top of page

HungT
Jul 8, 2026
Tác-giả: Robert A. Traina
KHẢO SÁT.
I. Định nghĩa và Chủ đích của công tác Quan sát.
II. Các đòi hỏi của công tác quan sát - Vài trích dẫn thích hợp.
A. Ý chí muốn quan sát.
B. Phải quan sát thật chính xác.
C. Phải quan sát kiên trì.
III. Phân tích công tác quan sát.
A. Khảo sát các từ ngữ.
1. Định nghĩa một từ.
2. Các loại từ ngữ.
a. Các từ ngữ thông thường và không thông thường.
b. Các từ ngữ có nghĩa đen và nghĩa bóng.
3. Lai lịch và biến cách của các từ ngữ.
B. Khảo sát các mối liên-hệ và liên-hệ hỗ tương giữa các từ ngữ - Cấu trúc.
1. Định nghĩa cấu trúc và Các đơn vị cấu trúc khác nhau.
2. Tầm quan-trọng của cấu trúc.
3. Các loại cấu trúc.
a. Cấu trúc bề mặt và ẩn dưới bề mặt.
b. C ấu trúc chủ yếu và thứ yếu.
4. Các định luật đặc thù về cấu trúc.
a. Các mối liên-hệ cấu trúc trong các mệnh đề và các vế, giữa các vế với nhau, và giữa các cấu trúc với nhau. - Trong các phân đoạn.
(1). Các mối liên-hệ trong một phân đoạn.
(a) Liên-hệ Chủ từ - động từ.
(b) Liên-hệ Chủ từ - vị ngữ.
(c) Liên-hệ giữa từ ngữ bổ nghĩa và từ ngữ được bổ nghĩa (Modifier to Modified).
(d) Liên-hệ giữa giới từ và t úc từ.
(e) Liên-hệ giữa đại danh từ với tiền ngữ.
(f) Liên-hệ giữa các vế độc lập với nhau, và với các vế lệ thuộc.
(2). Các thí-dụ minh họa các mối liên-hệ trong một phân đoạn.
b. Các mối liên-hệ về cấu trúc giữa các phân đoạn, các phần của phân đoạn, các phần cấu thành đoạn, các đoạn, các phần lớn, và các quyển sách.
(1) So sánh.
(2) Đặt tương phản.
(3) Lắp lại.
(4) Tính cách liên tục.
(5) Nối tiếp.
(6) Tuyệt đỉnh.
(7) Tính cách trọng yếu.
(8) Hoán chuyển.
(9) Cá biệt hóa và tổng quát hóa.
(10) Nguyên nhân và phần cốt lõi.
(11) Sữ dụng công cụ.
(12) Giải nghĩa hay phân tích.
(13) Chuẩn bị hay dẫn nhập.
(14) Tóm tắt.
(15) Chất vấn.
(16) Tính cách hài hòa.
5. Các tài-liệu cho việc cấu trúc.
a. Tài-liệu dùng mô-tả.
(1) Tài-liệu về tiểu sử.
(2) Tài-liệu lịch-sử.
(3) Tài-liệu biên niên sử.
(4) Tài-liệu địa lý.
(5) Tài-liệu ý tưởng hay luân lý.
b. Tài-liệu để minh họa.
6. Sự chọn lọc và cấu trúc.
a. Ý nghĩa và tầm quan-trọng của việc chọn lọc.
b. Mối liên-hệ giữa chọn lọc và cách cấu trúc.
c. Các loại chọn lọc.
(1) Chọn lọc định lượng hay cân đối.
(2) Chọn lọc phi định lượng.
7. Các gợi ý linh tinh để khảo sát cách cấu trúc.
C. Khảo sát các hình thức văn chương tổng quát.
1. Văn khảo luận và nghị luận.
2. Tản văn thuật sự.
3. Thi-ca.
4. Kịch và kịch nói (tản văn).
5. Văn ẩn-dụ.
6. Văn chương khải-thị.
D. Khảo sát bầu không khí.
IV. Các trợ cụ cho việc khảo sát nói chung.
V. Tóm tắt công tác khảo sát.
VI. Bài tập khảo sát.
Chú thích.
Vì khởi điểm của một tiến-trình quy nạp pháp đòi hỏi phải lưu ý các đặc điểm cá biệt, cho nên điều rất hợp lý là bước đầu tiên của việc nghiên-cứu Kinh-Thánh một cách có phương pháp phải là sự khảo sát.
I. ĐỊNH NGHĨA VÀ CHỦ-ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC QUAN SÁT.
Quan sát là “hành động hay khả năng ... chú ý; hành động hay kết quả của việc tra xét hay chăm chú lưu ý” (1). Tiến-sĩ H.T.Kuist định nghĩa nó là “nghệ thuật nhìn thấy các sự vật y như chúng vốn có”. Ông cũng gợi ý rằng nó gắn liền với việc nhìn thấy “vô tư, cao độ và bất khuất” (2).
Thiết tưởng cũng phải nhấn mạnh rằng quan sát đích thực là có tinh thần ý thức, biết rõ điều mình thấy. Quan sát vượt hẳn cái nhìn thấy thuần túy có tính-cách vật lý, thuộc thể, nó bao hàm việc tri giác, tri nhận (perception). Chẳng hạn có lẽ quý độc-giả thấy trong câu trước có dùng một từ cá biệt, tức là từ “tri giác, tri nhận”. Nhưng nếu một người không ý thức rằng từ này vốn muốn nói lên một ý nghĩa cá biệt nào đó, và phải cố gắng phát giác, khám-phá cho ra cái ý nghĩa ấy, thì người ấy đã không thật sự nhận thấy, quan sát kỹ để ý thức là đã có sự hiện diện của nó. Vậy quan sát, khảo sát cốt yếu là ý thức.
Do ý nghĩa đó của nó, chức năng tổng quát của quan sát là giúp người ta hòa mình (saturated) vào với các đặc-điểm cá biệt của một khúc sach để mình ý thức trọn-vẹn sự hiện hữu của nó và nhu-cầu phải giải thích các đặc-điểm ấy. Khảo sát là phương-tiện bởi đó các dữ-kiện của một khúc sách trở thành một thành phần trong tinh thần của người sinh viên, của người nghiên-cứu. Nó cung-cấp các nguyên liệu thô để tâm-trí căn-cứ vào đó mà thực hiện tiến-trình giải nghĩa.
II. CÁC ĐÒI HỎI CỦA CÔNG TÁC QUAN SÁT - VÀI TRÍCH DẪN THÍCH HỢP.
A. Ý chí muốn quan sát.
Đây là bản lược đồ hãy còn bỏ trống cho chuyến đi sắp tới của chúng ta; nhưng mọi sự đều tùy thuộc vào chính đôi mắt, vào tâm trạng và phương-tiện của người du khách, nghĩa là vào tất cả những gì mà chính người ấy sẽ đưa vào để thực hiện công tác thám hiểm, khai phá của mình. “Hãy tìm sẽ gặp” là một chân-lý đã được nghiệm thấy là đúng trong lịch-sử cũng như trong tôn-giáo (3)
Người không muốn quan sát thì chẳng bao lâu sẽ chán nản và buồn ngủ. Người thích quan sát, có một lực ẩn đàng sau thúc đẩy mình đi tìm khải-tượng, sẽ có đầy đầu óc biện biệt, và liên tục thực hiện những khám-phá, những phát kiến khiến cho tâm-trí luôn luôn linh hoạt và quan-tâm chú ý. Hãy đặt ý chí đàng sau con mắt, thì con mắt sẽ trở thành một ánh đèn pha muốn xuyên thấu tất cả. Sự việc cũng giống như vậy nếu người ta muốn phát giác ra kho báu mà mình chưa hề dám mơ tưởng tới (4).
B. Phải quan sát thật chính xác.
Sir William Osler, nhà vật lý học lừng danh luôn luôn tìm cách gây ấn-tượng trên các sinh viên y khoa về tầm quan-trọng của việc quan sát chi-tiết. Nhân một lần nhấn mạnh điểm này trong một bài giảng của mình cho một nhóm sinh viên, ông chỉ vào một cái lọ trên bàn viết của mình, và nói: “Chiếc lọ này chứa một mẫu nước để phân tích. Ta có thể xét nghiệm nó để xác định chứng bệnh mà người có nó đang mắc phải”.
Để có hành động đi kèm theo lời giảng, ông nhúng một ngón tay vào trong lọ nước rồi đưa lên miệng. Ông nói tiếp: “Đây, tôi sẽ đưa chuyền cái lọ cho tất cả mọi người. Mỗi người trong các bạn hãy nếm thử chất chứa trong đó như tôi đã làm, thử xem các bạn có chẩn đoán ra chứng bệnh gì không”.
Khi cái lọ đã được chuyền từ bàn này sang bàn kia, mỗi sinh viên đều hăng hái nhúng vào đó một ngón tay và mạnh dạn nếm thử chất nước chứa trong đó. Xong đâu đấy giáo-sư Osler thu hồi chiếc lọ. Ông nói: “Thưa quý vị, bây giờ các vị đã hiểu rõ điều tôi ngụ ý muốn nói khi đề-cập việc phải quan sát thật tỉ mỉ, chi-tiết. Nếu các vị đã quan sát kỹ, chắc các vị phải thấy là tôi đã nhúng ngón trỏ của mình vào trong lọ, còn ngón tay mà tôi cho vào miệng là ngón giữa” (5).
C. Phải quan sát kiên trì.
Đi xuyên qua đám sương mù xám
Liệm kín mặt vịnh,
Tôi chẳng nhìn thấy gì khác hơn một bức màn.
Sa mù bao quanh từng cánh buồm,
Thình lình sừng sững sát mũi đất.
Một khối đồ sộ và im lặng hiện ra,
Một chiếc tàu to nằm sát bờ biển.
Là nơi chẳng thấy có vật gì trước đó.
Ai muốn thấy được một chân-lý thường phải nhìn chăm.
Vào đám sa mù luôn nhiều ngày,
Có thể điều dường như chắc chắn đối với người ấy
Là tại đó đã chẳng có gì khác hơn là một đám mây mờ suông.
Rồi bỗng nhiên đôi mắt người ấy sẽ thấy,
Một hình dáng tại nơi mà trước đó chẳng có chi cả
Hằng ngày, có những điều mà nhiều người chẳng bao giờ khám-phá ra được.
Chỉ vì đã quay đi quá sớm.
Clarence Edward Flynn (6)
III. PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUAN SÁT.
Bốn nội dung chính trong bất kỳ một khúc Kinh-Thánh nào, là : các từ ngữ, các mối liên-hệ và liên-hệ hỗ tương giữa chúng hay phần cấu trúc; hình thức hoặc các hình thức (thể loại) văn chương tổng quát; và bầu không khí. Cho nên những điều trên là mối bận tâm đối với con mắt biết khảo sát (7).
A. Khảo sát các từ ngữ.
1. Định nghĩa một từ.
Một từ là một chữ được dùng trong một bản văn. Do đó, nó chỉ có một ý nghĩa trong khi cùng một chữ ấy có thể có rất nhiều nghĩa. Thí-dụ chữ cây có thể có nghĩa là cả một cây nhỏ (cỏ) hay to (cổ thụ) với cả gốc, thân, cành, lá, hoa, quả v.v... hoặc cũng có thể có nghĩa là chất gỗ, là một đơn vị đồ vật có chất gỗ hay không (cây súng), hoặc một người có một biệt tài, một đặc điểm nào đó (cây cười, một cây triết-lý xanh dờn...) v.v... Tuy trong tất cả các trường hợp trên cùng một chữ đã được sử dụng, chữ “cây” là một từ khi nó chỉ một cội cây, nhưng lại là một từ khác khi nó nói lên một vật khác như chất gỗ, cây súng...
2. Các loại từ ngữ.
a. Các từ ngữ thông thường và không thông thường.
Từ ngữ là thành phần cơ-bản, cấu thành việc truyền thông bằng văn chương chữ nghĩa, và người biết quan sát kỹ lưỡng phải chú ý đến từng tự ngữ một với tư cách ấy. Tuy nhiên, muốn cho tiến-trình khảo sát có hiệu quả, nhất là từ quan-điểm ghi nhận điều mình thấy, thiết tưởng cần phân biệt giữa các từ thông thường và những từ không thông thường.
Trong loại đầu, người ta có thể kể các từ ngữ tầm thường mà ý nghĩa đã rõ ràng ngay và chẳng có ý nghĩa bao nhiêu để giúp hiểu rõ một khúc sách. Thí-dụ tuy thỉnh thoảng một quán từ cũng có thể có ý nghĩa bất thường, nhưng phần lớn các quán từ đều được dùng trong loại này. Do đó, thật là uổng phí thì giờ để thận trọng ghi nhận sự hiện diện của từng quán từ một trong từng câu một.
Mặt khác, có những từ ngữ cần phải được đặc biệt chú ý và phải được ghi nhận vì chúng sẽ cần được khảo xét đặc biệt hơn. Đó là những từ không thông thường và chúng được chia làm 3 hạng:
-một là hạng các từ ngữ khó hiểu;
-hai là hạng các từ ngự tối quan-trọng của một khúc sách và các từ tuy không quan-trọng lắm, nhưng vẫn có ý nghĩa để hiểu các điều muốn nói trong một khúc sách;
-và ba là hạng các từ ngữ diễn-tả những ý-niệm sâu sắc, nếu chúng không thuộc vào hai hạng vừa kể trên. các từ “hóa hình” và “hiện ra” trong MacMc 9:2, 4 có thể xem là không do thói quen (8)
Thiết tưởng cần nhấn mạnh rằng việc phân biệt giữa các từ ngữ thông thường và không thông thường không nhằm gây nản lòng cho việc khảo sát thận trọng và rốt ráo. Trái lại nó có dụng ý làm phát triển đức tính thận trọng khi xét-đoán; và một người càng có nhiều năng lực biết thận trọng để phán-đoán sáng suốt, thì sẽ càng thấy được nhiều từ ngữ cần khảo xét đặc biệt. Như vậy, nó sẽ dẫn đến kết cuộc là công tác khảo sát sẽ sắc bén và rốt ráo hơn.
b. Các từ ngữ có nghĩa đen và nghĩa bóng.
Các từ ngữ có nghĩa đen cần phải được giải sát nghĩa đen và chúng hàm ý gì hầu nói lên nghĩa đầu tiên hay thông thường của nó. Từ “cây” trong SaSt 1:12 có nghĩa đen. Các từ có nghĩa bóng là những từ có nghĩa biểu-tượng và diễn-tả một ý-niệm thứ hai, khác với nghĩa nguyên thủy. Từ ngữ “cây” trong RôRm 11:24 thuộc loại có nghĩa bóng (9).
Một người thường xác định ngay được một từ ngữ có nghĩa đen hay nghĩa bóng khi nhìn thấy nó. Tuy nhiên, nhiều khi việc này chỉ thực hiện được ở bước thứ hai, hoặc khi việc giải nghĩa ít nhất cũng được hoàn tất một phần rồi. Dầu sao, điều rất quan-trọng là người ta phải ý thức là có sự phân biệt, và biết sử dụng nó thật thích hợp nếu muốn cho lời giải có có giá trị (10).
3. Lai lịch và biến cách (inflection) của các từ ngữ.
Nhiều từ ngữ khác nhau trong một khúc sách có thể được nhận diện lai lịch bằng cách dùng cách phân loại về văn phạm sau đây: danh từ, đại danh từ (11), động từ, tĩnh từ, trạng từ, tiền trì từ, liên từ, thán từ, và quán từ. Người khảo sát phải sử dụng các cách phân loại ấy và phải biết rõ các chức-năng của chúng.
Thêm vào việc nhận diện lý lịch các từ ngữ, còn có khả năng ghi nhận những biến cách của chúng nữa. Một sự biến cách là một thay đổi hình thức mà các từ ngữ phải chịu để chỉ ra trường hợp, giống số, thì, ngôi thứ, tâm trạng, giọng nói, v.v... Những biến lệch đặc biệt có ý nghĩa đối với các danh từ, đại danh từ, động từ và tĩnh từ (12).
Bài tập .
Khảo sát từng từ một của MacMc 10:13-52 và RôRm 6:1-23. Cố gắng xác định xem mỗi từ là thông thường hay không thông thường, nghĩa đen hay nghĩa bóng. Ghi nhận nếu có trường hợp biến cách có ý nghĩa nào. Cố gắng chỉ ra xem tại sao các từ ngữ không thông thường lại cần được chú ý khảo xét đặc biệt.
B. Khảo sát các mối liên-hệ và liên-hệ hỗ tương giữa các từ ngữ - Cấu trúc.
1. Định nghĩa cấu trúc và các đơn vị cấu trúc khác nhau.
