái thuộc linh với cái thuộc thể.
Nhưng nói như thế không có nghĩa là bởi vì Tân ước chia rẽ phước hạnh thuộc thể với thuộc linh, PhuDnl 27:1-30:20 không hề hàm chứa một chân lý tổng quát nào có giá trị cho thời đại của chúng ta. Vì trong sách Phục truyền, đã không hề có lý do nào để kết hợp cái thuộc thể với cái thuộc linh. Các phước hạnh thuộc thể là biểu hiệu của các phươc hạnh thuộc linh. Hiện diện của chúng là cần thiết để truyền dạy dân chúng rằng Thượng Đế giữ lời hứa của Ngài, và rằng vâng lời Ngài là bí quyết của sự an vui phúc lợi của dân Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, với sự giáng lâm của Chúa Cứu Thế, các biểu tượng ấy không còn cần thiết nữa. Chính sự nhập thể đã trở thành Biểu tượng nhờ đó người ta được truyền dạy rằng Thượng Đế vốn trung thành với các lời hứa của Ngài, và rằng sự sống vĩnh hằng tùy thuộc vào mối liên hệ giữa một người với chính Ngài. Như thế, lời truyền dạy của 27:1-30:20 và của Tân ước thiết yếu chỉ là một. Điểm dị biệt giữa chúng chỉ là chỗ khác nhau về phương tiện chớ không phải là về cứu cánh, và điều này trở thành rõ ràng khi khảo sát lời truyền dạy của Chúa Giê-xu về con đường dẫn đến sự sống hoàn toàn với những người vây quanh Ngài rằng “Ai tham sống sợ chết, sẽ mất mạng, nhưng ai vì ta và vì Phúc âm mà hy sinh tính mạng, sẽ được sống. Nếu một người chiếm được cả thế giới nhưng mất linh hồn thì có ích gì?” (Mac Mc 8:35, 36) (7)
Một loại các khúc sách thứ hai ta có thể tìm được khi cố gắng khẳng định rằng các chân lý của Kinh Thánh vốn phổ quát, là khúc Kinh Thánh đề cập một số các hoàn cảnh và tập tục địa phương. RoRm 14:1-15:13; ICo1Cr 11:1-16, và GaGl 5:1-26 là những thí dụ về loại này.
Nếu ta khảo sát khúc sách đầu tiên trong số đó, tức là RoRm 14:1-15:13, ta nhận thấy nó liên quan với một trong các vấn đề địa phương của Hội thánh Rô-ma, như cuộc tranh cãi giữa những người ăn thịt và những người không ăn. Nhưng một vấn đề như thế vốn ít thích hợp cho phần đông chúng ta, không phải vì bản tính nội tại của nó, mà chỉ vì tính cách cổ xưa, đã lỗi thời của nó. Tuy nhiên, khi giải quyết nó, Phao-lô có kể ra một số các nguyên tắc căn bản mà theo Tân ước là phi thời gian, và do đó, là rất hợp thời đối với chúng ta. Các nguyên tắc ấy có thể được tóm tắt như sau: trong từng trải của một Cơ-đốc nhân, có một khuôn viên trong đó chỉ có một mình lương tâm của chính người ấy mới có thẩm quyền quyết định xem một thói quen cá biệt nào đó là có nên làm hay không mà thôi; và trong lúc xác định xem mình phải quyết định ra sao, thì người ấy cấn phải noi theo sự hướng dẫn của hai yếu tố hàng đầu, là mối liên hệ bằng đức tin giữa đương sự với Thượng Đế, và mối bận tâm với đồng bào đồng loại mình.
Như thế, với một khúc sách như vậy, khi ta chỉ cất đi những điều bất thường, nghĩa là những thói quen hay tình hình vốn có màu sắc hương vị địa phương để chỉ nhìn thấy phần cơ bản mà thôi... thì ta sẽ khám phá ra được các chân lý phổ quát hợp thời và có giá trị.
Một loại các khúc sách thứ ba nữa là khúc sách nào mà tuy được viết cho một hoàn cảnh lịch sự cụ thể, nhưng lại có chứa đựng những câu cũng rất có thể dành cho bất cứ ai. GiGa 3:11-21 thích hợp trên cơ sở là các tiêu chuẩn của Tân ước, một số các khúc sách Cựu ước như EsIs 53:1-12 có thể được xếp vào loại này.
Xin quý độc giả chớ nên suy diễn rằng các nhóm vừa kể ra trên đây là quá cứng nhắc. Vẫn còn có nhiều chi nhánh và nhiều điều có thể khác hơn nữa. Có một số các khúc sách kết hợp nhiều yếu tố thuộc nhiều loại khác nhau. Nhiều cách phân loại khác có thể do tự ta nghĩ ra. Nhưng điểm chủ yếu của phần thảo luận này vẫn còn lại, tức là ta phải phân biệt giữa các chân lý phi thời gian và tổng quát, nếu muốn cho việc ứng dụng chúng có được một nền móng thích đáng. (8).
C. Các gợi ý linh tinh về công tác đánh giá.
Bảng liệt kê các gợi ý sau đây liên hệ với cả vấn đề đánh giá tổng quát lẫn với một số các góc cạnh đặc thù hơn của nó.