Như chúng ta đã ghi nhận, thành phần căn-bản cấu tạo nên cách diễn đạt văn chương là từ ngữ. Nhưng muốn truyền-thông các ý-niệm, các từ phải có liên-hệ và liên-hệ hai chiều với nhau phù hợp với một số khuôn mẫu tinh-thần, ngữ học và văn chương nào đó. Các mối liên-hệ này cấu thành điều được gọi là “cấu trúc”. Vậy theo nghĩa rộng, cách cấu trúc bao gồm mọi mối liên-hệ và liên-hệ hỗ tương ràng buộc các từ thành ra một đơn vị văn chương từ đơn vị nhỏ bé nhất đến đơn vị nhiều ý nghĩa nhất. Theo một nghĩa hẹp hơn, “cấu trúc” có thể dùng chỉ phần dàn bài hay khung sườn của một khúc sách, nghĩa là các mối liên-hệ chủ yếu hơn của nó. “Cấu trúc” sẽ được dùng theo cả 2 nghĩa rộng và hẹp trong phần thảo luan tiếp thep đây (13).
Các đơn vị cấu trúc khác nhau có thể được định nghĩa như sau:
-Mệnh-đề (phrase) - là một nhóm hai hoặc nhiều từ hơn họp thành một đơn vị tư tưởng hay thành ngữ (nhóm từ) riêng biệt.
-Vế (clause) - một nhóm từ gồm một chủ từ, một động từ, và có khi là một hoặc nhiều câu, họp thành một đơn vị tư tưởng hay một phần diễn tả riêng biệt (hoặc toàn diện)
-Câu (sentence) - một hoặc nhiều vế họp thành một đơn vị tư tưởng hay một phần diễn tả.
-Phân đoạn (paragraph) - một nhóm câu họp thành một đơn vị tư tưởng hay một phân đoạn diễn tả (14)
-Đoạn ngắn (tiết) (Segment) - một nhóm phân đoạn họp thành một đơn vị tư tưởng hay một phần diễn tả
-Đoạn trung bình (subsection) - một nhóm đoạn ngắn họp thành một đơn vị tư tưởng hay phần diễn tả (15)
-Đoạn (Section) - một nhóm đoạn ngắn (hay đoạn trung bình) họp thành một đơn vị tư tưởng hay một phần diễn tả.
-Phần (division) - một nhóm đoạn họp thành một đơn vị tư tưởng hay phần diễn tả.
-Sách (book) - một nhóm các phần họp thành một đơn vị tư tưởng hay phần diễn tả.
2. Tầm quan-trọng của cấu trúc.
Trong một quyển sách của mình, Henry O.Taylor vạch rõ ”...Nghệ thuật không phải là ngẫu hứng, nhưng vốn được dự tính cách cẩn thận không phải là tiếng bí ba bí bô của trẻ con, nhưng là một sự lắp ráp đồng thời phần hình thức với nội dung, trong đó trí tuệ của người nghệ sĩ đã cùng một lúc vận hành một cách nhịp nhàng và có hiệu quả” (16).
Một trong số các phương diện chủ yếu về “hình thức” mà Taylor đề-cập, là cấu trúc văn chương. Như vậy, bằng lời phát biểu trên đây, Taylor nhấn mạnh tầm quan-trọng lớn lao của cách cấu trúc nhằm hoàn tất chủ-đích của người nghệ sĩ, cũng như tầm quan-trọng của việc phải hiểu rõ cách cấu trúc từ phía người khảo sát nếu muốn lãnh hội được chủ-đích ấy. Vậy, chẳng có gì để nghi ngờ, là việc khám-phá cách cấu trúc là “một trong những điểm tối quan-trọng khi các điều kiện tăng-trưởng cần phải được cẩn thận duy trì và nuôi-dưỡng” (17).
Do đó, quý độc-giả được khuyến cáo ngay từ đầu là phải biết rõ cách cấu trúc, vì khi đã làm như vậy, quý độc-giả sẽ nhận thấy nhiều khúc sách sẽ tự mở ra dưới mắt mình, bằng không, mình sẽ không thể nào hiểu nổi.
3. Các loại cấu trúc.
Một khúc sách bất kỳ nào trong văn chương Kinh-Thánh cũng có thể hàm chứa nhiều thứ yếu-tố về cấu trúc. Các yếu-tố ấy có thể phân ra thành 2 loại chính: một là việc tương đối dễ dàng phát giác ra chúng, và hai là tầm quan-trọng tương đối của chúng.
a. Cấu trúc bề mặt và ẩn dưới bề mặt.
Có một số yếu-tố cấu trúc bộc lộ rất rõ ràng, do đó, biểu-hiện tức khắc cho người quan sát đã sành sõi. Chúng tôi sẽ gọi chúng là “cấu trúc bề mặt”, vì như tên gọi đó đã nói ra, chúng biểu hiện ngay ở mặt ngoài của một khúc sách. RôRm 1:18-32 cung cấp một thí-dụ tuyệt diệu về cơ-cấu bề mặt, vì hai chữ “vì thế” của 1:24 cho thấy ngay rằng khúc sách ấy được cấu trúc theo điều kiện nhân quả.
Mặt khác, một vài yếu-tố về cấu trúc vốn ẩn tàng hơn, và do đó, có thể khó nhận thấy ngay được như các yếu-tố đã hiện ra thật rõ rệt. Có thể gọi các yếu-tố ấy là “cấu trúc ẩn dưới bề mặt”. Cách nét tương phản ẩn tàng giữa Đa-vít và Am-môn trong IISa2Sm 11:1-13:39 và giữa Giu-đa với Giô-sép trong SaSt 38:1-39:23 là những thí-dụ minh họa rất hay cho loại cấu trúc này.
Cần ghi nhận một số sự-kiện liên-hệ đến việc phân biệt giữa các cách cấu trúc bề mặt với cách cấu trúc ẩn dưới bề mặt.
-Thứ nhất, nó không nhất thiết bao hàm điểm khác nhau giữa điều kém sâu sắc với điều sâu sắc nhiều hơn, mà đúng hơn là liên-hệ trước nhất đến điều rõ ràng hiển nhiên hơn, với điều kém rõ rệt hơn.
-Thứ hai, không phải tất cả các khúc sách đều có cả 2 cách cấu trúc minh nhiên và mặc nhiên đó. Khi nghiên-cứu một số đơn vị, nếu ta nhận thấy phần cơ cấu bề mặt của chúng và đi thật sâu vào phần ý nghĩa rốt ráo của chúng, chúng ta sẽ thấu đạt được bức thông-điệp của tác-giả. Tuy nhiên, người khảo sát phải luôn luôn coi chừng các yếu-tố cơ cấu nằm bên trong một khúc sách. Người ấy đừng bao giờ nên kết luận rằng vì mình đã ghi nhận được một vài mối liên-hệ mặt ngoài rồi, là mình đã ghi nhận trọn-vẹn điều cốt yếu của cả khúc sách ấy.
-Thứ ba, việc khám-phá ra cấu trúc ẩn dưới bề mặt thường phải chờ ít nhất cho đến khi đã hoàn tất được một phần của bước giải nghĩa. Do đó, việc ghi nhận cơ cấu bề mặt là điều phải thực hiện trước nhất trong công tác khảo sát (18).
-Cuối cùng, cả cấu trúc bề mặt lẫn cấu trúc ẩn dưới bề mặt đều được thực hiện do cùng những quy luật hành văn giống nhau.
b. Cấu trúc chủ yếu và thứ yếu.
Cần phân biệt thêm một điểm khác nữa căn-cứ trên tính cách tương đối quan-trọng của các yếu tố cấu trúc trong một khúc sách nào đó. Phải nhận thấy là có một số các mối liên-hệ là chủ yếu, và một số khác là thứ yếu hay phụ thuộc mà thôi. Trong nhiều trường hợp, ta có thể chờ ít nhất cho đến khi đã hoàn tất được một phần việc giải nghĩa, thì mới có thể phân biệt như thế được, nhưng ít nhất người khảo sát cũng phải ý thức được điều đó để cố gắng sử dụng những gì có thể lợi dụng được cho đến lúc ấy trong bước nghiên-cứu sơ khởi. Vì điều quan-trọng là điểm quan-trọng chủ yếu phải dành cho các mối liên-hệ chủ yếu, còn các yếu tố cấu trúc thứ yếu thì phải được quan-niệm là phụ thuộc cho các mối liên-hệ hàng đầu kia, nếu muốn biết chắc điểm nhấn mạnh của tác-giả.
4. Các định luật đặc thù về cấu trúc.
Các định luật về cấu trúc sắp được nêu ra đây cho thấy phương tiện cụ thể mà một số nghệ sĩ đã sử dụng để sắp xếp tác-phẩm của mình, dầu người ấy là nhạc-sĩ, họa-sĩ hay nhà văn. Trong tất cả các trường hợp, phương tiện chủ yếu chỉ là một. Vì cái gì là nghệ thuật đều là phần biểu hiện tâm-trí của người nghệ-sĩ; và vì tâm-trí chỉ có một, cho nên, mọi nghệ thuật cũng chỉ là một.
Do đó, tất cả những gì mà một người phải làm, chỉ là khảo sát cách kết cấu của các sáng tác-phẩm nghệ thuật khác nhau, mà làm như vậy là nhằm phát giác các phương tiện mà các nghệ-sĩ đã sử dụng để thực hiện sự thống nhất về cơ cấu của các tác-phẩm của họ. Hệ-quả của một phương pháp tiếp cận bằng quy nạp pháp như vậy, là người ta sẽ có được những cơ-sở có giá trị để đi tìm các định-luật trong văn chương của Kinh điển, vốn là một nghệ thuật vĩ đại, rồi lợi dụng chúng để lý giải bộ sách ấy.
Các mối liên-hệ về cấu trúc sắp được đưa ra dưới đây thường được quan-niệm là những phát kiến thích hợp được áp đặt trên nền văn học của Kinh-Thánh nhằm chứng-nghiệm một điểm. Do đó, ngay từ đầu, thiết tưởng phải nói rõ ràng, minh bạch rằng các định-luật phải nêu ra là các định-luật của luận lý học; chúng phản ảnh các tiến trình tinh-thần của con người khi họ suy tư và tự diễn tả bằng bất kỳ ngành trung gian nào mà mình chọn sử dụng.
Do đó, người khảo sát không áp dụng chúng cho một tác phẩm nghệ thuật; người ấy chỉ phát giác ra chúng, và do đó, khẳng định bức thông-điệp của nhà nghệ-sĩ. Vì cùng những mối liện-hệ cung-cấp phương tiện truyền-thông phổ quát, cũng cung-cấp những đường lối phổ quát cho công tác lý giải (19)
a. Các mối liên-hệ cấu trúc trong các mệnh đề và các vế, giữa các vế với nhau, và giữa các câu với nhau - Trong các phân đoạn.
Xem câu như một đơn vị cấu trúc căn bản, và do đó, giới hạn phần thảo luận của chúng ta tại điểm này để khảo xét các mối liên-hệ trong các câu có vẻ l à điều hợp lý. Tuy nhiên, vì các câu thường được xác định căn-cứ vào những phương-tiện đúng ra là rất độc đoán nhất là trong một văn bản mà Kinh điển được phiên dịch ra, và vì các mối liên-hệ giữa các vế (clauses) trong một câu thường giống hệt các mối liên-hệ giữa các câu với nhau, cho nên phân đoạn sẽ được dùng làm đơn vị cấu trúc căn-bản thay cho câu. Do đó các mối liên-hệ giữa các câu với nhau sẽ được khảo xét cùng với các mối liên-hệ bên trong các câu (20).
Cấu trúc liên-hệ với các vế và các câu được gọi là “cú pháp” (syntax). Webster định nghĩa “cú pháp” là ”... sự sắp xếp phải lẽ các hình thức của từ ngữ để chỉ ra mối liên-hệ hỗ tương giữa chúng trong một câu” (21). Giờ đây, chúng ta sẽ kể ra các mối liên-hệ về cú pháp đó, cùng với các mối liên-hệ tương tự vốn có giữa các câu với nhau. Chúng sẽ được gọi chung là “Các mối liên-hệ trong phân đoạn”. Bảng liệt-kê sau sẽ không nói lên được tất cả các trường hợp, mà đúng hơn, sẽ chỉ ra một số các mối liên-kết quan-trọng hơn mà th ôi.
(1). Các mối liên-hệ trong một phân đoạn.
(a). Liên-hệ chủ từ - động từ.
Chủ từ có thể là một danh từ, đại danh từ, một động từ vị biến (chưa chia, infinitive), một động từ theo tiến hành cách (gerund), hay một vế lệ thuộc.
(b). Liên hệ chủ từ - vị ngữ, có thể bao gồm một túc từ đối tượng trực tiếp, một túc từ đối tượng gián tiếp, một danh từ vị ngữ, một tĩnh từ vị ngữ hay một v ế có giá trị một tĩnh từ, hay một trạng từ hoặc một vế có giá trị một trạng từ.
(c). Mối liệt-kê (motifier) giữa từ ngữ biến cách, với từ ngữ bị biến cách (modified) thể gồm có các tĩnh từ, phân từ, trạng từ, quán từ, đại danh từ chỉ thị, các mệnh đề có giá trị tiền trí từ, và các mệnh-đề có giá trị tĩnh từ hoặc trạng từ.
(d). Liên-hệ tiền trí từ với đối tượng.
(e). Liên-hệ đại tiền từ.
(f). Liên-hệ giữa các vế độc lập (phối hợp) với nhau trong những câu phức hợp và liên-hệ giữa các vế lệ thuộc (thứ yếu) và độc lập trong những câu phức tạp (22). Một số nhiều loại vế độc lập và lệ thuộc khác nhau có thể được mô-tả bằng các tên sau đây: có quan hệ, nguyên nhân phụ, tại chỗ, phụ thuộc, đối chiếu, thời gian, có chủ đích, hậu quả, theo điều kiện, nhân nhượng, thay thế, thuyết giảng gián tiếp, phối hợp nguyên nhân, và phối hợp đối chiếu (23).
Các mối liên-hệ giữa nhiều loại vế khác nhau được chỉ rõ một phần lớn bằng những liên-từ phối hợp và lệ thuộc, mà liên-từ chính yếu trong s ố đó sẽ được đề-cập ngay sau đây. Một số khác sẽ được diễn tả bằng những mệnh-đề có giá trị của một tiền trí từ được dùng để kết nối. Chúng sẽ được xếp vào 4 hạng và có những câu Kinh-Thánh về chúng sẽ được đưa ra (24). Các loại được chia như sau: thời gian, hoặc thứ tự thời gian, địa phương hay địa lý, lý luận nhấn mạnh.
• Các liên-từ chỉ thời gian hoặc thứ tự thời gian:
-Sau (KhKh 11:11)
-Trước (GiGa 8:58)
-Nhưng (LuLc 16:25)
-Rồi (ICôr1Cr 15:6)
-Cho đến ngày (Mac Mc 14:25)
-Ngay khi (Mac Mc 14:43)
• Các liên-từ chỉ địa phương hay địa lý (25).
-Mà (HêbDt 6:20 bản dịch cũ)
• Các liên-từ có tính cách lý luận.
-Lý-do = vì (RôRm 1:25 bản dịch cũ)
-Vì (1:11)
-(bởi) vì (1:28)
-Hậu quả = như thế (9:16)
-Thì (GaGl 2:21)
-Vậy (ICôr1Cr 10:12)
-Tức là (8:12)
-Chủ đích = nên (RôRm 4:16)
-Nên (5:21)
-Tương phản = dù (1:21)
-Còn (2:8)
-Huống chi (5:15 bản dịch cũ)
-Nhưng (ICo1Cr 10:5)
-Làm sao (14:16)
-Tuy nhiên (RoRm 5:14)
Đối chiếu, so sánh - cũng (IICôr2Cr 1:11)
-Như (RôRm 9:25)
-Do, do (5:18)
-Như...mà nay (11:30-31)
-Cũng (1:27)
-Cũng (4:6 bản dịch cũ)
Cả loạt sự-kiện (26)
-Trước hết (ITim1Tm 2:1
-Sau hết (ICôr1Cr 15:8)
-Hay là (IICôr2Cr 6:15, bản dịch cũ)
(?) Điều-kiện - nếu (RôRm 2:19 không có)
• Liên-từ nhấn mạnh.
-Đúng như (9:25)
-Nhưng...kẻo (ICôr1Cr 8:9, bản dịch cũ)
Có thể ghi nhận nhiều điều liên quan đến các mối liên-hệ giữa các vế và các câu trên.
-Thứ nhất, bốn loại liên-từ đã được sử dụng không hề loại trừ lẫn nhau. Thí-dụ, một liên từ chỉ thời gian cũng có thể hàm ngụ một liên-hệ luận lý. Hơn nữa, cùng một số liên-từ có thể gặp ở nhiều hạng.
-Thứ hai, nhiều mối liên-hệ trong số đó có thể xảy ra trong các vế cũng như giữa các vế với nhau. Cách dùng lối so sánh hay ví von chẳng hạn, bao hàm cả việc đối chiếu nữa. Xin xem các ẩn-dụ trong Mat 13 để có thí-dụ minh họa rất hay cho điều này.
-Thứ ba, nhiều khi có những vế, những câu có mối liên-hệ mặc nhiên chớ không phải là minh nhiên. Do đó, việc vắng bóng các liên-từ rõ rệt không có nghĩa rằng chúng vốn chẳng có liên-hệ gì với nhau. Khi khác, có lẽ người ta cần phải suy diễn ra các mối liên-hệ từ việc nghiên-cứu một tư tưởng đã được diễn tả rõ ràng hoặc từ vị trí so sánh đối chiếu của các vế hoặc câu liên-hệ. Chẳng hạn, xin chú ý đến HêbDt 8:5) (28).
(2). Các thí-dụ minh họa các mối liên-hệ trong một phân đoạn.
Nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của nhiều mối liên-hệ khác nhau trong một phân đoạn, giờ đây, chúng sẽ được minh họa bằng 2 cách: một là bằng cách truy tầm các mối liên-hệ bên trong một câu lấy ra từ một bài văn thuộc loại nghị luận, là thư Rô-ma, và hai là bằng cách ghi nhận một số các mối liên-hệ chủ yếu trong một phân đoạn rút ra từ một loại văn thuật sự, là sách Phúc-Âm Mác.
(a). Các mối liên-hệ trong RôRm 1:18
1:18 chép như sau: ”...cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin-kính và mọi sự không công-bình của những người dùng sự không công-bình mà bắt hiếp lẽ-thật” (bản dịch cũ).
Chủ từ của câu này là “cơn giận”. Quán từ “cơn” (không rõ rệt trong Việt văn) và nhóm giới từ từ “của Đức Chúa Trời” đều bổ nghĩa cho chữ “giận”, mệnh-đề sau đề-cập đến sở hữu chủ và do đó, là nguồn gốc của nó. Động từ chính trong câu này là động từ “tỏ ra”. Nhóm giới từ “từ trên trời” và “nghịch cùng mọi sự không tin-kính và mọi sự không công-bình” đều bổ nghĩa cho động từ, mệnh-đề trước chỉ rõ hơn về nguồn gốc, còn mệnh-đề sau nói rõ hơn về các đối tượng mà hành động được động từ diễn tả đang nhằm vào, cũng như lý-do của hành động ấy. Tĩnh từ “mọi” bổ nghĩa cho các danh từ “sự không tin kính” và “sự không công-bình” được liên kết lại với nhau bằng liên-từ “và”. Nhóm giới từ “của những người” cũng bổ nghĩa cho 2 danh từ y như nhau và cùng với vế có giá trị của một tĩnh từ lệ thuộc và có liên-hệ là “dùng sự không công-bình mà bắt hiếp lẽ thật”, để chỉ các sở hữu chủ của các đức tính đã được các danh từ nói lên. Trong vế lệ thuộc, đại danh từ chỉ mối liên-hệ (không thấy có trong 'bản Việt văn - trong bản Anh văn là Who) là chủ từ, động từ chính là “bắt hiếp” và đối tượng trực tiếp là danh từ “lẽ-thật”. “Lẽ-thật” được thêm nghĩa bằng quán từ (không có trong bản Việt văn; trong bản Anh văn là the). Mệnh-đề có giá trị của một tiền trí từ “sự không công bình” thêm nghĩa cho động từ “bắt hiếp” chỉ rõ phương tiện bởi đó hành động của động từ được thực thi cũng như nguyên nhân của nó. Cả vế này chỉ ra cách bộc lộ” sự không tin kính và sự không công-bình” do đó, nói lên nguyên nhân của việc Thượng-Đế bày-tỏ cơn giận của Ngài (29)
(b). Các mối liên-hệ trong Mac Mc 9:2-8
• “Chúa Giê-xu đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng” (c.2) - Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng là các túc từ đối tượng trực tiếp của động từ “đem”. Chúa Giê-xu đem riêng ra vài ba môn-đệ, thay vì đem tất cả 12 người, và Ngài đem riêng 3 người này ra đi (30).
• “riêng” (c.2) - Đây là một thí-dụ rất hay về trùng phức pháp (pleonasm). Tiền trí từ “riêng” bổ nghĩa cho động từ “đem”. Một vấn-đề được đặt ra, là chẳng hay trước giả có dụng ý đặc thù gì không khi sử dụng nguyên-tắc rườm rà như vậy.
• “ngay trước mặt họ” (c.2) - Nhóm giới từ này bổ nghĩa cho động từ “hóa hình” và gợi ý về địa điểm hóa hình, nghĩa là trước mặt họ. Các từ ngữ đã được đề-cập trước mà đại danh từ “họ” thay thế cho, là nhóm 3 môn-đệ của Chúa.
• “áo Ngài trắng và chói sáng, trên đời này không có cách gì phiếu trắng đến thế” (c.3) - Phân từ thuộc từ “sáng” bổ nghĩa cho chủ từ “áo”. Trạng từ “chói” bổ nghĩa cho tĩnh từ “trắng”, và cả hai từ đều bổ nghĩa cho danh từ “áo”. Sự so sánh là giữa phẩm chất sáng chói của màu trắng của áo Chúa Giê-xu với vế “trên đời này không có cách gì phiếu trắng đến thế”. Thật vậy từ “không” bổ nghĩa cho cả vế chớ không phải chỉ cho riêng chủ từ mà thôi. Nhóm giới từ “trên đời này” tô điểm cho phẩm chất chủ từ “đến thế” và ngụ ý rằng biến cố xảy ra này là một “công việc trọn-vẹn do thiên-đàng thực hiện”.
• “Ê-li và Môi-se hiện ra” (c.4) - Trong nhóm từ Ê-li và Môi-se. Ê-li được đề-cập trước, tuy về thứ tự thời gian thì Môi-se vốn có trước Ê-li. Liên từ “và” được dùng để nối liền Ê-li với Môi-se thay vì các mối liên-hệ có thể có khác.
• “hầu chuyện với Chúa Giê-xu” (c.4) chủ từ của động từ hầu chuyện là Ê-li và Môi-se, cho thấy cả 2 vị đã trò chuyện với Chúa Giê-xu, chớ không phải là với các môn-đệ Ngài.
•“Phi-e-rơ buột miệng: Thưa Thầy ở đây thật tuyệt! Chúng con sẽ dựng ba chiếc lều cho Thầy, Môi-se, và Ê-li” (c.5) - vế phụ thuộc có giá trị của một trạng từ “ở đây” thêm nghĩa cho vế chính “thật tuyệt”, nhất là tĩnh từ thuộc từ “tuyệt”. Chủ từ của câu “Chúng con sẽ dựng ba chiếc lều” thuộc ngôi thứ nhất số nhiều. Đối tượng của động từ “dựng” là “lều” được thêm nghĩa khá lý thú bằng tĩnh từ “ba”. Vế gán cho “Thầy, Môi-se và Ê-li” thêm nghĩa cho “ba chiếc lều”, cho thấy chúng được dựng lên để dành cho những ai. Trong câu này, Môi-se lại được nêu tên trước Ê-li.
• “Nhưng Phi-e-rơ không biết mình nói gì, vì các môn-đệ đều khiếp sợ” (c.6) - Ở đây có 2 vế chỉ nguyên nhân kết hợp lại nhằm giải thích các lý-do khiến có các sự-kiện được vạch rõ đó. Vế thứ nhất “Nhưng Phi-e-rơ không biết mình nói gì” nêu ra nguyên nhân của câu Phi-e-rơ đã nói ở câu 5, nhất là phần cuối liên-hệ đến 3 chiếc lều. Vế thứ hai, “vì các môn-đệ khiếp sợ” giải thích lý do của vế thứ nhất của câu 6, nghĩa là lý-do khiến Phi-e-rơ không biết mình đã nói gì. Chủ từ của vế thứ hai theo số nhiều, trong khi chủ từ của vế thứ nhất có số ít. Cũng lưu ý trạng từ “khi ếp” thêm nghĩa cho tĩnh từ thuộc từ “sợ”.
• “một đám mây kéo đến bao phủ mọi người, và từ trong mây có tiếng phán: Đây là Con yêu dấu của Ta! Mọi người phải nghe lời Con!” (c.7) - Danh từ số nhiều “người” là túc từ đối tượng trực tiếp của động từ “bao phủ”. Tiếng phán cũng ra từ cùng một đám mây đã bao phủ họ. Câu nói được phán ra đã được ghi lại. Chủ từ của câu nói là đại danh từ chỉ định “Đây” ám chỉ Chúa Giê-xu. Cả đại danh từ “của Ta” lẫn tĩnh từ “yêu dấu” đều thêm nghĩa cho danh từ thuộc từ “Con”. Lời khuyến giục “Phải nghe lời Con” gắn liền với câu phát biểu sự kiện. “Đây là Con yêu dấu của Ta!”. Thứ tự này có thể hàm ngụ một mối liên-hệ. Câu nói lên sự-kiện dường như là nguyên nhân, câu khuyến giục là hậu quả “Vì đây là Con yêu dấu của Ta, cho nên phải nghe lời Con!”
• “Các môn-đệ lập tức nhìn quanh nhưng chỉ (còn) thấy một mình Chúa Giê-xu” (c.8) - Trạng từ “lập tức” có thể bổ nghĩa hoặc là cho phân từ “nhìn”, hoặc là cho động từ “thấy” hoặc cho cả hai. Chủ từ của câu này là “các môn-đệ”. Lưu ý liên-từ “nhưng” và mối liên-hệ được gợi ý giữa “ai nữa” (xem bản dịch cũ) với Chúa Giê-xu. Cũng chú ý các từ ngữ nối tiếp nhau nhằm nhấn mạnh cùng một sự-kiện ấy “nhưng”, “chẳng ai nữa”, “chỉ còn một mình... mà thôi”.
Sau đây là một số sự-kiện chúng ta cần ghi nhớ liên-hệ đến thí-dụ minh họa rút ra từ Mác 9.
-Thứ nhất, những nhận xét trên đây chỉ được nêu ra trên cơ sở là bản dịch Anh văn (kết hợp với hai bản Việt dịch cũ và diễn ý) nhằm chứng minh cho việc nghiên cứu trực tiếp phần ngôn ngữ thông dụng.
-Thứ hai, có thể có nhiều ý kiến khác về việc phân tích một số các mối liên-hệ. Tuy nhiên, sự kiện này không gây hậu quả gì quan-trọng. Chỉ có tiến-trình nghiên-cứu mới chiếm tầm quan-trọng hàng đầu.
-Thứ ba, chúng tôi không hề ngụ ý đưa ra các nhận xét về các mối liên-hệ trong cùng một phân đoạn trên đây để các bạn cứ theo đúng y như thế mà sao chép lại cho tất cả các khúc sách. Trái lại, phần phân tích này chỉ nhằm chứng-minh việc các mối liên-hệ về văn ph ạm đã được sử dụng như thế nào để nói lên các sự-kiện, và thế nào việc người ta hiểu rõ chúng có thể dẫn tới việc hiểu rõ các sự-kiện mà chúng muốn truyền thông.
-Thứ tư, không phải tất cả các mối liên-hệ đã được chỉ ra đều có ý nghĩa quan-trọng. Cũng không phải người ta chỉ phải chú ý ghi nhận những điều có vẻ như có liên-hệ trực tiếp hoặc rõ rệt mà thôi. Vì việc cũng thường xảy ra là một nhận xét thoạt nhìn có vẻ như chẳng có ý nghĩa bao nhiêu, nhưng về lâu về dài lại trở thành hết sức quan-trọng.
Tiến-trình khảo sát nói chung phải giống như tiến-trình thẩm thấu của chất bọt biển (bông đá: Sponge) khi người ta nhúng nó vào một chất lỏng (31). Người quan sát không nên giới hạn khả năng tri giác, tri nhận của mình, là việc có thể ngăn trở khả năng tiếp thu. Quả thật là phương thức quan sát cần phải được biện biệt theo một vài phương cách nào đó, như chúng tôi đã gợi ý trong phần thảo luận về các từ ngữ có được dùng theo thói quen hay không; nhưng ta không nên đặt các chướng ngại vật trước mắt mình, vì nó sẽ gây trở ngại cho việc quan sát tinh tường, rốt ráo.
-Thứ năm, trong một số trường hợp - như ở câu cuối điểm 4 - tác-giả có phần hơi dễ dãi trong bước thứ hai của tiến trình quy nạp, tức là việc giải nghĩa. Sở dĩ như vậy, trước hết là nhằm chỉ ra ý nghĩa của một vài nhận xét. Ngoài việc ấy ra, cần nhớ rằng lắm khi việc quan sát và giải nghĩa hầu như không thể tách rời nhau. Như đã ghi nhận từ trước cho đến đây, thường có việc xen kẽ giữa các bước khác nhau không thể và không nên hoàn toàn trốn tránh (32). Tuy nhiên, điều quan-trọng là ta phải luôn luôn phân biệt được các bước khác nhau khi cần phải làm như thế. Vì nếu chẳng may có điểm nào trong tiến trình khảo sát bị mờ đi đến mức nhiều giai đoạn nghiên-cứu trở thành không phân biệt được, thì hậu quả không tránh né vào đâu được sẽ là phải áp dụng phương pháp giải kinh chủ quan, độc đoán (eisegesis) vậy.
Một khi đã ghi nhận được các mối liên-hệ bên trong một phân đoạn như vừa được trình-bày ở mấy trang trước đây, người ta đã có thể hy-vọng khảo sát thật thấu đáo, mà hậu quả sẽ là có được một cách giải nghĩa chính xác và sắc bén. Điều này không hề hàm ý rằng người ta phải luôn luôn thực hiện tỉ mỉ việc phân tích chi-tiết các mối liên-hệ ấy.
Thí-dụ ta có thể nhận thấy ngay sự-kiện “Chúa Giê-xu đem riêng Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng... “ và chẳng cần gì phải biết rằng “Giê-xu” là chủ từ của vế ấy, rằng động từ là “đem” và Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng là các túc từ đối tượng trực tiếp của động từ, được nối kết vào nhau bằng liên từ “và”. Tuy nhiên, ta phải biết rằng các mối liên-hệ ấy luôn luôn có trong các vế và các câu, và chính là nhờ chúng mà các sự-kiện và các mối liên-hệ giữa chúng với nhau được truyền thông, được nói lên. Hơn nữa, ta phải có thể thực hiện một phân tích tỉ mỉ khi cần thết; vì sẽ có nhiều trường hợp, nhất là khi nghiên-cứu loại văn nghị luận, việc phải phân tích tận tâm như thế là điều bắt buộc để có thể khảo sát thật đứng đắn. Điều này là đúng, thí-dụ như khi ta cần khảo sát RôRm 1:1-7
Bài tập.
Khảo sát các mối liên-hệ bên trong một phân đoạn của nhiều chương sách của các thư tín trong Tân-Ước. Đặc biệt chú ý các mối liên-hệ do các liên-từ, nhóm giới từ, và các vế lệ thuộc chỉ ra. Cũng xét đến các mối liên-hệ mặc nhiên, chớ không phải chỉ là minh nhiên mà thôi. Phân loại các mối liên-hệ bạn tìm thấy trong phần thảo luận trên đây. Cố gắng chỉ ra ý nghĩa của những điều bạn phát giác được để dùng vào việc giải nghĩa.
b. Các mối liên-hệ về cấu trúc giữa các phân đoạn. (paragraphs), các phần của phân đoạn (segments), các phần cấu thành đoạn (subsections), các đoạn (sections) các phần lớn (divisions), và các quyển sách. Mấy trang trước đây đã quan-tâm đến các mối liên-hệ ấy, vốn có tính cách văn phạm. Bây giờ, chúng ta chuyển sang các yếu-tố cấu trúc rộng lớn hơn, có tính cách văn chương hơn là thuần túy văn phạm. Nói như thế không có nghĩa là hai điều này loại trừ lẫn nhau; vì ta sẽ thấy rằng có nhiều mối liên-hệ bên trong một phân đoạn hay liên-hệ văn phạm - như việc đặt tương phản và so sánh - cũng được dùng cho việc cấu trúc có tính cách văn chương. Hơn nữa, có một số các liên-hệ cấu trúc rộng lớn hơn sẽ được chỉ ra nhờ các phương-tiện văn phạm, như từ “Do” trong 12:1. Tuy nhiên, theo nghĩa đích thực của nó, cấu trúc văn chương siêu việt trên cấu trúc văn phạm, vì người ta có thể viết ra những câu có hình thức như trong phân đoạn mà đồng thời không cần phải sắp xếp một công trình có tính cách hợp nhất về phương-diện văn chương (33).