1. Trong tiến trình đánh giá, ta phải kiên nhẫn tránh những phê phán hấp tấp. Cách đánh giá của ta phải có đặc điểm là những quyết định có suy nghĩa chín chắc và nếu cần thì phải tạm đình hoãn việc phê phán. Ta phải sẵn sàng trong việc nghi ngờ giá trị của lời phê phán của mình hơn là giá trị của một đơn vị Kinh điển cá biệt nào đó, vì có nhiều lý do để nghi ngờ là có nhiều điều (hay trong một số các phần trong Kinh Thánh, hơn là những gì nó xuất hiện dưới mắt chúng ta, nếu chúng ta nhớ rằng Kinh điển trường tồn tại sau nhiều thế kỷ bị phê bình và bách hại kịch liệt. Mà chúng sở dĩ tồn tại thì không phải là vì không có nguyên nhân đầy đủ. Chắc chúng phải có rất nhiều giá trị mới có thể tồn tại được như thế! Cho nên đường lối an toàn nhất khi đánh giá một số câu, là phải hết sức từ tốn để phê phán sao cho đúng, cho có giá trị.
2. Ta phải cảnh giác đối với việc đưa yếu tố chủ quan vào trong việc phê phán. Có nguy cơ thật sự là việc đánh giá của ta phản ảnh các ước muốn riêng của mình, do đó, có thể được dùng làm một phương tiện để cố gắng trốn tránh trách nhiệm.
3. Tác phẩm của mỗi trước giả phải được đánh giá trước hết căn cứ vào chủ đích của vị ấy. Thí dụ nếu một tác giả đang cố gắng mô tả việc chế tạo một quả bom nguyên tử, thì ta không thể chê bai ông ta một cách vô lý là đã không đưa ra một công thức để làm món mứt bí. Hay nếu một tác giả đã viết một quyển tiểu thuyết dã sữ hiện đại, thì ông ta không thể bị phê bình là đã không đưa vào đó việc thất thủ của Rô-ma. Một khi đã phát giác được chủ đích của một tác phẩm rồi, thì ta phải dùng nó để làm người hướng dẫn mình. Vì có người đã quả quyết, rằng mỗi tác giả đều được quyền tự giới hạn; và miễn là sự tự hạn chế đó của ông ta có giá trị, ông ta phải được đánh giá chỉ trên cơ sở mà thôi.
4. Việc phê bình sao cho công bằng phải kể đến hoàn cảnh lịch sử trong đó các biến cố của khúc sách đã xảy ra hay đã được gởi đến. Không nên đánh giá một đơn vị Kinh Thánh chỉ trên cơ sở là một định chuẩn trừu tượng hay phổ quát, cả khi một định chuẩn như thế đã được tìm thấy trong Tân ước. Việc đánh giá đúng mức sẽ gồm có phần khảo sát những điều đòi hỏi, những hạn chế, và những yêu cầu của bối cảnh lịch sử cụ thể của một khúc sách trước khi có một nỗ lực cuối cùng để tuyên bố là nó đúng hay sai, tốt hay xấu.
Nguyên tắc này cần được đặc biệt áp dụng cho nền đạo đức học của Cựu ước, vốn thường chỉ được phê phán trên các nền móng của một tiêu chuẩn lý tưởng của tân ước mà thôi. Ta phải nhớ rằng các bộ luật luân lý luôn luôn thay đổi, do đó cần phân biệt giữa cái tốt của một biến cố hay ý niệm cá biệt, với cái tốt nằm ngay trong bối cảnh nguyên thủy của nó, và với cái tốt của những người đang sống trong kỷ nguyên của Tân ước. Vì rất có thể rằng có một tập quán nào đó đã có thể được tuyên bố là tốt khi được phê phán căn cứ vào định chuẩn đúng thời của nó, nhưng lại bị phê phán là xấu khi được đánh giá theo các tiêu chuẩn hiện đại. Tuy cách đánh giá sau là quan trọng và có tính cách dứt khoát hơn, nó vẫn phải được đặt trên cơ sở là cách đánh giá trước.
Vì thật ra, nếu người ta cứ phê phán bừa bãi các đơn vị trong Kinh Thánh mà chẳng chịu biện biệt gì cả, thì người ta có thể quên mất đi rằng trong một số các trường hợp đặc thù, phần động cơ thúc đẩy một hành động cá biệt nào đó có thể đã là và có thể vẫn còn là tốt, trong khi chính việc làm ra nó, tuy có giá trị trong quá khứ, có thể bị cho là sai khi ta đo nó bằng các định chuẩn cao hơn của hiện tại. Chẳng hạn lòng nhiệt thành đối với Thượng Đế tự nó đã có thể tự bộc lộ một cách bất công so với các tiêu chuẩn hiện đại. Tuy nhiên, sự kiện này không hề làm triệt tiêu lòng ước ao muốn tỏ ra nhiệt thành đối với Thượng Đế.
Vậy, vì nhiều lý do, ta phải biết phân biệt thật hợp lý giữa công lao của một việc làm do những người đã dấn thân thực hiện nó hồi nguyên thủy, với một Cơ-đốc nhân hiện đại; và sự phân biệt này vốn có cơ sở là bối cảnh lịch sử của Kinh điển, phải được ghi khắc trong tâm trí suốt tiến trình đánh giá.
5. Ta phải thủy chung như nhất trong công tác đánh giá. Người ta không thể tuyên bố một điều gì đó là tốt trong một trường hợp nào đó, rồi lại bảo cùng một việc y như thế là xấu trong những hoàn cảnh tương tự, mặt khác nếu ta chê trách một hành động hay ý niệm trong một hoàn cảnh nào đó, thì không thể dung dưỡng nó trong một trường hợp giống như vậy. Có nhiều người lên án nhiều tập tục trong một số các thành phần của Cựu ước, nhưng đồng thời lại tán thành về đại thể cùng nh ững thói quen như vậy trong thế giới hiện đại.