Sau đây là một bảng liệt các mối liên-hệ chính đã tác động để có thể kết hợp các sách trong Kinh-Thánh lại với nhau thành một khung sườn, với các định nghĩa và các thí dụ minh họa. Một số các mối liên-hệ đã đề-cập rồi cũng sẽ được nhắc lại vì phần ý nghĩa của chúng đối với cấu trúc văn chương, hầu khiến chúng được sáng tỏ thêm.
(1). So sánh - là việc kết hợp những điều giống nhau. Nhất quán tính của HêbDt 5:1-10 được căn-cứ trên việc áp dụng định-luật này. Cũng xin lưu ý chữ “cũng” trong câu 5.
(2). Đặt tương phản - là kết hợp những điều đối lập.
Rô-ma 4 áp dụng phép đặt tương phản.
(3). Lặp lại - là việc nhắc lại cùng những từ mệnh-đề, vế giống nhau v.v... Trong Lê-vi ký, từ “thánh” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
(4). Tính cách liên tục - là việc sử dụng nhiều lần cùng những từ, mệnh-đề, vế v.v... giống nhau. Theo luật lặp lại, các yếu-tố tái xuất hiện vốn giống y nhau, trong khi trong phương pháp chỉ tính cách liên tục, chúng chỉ giống nhau hoặc ít hoặc nhiều mà thôi. Loạt các ẩn dụ trong Lưu 15 là một thí-dụ cho trường hợp sau.
(5). Tính cách nối tiếp - là việc mở rộng phần đề-cập một phương-diện cá biệt nào đó; là việc kéo dài ra cho đến khi bàn thảo xong một ý-niệm hay một loạt biến-cố. Định-luật này nhiều khi có liên-hệ với tính cách liên tục, nhưng bao hàm việc mở rộng ra thay vì chỉ có việc tái xuất hiện. Một trong những mối liên-hệ giữa SaSt 13:1-1424 với 18:1-19:38 là mối liên-hệ nối tiếp (34)
(6). Tuyệt đỉnh - là cách sắp xếp tài-liệu để có sự tiến triển từ nhỏ đến lớn và cuối cùng là to lớn nhất. Sách Xuất Ê-díp-tô đã được sắp xếp để tiến tới một tuyệt đ ỉnh, mà đỉnh cao nhất đạt được là 40:34-35.
(7). Tính cách trọng yếu - là việc sử dụng nguyên tắc điểm trục. Chủ đề được sắp xếp cho chạy quanh hay xoay quanh trên một yếu-tố nào đó. IISam-mu-ên sử dụng định luật về điểm trọng yếu, với chương 11-12 tạo thành điểm trục làm chuyển hướng giai đoạn lịch-sử đã được chép lại trong đó.
(8). Hoán chuyển - là việc trao đổi hay thay thế một số yếu tố. Hoán chuyển thường được dùng để tăng thêm nét tương phản hay việc so sánh. Các chương mở đầu ISa-mu-ên có sự thay đổi tương phản nhau giữa An-ne và con bà là Sa-mu-ên, và giữa Hê-li với các con trai ông. Lưu-ca cũng dùng phép hoán chuyển trong hai chương 1-2.
(9). Cá biệt hóa và tổng quát hóa - là biến chuyển từ cái tổng quát đến cái tổng quát, và từ cái cá biệt đến cái riêng biệt. Mat Mt 6:1-18 là một thí-dụ về phép cá biệt hóa, và Gia Gc 2:1-26 là một thí-dụ về tổng quát hóa.
(10). Nguyên nhân và phần cốt lõi là diễn biến đi từ nguyên nhân đến hậu quả và từ hậu quả trở về nguyên nhân. RôRm 1:18-32 là một thí-dụ tuyệt vời về nguyên nhân, và 8:18-30 minh họa rất hay cho điểm cốt lõi.
(11). Sử dụng công cụ - là việc đưa ra những phương-tiện nhằm vào một cứu cánh cũng như giới thiệu chính cứu cánh ấy. Sách Phúc-Âm theo Giăng, căn-cứ vào GiGa 20:30-31, là thí-dụ cho định-luật này. Các dấu lạ được chép lại trong sách là phương-tiện đựơc dùng nhằm một cứu cánh, tức là niềm tin vào Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế, Con Thượng-Đế, để hưởng được sự sống vĩnh-hằng.
Về định-luật này, ta cần biết là chỉ vì có một phương-diện trong khúc sách được dán cho cái nhãn hiệu “phương-tiện”, nó không nhất thiết phải dẫn tới việc nó nhất định phải có ít ý nghĩa hơn điều đã được dán cho cái nhãn hiệu là “cứu cánh”. Thường thường, các dụng cụ vốn không hề kém hữu ích hơn các chủ đích của chúng. Cũng nên lưu ý là có điểm giống nhau giữa định-luật sử dụng dụng cụ với định-luật đi trước nó, vì các phương-tiện thường có liên-hệ nhân quả với chủ đích của chúng.
(12). Giải nghĩa hay Phân tích - là việc đưa ra một ý-niệm hay biến-cố có phần giải thích kèm theo. Mác 4 là một thí-dụ về định-luật này. Nó liên-hệ mật thiết với định-luật cá biệt hóa.
(13). Chuẩn bị hay dẫn nhập - là việc đưa vào một bối-cảnh cho các biến-cố hay ý-niệm. Nhờ đó, độc-giả được chuẩn bị để hiểu điều tiếp theo sau nhờ phần đã được giới thiệu trước. Cách viết này rất thường được dùng trong văn chương thuật sự. Thí-dụ SaSt 2:4-25 cung cấp hoàn-cảnh trong đó các biến-cố của Sáng 3 xuất hiện.
(14). Tóm tắt - là việc sử dụng cách rút ngắn hay nói sơ lược đi trước hoặc theo sau một tài-liệu. Giô-suê 12 là thí-dụ về loại cấu trúc này.
(15). Chất vấn - là cách dùng một câu hỏi hay nêu ra một vấn-đề có lời giải đáp kèm theo. Rô-ma 6-7 là một thí-dụ minh họa cho cách sắp xếp này.
(16). Tính cách hài hòa - là thực hiện một sự nh ất trí nhờ việc đồng ý với nhau. Bao gồm trong ý niện này có định-luật tiên hậu như nhất. Luật hài hòa không phải là một định-luật để viết văn cho bằng là một định luật của chân-lý, vì chân-lý phải được truyền thông qua các mối liên-hệ về cấu trúc, cả hai vốn bất khả phân ly. Các thí-dụ minh họa cho định-luật này được tìm thấy trong sự hài hòa giữa bệnh tật với phương thuốc chữa trị, và giữa lời hứa với việc hoàn thành.
Thí-dụ hãy xem sự nhất trí giữa RôRm 1:18-3:20 và RôRm 3:21 và tiếp theo (35).
Cần nhớ các sự-kiện sau đây liên-hệ với các mối liên-hệ về cấu trúc này.
-Thứ nhất, phải nhớ rằng cách định-luật này vốn liên-hệ mật thiết với nhau. Thí-dụ luật tương phản nhiều khi được thực hiện nhờ hoán chuyển; hai luật lặp lại và liên tục là hai hình thức của cùng một định-luật cơ-bản; hai luật cá biệt hóa và tóm tắt có rất nhiều điểm chung với nhau. Vậy, rõ ràng là không hề có một lằn ranh phân minh để phân biệt chúng. Thật ra, chúng rất thường được dùng kết hợp với nhau.
-Thứ hai, vì các định-luật về cấu trúc thường được dùng kết hợp với nhau, cho nên lắm khi thật khó khẳng định được định-luật nào hay những định-luật nào là chủ yếu, còn định-luật nào hay những định-luật nào là thứ yếu trong một khúc sách nào đó. Trong nhiều trường hợp, việc quyết định trong vấn-đề này tùy thuộc vào cách cấu tạo của chính đơn vị ấy. Cũng nên nhớ rằng có một số các mối liên-hệ tự chúng vốn phải lệ thuộc một số các mối liên-hệ khác. Thí-dụ luật hoán chuyển gắn liền với vai trò thứ yếu, vì có một cái gì đó cần phải được thay vào mà cái cần phải được thay vào đó tự nhiên phải quan-trọng, cần yếu hơn chính cái phải bị thay thế. Do đó luật hoán chuyển được sử dụng nhằm mục-đích củng cố, tăng cường cho một mối liên-hệ cấu trúc khác, như tương phản, so sánh ví von, hay nguyên nhân.
-Thứ ba, cần phải chú ý sự kiện bảng liệt-kê trên đây không phải là đã hoàn toàn đầy đủ. Vì có nhiều cách sắp xếp đã được sử dụng trong một số các khúc sách vốn rất khó xếp loại. Thêm vào đó, còn có nhiều cách thay đổi các mối liên-hệ như đã được đề-cập rồi.
Nhưng phần lớn các định-luật quan-trọng đều đã có trong bảng liệt-kê trên đây, và khả năng quan sát chúng sẽ tạo kết quả là khả năng nhận được các định luật không được đề cập.
-Thứ tư, các từ ngữ dùng mô-tả các mối liên-hệ khác nhau có th ể khác đi, vì trong một số các trường hợp, nhiều từ ngữ khác có thể chính xác hơn và mô-tả được rõ ràng, đầy đủ hơn. Các yếu-tố để xác định một người sẽ nói về các mối liên-hệ trong một khúc sách nào đó như thế nào vốn là sở thích cá nhân của người khảo sát và do bản-tính của đơn vị được nghiên-cứu. Thí-dụ nguyên nhân có thể đựơc diễn tả bằng từ ngữ “động cơ thúc đẩy” khi phân tích Giăng 13:1; và tiếp theo, hoặc bằng từ ngữ “chủ đích” khi phân tích Giu-đe câu 3 và tiếp theo.
Điều quan-trọng không phải là gọi tên các mối liên-hệ đã được liệt-kê trong bảng danh mục cho giống nhau, nhưng là việc ý thức thấu đáo được các định luật đặc thù và đã được định nghĩa đầy đủ về cấu trúc, và nỗ lực đưa ra để căn-cứ vào đó mà phân tích các khúc sách. Vì nhận thức một cách mơ hồ rất tai hại cho việc khảo sát cách cấu trúc của một bản văn.
-Thứ năm, nhiều ý kiến khác nhau thường nảy sinh liên-hệ với công tác phân tích cấu trúc. Khi việc này xảy ra, ta có thể bị cám-dỗ kết luận rằng tiến trình đã được gợi ý trên đây vốn có tính-cách chủ quan, nên không thể tin cậy được. Nhưng quả thật là nhiều yếu tố chủ quan đã có thể len lõi vào, và là nguyên nhân của các ý kiến bất đồng. Tuy nhiên, nếu chỉ có việc ấy xảy ra mà thôi, thì không thể kết luận rằng cái tiến trình đó tự nó phải bị loại trừ. Vì tất cả những điều tốt đẹp đều có chỗ nguy hiểm của chúng, vì mọi điều tốt lành có thể bị sử dụng sai lầm hay lạm dụng.
Thí-dụ giáo-lý được kể là công-chính bởi đức-tin, nhờ ân phúc Thượng-Đế vốn từng được giải thích khiến cho người ta dung dưỡng tội-lỗi (36). Thế nhưng chúng ta không thể loại bỏ giáo-lý được kể là công-chính chỉ vì lý-do ấy; trái lại, chúng ta phải cố gắng lý giải thế nào cho thật đúng, thật thích hợp, hầu tránh được nguy cơ của thói phóng túng. Với việc học hỏi nghiên cứu Kinh-Thánh cũng vậy, cách tiếp cận hợp lý một vấn đề như thế sẽ bảo-đảm cho việc có thể đạt được những kết luận đúng trong phạm vi có thể được và có cơ-sở là các dữ-kiện cụ thể của khúc sách mà mình nghiên-cứu, chớ không phải do thành kiến cá nhân hoặc do lối suy tư duy ý chí. Nó cũng giúp chúng ta nhận thức được rằng các ý kiến bất đồng thường nảy sinh vì có nhiều người khác nhau nhìn vào nhiều mặt khác nhau của cùng một chân-lý.
George Denny, chủ tọa của “cuộc họp của thành phố trên không trung” đã chứng-minh sự-kiện này bằng cách dùng một quả bóng, phân nửa sơn đen và phân nửa sơn trắng. Ông đưa phần quả bóng có màn đen về phía cử tọa sao cho họ không thể nào thấy được phần quả bóng có màu trắng và hỏi: “Quả bóng này có màu gì?” Cử tọa đồng thanh nói “Đen”. Rồi xoay quả bóng nửa vòng, ông cãi lại “Không, nó màu trắng”. Hơn nữa, cần lưu ý rằng có nhiều khi tính cách hiển nhiên của nhiều điều có thể khác nhau được phân phối đồng đều, và những điểm dị biệt sẽ nảy sinh khi người ta nhấn mạnh nhiều hơn vào một số dữ-kiện hậu thuẫn cho một quan-điểm khác. Để tóm tắt, nhiệm-vụ tái tạo tinh-thần và chủ đích của các trước giả đã viết từ mấy trăm năm về trước là một nhiệm-vụ vô cùng phức tạp, và lắm khi người ta không thể chắc chắn là mình đã thành công. Tuy nhiên, ta phải cố gắng lý giải chúng bất chấp mình có thể sai lầm, vì có nhiều cơ-sở có giá trị để làm như thế, và không thể chịu thiệt thòi vì bị hụt mất nhiều giá trị có thể tiếp thu được từ các văn phẩm ấy (37).
5. Các tài-liệu cần thiết cho việc cấu trúc.
a. Các tài-liệu dùng mô-tả.
Cấu trúc của một khúc sách có thể ví sánh với khung sườn của một ngôi nhà. Các mối liên-hệ về cấu trúc được dùng để xây dựng một khúc sách, như phép tương phản và so sánh ví von, tương ứng với các ý-niệm về kiến trúc được khung sườn của một ngôi nhà diễn tả.
Thí-dụ nếu ngôi nhà được thiết kế theo kiểu Gô-tích, thì các thành phần riêng biệt của khung sườn phải liên hệ với nhau theo một cách thức nào đó, trong khi nếu được xây dựng theo kiểu hiện đại, chúng sẽ được sắp xếp theo một cung cách khác hẳn. Các tài-liệu cần thiết cho việc thực hiện cách cấu trúc của một khúc sách có thể ví với phần bê-tông-cốt-thép được dùng để thực hiện một ý niệm về kiến trúc nào đó trong việc xây dựng một ngôi nhà.
Nói cho rõ hơn, một đơn vị văn chương không thể được xây dựng nếu thiếu phần chất liệu sẽ tạo ra văn chương. Thí-dụ, một tác-giả không thể sử dụng định luật tương phản để sắp xếp một khúc sách nếu ông ta không có hai sự việc sự vật để ông ta đặt tương phản với nhau. Điều ông ta dùng trong việc đặt tương phản đó, được gọi là “tài-liệu” để thực hiện cách cấu trúc. Bây giờ, xin kể ra và mô-tả dưới đây các tài liệu khác nhau có thể được sử dụng.
(1). Tài-liệu về tiểu sử - Các nhân vật thường đ ược dùng để tạo ra các mối liên-hệ về cấu trúc. Trong SaSt 12:1-50:26 vốn được xây dựng bằng các tài-liệu về tiểu sử Áp-ra-ham được đặt tương phản với Lót, Gia-cốp, tương phản với Ê-sau, và Giô-sép tương phản với các anh của ông.
(2). Tài-liệu lịch-sử - Các biến-cố thường được dùng như “gạch và hồ” để xây dựng nhiều khúc sách (Dân-số ký).
(3). Tài-liệu biên niên sử - Yếu tố thời gian có thể được sử dụng để tạo nên cách cấu trúc văn chương (Sách Phúc-Âm theo Giăng).
(4). Tài liệu đ ịa lý - Các địa điểm nơi chốn nhiều khi được dùng làm chất liệu để xây dựng nhiều khúc sách (Xuất Ê-díp-tô).
(5). Tài liệu ý tưởng hay luận lý - Các ý niệm được sử dụng trong rất nhiều trường hợp để thực hiện các mối liên-hệ cấu trúc (Rô-ma).
Sau đây là các sự-kiện cần lưu ý liên-hệ đến các tài-liệu để thực hiện phần cấu trúc.
-Thứ nhất, không có những lằn ranh phân định rõ rệt giữa chúng. Trong tiến trình dùng 2 nhân vật để thực hiện việc so sánh, ta cũng có thể lợi dụng các biến-cố nữa, vì con người vốn là những diễn viên để tạo ra các biến cố, và người ta suy nghĩ về các nhân vật căn-cứ vào việc họ làm. Và vì các biến-cố xảy ra trong thời gian và những địa điểm riêng biệt, ta không thể hoàn toàn tách rời phần biên niên sử và phần địa lý khỏi phần tiểu sử và lịch-sử. Do đó, khi phân tích một khúc sách, ta không thể chỉ nghĩ đến một phương-tiện duy nhất mà loại trừ các phương-tiện khác, nhưng trái lại, phải nghĩ đến các phương-tiện trong các điều-kiện ưu tiên của chúng.