6. Sự phê phán quan trọng nhất liên hệ đến các khúc sách mà nội dung có đụng chạm đến lịch sử là chẳng hay chúng là chính sử hay dã sử. Cách đánh giá như thế vốn có ý nghĩa nhiều hơn là quyết định lý giải liên hệ đến nghĩa đen của một đơn vị chẳng hạn, nghĩa là chẳng hay nên lý giải nó theo nghĩa đen hay nghĩa bóng (9)
7. Khi đánh giá các phần Kinh Thánh trong đó dường như có những điểm trái ngược nhau, ta phải nhớ rằng cả khi những trái ngược đó có là sự thật đi chăng nữa, chúng vốn không phải là cốt yếu, nhưng vốn chỉ có bản tính ngẫu nhiên mà thôi (10). Ý nghĩa của sự phân biệt này sẽ rõ ràng hơn khi ta khảo sát phần “bản chất” và phần “ngẫu nhiên”. Phần “bản chất” có thể được định nghĩa như thế này:
Cái ẩn tàng bên dưới mọi biểu lộ bên ngoài; cái có yếu tính hay bản tính là có thật, bất biến, cái mà các phẩm tính hay ngẫu nhiên được gắn liền vào đó; cái cấu thành bất cứ cái gì hiện có. Yếu tố hoặc các yếu tố thiết yếu...
Thật vậy, cứ theo ngữ nguyên mà nói, thì từ ngữ “bản chất” (substance) ra từ từ ngữ La văn substare có nghĩa là “nằm ở dưới hay hiện diện, đứng vững”. Mặt khác, cái “ngẫu nhiên” là “hoàn cảnh phụ thuộc... một phẩm tính nhất là cái (phẩm tính) không phải là yếu tính hay bản tính đặc thù của một vật”. Nó ra từ từ ngữ La văn accidere có nghĩa “việc tình cờ xảy ra” (11)
Như thế, bằng cách chỉ rằng việc có thể có nhiều sai biệt trong Kinh Thánh là ngẫu nhiên chớ không phải là bản chất, ta ngụ ý bảo rằng chúng có liên hệ đến những điều cần thiết cho bản tính của chúng. Do đó dầu sao chúng cũng không thể làm thay đổi được giá trị căn bản của Kinh điển, vì bất chấp có sự hiện diện của chúng, Kinh điển vẫn cứ còn là Kinh điển.
Một sự phân biệt giữa những cái ngẫu nhiên với phần bản chất như thế được kể là hợp lý, hợp pháp là điều rất dễ chứng minh trong sinh hoạt hằng ngày. Thí dụ ta có thể vào một khu rừng có rất nhiều cây du. Chúng vốn có trong mình phần phẩm chất phổ biến ẩn tàng khiến chúng là những cây du chớ không phải là một loại cây nào khác. Do đó, về bản chất chúng vốn giống nhau. Tuy nhiên, nếu nói về những cái ngẫu nhiên, thì chúng chắc chắn là có khác nhau, một số có nhiều cánh hơn. Nhưng những điểm khác nhau không hề thay đổi được sự kiện chúng vẫn là những cây du chớ không phải là một vật gì khác. Cũng vậy, chuyện rất thường xảy ra là trong những tờ giấy khai sinh vẫn có nhiều sai lầm. Nhiều khi ngày sinh hoặc nơi sinh đã không được ghi lại chính xác. Tuy nhiên, điều đó không hề tay đổi được sinh ra đời. Và chính sự kiện ấy mới là thết yếu và có tầm quan trọng tối cao. Phần không chính xác trong tờ giấy khai sinh là hoàn toàn ngẫu nhiên.
Phải nhấn mạnh rằng tuy vài điểm sai biệt có thể có thật trong Kinh điển, phần lớn chúng đều được nhận thấy là “dường như” là “có vẻ” như thế chớ không có thật khi đựơc khảo xét thật kỹ. Liên hệ với vấn đề này, Terry viết:
Một phần lớn những điều trái nhau trong Kinh Thánh có thể phăng ra là do một hoặc nhiều nguyên nhân sau đây: các sai sót của những người sao chép các cổ bản; các tên khác nhau chỉ cùng một nhân vật hoặc địa điểm; các phương pháp khác nhau để chỉ thì giờ hoặc mùa tiết; và tầm hạn và kế hoạch đặc biệt của từng quyển sách cá biệt. Những điểm sai biệt không phải là những điểm mâu thuẫn, và nhiều chổ sai biệt sở dĩ nảy sinh là do các phương pháp sắp xếp khác nhau một loạt các sư kiện cá biệt. Các đặc biệt của tin tưởng và cách nói bên Đông phương cũng thường đưa vào điều dường như quá rườm rà của câu viết và tính cách thiếu chính xác của các động từ, vốn là bản tính khiêu khích óc phê bình của các tác giả bên Tây phương vốn ít đam mê hơn (12)
8. Việc đánh giá chính xác Kinh điển phải đặt trên cơ sở là một ý thức về cách sản xuất, công tác điển chế (canonization) và lưu truyền cho đời sau của lịch sử. Các yếu tố do nguyên tắc này đưa vào sẽ trở thành hết sức rõ ràng khi ta nghiên cứu các sách viết về sử ký của Kinh Thánh (13)
II. CÔNG TÁC ỨNG DỤNG
A. Tiến trình của công tác ứng dụng
Bước ứng dụng có thể được chia thành hai giai đoạn, mỗi giai đoạn sẽ được thaỏ luận sau đây:
1. Phân tích tình hình đương đại của khúc sách.
Sau khi xác định xong các yếu tố phổ quát của một khúc sách nhờ tiến trình đánh giá, bước tiếp theo là khám phá tình hình đương đại chính xác mà khúc sách ấy đã được đem ra ứng dụng. Vì tuy các chân lý mà có thể là người ta đã tìm thấy đều thật sự phi thời gian, điều đó không hề có nghĩa rằng người ta sẽ có thể ứng dụng chúng cho bất luận một hoàn cảnh, tình hình nào mà chẳng cần phải phân biệt gì cả.