-Thứ hai, các tài liệu được dùng để thực hiện các mối liên-hệ cấu trúc đồng thời cũng phải là các lý-do để sử dụng các mối liên-hệ cấu trúc Thí-dụ ước muốn diễn-tả một số ý-niệm nào đó (tài-liệu ý tưởng) có thể khến tác giả sử dụng một số định luật sắp xếp riêng biệt nào đó, như lặp đi lặp lại hay sử dụng công cụ.
Cho nên khi mô-tả các yếu-tố đã được liệt kê trên đây là tài-liệu, chúng tôi không hề nhân đó để ngụ ý rằng chúng chỉ là các tài-liệu mà thôi. Trái lại, chúng tôi muốn lưu ý đến một trong số nhiều chức năng của chúng, là chức năng mà chúng ta quan-tâm trước nhất tại điểm này của công-trình nghiên-cứu của chúng ta.
b. Các tài-liệu để minh họa.
Để làm sáng tỏ hơn mối liên-hệ giữa các định-luật để viết văn và các tài-liệu được sử dụng để thực thi các định-luật ấy, dưới đây là một bảng liệt-kê các mối liên-hệ cần có trong cách cấu trúc văn chương, cùng với một vài thí-dụ v ề cách chúng đã được thực hiện bằng cách sử dụng số tài-liệu đã thảo luận cho đến điểm này.
(1). So sánh
-Tiểu sử - ISa1Sm 13:31; IVua 1V 17:1-IIVua 13:1-25
-Lịch-sử - SaSt 12:1-20; 20:1-19; 26:1-35
-Ý tưởng - GiGa 13:1-35; RôRm 5:12-21
(2). Tương phản
-Tiểu-sử - ISa1Sm 13:31; GiGa 18:1-19:42
-Biên niên sử - XuXh 19:1-25; DânDs 10:1-11:1-35 và tt.
-Địa lý - XuXh 1:1-12:40 và 12:41 và tt
-Lịch-sử - PhucDnl 1:1-3:29; GiosGs 7:1-8:35; MacMc 1:1-29
-Ý tưởng - PhucDnl 27:1-30:1-20; ÊsIs 2:1-4:6; 10:5-12; 6:40-44 MiMk 1:1-5:14 MatMt 5:17-48; Giu-đe.
(3). Lặp lại
-Lịch-sử - Gios Gs 24:2-13; Các quan-xét.
-Ý tưởng - PhucDnl 5:1-11:32 GiosGs 1:1-18; HaKb 2:1-20; MatMt 23:1-39; ICôr1Cr 13:1-13
(4). Liên tục
-Biên niên sử - Giăng
-Lịch-sử - SaSt 37:1-50:26; XuXh 7:13; Mac Mc 2:1-3:6; 4:35-5:43
-Ý tưởng - ÊsIs 13:1-23:18; Mac Mc 4:1-34; ITim1Tm 4:6; 6:2; KhKh 6:8-9, 16
(5). Nối tiếp
-Tiểu-sử - DânDs 22:1-24:25, Giô-na
-Địa lý - Phục-truyền
(6). Tuyệt đỉnh
-Lịch-sử - Xuất, MacMc 1:14-45
-Ý tưởng - Truyền-đạo
(7). Tính cách trọng yếu
-Tiểu-sử - IISa 2Sm 11:1-27
-Địa lý - XuXh 12:1-50
-Lịch sử - XuXh 5:1-6:8
(8). Hoán chuyển.
-Tiểu-sử - ISa1Sm 1:1-12:25
-Ý tưởng - OsHs 1:1-3:5; NaNk 1:1-15 IGiăng
(9). Cá biệt hóa và tổng quát hóa.
-Cá biệt hóa.
-Ý tưởng - PhucDnl 5:1-26:19; ÊsIs 5:40; Mat Mt 5:17-48; RôRm 12:1-15:13; ICôr1Cr 1:10-4:21; HêbDt 11:1-40 Tổng quá hóa
-Lịch-sử - Công-vụ
-Ý tưởng - GiaGc 2:1-26
(10). Nguyên nhân và phần cốt lõi
-Nguyên nhân
-Lịch-sử PhucDnl 1:1-4:49; EsIs 7:1-25; CôngCv 1:1-2:47
-Ý tưởng - ÊphEp 1:1-6:24
-Cốt lõi
-Ý tưởng - HaKb 2:1-19; HêbDt 1:4-2:18
(11). Công-cụ
-Ý tưởng - RôRm 5:1-11
(12). Giải nghĩa hay phân tích
-Lịch-sử - Mac Mc 3:11
-Ý tưởng - GiGa 5:1-46
(13). Chuẩn bị hay dẫn nhập
-Lịch-sử - SaSt 2:4-3:1-24; XuXh 2:1-4:31; 5:1-6; 8:25-34 và 35:1-40:38; Gios Gs 1:1-224 và tt EsIs 7:1-25
-Ý tưởng - RôRm 1:18-3:20 và 3:21 và tt
(14). Tóm tắt
-Tiểu-sử - SaSt 45:1-28
-Lịch-sử - Gios Gs 12:23-24 IIVua 2V 17:1-41
-Ý tưởng - RôRm 1:16-17; 3:21-31
(15). Chất vấn.
-Lịch-sử - SaSt 15:1-20; XuXh 5:1-6:8; Mac Mc 11:27-12:37; 13:1-37; GiGa 6:1-71; 13:36-14:24
-Ý-tưởng - Ha-ba-cúc RôRm 3:1-8; 6:1-7:25; 9:1-11:36
(16). Hài hòa.
-Lịch-sử - SaSt 28:1-35:1-29
-Ý-tưởng - ÊphEp 1:1-3:1-21; 4:1-6:1-24
Vì các định-luật viết văn được thực hiện bằng cách sử dụng các tài-liệu như đã được chứng-minh trong bảng liệt-kê trên đây, thiết tưởng dùng các nhóm từ có tính cách mô-tả như “tiểu-sử hay so sánh ví von” hoặc “tương phản hợp lý” hay “lịch-sử lặp lại” để chỉ ra các mối liên-hệ cấu trúc khác nhau thật chính xác là điều rất hữu ích.
6. Sự chọn lọc và cấu trúc.
a. Ý nghĩa và tầm quan-trọng của việc chọn lọc.
Goethe có lần nói “Nhà nghệ sĩ nổi tiếng nhờ biết chọn lọc”. Còn một người khác thì nhận xét rằng có rất nhiều điều đã bị loại ra khỏi phần ký thuật của Kinh-Thánh để cho một số khác được đưa vào. Vì những người viết Kinh điển vốn là nghệ sĩ theo nghĩa đúng nhất của nó, cả hai câu phát biểu trên đây đều hàm ngụ cùng một ý tức là các sách trong Kinh-Thánh đều có đặc điểm là có chủ-đích chọn lọc. Nói khác đi, các trước-giả viết Kinh-Thánh đều có các chủ-đích nhất định làm động cơ thúc đẩy để các vị viết sách, và các vị đã chọn tài-liệu cũng như sử dụng chúng nhằm đạt được các chủ-đích của mình một cách hoàn hảo nhất.
Vậy yếu-tố chọn lọc là căn-bản cho công tác của các trước-giả viết Kinh điển. Tuy nhiên, với người khảo sát, thì đó cũng là một việc làm quan-trọng. Vì cuối cùng, điều người ấy truy tìm chính là chủ-đích của trước-giả, vốn được mặc-khải, được tiết-lộ, một mặt là do những gì trước-giả đã chọn để đưa vào đó, và mặc khác, là do những gì vị ấy đã chọn để không dùng đến. Hệ quả là việc biết rõ nguyên-tắc chọn lọc có chủ đích cũng có ý nghĩa cho người khảo sát cũng như cho trước-giả trước đó.
b. Mối liên-hệ giữa chọn lọc và cấu trúc.
Tiến-trình chọn lọc về phía trước-giả liên-hệ mật thiết với cấu trúc văn chương. Một trước-giả thường chọn một số ý-niệm hoặc biến-cố nào đó là vì chúng có liên-hệ với một số các ý-niệm và biến-cố khác, là các mối liên-hệ mà khi được sử dụng sẽ góp phần vào việc thực hiện mục-tiêu của mình.
Trong khi chọn lựa những điều phải đưa vào sách của mình, trước-giả phải tự vấn - hoặc vô tình hoặc hữu ý: “Các biến cố hay ý-niệm này liên-hệ với các biến-cố và ý-niệm khác như thế nào? Các mối liên-hệ ấy có dẫn tới việc hoàn thành mục-đích viết ra bài văn độc đáo này của tôi hay không?” Vậy sự chọn lựa của một trước-giả được đặt trên cơ-sở là một ý thức và việc biết lợi dụng các mối liên-hệ cấu trúc.
Vì trong tâm-trí một trước-giả, việc chọn lọc và cấu trúc vốn liên-hệ mật thiết với nhau, việc thừa nhận nguyên-tắc chọn lọc từ phía người khảo xét cuối cùng sẽ đưa người ấy tới chỗ khám-phá ra các mối liên-hệ về cấu trúc. Vì một khi đã biết được chủ ý của việc chọn lọc, người ta sẽ muốn tìm ra các lý-do của việc chọn lựa đó; mà khi làm việc ấy, thì người ta phải đặt ra những câu hỏi như thế này “Giữa biến-cố hay ý-niệm này, với các biến-cố hoặc ý-niệm khác đang vây quanh nó có liên-hệ gì với nhau để trước-giả đưa nó vào trong sách? Việc đưa chúng vào như thế có đóng góp gì cho toàn bộ khung sườn của tác phẩm?” Khi trả lời những câu hỏi đó, người khảo sát được dẫn tới chỗ tự nhận ra cấu trúc của một đơn vị, và hậu quả của việc đó là cũng tri nhận được bức thông-điệp trong đó nữa.
Như vậy, việc người khảo sát sử dụng nguyên-tắc chọn lọc trở thành phương-tiện hữu ích để phát giác ra các mối liên-hệ về cấu trúc. Vì một số các mối liên-hệ trước hết dẫn người ta đến với việc chọn lựa của trước giả; do đó việc khảo sát sự chọn lựa của ông ta, đến lượt nó, sẽ dẫn tới việc khám-phá ra cùng những mối liên-hệ giống như thế.
Thí-dụ, một trong các lý-do khiến trước-giả hay người đúc kết Sáng-thế ký đã chọn để đưa biến cố ở SaSt 12:10-20 vào trong sách, chắc phải là mối liên-hệ giữa nó với các biến-cố vây quanh nó.
Khi người ta cố gắng tìm xem một số các mối liên-hệ đó có thể là gì, người ta sẽ ghi nhận được hai điều trong số nhiều điều khác, là: sự tương phản giữa một hành động bởi đức-tin trong 12:1-9 với một hành động vô tín trong 12:10-20, và mối liên-hệ nhân quả, theo đó việc Thượng-Đế bảo vệ Áp-ra-ham trong mấy câu 10-20 là một lần ứng nghiệm của lời Ngài đã hứa với Áp-ra-ham trong mấy câu 1-9. Như vậy, việc sử dụng nguyên-tắc chọn lọc trở thành một lối thoát có giá trị mở đường cho việc phát giác được các định-luật về cấu trúc, và nhờ đó cũng khám-phá ra chủ-đích của trước-giả (39)
c. Các loại chọn lọc.
(1). Chọn lọc định lượng hay cân đối.
Loại chọn lọc này sử dụng yếu tố khối lượng hay số lượng. Nó dẫn đến việc lựa chọn một loại các biến-cố hay ý-niệm tương tự mà chỉ cần trọng lực suông cũng đủ gây ấn tượng về một số sự-kiện trên tâm-trí độc-giả. Một lựa chọn như vậy thường đặt cơ-sở trên các định-luật về lặp đi lặp lại và liên tục.
Sự hiện diện và tầm quan-trọng của việc lựa chọn định lượng thường được phát giác bằng cách áp dụng luật cân đối, là nguyên-tắc theo đó trước-giả dành một số lượng tài-liệu tối đa tỷ lệ thuận với điều mà ông ta cảm thấy là có ý nghĩa và có lợi ích nhất để nói lên bức thông-điệp của mình. Hệ quả là người khảo sát thường nhận ra được sự lựa chọn định lượng bằng cách xác định tỷ lệ giữa số tài-liệu liên-hệ đến một số các sự-kiện, với thời gian trong đó các sự-kiện ấy, xảy ra, và bằng cách đối chiếu tỷ lệ ấy với tỷ lệ thời gian tương ứng, liên-hệ với số tài liệu kia.
Thí-dụ, nếu mười chương sách đã được dành cho các biến-cố kéo dài trong một năm, và một chương được dành cho các biến-cố xảy ra suốt 100 năm, thì khi đối chiếu 2 tỷ lệ giữa số tài-liệu với thời gian thì rõ ràng là trước-giả đã xem các biến-cố đã xảy ra chỉ trong một năm là quan-trọng đối với chủ-đích của mình, hơn là các biến-cố đã xảy ra suốt giai đoạn 100 năm.
Sách Sáng-thế ký cung cấp một thí-dụ minh họa tuyệt vời về tác dụng của một sự lựa chọn cân đối như thế. Các chương 12-50, nghĩa là 39 chương đã chép lại các biến-cố xảy ra trong một giai đoạn chỉ có 4 thế-hệ. Mặt khác, mười một chương đầu lại choán một giai đoạn nhiều thế-hệ. Vậy, rõ ràng là trước giả muốn cho độc-giả đặc biệt chú ý đến dân-tộc Hy-ba-lai và nhất là các vị tộc-trưởng, và những gì hàm chứa trong các chương 12-50 vốn có nhiều ý nghĩa đối với việc thực hiện ý hướng của ông ta, hơn là số tài-liệu tìm thấy trong các chương 1-11. Điều này cung cấp cho người khảo sát một cái nhìn thông suốt rất có giá trị để phát giác ra mục-tiêu và bức thông-điệp của trước-giả.
Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng yếu-tố biên niên sử không phải là thiết yếu cho việc khảo sát tính cách cân đối. Trong loại văn nghị luận, sự chọn lựa định lượng có thể chỉ đơn giản là dành nhiều chỗ cho một ý-niệm hay yếu-tố này nhiều hơn là cho các ý-niệm hoặc yếu tố khác.
Chẳng hạn như trong Giăng 17, khoảng hai phần ba bài cầu-nguyện của Chúa Giê-xu đã được dành để chỉ ra các cơ-sở của những lời khẩn xin của Ngài, trong khi chỉ có một phần ba là được dành cho việc kể ra các lời khẩn xin thật sự. Nhận xét này có thể là cơ-sở tốt trong việc ứng dụng luật cân đối để giải nghĩa Giăng 17 (40).
(2). Chọn lọc phi định lượng.
Thuộc trong hạng này là các biến-cố hay ý-niệm mà việc chọn chúng không có liên-hệ với nguyên tắc khối lượng hoặc định lượng. Biến-cố đã được đề-cập ở phần trên và được ghi lại trong [dc 12:10-20; có thể kể ra làm thí-dụ cho loại lựa chọn này. Đây không phải là một trong nhiều biến-cố tương tự đã xảy ra nhiều lần, ít ra cũng là về một vài phương-diện Trong văn mạch, nó đứng riêng biệt như một biến cố đơn độc. Nó tả vẽ một ông Áp-ra-ham tự tín tự mãn, trong khi các biến-cố đi trước và đi sau nó lại vẽ ra một con người của đức-tin. Nhưng quả thật là trong Sáng-thế ký 20, người ta lại gặp hầu như là một bản sao y của biến-cố này. Tuy nhiên, chính bối cảnh cận tiếp của nó mới là điểm độc đáo.
Liên-hệ đến loại biến cố hay ý-niệm này, người quan sát phải đặt câu hỏi: “Tại sao trước-giả lại đưa biến-cố hay ý-niệm cá biệt này vào đây? Tại sao nó lại chiếm chính chỗ mà nó đang chiếm đó? Nó đóng góp được gì cho toàn cảnh bằng các mối liên-hệ với các biến-cố hay ý-niệm vây quanh mình?” Nếu các câu hỏi trên đây được giải đáp, người ta sẽ phát giác được các mối liên-hệ và phần chủ-đích tiềm ẩn trong loại lựa chọn này (41)
Bài tập
Nghiên-cứu các khúc sách sau đây từ quan-điểm của nguyên-tắc chọn lọc: 12:25 Các Quan xét; I và II Sa-ma-ên; Công-vụ và ICô-rinh-tô. Tìm phép chọn lọc định lượng và phi định lượng. Ứng dụng các nguyên-tắc và câu hỏi đã được gợi ý trong phần thảo luận trên đây.