Như vậy, nếu ta muốn ứng dụng chân lý của một khúc sách nào thì hoặc là ta phải phân tích một hoàn cảnh hiện đại đặc thù để biết chắc nó có rơi đúng vào các biên giới của các chân lý phổ quát hay không, hoặc là ta phải đi tìm hoàn cảnh, tình hình nào thật phù hợp với nó. Thí dụ nếu ta đang xem xét việc ứng dụng nguyên tắc phi thời gian của RoRm 14:1-15:3 vào một việc làm nào đó (14), trước hết ta phải khám phá xem việc làm ấy có thể nào được xếp một cách có giá trị lệ thuộc phạm vi vòng ngoài, hay nó có bản tính thiết yếu của phần trung tâm. Vì nếu việc làm ấy là thuộc về bản chất, thì việc sử dụng 14:1-15:3 có thể dẫn đến việc cấm đoán chớ không phải là ban quyền tự do thật sự cho Cơ-đốc nhân.
Có một trắc nghiệm tuyệt vời liên hệ đến việc này, là đối chiếu cách làm đang đề cập với tình hình cụ thể khiến Phao-lô đã ngỏ những lời ấy. Vì điều vốn thuộc phạm vi ngoại biên, về căn bản, lại rất giống với vấn đề có nên ăn thịt hay không nên ăn thịt; mặt khác, nếu việc làm ấy thiết yếu khác hẳn vấn đề ăn thịt, thì nó sẽ có tính cách bản chất chớ không phải chỉ là ngoại biên. Như thế, nếu các đặc điểm của vấn đề ăn thịt được phản ảnh trong vấn đề hiện đại, thì vấn đề hiện đại phù hợp với khúc sách trong thư La-mã. Tuy nhiên, nếu về căn bản, chúng lại khác, nhờ sự việc sẽ nghiệm đúng nên vấn đề hiện đại là vấn đề thờ thần tượng, thì mấy câu của Phao-lô có thể không đúng để ứng dụng cho nó.
2. Ứng dụng khúc sách
Về lý thuyết, công tác ứng dụng một khúc sách là tổng số của hai bước đi trước. Vì một khi ta đã khám phá ra chân lý phổ quát của một khúc sách rồi, cũng như hoàn cảnh đương đại nằm trong tỉnh của nó, thì ta có thể đặt khúc sách vào trong hoàn cảnh ấy, mà hậu quả là ứng dụng nó. Như vậy, ta có thể so sánh việc xử dụng một chân lý để tìm ra trị số của z trong công thức x +y = Z, một khi đã biết x bằng một và y bằng hai.
Sau đây là một thí dụ minh họa cho tiến trình này, căn cứ vào EsIs 55:1-13.
Nghiên cứu về trước (Lý giải bức thông điệp chính) - Thượng Đế sẽ động lòng thương xót và tha tội rộng rãi cho toàn thể các tù binh người Y-sơ-ra-ên nào thật lòng ăn năn tội mình và tìm cầu Ngài.
Bước thứ nhất (Đánh giá Đặc thù Căn cứ vào Chân lý Phổ quát của Cựu ước) - Thượng Đế sẽ động lòng thương xót và tha tội rộng rãi cho tất cả những tội nhân nào thật lòng ăn năn tội mình và tìm cầu Ngài.
Bước thứ hai (Hoàn cảnh đương đại mà Chân lý Phổ quát ấy là Phù hợp) - Các bạn là tội nhân đã thật lòng ăn năn tội mình và tìm cầu Thượng Đế; hoặc bạn là tội nhân nhưng không thật lòng ăn năn và tìm cầu Thượng Đế.
Bước thứ ba (Ứng dụng Chính thức) - Do đó, Thượng Đế sẽ động lòng thương xót và tha tội rộng rãi cho bạn; hoặc do đó Ngài sẽ không tha tội cho bạn (15)
Lẽ dĩ nhiên là giờ đây, việc ứng dụng các khúc sách sẽ không phải là đơn giản như thí dụ minh họa này và những câu trên dường như cho thấy; vì điều không tránh né vào đâu được là ta sẽ gặp rất nhiều điều rắc rối. Nhưng phần thảo luận này không minh họa các nguyên tắc căn bản của công tác ứng dụng, nhất là liên hệ với nhu cầu và nền móng cho cách đánh giá đúng mức và sự cần thiết phải biết chắc rằng tình hình hiện đại nằm trong địa phương mà khúc sách đã được dùng.
B. Các loại ứng dụng
Cần nhận thức là có hai loại ứng dụng phân biệt nhau: ứng dụng lý thuyết và ứng dụng thực tế. Cái trước là nền tảng cần thiết cho cái sau, cái sau phải là hậu quả luân lý của cái trước.
Tuy nhiên, có nguy cơ là việc ứng dụng có thể xảy ra trong lãnh vực các ý niệm, và như thế thì sẽ chẳng bao giờ được thực hiện trong lãnh vực hành động. Ta cần phải cẩn thận giữ mình để khỏi sa vào một cám dỗ như thế, vì sa vào đó sẽ đưa đến hậu quả là ta chỉ giảng Kinh điển bằng đầu môi chót lưỡi, chẳng những chẳng có giá trị gì mà còn gây tại hại nữa.
C. Các khu vực ứng dụng
Các chân lý Kinh Thánh phải được ứng dụng cả cho bản thân lẫn cho tha nhân; chúng phải được sử dụng liên hệ với các góc cạnh chính trị và kinh tế của đời sống cũng như cho phương diện thuộc linh; chúng phải được sử dụng tại địa phương, trong phạm vi quốc gia và phổ quát; chúng phải được ứng dụng cả cho các tín hữu lẫn những người vô tín.
Trên đây là những lời phát biểu tổng quát và không hề hàm ý rằng các chân lý của từng khúc sách một đều phải đem áp dụng cho tất cả các lãnh vực ấy của từng trải con người. Vì chính bản tính của đơn vị đã được nghiên cứu vốn có tầm quan trọng tối cao để xác định các khu vực mà nó phải được áp dụng. Thí dụ có một số đoạn Kinh điển, như RoRm 6:1-23, vốn thích hợp cho các tín hữu chớ không phải cho người không tin.
Tuy nhiên, thói quen giới hạn các ứng dụng cho một số các giai đoạn từng trải nào đó, có thể trở thành một thói quen nguy hiểm. Chẳng hạn như có một số người bao giờ cũng thấy rõ chân lý nào trong Kinh điển phải được ứng dụng cho tha nhân, dầu đó là các Cơ-đốc nhân khác hay các dân tộc khác; nhưng lại không chịu gắn liền chân lý ấy với chính đời sống riêng tư hoặc sinh hoạt của quốc gia dân tộc họ. Mặt khác, một số người lại luôn luôn ứng dụng các chân lý cho từng trải riêng của họ, mà bỏ qua các hàm ý rộng rãi của chúng dành cho tha nhân. Các sai lầm này và những nhầm lẫn tương tự là những việc cần phải tránh. Tiến trình ứng dụng phải thật đều khắp; nó phải bao gồm mọi khu vực của đời sống.
III. TÓM TẮT CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ VÀ ỨNG DỤNG
Bước ứng dụng là bước vì đó mà có tất cả các bước khác. Nó là cùng đích của công tác nghiên cứu Kinh Thánh (16). Tuy nhiên, muốn cho công tác ứng dụng có giá trị, phải có công tác đánh giá đi trước nó.
Công tác đánh giá có cả một giai đoạn tổng quát lẫn một giai đoạn đặc thù. Nói chung, công tác đánh giá tự nó chú trọng vào giá trị của toàn bộ hoặc các phần lớn của Kinh Thánh. Nói riêng, thì nó có nhiệm vụ xác nhận giá trị chính xác của từng khúc sách riêng biệt. Giai đoạn sau này sở dĩ cần thiết vì các sách trong Kinh Thánh đều được gởi đến cho những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, và do đó, có mức độ thích hợp và giá trị khác nhau.
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn đánh giá đặc thù là phân biệt giữa những chân lý nào có tính cách địa phương và giới hạn, với các chân lý phi thời gian và tổng quát. Cơ sở để phân biệt như thế là sự mặc khải tối cần và phổ quát đã được thể hiện nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu, và đã được ghi lại trong Tân ước.
Sau khi đã xác định xong phần chân lý phổ quát, ta phải phân tích một hoàn cảnh hiện đại có thể xảy ra cho mình để biết chắc nó có xảy đến bên trong phạm vi của phần chân lý phổ quát đó hay không, hoặc ta phải tìm một vấn đề cận đại phù hợp với chân lý đó. Khi ta đã phát giác được một hoàn cảnh hiện đại mà cái chân lý phi thời gian kia là hợp thời rồi, thì nhiệm vụ của ta là phải ứng dụng cái chân lý ấy, không những chỉ bằng ý niệm mà bằng cả hành động nữa. Và ta phải ứng dụng nó vào bất luận lãnh vực nào của đời sống mà nó thích hợp, bất chấp mọi hậu quả vì nói cho cùng thì một trong những bí quyết hàng đầu của việc ứng dụng Kinh điển, là loại dấn thân khiến người đã phát giác ra một chân lý phải noi theo hậu quả luận lý của nó, cả khi nếu đường đi có gian khổ và các phần thưởng sờ nắn được có hiếm hoi.
IV. BÀI TẬP VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ỨNG DỤNG
Xét lại việc đánh giá và ứng dụng các khúc sách bạn đã lý giải trong bài tập trước. Cố gắng bám sát các bước đặc thù và các nguyên tắc tổng quát đã được đề ra trong phần thảo luận trên đây.