7. Các gợi ý khác nhau để khảo sát cách cấu trúc (42)
a. Luôn luôn tìm các mối liên-hệ. Nên nhớ là “có tìm thì mới gặp”
b. Ghi khắc vào tâm-trí các định-luật sắp xếp khác nhau khi bạn khảo sát, và áp dụng chúng vào việc phân tích cách cấu trúc.
c. Tìm các mối liên-hệ mặc nhiên cũng như minh nhiên (43)
d. Khảo xét tất cả các mối liên-hệ thật kỹ, nhưng nhất là các liên-từ, nhóm giới từ, và các vế phụ thuộc. Khi nghiên-cứu loại văn nghị luân như trong thư Rô-ma, cần đặc biệt chú ý các mệnh-đề, các vế có liên-hệ với nhau. Cố khám-phá xem điều gì là căn-bản và điều nào là thứ yếu (44). Thí-dụ, xem mấy từ “song”, “nhưng”, “bởi cớ ấy” trong IIVua 2V 17:1-41 và từ “vì thế” trong RôRm 1:24.
e. Người khảo sát cần rõ ràng và chính xác khi phân tích các mối liên-hệ cấu trúc. Không nên hài lòng với một ý niệm mơ hồ rằng vì một lý-do không rõ rệt nào đó, mà một số chương đã được kết hợp hoặc nhập chung lại với nhau. Cũng không nên chỉ liệt-kê suông các mối liên-hệ khác nhau của một khúc sách mà thôi (45). Thực tập các gợi ý này trong việc khảo sát Lê-vi ký và GiaGc 1:1-27.
f. Cẩn thận chú ý việc thay đổi của các đại danh từ và những ngụ ý có thay đổi như vậy để xác định cách cấu trúc (MacMc 13:1-37, Giu-đe)
g. Tìm mối liên-hệ nhân quả, phương-tiện cứu cánh, câu hỏi lời đáp, nhu-cầu và cách cứu vãn (MatMt 18:1-25; MacMc 13:1-37; RôRm 1:1-11:1-36 và 12:1-15:13; ÊphEp 1:1-3:1-21; 4:1-6:1-24) (46).
h. Khảo sát các thì của các động từ cũng như hiện diện và thế áp đảo của chúng, rồi xét kỹ ý nghĩa của các yếu-tố ấy để khám-phá ra cách sắp xếp đoạn văn (SaSt 1:1-2:3; XuXh 6:1-8; GiosGs 24:2-13; HêbDt 11:32-38)
i. Khi khảo sát cách cấu trúc của một quyển sách, cần nhanh trí tổ chức các nhóm từ và các trung tâm chiến lược có thể dùng làm căn cứ để khảo sát toàn thể quyển sách. Chúng có thể dùng làm những tòa cao ốc cao vượt để từ đó ta thấy được bố cục và diễn biến của một quyển sách. Có hai loại khu vực chiến lược chủ yếu:
(1). Lịch sử - Loại này gồm c ác biến cố hoặc được dùng làm điểm trục hoặc dẫn đến một tuyệt đỉnh, Gios Gs 6:1-27; 24:32-33; IISa 2Sm 11:1-27 và IVua 1V 11:1-21 là những thí-dụ minh họa cho loại khu vực chiến lược này. Về vấn-đề này, xin xem các định luật về tính cách quan-trọng và tuyệt đỉnh.
(2). Văn chương - Loại này gồm những khúc sách tóm tắt và giải thích. SaSt 45:1-28; GiosGs 12:23-24 CacTl 2:11-23; IIVua 2V 17:1-41; CôngCv 1:8 và ÊphEp 4:1 cung cấp các thí-dụ về loại trung tâm này. Cần lưu ý là một vài trong số các khúc sách trên là những biến-cố mà chính bản-tính của chúng vốn có tính cách tóm tắt hoặc lý giải. SaSt 45:1-26 và Gios Gs 23:24 thuộc vào loại này. Trong những khúc sách như thế, các loại khu vực chiến lược lịch-sử và văn chương trùng lắp lên nhau (47)
j. Đối chiếu và đặt tương phản phần mở đầu và phần kết thúc của các quyển sách để tìm các đầu mối cho phần nội dung và cách sắp xếp trong đó (Phục-truyền, Giô-suê).
k. Khi gặp nhiều khối tài-liệu lớn, trước hết cần định giới hạn cho các đơn vị cấu trúc hoặc các phần lớn. Thí-dụ Xuất Ê-díp-tô ký có 3 nhóm các chương sách lớn:
-một là XuXh 1:1-12:40 các sự việc xảy ra tại Ai-cập;
-hai là 12:41-18:27 đến núi Si-na-i;
-và ba là 19-40 tại núi Si-na-i.
Sau khi đã tìm được các phần lớn rồi, hãy cố gắng tìm các mối liên-hệ giữa những phần lớn ấy. Đừng hài lòng với việc chỉ tìm ra các phần lớn mà thôi, vì phần cấu trúc vốn bao hàm nhiều hơn là việc chỉ tập họp tài liệu lại thành từng nhóm mà thôi. Nó còn quan-tâm đến các mối liên-hệ giữa các nhóm tài-liệu lớn ấy nữa. Do đó, một khi đã phát giác được các đơn vị cấu trúc sơ khởi rồi, người khảo sát còn phải đặt các câu hỏi “Các đơn vị chủ yếu này liên-hệ với nhau như thế nào? Mỗi đơn vị như thế có chức năng gì phải thực hiện đối với các đơn vị khác”. Hãy thực tập các gợi ý này trong việc nghiên-cứu SaSt 25:19-36:43
l. Khi khảo sát các đoạn thuật sự, hãy tìm sự diễn tiến của tình tiết (3:1-24)
m. Khi khảo sát các thư tín, nên tìm cách cấu trúc viết thư tín. Tìm xem cách cấu trúc ấy gồm có những gì, rồi nghiên-cứu đối chiếu với các thư tín khác.
n. Khi gặp một lời hứa, cần lưu ý phần ứng nghiệm của nó; khi có một ý định được đưa ra, hãy tìm chỗ nó được thành tựu (48) (GiosGs 1:1-18; GiGa 20:1-31; IGi1Ga 5:1-21 Giu-đe)
o. Ghi nhận các từ ngữ, thành ngữ, nhóm từ được lặp đi lặp lại có thể chỉ ra cách cấu trúc (SaSt 1:1-31 Thi thiên, Mã-thi)
p. Quan sát cách ti ếp cận tiêu cực và tích cực, tổng quát và đặc thù, đối với cùng những vấn-đề hay ý niệm giống nhau (HêbDt 3:7-4:16; 5:11-6:20; Gia Gc 1:1-3:17 IPhi-e-rơ; IGi1Ga 1:1-10)
q. Tìm cách sử dụng phép đối ngẫu, nhất là trong thi ca (49) (ThiTv 1:1-8)
r. Ghi nhận sự diễn tiến, xem một sự việc sự vật này dẫn đến một sự việc sự vật khác như thế nào (GiGa 17:1-26)
s. Tìm những sự thay đổi trong các ý-niệm và các biến cố. Cố gắng khám-phá xem khi nào một tác giả thôi không thảo luận một vấn-đề để chuyển sang một vấn-đề khác (RôRm 4:1-25)
t. Để cho bản tính của phần tài-liệu đã nhận xét được tự nói ra chính cách cấu trúc của nó. Cần cẩn thận chớ có áp đặt một lối sắp xếp nào đó trên một khúc sách.
u. Hãy tự đặt cho mình các câu hỏi “Có gì ở đây? Tại sao nó lại ở đây? Tại sao nó lại ở vào đúng chỗ ấy? Nếu không có nó, sẽ có gì khác xảy ra? Nếu nó ở chỗ khác, sẽ có gì khác xảy ra?” (50).
v. Quan sát các nhân vật các biến-cố, và các ý-niệm chủ yếu cũng như các dấu chỉ diễn biến theo thứ tự thời gian và về địa lý hay chẳng có chuyển biến gì (51)
w. Dùng các biểu đồ và bố cục để chỉ ra các mối liên-hệ quan-trọng về cấu trúc (52)
x. Khi tìm cách khám-phá và phân tích cấu trúc, nên tìm và sử dụng một căn-bản hành văn duy nhất mà thôi. Thí-dụ nếu có một đoạn văn nào đó của một đơn vị văn chương có hàm chứa và được mô tả bằng một loại cấu trúc địa lý, một đoạn khác trong cùng một đơn vị ấy không thể được mô-tả là có cấu trúc theo biên niên sử hay lịch-sử. Nói cụ thể hơn, nếu các chương 1-12 của Xuất Ê-díp-tô ký đã được gọi là các sự việc xảy ra tại Ai-cập, thì không nên mô-tả các chương 19-40 là “Luật pháp và Đền tạm”, nhưng là phần đề-cập các sự việc xảy ra “tại Si-na-i”. Hai nhan đề tiểu mục trước không thể nào đem ra đối chiếu với nhau được; lẽ dĩ nhiên là chính cách viết văn đòi hỏi phải tránh một việc thay đổi các cơ sở chỉ cách cấu trúc như thế.
y. Phải lưu ý chỗ khác nhau giữa cách cấu trúc lịch-sử với cách cấu trúc theo văn chương, cũng như các mối liên-hệ giữa chúng với nhau. Thí-dụ mối liên-hệ giữa lời xưng nhận Quan-trọng trong MacMc 8:1-38, với sự Hóa hình trong 9:1 vốn trước hết có tính-cách lịch-sử. Khi cần quyết định sự liên-hệ giữa 2 biến-cố ấy, trước nhất ta phải hỏi “Tại sao sự Hóa hình lại xảy ra sáu ngày sau lời xưng nhận Quan-trọng? Như thế, giữa chúng có liên-hệ gì?”
Những vấn-đề như thế thuộc về cấu trúc lịch-s ử, và chính là qua đó mà độc-giả sách Mác nắm được các lý-do khiến trước giả đã chọn và đưa vào 2 biến-cố vừa đề-cập ở trên, nghĩa là các mối liên hệ về mặt văn chương của chúng. Như thế, trong trường hợp này, cấu trúc lịch-sử và văn chương đại khái chỉ là một. Tuy nhiên, có những trường hợp khác truy cách sắp xếp theo lịch-sử nói chung tiếp sau thứ tự lịch-sử hay biên niên sử, thì do cách chọn của trước-giả, ông ta đã đặt cách hành văn lên trên điều vốn đã có sẵn trong cấu trúc theo lịch-sử rồi Thí-dụ một trước-giả có thể chọn 2 biến-cố, theo đó biến-cố thứ nhất được đặt trước biến-cố thứ hai theo quan-điểm biên niên sử.
Tuy nhiên, các biến-cố này có thể chẳng có mối liên-hệ lịch-sử đặc thù nào, khi xếp chúng bên cạnh nhau do cấu trúc văn chương, do đó cùng sử dụng một hoặc nhiều định luật sắp xếp, trước-giả có thể đưa ra một bức thông-điệp khác hẳn với bức thông-điệp gắn liền với sự nối tiếp lịch-sử của các biến-cố ấy. SaSt 38:1-39:23 có thể cho một thí-dụ minh họa điều này. Hơn nữa, có những trường hợp các trước-giả Kinh-Thánh sắp xếp lại các biến-cố sao cho chúng không còn nối tiếp nhau theo thứ tự lịch-sử hay biên niên sử nữa. Trong những trường hợp như thế, cấu trúc văn chương cũng phân biệt với cấu trúc theo lịch-sử.
Khi ta thấy có hiện-tượng sau này, thì phải hết sức lưu ý đến cách sắp xếp văn chương và phải cố gắng tìm kiếm các lý-do của việc thay đổi sự nối tiếp nhau theo phương-diện lịch-sử. LuLc 8:1-55 có cho một thí-dụ về một khúc sách trong đó thứ tự biên niên sử đã bị gạt qua một bên. Hãy đối chiếu 8:1-55 với MacMc 3:1-35 để thấy điều này được nghiệm đúng.
Bài tập.
Ghi khắc trong tâm-trí các mối liên-hệ về cấu trúc và các tài-liệu để thực hiện chúng đã thảo luận trong những trang trước, hãy khảo sát cách cấu trúc của các đơn vị sau đây: SaSt 1:1-2:3 IVà IISử; Nê-hê-mi; Gióp; Ma-la-chi; Ga-la-ti; Phi-lê-môn, HêbDt 1:4-4:13 và IPhi 1Pr 1:3-2:10. Cố gắng giữ trước mắt bạn các nguyên-tắc và gợi ý đã được nêu ra.
C. Khảo sát các hình thức văn chương tổng quát.
Yếu-tố thứ ba cấu thành một khúc sách mà người ta cần khảo sát là hình thức văn chương tổng quát. Yếu tố này phân biệt với cả hai yếu-tố từ ngữ và cấu trúc, vì cùng một số từ ngữ và các mối liên-hệ cấu trúc giống nhau, do cùng một số tài-liệu giống nhau tạo thành, có thể được dùng để viết ra nhiều loại văn (chương) khác nhau. Do đó, chỉ ghi nhận các từ ngữ và các mối liên-hệ về cấu trúc mà thôi, thì vẫn chưa đủ để khảo sát cho đến nơi đến chốn; người ta còn phải nhìn thấy thể văn tổng quát mà trước giả đã sử dụng nữa.
Bây giờ, cac thể văn quan-trọng sẽ được mô tả và minh họa vắn tắt. Chúng tôi cũng sẽ cố gắng vạch ra một số yếu-tố khiến chúng trở thành có ý nghĩa đối với việc giải nghĩa hầu kích thích người khảo sát phải cẩn thận chú ý đến chúng. Khi đọc tập sách tài-liệu này, cần nhớ là nhiều thể văn khác nhau nhiều khi được sử dụng kết hợp với nhau, hơn nữa, cũng có nhiều cách khác nhau để phân loại các thể văn. Phần thảo luận sau đây chỉ gợi ý một cách phân loại mà thôi.
1. Văn thuyết giảng và nghị luận.
Trong loại này có tất cả các bảng tường trình tường thuật về các bài thuyết giảng dài giòng và tất cả các văn phẩm có phần trình-bày các ý-niệm bằng hình thức lý luận. Thể văn viết thứ tín, một số các bài giảng có tính cách tiên-tri, và các bài thuyết giảng dài hơn của Chúa Giê-xu có thể liệt vào loại này.
Thể văn này hướng trước nhất vào trí tuệ. Do đó, điều quan-trọng để nhận ra nó, là phải ý thức sự hiện diện của nó, và điều này sẽ dẫn đến việc cẩn thận khảo xét diễn tiến luận lý của nó; và chỉ khi nào người ta chú ý đặc biệt đến phương pháp thuần lý của nó, thì mới gặt hái được kết quả là giải thích đúng.
2. Tản văn thuật sự.
Thể văn này là hình thức văn chương được sử dụng nhiều nhất, thí dụ như trong sách Sáng-thế ký và các sách Phúc-Âm. Chủ đích đầu tiên của nó không có liên-hệ với các sử-kiện phi ngã, nhưng là để trình-bày lịch-sử truyền-giáo hay thần-học. Do đó, nó hàm chứa phần sử-ký đã được nhân cách hóa dưới hình thức các truyện tích và những nét phác họa tiểu-sử. Nó khêu gợi trước nhất óc tưởng tượng và tình cảm của người ta. Do đó, cố gắng lý giải thể văn này mà không sử dụng óc tưởng tượng thật tự-do theo đúng nghĩa của nó, thì chắc chắn người ta sẽ phạm sai lầm là chỉ lý giải được một phần nhỏ hay nhầm lẫn mà thôi.
Cũng phải nhớ rằng văn xuôi thuật sự thường hàm chứa một số chi-tiết không quá quan-trọng đến nỗi phải giải nghĩa, mà đúng hơn thì chủ đích chính của chúng chỉ nhằm thêm màu sắc cho câu chuyện mà thôi. Do đó khi nhận thấy có hiện diện của thể loại tản văn thuật sự, ta phải thận trọng để khỏi cượng giải từng chi tiết một một cách không thích đáng. Phải biết phân biệt đâu là phần cốt yếu và đâu là phần trang trí, tô điểm.
3. Thi-ca.
Thi-ca trong Kinh điển có 3 đặc điểm chính.
-Một là nó thường sử dụng ngôn ngữ biểu tượng.
-Hai là nó thuộc loại văn chương tình cảm. Có người đã bảo rằng “thi-ca là tình cảm của đời sống được biến thành âm thanh (để người ta có thể nghe được bằng tai)”.