CHÚ THÍCH
1. Nếu muốn cố gắng noi theo một phương pháp khoa học cho thật chính xác, ta phải đưa thêm vào đây một bước khác nữa, có thể gọi là “công tác quan sát và thí nghiệm phụ”. Ngụ ý của một bước như thế sẽ là tất cả phần lý giải sơ khởi đều có tính cách giả thiết, do đó, khiến cho việc thử nghiệm thêm trở thành cần thiết. Theo nghĩa rộng, việc làm này là đúng là điều chẳng còn ai nghi ngờ; và trong những trường hợp cá biệt, công tác lý giải phải được xem như chỉ là thử nghiệm, là điều bắt buộc phải tuân thủ. Tuy nhiên, bước đã được đề cập trên đây sẽ không được đưa vào phần thảo luận này chỉ vì lý do đơn giản là chúng tôi không hề cố gắng trình bày ra đây một phương pháp tiếp cận rốt ráo cho một đơn vị Kinh Thánh. Vấn đề ấy đã được vạch rõ ngay từ đầu quyển sách chỉ nam này, khi chúng tôi nhấn mạnh rằng phần mẫu mực mà các trang sách này gợi ý vốn có mục đích nhắc lại toàn phần hoặc một phần, và đầy đủ hơn, điều sẽ cho phép có sự tác động lẫn nhau của nhiều bước khác nhau. Chúng tôi cũng đã nhấn mạnh rằng các cách lý giải phải luôn luôn có thay đổi nếu và khi có những dữ kiện mới được phát giác nhờ công tác khảo sát phụ trội (Ante, pp.21-22,186). Vì cớ các sự kiện ấy, dường như không thật sự có việc cần thiết phải xem “công tác quan sát và thí nghiệm phụ” như một bước riêng rẽ trong việc nghiên cứu Kinh Thánh theo quy nạo pháp.
2. Lắm khi việc đánh giá một khúc sách nhất là về tính cách thích hợp của nó với một hoàn cảnh nào đó, vốn có liên hệ rất chặt chẽ với công tác lý giải, vì nó chính là hậu quả tự nhiên của việc phát giác ra các hàm ý của những câu Kinh Thánh (Ante, p.108). Tuy nhiên vì nó bao hàm một phê phán giá trị, nó phải được phân biệt với công tác lý giải đơn thuần.
3. Ante, p.186.
4. Câu “phê phán theo đúng lẽ công bằng” (judicial criticism) đã được dùng theo nghĩa trung lập và không hề hàm ý có việc phê bình nguyên tắc hay phá hoại. Nó đã được T.M.Greene dùng theo đúng nghĩa ấy trong quyển The Arts and the Art of Criticism.
5. Ante, pp.154-155. Về các gợi ý liên hệ đến tài liệu tham khảo, xin xem các phần đầu của tác phẩm A Bibliography of Systematic Theology for Theological Students, đã được thư việc của Chủng viện Thần học Princeton đúc kết.
6. Ante, pp.156-158
7. Có một số người chủ trương rằng Mat Mt 6:19-34 phủ nhận lập trường cho rằng Tân ước không hề hứa là phước hạnh thuộc thể gắn liền bất khả phân ly với những người vâng lời Thượng Đế. Tuy nhiên chính tác giả sách này tin quyết rằng một quan điểm như thế đặt ra một vấn đề cả theo những lời phát biểu của chính khác sách này lẫn theo mối liên hệ giữa nó với những lời truyền dạy khác của Chúa Cứu Thế và toàn bộ Tân ước. Quả thật rằng thường thường thì những người vâng lời Thượng Đế đều được cung cấp mọi nhu cầu và quả thật là rất có thể họ đều được sinh sống thoải mái hơn trước. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết hậu thuẫn cho ý niệm về mối liên hệ bất khả phân ly giữa sự an vui phúc lợi thuộc linh và thuộc thể vốn nổi bật hẳn lên trong một số các khúc sách Cựu ước.
8. Nhiều khi việc phát giác được các nguyên tắc ẩn tàng của một khúc sách, và do đó là chân lý phổ quát của nó, sẽ xảy ra trong khi lý giải. Sự kiện này chứng minh một lần nữa cho tính cách uyển chuyển của việc nghiên cứu đúng phương pháp (Ante, pp.20-21)
9. Ante, pp.175-176
10. Những điểm sai biệt giữa hai bảng liệt kê số người bị lưu đày trong Exo Er 2:1-70, với NeNe 7:6-73 có thể được kể như một thí dụ cho điều dường như có thể sai biệt.
11. Webster's Collegiate Dictionary, Fifth Edition
12. Terry, M.S. Bibblical Hermeneutics, p.404
13. Ante, p.188
14. Ante, pp.208-209
15. Lưu ý là Ê-sai 55 thuộc loại khúc sách thứ ba đã được thảo luận trước đây. (Ante, p.209)
16. Ante, pp.12-13
LIÊN KẾT
I. Mục tiêu và tính cách cần thiết của sự liên kết
II. Thời điểm liên kết
III. Các phương tiện liên kết
A. Kết hợp hình thức
B. Kết hợp phi hình thức
IV. Tóm tắt
V. Bài tập về liên kết
Chú thích
I. MỤC TIÊU VÀ TÍNH CÁCH CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC LIÊN KẾT
Tuy một vài công tác liên kết đã xảy ra không thể tránh được trong khi lý giải và ứng dụng (1) giai đoạn này là bước kết thúc của việc nghiên cứu Kinh điển theo quy nạp pháp. Vì nó là việc tổng quát hóa những gì v ốn là hậu quả của công tác khảo xét những khúc sách cá biệt nào đó (2)
Nói rõ hơn, mục đích của việc nghiên cứu Kinh điển là phát triển một nền thần học chủ yếu theo Kinh Thánh, nảy sinh từ một triết lý sinh động của Cơ-đốc giáo về cuộc đời (3). Để đạt mục tiêu ấy, ta phải làm nhiều việc hơn là chỉ khảo xét những khúc sách riêng lẽ thôi. Ta phải sắp xếp những gì ta đã phát giác được lại, sao cho nó triển nở thành một ý niệm tổng hợp về bức thông điệp của Kinh Thánh (4). Và sau khi đã làm như thế rồi, ta còn phải cố gắng gắn liền nó vào với các sự kiện mà ta tìm thấy bên ngoài Kinh điển nữa.