-Và ba là nó sử dụng nhiều loại đối ngẫu khác nhau, như song đối của những từ ngữ đồng nghĩa, phản lập và tổng hợp (53). Do đó, biết được có hiện diện của hình thức thi ca, tức là tự giữ được mình để khỏi giải thích sai lầm. Vì khi ta nhớ rằng thi-ca sử dụng ngôn ngữ uyển chuyển, và rằng nó diễn tả các cảm xúc, cảm nghĩ chớ không phải là các ý-niệm hợp lý cứng nhắc, ta sẽ không gắng sức trình bày ngôn ngữ của nó như khi ngừơi ta dùng loại ngôn ngữ theo nghĩa đen, trong khoa-học, hay cố gắng khảo xét các câu cú thật tỉ mỉ như trong việc tra cứu thật chính xác, có hệ thống trong thần-học. Nhận ra được việc sử dụng các hình thức đối ngẫu cũng giúp ích được rất nhiều để bảo đảm cho việc bình giải đúng.
4. Kịch và kịch nói.
Phương pháp viết kịch tuồng gồm trước nhất là việc nhân cách hóa, cá biệt hóa và mô-tả thật sinh động các biến cố hay ý-niệm vì sức tác động vào tình cảm người ta của chúng. Rõ ràng là nó liên-hệ mật thiết với cách giải bày chân-lý bằng thi-ca. Do các sự-kiện vừa kể trên, ta phải xác định một trước giả đang nói bằng ngôn từ lịch-sử đích thực, hay đang sử dụng phương pháp của kịch tuồng để khiến cho chân-lý mà ông ta muốn nói lên gây được ấn tượng mạnh mẽ hơn.
Thí-dụ ta phải biết trong chương 2 của quyển sách mình viết, nhà tiên-tri Ê-sai có thể đã dùng thể văn viết kịch để mô-tả vai trò và số phận tương lai của Giê-ru-sa-lem, và quyết đoán rằng điều nhà tiên-tri đã tuyên-bố trong đó ngụ ý về một sự-kiện sẽ xảy ra theo nghĩa đen, thì chẳng có gì là chắc chắn, an toàn cả.
Lẽ dĩ nhiên, ta phải cảnh giác để khỏi xếp toàn thể hay một phần lớn văn chương trong Cựu-Ước vào thể văn kịch tuồng. Ta phải nghiên-cứu chính thể văn ấy để đoan quyết những gì nó tự nói lên về văn thể của nó, và phải tránh việc áp đặt quá đáng phương pháp viết bằng lối văn kịch tuồng trên sử-ký địch thực. Đồng thời, người khảo sát cũng phải thừa nhận rằng phương pháp kịch tuồng hóa cũng là một hình thức văn chương để tạo ra sự truyền thông, thông cảm hợp pháp, và rằng phải chú ý đến sự hiện diện của nó khi tiến hành việc chú giải.
5. Văn dụ.
Hình thức ẩn dụ sử dụng nguyên-tắc tương đồng (loại suy). Điều này được nghĩa của từ ngữ “ẩn-dụ” (parable, các bản dịch Kinh-Thánh của chúng ta dùng “thí-dụ” hay “ngụ-ngôn") chỉ rõ. Nó là việc kết hợp hai từ ngữ Hi văn, Para và ballo, do đó, theo nghĩa đen, nói lên “vật khác”. Như thế, một ẩn dụ gồm 2 phần chân-lý thuộc-linh mà nó minh họa, và phần trần thuật thuộc thể (hay vật lý) được đặt bên cạnh nó nhằm mục đích soi sáng, làm sáng tỏ. Các thí-dụ tuyệt vời về thể văn ẩn-dụ có thể đựơc tìm thấy trong MatMt 13:1-58 MacMc 4:1-41 và LuLc 15:1-32.
6. Văn chương Khải-huyền.
Từ ngữ “Khải-huyền” (apocalypse) theo nghĩa đen là “vén màn” hay “khải thị”. Văn chương khải-huyền thường có đặc điểm là sử dụng lối văn biểu-tượng và mô tả khải-tượng, vốn có bản tính tiên báo, tiên-tri. Sách Đa-ni-ên trong Cựu-Ước và sách Khải-thị trong Tân-Ước là những thí-dụ tốt về các đặc điểm đó của văn chương khải-huyền (54)
D. Khảo sát bầu không khí.
Yếu-tố thứ tư trong tiến trình khảo sát là khảo sát bầu không khí. Nói bầu không khí là ngụ ý đề-cập bên dưới một khúc sách, tuy vốn không thể sờ nắn được, nhưng lại rất thực. Một số “hơi hám”, “tính khí” (moods) đặc sắc mà một khúc sách có thể “toát ra” là bầu không khí chán nản tuyệt vọng, cảm tạ, khiếp sợ, cấp bách, vui vẻ, khiêm hạ hay nhu mì dịu dàng.
Nhiều khi bầu không khí của một khúc sách không thể được xác định nếu người đọc không nghiêm chỉnh dấn thân vào tiến trình lý giải. Mặt khác, điều cũng thường được nghiệm đúng là việc khảo sát đến nơi đến chốn sẽ làm bộc lộ bầu không khí tiềm ẩn bên dưới. Dầu sao, trước khi phát giác được bầu không khí của một đoạn Kinh điển, người ta vẫn chưa tiếp xúc được một cách sinh động với tâm-trí và tinh-thần của trước-giả.
Cần lưu ý là một số các khúc sách có thể là sự kết hợp của nhiều bầu không khí khác nhau. Thật vậy, ngay bên trong một đơn vị Kinh điển, vẫn có thể có sự thay đổi bầu kh ông khí một cách đột ngột và triệt để. Do đó, phải thận trọng khảo sát tất cả các yếu-tố liên-hệ với bầu không khí của một khúc sách.
IV. CÁC TRỢ CỤ CHO VIỆC KHẢO SÁT NÓI CHUNG.
A. Dùng một cây bút chì hoặc bút mực trong khi khảo sát. Viết ra các nhận xét của mình rất có lợi vì nhiều lý do, mà ít nhất cũng vì sự-kiện nhằm ghi khắc chúng thành ấn tượng trong tâm trí chúng ta. Viết ra là một trợ cụ đắc lực cho trí nhớ.
B. Có hai phương pháp tiếp cận chính trong việc khảo sát một khúc sách. Có một loại khảo sát bắt đầu bằng việc ghi lại chi-tiết các điểm đặc-trưng và các tiến-trình tiến tới việc khảo sát toàn diện. Loại khảo sát thứ hai bắt đầu bằng một cái nhìn toàn diện, tiến tới việc ghi lại các điểm đặc-trưng, và cuối cùng chuyển sang việc tổng hợp các điểm đặc-trưng.
Cả hai loại quan sát trên đây đều có giá trị và hữu dụng. Loại trước phản ảnh tiến trình thông thường của việc đọc một khúc sách để ghi nhận những điểm đặc-trưng, và cuối cùng, chuyển sang khảo sát từng từ, từng mệnh-đề, từng vế một cho đến đoạn kết. Tác-giả sách này nhận thấy đây là phương thức hữu ích hơn trong việc khảo sát một khúc sách tương đối ngắn, có viễn cảnh không quá quan trọng. Loại khảo sát thứ hai bổ ích nhất là khi ta gặp một tập tài-liệu dài hơn, nhiều hơn có viễn cảnh thiết yếu phải khảo sát thật hữu hiệu. Tuy nhiên, quý độc-giả được khuyến giục nên thí nghiệm cả hai loại để tự mình xác định xem loại nào phù hợp nhất với mình.
C. Điều này lưu ý chúng ta về sự-kiện cần phải tránh hai sai lầm trong việc khảo sát: một là nhìn toàn diện mà không chú ý các tiểu tiết; hai là thấy tiểu tiết mà không nắm được đại thể. Công tác khảo sát phải vừa phân tích vừa tổng hợp đồng thời với nhau. Thật vậy, việc khảo sát phân tích phải có đối tượng là khảo sát tổng hợp. Chính vì lý-do này mà tiến-trình khảo sát phải luôn luôn đạt được tuyệt đỉnh của nó là một cái nhìn toàn diện.
D. Một phân biệt khác nữa cần phải có, là giữa diễn biến khảo sát phải theo trong một phân đoạn hay một phần của phân đoạn, một đoạn một phần lớn hoặc một quyển sách (55). Rõ ràng là cách khảo sát thứ hai hay dài hơn một khúc sách không thể là tỉ mỉ bằng loại quan sát đầu, ít nhất là khi ta mới bắt đầu tiếp cận nó. Do đó, khi khảo sát một tập tài-liệu nhiều hơn, dày hơn, điều nên làm là phải xem đi xem lại được càng nhiều lần càng hay nếu có thể được, để ghi nhận các từ ngữ, mệnh đề hoặc các câu then chốt; các nhân vật, địa điểm và biến cố chủ yếu; các đơn vị cấu trúc; các mối liên-hệ chính, và các chương quan trọng. Sau đó, người khảo sát mới có thể tập trung vào các yếu-tố và những đoạn có vẻ là có ý nghĩa nhất.
Để nắm được nội dung và các mối liên-hệ của một khúc sách dài hơn trước mắt, điều thường rất hữu ích là phải đặt tên cho các chương sách khi ta đọc lướt qua chúng. Điều này đặc biệt nghiệm đúng cho việc nghiên-cứu các đoạn sách thuật sự (56).
Bằng mọi cách, ta không nên để cho mình bị vướng mắc vào những điều quá nhỏ nhặt, tỉ mỉ khi mới bắt đầu tiếp cận một khúc sách dài.
E. Khi khảo sát để ghi lại chi-tiết, phải đánh số để phân biệt chúng với nhau. Nên sử dụng một số phương-tiện như gạch dưới hay đóng khung, khoanh tròn để chỉ các nhận xét quan-trọng. Nên dùng các biểu đồ để chỉ ra các nhận xét chính yếu, nhất là trong lãnh vực của các mối liên-hệ về cấu trúc (57). Phải tìm cách tổ chức việc khảo sát của bạn, sao cho bạn có thể đạt được mục đích với sức cố gắng tối thiểu. Ghi ra những chương, những câu đặc thù cần tham khảo cho mỗi nhận xét để không còn phải thắc mắc về các văn bản đặc trưng vốn đã được đặt làm cơ sở để thực hiện công tác khảo sát.
F. Tuy công tác khảo sát phải đưa đến kết quả là cho thấy từng điểm đặc-trưng một của một khúc sách, khi ghi lại các nhận xét, ta chỉ phải viết ra những gì thật đáng ghi lại mà thôi. Thí-dụ ta không nên liệt vào loại các nhận xét đáng ghi lại tất cả các định quán từ (cái, con, v.v...) xuất hiện trong một khúc sách. Chỉ trong những trường hợp mà một định quán từ như thế quả thật có ý nghĩa, thì mới cần phải ghi lại. MacMc 15:39 là một thí dụ về một trường hợp như thế (58). Nếu không áp dụng loại bỏ qua, lờ đi này, tiến trình liệt kê các nhận xét sẽ tỏ ra không hữu hiệu và gây buồn chán (59).
G. Khi ghi lại các nhận xét, phải tránh việc chỉ ghi lại các từ ngữ trong văn bản mà thôi. Hãy nói lên một điều gì đó về chúng. Thí-dụ khi khảo sát ÊsIs 55:1-13, ta phải ghi nhận các sự-kiện sau đây:
Khúc sách bắt đầu bằng chữ “Hỡi” (c.1)
Khúc sách được dành cho “tất cả những ai đang khao khát” (c.1)
Một phương thức như thế sẽ làm nảy sinh sự thức tỉnh và giúp ta ghi khắc vào tâm trí các nhận xét đã ghi ra.
H. Bốn thành tố của một khúc sách, tức là các từ, cách cấu trúc, thể loại văn chương, và bầu không khí, không cần và không nên được ghi lại riêng biệt. Thí-dụ người khảo sát không nên tìm ra trước nhất là tất cả các từ có trong một khúc sách, trước khi ghi lại các mối liên-hệ về cấu trúc của nó. Nhưng quả thật cũng có một số trật tự gắn liền với việc khảo sát các thành tố cấu tạo nên một khúc sách. Ta không thể ghi ra một mối liên-hệ giữa hai từ trước khi nhận thấy sự hiện diện của từng từ một. Hơn nữa, cả hình thức văn chương lẫn bầu không khí cũng không thể được nhận thấy liên-hệ với một mục-đích trong một số trường hợp, trước khi toàn thể đơn vị đã được khảo xét, vì lắm khi chúng có thể thay đổi. Tuy nhiên, điều vẫn còn lại để lưu ý, là không cần thiết mà cũng không nên khảo sát tất cả các yếu-tố trong một khúc sách theo một trật tự cứng nhắc. Một người có thể ghi nhận cách dùng của hai từ và sau đó lưu ý đến các mối liên-hệ và liên-hệ hỗ tương giữa chúng. Như vậy, một bảng liệt kê các nhận xét sẽ gồm có việc pha lẫn các nhận xét liên-hệ đến các từ, cách cấu trúc hình thức thể văn và bầu không khí của một khúc sách (60).
I. Phải khảo sát từng khúc sách một dường như bạn chưa hề thấy nó trước đó bao giờ. Mỗi lần tiếp cận phải là một lần tiếp cận mới mẻ. Chỉ tham khảo lại những lần khảo sát trước sau khi bạn đã hoàn tất việc tiếp cận nhằm khảo sát lần cuối cùng. Có người bảo rằng Toscanini chẳng bao giờ nhìn vào một bảng phân âm của một bài nhạc bằng thái-độ dường như ông chưa hề thấy nó bao giờ, mà nhìn nó dường như mình mới thấy nó lần đầu tiên vậy (61).
J. Phải tự khép mình vào kỷ luật để thấy mình có thể nhận thấy khác nhau như thế nào khi khảo sát một khúc sách nào đó. Nên học tập dành nhiều thì giờ để triển khai một lần khảo sát. Chính người quan sát chịu khép mình vào kỷ luật mới là người khảo sát thành công và thấu đáo (62).
K. Nguyên-tắc được câu sau đây đề ra, là một trợ cụ tuyệt vời cho việc khảo sát “Người quan sát phải mở to mắt ra để chú ý đến bất cứ điều gì mà theo các lý thuyết đã được chấp nhận thì không thể nào xảy ra, vì các sự-kiện ấy sẽ được dùng làm đầu mối cho những phát kiến mới mẻ”. Thái-độ khoan dung của Giô-sép đối với các anh mình từng âm mưu hại mình, là một thí-dụ minh họa cho điều này (SaSt 37:1-50:26). Thật vậy, đặt tương phản đều được tìm thấy trong một khúc sách với những gì người ta có thể tìm mà không thấy có trong đó, thường giúp ích được rất nhiều. Thí-dụ, tác-giả Thi-thiên nói: “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì”. Ông không nói “Đức Giê-hô-va là một người chăn chiên, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì”
L. Tự đặt cho mình các câu hỏi ngụ ý trong mấy giòng sau đây, thường giúp ích nhiều:
Tôi có sáu tên đầy-tớ trung tín.
Dạy tôi tất cả những gì tôi biết
Tên chúng là Điều gì, Ở đâu và Bao giờ?
Với Như thế nào? Tại sao? và Ai vậy?
M. Ghi nhận những điểm bỏ sót có ý nghĩa cũng như các biến cố và ý-niệm đã được đưa vào. Có lần Stevenson đã nhận xét “Bỏ sót... là một nghệ thuật viết văn. Nếu tôi biết cách bỏ sót, thì tôi không còn mong ước có được sự hiểu biết nào nữa” (64). Nếu lời phát biểu trên đây của ông chỉ gần đúng với chân-lý mà thôi - mà sự thật quả là như vậy - thì nếu muốn khám-phá ra tư tưởng của tác-giả, điều tối quan-trọng là người quan sát phải thận trọng ghi nhận những điều mà tác-giả bỏ sót, không nói ra” (65).
N. Đối chiếu và đặt tương phản các nhận xét. Tiến-sĩ Alexander Graham Bell có đưa ra một công thức cho việc tự giáo dục tự do như sau “Quan sát! Ghi nhớ! Đối chiếu!” (66)
O. Ta thường được lợi ích khi đối chiếu và đặt tương phản nhiều khúc sách hoặc quyển sách như đối chiếu các sách Các Vua với Sử-ký, các sách tiểu tiên-tri với nhau, xếp song hành các phần ký thuật của các sách Phúc-Âm, và các sách Phúc-Âm Cộng quan với sách Phúc-Âm thứ tư.
P. Đối chiếu và đặt tương phản các bản dịch Kinh điển khác nhau.
Q. Thỉnh thoảng nên cố suy nghĩ theo điều kiện của một phóng viên nhật báo viết một bài tường thuật hay một họa sĩ vẽ ra một bức tranh về một khúc sách. Phương-tiện này và những phương tiện tương tự giúp người ta quan sát chính xác hơn. Hãy thử d ùng gợi ý này để nghiên-cứu Xuất 35-40.