Chẳng có gì để nghi ngờ về khuyết điểm của chính phương pháp tiếp cận Kinh điển bằng quy nạp pháp là ngay tại điểm này. Vì cũng như diễn dịch pháp vốn mạnh về tổng quát hóa mà yếu về những điểm cá biệt, riêng lẽ làm sao thì cũng vậy, quy nạp pháp lại có khuynh hướng mạnh về các điểm cá biệt mà yếu về tổng quát hóa. Điều vẫn cám dỗ người ta, là khuynh hướng dành ra quá nhiều thì giờ và năng lực để nghiên cứu các khúc sách cá biệt mà ta chẳng bao giờ liên kết tất cả những gì ta đã khám phá được lại với nhau.
Cần phải thắng vượt sự cám dỗ này bằng mọi giá, vì nó cũng sai lầm chẳng khác chi chỉ đúc móng mà không hề xây dựng gì lên trên đó cả. Tổng quát hóa chính là cứu cánh của công tác khảo xét những khúc sách cá biệt riêng lẽ. Và bỏ qua công việc này chính là không đạt được mục tiêu ta đã đặt ra, mà hơn thế nữa, là còn tự chuốc lấy cho mình lời chê bai chỉ trích của những người vẫn nằng nặc bảo rằng phương pháp để nghiên cứu Kinh Thánh phải là diễn dịch pháp nếu người ta không muốn phí công vô ích.
II THỜI ĐIỂM CỦA CÔNG TÁC LIÊN KẾT.
Tiến trình liên kết không thể và không nhất thiết phải chờ cho đến khi ta đã nghiên cứu toàn bộ Kinh điển. Điều này được nghiệm đúng vì bốn lý do chủ yếu.
Một là, cũng như các giai đoạn khác của công tác nghiên cứu quy nạp, công tác liên kết nói cho cùng vốn có tính cách thể nghiệm. Bao giờ cũng có chỗ dành cho sự thay đổi nếu và khi có những dữ kiện mới được tìm thấy, đòi hỏi phải làm như vậy. Cho nên ta, không thể thôi không làm lại công tác liên kết vì sợ e sẽ đưa ra những câu kết luận không thể thay đổi mới bắt đầu công tác nghiên cứu Kinh điển.
Hai là, đứng về mặt lý tưởng mà nói thì việc nghiên cứu những cái cá biệt, riêng lẻ sẽ chẳng bao giờ có kết thúc cả. Do đó, công tác liên kết sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu phải chờ cho đến khi công tác nghiên cứu những cái riêng lẻ, cá biệt đã hoàn tất.
Ba là, có nhu cầu phải liên kết các thành phần của Kinh điển lại với nhau, để ta có thể hướng dẫn tư tưởng và hành động của mình. Và vì trong hành động, công tác liên kết phải bắt đầu ngay bây giờ.
Và bốn là, tiến trình liên kết này vốn là một nhiệm vụ tối quan trọng đến nỗi tốt nhất là ta nên thực hiện nó từ từ mỗi lần một ít, hơn là làm tất cả chỉ trong một lần. Thật vậy, bất chấp người ta đã sử dụng phương pháp nào, công tác liên kết đều là một mối căng thẳng cùng cực đối với các tài năng tinh thần của một người đến nỗi rõ ràng đó là một kỳ công trí thức rất khó đạt được theo bất kỳ một ý nghĩa lý tưởng nào.
Như vậy, phương pháp có giá trị để tiếp cận công tác liên kết là bắt đầu nó ngay sau khi một số các khúc sách đã được nghiên cứu, và cứ tiếp tục nó bao lâu ta có thể suy nghĩ. Nó sẽ là một tiến trình của cả đời người, đồng thời với việc nghiên cứu liên tục những cái riêng lẻ, cá biệt. Vì ta sẽ luôn luôn phát giác ra những sự kiện mới để tổng hợp hóa, hoặc những điều đã tổng quát hóa rồi nhưng nay lại cần phải duyệt xét lại vì lại tìm thêm được một cứ liệu mới.
III. CÁC PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT
Có hai phương tiện căn bản ta có thể dùng để tổng hợp những khám phá tìmt hấy trong Kinh điển lại với nhau, và với các dữ kiện khác của từng trải.
A. Sự kết hợp hình thức.
Phương tiện này gồm công tác liên kết theo đề mục. ta có thể nghiên cứu từng sách riêng rẽ trong Kinh Thánh hay toàn bộ Kinh Thánh căn cứ vào các chuyên ngành như Thần học, Nhân loại học, Cứu rỗi học, Cơ-đốc học, Thánh Linh học, Truyền đạo học, Đạo đức học, v... của bộ sách ấy. Ta cũng có thể dùng các chủ đề tương tự như vậy nhờ liên kết các sự kiện ngoài Kinh Thánh với Kinh điển.
Tuy phương pháp tiếp cận theo đề mục có một số các ưu điểm nó cũng có một số các điểm bất lợi. Một trong số đó là khuynh hướng phân chia tư tưởng thành những ngăn nông cạn, do đó, gây trở ngại cho ý thức của người ta về tính cách vốn được liên kết chặt chẽ vào nhau của chân lý.
B. Sự kết hợp phi hình thức
Loại phương pháp tiếp cận này cho phép kết hợp nhiều khúc sách và sự kiện khi nào có liên hệgiữa chúng với nhau, chớ không phải chỉ vì chúng liên quan đến cùng một đề mục. Thí dụ người ta có thể liên kết phi hình thức các chân lý của Mac Mc 8:27-9:2, GiGa 15:1-27, và RoRm 6:1-14. Khúc sách đầu có một lời khuyến giục “Nếu ai muốn làm môn đệ ta, phải phủ nhận mình, vác cây thập tự mình theo ta”. Mấy khúc sách sau chỉ ra các phương tiện theo đó lời khuyến giục mà Chúa Cứu Thế đã đưa ra để có thể được thực hiện, tức là sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế bởi đức tin, sẽ khiến chúng ta có thể “sống” trong Ngài. Như vậy, các khúc sách ấy, vốn soi sáng lẫn cho nhau sẽ chẳng bao giờ được kết hợp lại với nhau nếu người ta chỉ sử dụng phương pháp tiếp cận duy nhất là phương pháp tiếp cận theo hình thức mà thôi.
Nói cho cùng, thì phương pháp tiếp cận phi hình thức vốn có cơ sở là cái nguyên tắc rằng mọi chân lý và đời sống vốn chỉ là một. Mỗi chân lý hay giai đoạn cá biệt riêng lẻ nào đó của đời sống đều có ái lực tự nhiên đối với một chân lý hay giai đoạn khác của cuộc đời, cả trong Kinh điển lẫn bên ngoài Kinh điển. Do đó, ta phải cố ý để nỗ lực khám phá ra những sợi dây trói buộc từng sự kiện này với tất cả các sự kiện khác đó, và nhờ làm như vậy, ta sẽ dấn thân vào cách diễn tả lý tưởng mối liên hệ phi hình thức.
Tuy theo ý tác giả quyển sách này, phương pháp tiếp cận sau là tự nhiên và có giá trị nhất, phương pháp tiếp cận theo đề mục vẫn có các lợi điểm riêng mà người ta có thể lợi dụng. Do đó, quý độc giả được khuyên nên dùng cả hai phương tiện trên trong công tác tổng hợp của mình, tuy nhiên, phải luôn luôn nhớ để tránh việc phân chia chân lý ra một cách giả tạo (T)
IV. TÓM TẮT CÔNG TÁC LIÊN KẾT
Vì phần thảo luận này quá ngắn ngủi, thiết tưởng không có sự cần thiết thật sự phải ông lại các thành phần riêng rẽ. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là trọng tâm của nó, t ức là: phải luôn luôn liên kết. Ta phải luôn luôn tìm cách kết hợp giữa nhiều khúc sách khác nhau trong Kinh điển, và giữa nhiều câu trong Kinh điển với các dữ kiện tìm thấy ngoài Kinh điển lại với nhau. Ta phải luôn luôn cố gắng nhìn quyển Kinh Thánh như một bộ sách toàn diện và cuộc đời này một cách toàn diện. Nếu quý độc giả đã ghi khắc được vào tâm trí cái nhu cầu về một thái độ biết liên kết tất cả mọi sự lại với nhau như thế, thì phần thảo luận trên đây đã đạt được chủ đích của nó rồi vậy.
V. BÀI TẬP LIÊN KẾT
Cố gắng tìm các mối liên hệ giữa các khúc sách đã được lý giải và ứng dụng các khúc sách đã được lý giải và ứng dụng chúng bằng cách kết hợp chung với các bài tập về trước. Cũng cố gắng gắn liền các khúc sách ấy với những gì bạn được thấy được nghe và được đọc bên ngoài Kinh điển.
CHÚ THÍCH
1. Ante, pp.138-141, 156-159, 206-209
2. Ante, pp.6-8. Diễn tiến quy nạp từ những cái riêng rẽ đến tổng quát hóa có thể áp dụng vào hai khu vực: một là trong việc nghiên cứu những khúc sách riêng lẽ đòi hỏi phải khảo sát các yếu tố riêng rẽ của một đơn vị trước khi rút ra các kết luận xem như ý nghĩa của nó; và hai là việc nghiên cứu toàn bộ Kinh điển, chú trọng vào việc khảo sát những khúc sách riêng rẽ trước khi làm công việc tổng quát hóa toàn bộ Kinh Thánh. Trong khu vực trước quy nạp pháp được sử dụng cho các đoạn được khảo sát và ứng dụng. Điểm nhấn mạnh ở đây về tổng quát hóa và liên kết bao hàm khu vực thứ hai.
3. Cần lưu ý là công tác liên kết đã được mô tả ở đây là nhằm gồm luôn công tác ứng dụng nữa.
4. Ante, p.11
5. Trong khi phát triển nền thần học Kinh Thánh, ta phải luôn luôn ghi nhớ sử kiện việc liên kết đúng những câu trong Kinh Thánh lại với nhau chẳng những phản ảnh các giáo lý riêng lẽ khác nhau hàm chứa trong Kinh điển, mà còn nhấn mạnh vào một số các giáo lý cá biệt nào đó nữa. Vì theo một ý nghĩa, thì nền thần học của một người có thể bao hàm toàn thể các giáo lý được tìm thấy trong Kinh điển mà đồng thời, về cơ bản, lại chống lại Kinh điển do một điểm nhấn mạnh bị đặt sai chỗ. Do đó, ta phải cố gắng chú ý đến những giáo lý nào đã được dành cho một tổng số nhiều tài liệu nhất và được các trứơc giả Kinh Thánh xem là cơ bản để đặt các giáo lý như thế làm nền móng cho công tác liên kết của mình.
bottom of page