R. Vẽ những bản đồ thô sơ chỉ ra địa lý của một đơn vị. Việc này đặc biệt giúp ích khi khảo sát các sách Sáng thế ký, Xuất Ê-díp-tô ký, Giô-suê, các sách Phúc-Âm và sách Công-vụ.
S. Khi khảo sát các tài-liệu về tiểu-sử, ghi nhận các đặc điểm của những nhân vật trong cuộc, các ý-niệm và thái-độ của họ đối với Thượng-Đế, cũng như các hành động phản ứng và động cơ thúc đẩy họ.
T. Khi khảo sát nền văn chương thư tín, cần lưu ý các yếu-tố sau đây: lý lịch và các đặc điểm của các trước-giả; địa phương, các đặc điểm và vấn-đề của những người nhận thư; các câu trả lời cho các vấn-đề của họ; cơ-hội và chủ-đích viết thư; các điểm đặc trưng về phương diện văn chương, các ý-niệm hướng đạo, và chân-lý trung tâm.
U. Chú ý những chú thích ghi ngoài lề. Có người bảo “Sự khôn-ngoan của các nhà Nhuận chánh được ghi ra ngoài lề”.
V. Tìm các ý niệm về Thượng-Đế, Chúa Cứu Thế, con người, tội-lỗi và sự cứu-chuộc, vì những điều đó là các luận đề hàng đầu mà các trước giả viết Kinh-Thánh quan tâm.
W. Khi gặp các đoạn ngắn (segments) thuộc thể văn thuật sự như trong các sách Phúc-Âm, điều thường giúp ích là nên đặt tên cho các phân đoạn. Một phương thức như thế giúp người ta chú ý, và ghi nhớ các nhân vật và các biến-cố chính, và giúp ta nhận xét, ghi chép và nhớ lại các mối liên-hệ.
Có hai loại tiểu mục chính để đặt cho một phân đoạn, một là một nhan đề có tính cách mô-tả, nói lên chủ-đề bằng các từ chỉ địa điểm, nhân vật hoặc biến-cố; và hai là nhan-đề có tính-cách phân tích hay lý giải, làm cơ-sở cho việc chú giải số tài-liệu trong đó. Một tiểu-mục có tính cách mô-tả cho MacMc 7:24-30 có thể là “Người phụ nữ miền Ty-rơ và Si-đôn”. Một nhan-đề nhấn mạnh tính cách phân tích cho cùng một khúc sách ấy có thể là “Phổ quát tính của đức-tin”. Rõ ràng là loại tiểu mục dành cho một phân đoạn mà người khảo sát phải quan-tâm trước nhất, là nhan-đề có tính-cách mô-tả, vì nhan-đề phân tích vốn có tính cách lý giải nhiều hơn.
Nhan-đề cho một phân đoạn cần có các đặc điểm sau đây: ngắn gọn - hai ba chữ thôi, nếu có thể được; dễ nhớ - gợi tưởng tượng, truyền cảm; độc đáo - chỉ có thể áp dụng cho một phân đoạn duy nhất mà thôi; gợi ý - nhắc lại nội dung của phân đoạn; phù hợp - thích hợp với phân đoạn ấy; và cá biệt - có ích lợi cho riêng cá nhân nào sử dụng nó. Nhiều khi có thể đặt tên cho các phân đoạn sao cho chúng gợi được ý là chúng vốn có liên-hệ với nhau.
Việc đặt tên cho các phân đoạn chẳng bao giờ nên bị biến thành một việc làm vội vã theo thói quen. Ta ph ải biết rõ các lý-do để đặt tên như vậy và chỉ nên làm khi việc ấy khiến cho công tác nghiên-cứu của ta được dễ dàng tiện lợi hơn.
X. Phải phân biệt ba công tác khảo sát, lý giải, và ứng dụng. Phải tránh việc dành tất cả mọi sự cho tiến trình khảo sát, và chỉ dành tối thiểu cho công tác lý giải. Gợi ý này không áp dụng cho việc bắc cầu giữa khảo sát và lý giải nghĩa là câu hỏi nhằm mục-đích lý giải, sẽ được thảo luận về sau (67). Hơn nữa, cần nhớ rằng một phần của công tác lý giải phải nằm trong tiến trình khảo sát. Vì không hề có một lằn ranh rõ rệt nào giữa hai bước đầu tiên này của phương pháp nghiên cứu có tính cách quy nạp, và người ta không thể nào tạo ra được một lằn ranh như thế.
Thí-dụ, người khảo sát chú ý đến cách dùng chữ “nhưng” trong một câu nào đó. Nếu người ấy đang tự giới hạn triệt để trong công tác khảo sát, người ấy thậm chí sẽ không lưu ý cả đến sự-kiện chữ “nhưng” đưa vào một sự tương phản, vì điều được nói lên ấy là khởi điểm của tiến-trình lý giải, là việc sẽ được hoàn tất bằng cách trả lời cho câu hỏi “Mối liên-hệ về cấu trúc của sự tương phản như được dùng trong trường hợp này có ý nghia gì?”
Tuy nhiên, tự ngăn mình lại để không chỉ ra rằng chữ “nhưng” đó cho thấy sự tương phản, sẽ bắt buộc công tác khảo sát trở thành một vai trò không thể thực thi và vô nghĩa. Vì các lý-do ấy, việc lưu ý rằng chữ “nhưng” dẫn tới sự tương phản phải được đưa vào bước đầu tiên của việc nghiên-cứu một cách có phương pháp như chúng tôi đã gợi ý ở mấy trang trước đây (68). Sở dĩ có thể làm như thế vì công tác lý giải phải tham gia vào việc khảo sát như vậy tự nó đã cho thấy rõ ràng là chẳng hề có nguy hại gì trong việc đi đến một kết luận mà không cần phải khảo xét tất cả các chứng cứ. Tuy nhiên, khi đến những phần lý giải phức tạp hơn ta phải chờ cho đến khi hoàn thành tiến trình khảo sát tổng quát đã. Như vậy tuy người ta không thể hoàn toàn loại trừ việc lý giải khỏi công tác khảo sát, nó phải được duy trì trong mức-độ an toàn tối thiểu.
Nói khác đi, phải tránh cả 2 cực đoan thái quá lẫn bất cập trong công tác khảo sát. Tiến-trình khảo sát cuối cùng phải đạt được một số khám phá có ý nghĩa nào đó, tuy quả thực là tất cả những gì người ta phát giác được sẽ không cùng có ý nghĩa ngang nhau. Mặt khác, công tác khảo sát không thể bị bế tắc đến nỗi kéo luôn toàn thể tiến trình nghiên-cứu vào đó.
Một quan-điểm như thế sẽ biến công tác nghiên-cứu Kinh điển thành chỉ còn một bước duy nhất mà thôi, và sẽ có thể cất luôn cả phương pháp quy nạp lẫn tinh thần làm việc có phương pháp khỏi nó nữa. Trái lại, ta phải giới hạn mục-đích của công tác khảo sát tuy nó vốn quan-trọng, và ch ỉ làm những gì sẽ đạt được kết quả là hoàn tất, được nó mà thôi. Mục-đích đó là phải biết rõ các từ, cách cấu trúc, văn thể và bầu không khí của một khúc sách. Ý nghĩa và cách ứng dụng những gì mà người khảo sát đã biết rõ đó, thì nói chung là còn phải chờ các giai đoạn nghiên-cứu kỹ hơn sau này (69)
V. TÓM TẮT CÔNG TÁC KHẢO SÁT.
Có hai dấu hiệu cho thấy đặc điểm của người khảo sát thành công: hiểu thật rõ ràng và thấu đáo. Người ấy không hề khảo sát một cách máy móc. Trái lại, nội dung của một khúc sách phải trở thành sống động đối với người ấy. Người ấy phải thật sự tri nhận (perceive) nghĩa là nhìn thấy. Người ấy thấy rõ tất cả những gì đã cấu thành một khúc sách. Người ấy không đinh ninh trước một điều gì cả. Người ấy phải tự khép mình vào kỷ luật để tự mình tiếp thu cho mình toàn thể đơn vị (bản văn). Người ấy chú ý đánh dấu từng từ một, vì biết rằng bất kỳ một nhà nghệ sĩ nào xứng đáng với cái danh ấy đều phải suy nghĩ chín chắn để chọn một chủ đích cho việc sử dụng từ ngữ của mình. Người ấy cũng cẩn thận ghi nhận các mối liên-hệ và các mối liên-hệ hai chiều giữa các từ ngữ với nhau. Người ấy hết sức chú ý đến thể loại văn chương tổng quát và bầu không khí của một khúc sách. Tóm lại, tất cả các thành phần cấu tạo nên một đơn vị Kinh-Thánh đều trở thành một phần ý thức của người khảo sát tài ba (70)
VI. BÀI TẬP KHẢO SÁT.
A. Ghi nhận cẩn thận các từ, các mối liên-hệ về cấu trúc, các thể văn tổng quát, và bầu không khí của những đoạn sách (segments) sau đây: LêLv 16:1-34; ThiTv 19:1-14; 24:1-10; 44:1-26; 51:1-19; 150:1-6; ÊsIs 1:2-31; MatMt 11:1-30; 18:1-35; GiGa 9:1-10:42; 15:1-27; RôRm 8:1-39.
B. Cũng khảo sát các từ ngữ then chốt, các mối liên-hệ chủ yếu các thể văn tổng quát, và các giọng điệu (bầu không khí) tiềm ẩn trong các quyển sách sau đây: Ru-tơ, E-xơ-ra, Ê-xơ-tê, Ê-xê-chi-ên, Ô-sê, Giô-ên, Giô-na, Sô-phô-ni, A-ghê, Cô-lô-se, I và IIPhi-e-rơ, và Khải-thị.
Hướng dẫn tổng quát - Ghi lại tất cả các nhận xét đáng ghi nhận. Cố gắng phân loại chúng xem chúng thuộc loại từ ngữ (TN), cấu trúc (CT), Văn thể (VT) hay bầu không khí (BK). Nhớ chỉ lý giải tối thiểu và tránh việc ứng dụng. Áp dụng các nguyên-tắc và gợi ý của phần tài-liệu trên đây.
CHÚ THÍCH.
1. The Webster's Collegate Dictionay. Fifth Edition.
2. Kuist H.T, These Words Upon Thy Heart, p.79. Muốn có một phần thảo-luận đầy đủ hơn về một số từ ngữ được dùng trong quyển sách chỉ nam này, xin tham khảo các tài-liệu sau đây: Eberhardt c.R.; The Bible in the Making of Ministers, pp.115-157; và Kuist H.T, These Words Upon Thy Heart, p.45-62,67-70, 99-100,101-102.
3. Coulton, G.G., Five Centuries of Religion, volume I, p.XXXvii.
4. Jowett, J.H., Brook's by the Traveller's Way, pp.78-79.
5. Mac Farlan, R., trích từ Our Human Comedy trong Coronet, July 1946.
6. Liên-hệ với vấn-đề này, xem The Student the Fish and Agassiz mà tác-giả rất muốn trích dẫn thật đầy đủ nếu không vì sợ thiếu chỗ. Có thể tìm đoạn này trong C.R. Eberhardt, quyển The Bible in the Making of Ministers, pp.134-138.
7. Phần phân tích đưa ra đây nhất thiết phải quan tâm đến các ý-niệm về văn phạm và từ ngữ của Anh văn, Hy-bá-lai văn và Hi-văn, vì nghiên-cứu Kinh-Thánh đúng phương pháp đòi hỏi phải quan tâm triệt để đến nền văn chương của cả 3 ngôn ngữ ấy. Sự-kiện này làm nảy sinh nhiều vấn đề sẽ được thảo-luận vắn tắt ở đây:
Một trong các vấn-đề đó, là muốn hiểu đầy đủ số tài-liệu sau đây, quý độc-giả cần thông thạo văn phạm Anh văn, Hy-bá lai văn và Hi văn. Do đó, điều hết sức lý tưởng là đến giai đoạn này của cuộc thảo-luận các sách khảo luận đề-cập thật đầy đủ văn phạm của các ngôn ngữ ấy có thể được đưa vào. Vì nhiều lý-do hiển nhiên, việc ấy không thể thực hiện được. Do đó, chúng tôi chỉ yêu-cầu tham khảo những cuộc thảo luận nổi bật liên-hệ đến văn phạm của các ngôn ngữ liên -hệ, với hy-vọng là quý độc-giả sẽ sử dụng chúng hầu được quen biết nhiều hơn với các công cụ có tính cách văn phạm, cần phải dùng đến trong việc nghiên-cứu Kinh-Thánh theo đúng phương pháp.
Tuy nhiên, cả đến việc đưa vào đây các tài-liệu tham khảo đó cũng sẽ chẳng giải quyết được vấn-đề văn phạm cho tất cả những người sử dụng quyển sách này. Vì một số người sẽ không có đủ kiến thức để được hưởng lợi ích của chúng do không biết Hy-bá-lai văn và Hi-văn. Lẽ dĩ nhiên là những người như thế sẽ được giúp ích nếu học được các ngôn ngữ ấy; vì thông thạo chúng là thiết yếu cho việc nghiên-cứu đến nơi đến chốn. Tuy nhiên, nếu bị thiếu mất điều kiện đó, ta cũng có thể tin chắc rằng ngôn ngữ thông dụng cũng có thể nói lên phần lớn các yếu tố văn phạm cần thiết để thông hiểu các văn phẩm trong Kinh-Thánh. Nếu sự việc không đúng như thế thì một số đông người trong Cơ-đốc giáo giới sẽ không đủ phẩm cách để nghiên-cứu Kinh-Thánh, và quyển sách ấy sẽ chỉ dành riêng cho một thiểu số người được đặc ân đặc quyền mà thôi.
Một vấn-đề khác nữa mà phần trình-bày sắp được giới thiệu sau đây phải đương đầu liên-hệ với nỗ lực nhằm tổng hợp hóa phần lớn các nét đặc-trưng về văn phạm của ba ngôn ngữ phân biệt đó và nhiều ngôn ngữ khác nữa. Chẳng có gì để nghi ngờ là một tổng hợp hóa như vậy sẽ có các khuyết điểm của nó.
Nhưng các khuyết điểm ấy cũng chính là điều mà người ta phải đối đầu khi phiên dịch một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác thế nhưng nó vẫn không ngăn trở được chúng ta cứ phiên dịch, vì việc phiên dịch là cần thiết. Cũng vậy, tuy phần tổng hợp gắn liền với cuộc thảo-luận nêu ra đây sẽ có các hạn chế phải thừa nhận của nó, nó vẫn được thực hiện vì rất thiết yếu cho việc khai triển một phương pháp đứng đắn để tiếp cận các đơn vị (văn bản) Kinh-Thánh.
8. Sự xuất hiện của các từ không do thói quen tăng thêm trong loại văn có tính cách lý luận nhiều hơn, như trong các thư tín của Phao-lô.
9. Sự phân biệt giữa nghĩa đen và nghĩa bóng cũng có trong các đơn vị từ ngữ lớn hơn, như một mệnh-đề, vế, câu, phân đoạn, v.v...
10. Về vấn-đề này, xin chú ý các từ trong MacMc 9:42-50. Một nhật báo có lần đăng tin một người giải nghĩa từ “cắt, chặt: theo nghĩa đen thay vì nghĩa bóng, và hậu quả là đã vào trong một vựa củi, chặt đứt cánh tay mình.
11. Nhiều từ ngữ nhằm nhận diện khác thỉnh thoảng cũng được sử dụng, như động từ theo tiến hành cách (gerund) hay phân từ. Các đại danh từ có thể được nhận diện rõ ràng hơn theo các loại sau đây: nhân cách hóa (nhân xưng đại danh từ), chỉ mối liên hệ, chỉ thị, chỉ ý hướng, phản ảnh, hỗ tương, nghi vấn và bất định, v.v...
12. Muốn thảo-luận đầy đủ hơn các loại cách nói này và những biến cách của chúng, xem các phụ lục của: Kierzek, John, The Macmillan Handbook of English; Dana ad Mantey, A Mannal Grammar of the Greek New Testament; và Gesenius, Hebrew Grammar. Về một phần thảo luận đầy đủ hơn các từ ngữ, xem M.J. Alder, How to read a Book, pp.185-208
13. Quý độc-giả cần khảo xét văn mạch để xem chữ “cấu trúc” đã được dùng là theo nghĩa rộng hay nghĩa giới hạn. Cần ghi nhận thêm rằng “cấu trúc” sẽ được dùng đồng nghĩa với “viết, soạn thảo” (compositon), tuy “viết, soạn” có thể có nghĩa vượt khỏi một mục đích, một cứu cánh. Vì như Ruskin, định nghĩa “soạn” là ”... ghép nhiều điều lại với nhau để biến chúng trở thành một (vật) mà thôi” (phụ lục của H.T.Kuist, These Words Upon Thy Heart, p.161, J.Ruskin's “Essay on Compositon"). Mặt khác, theo tác giả này cấu trúc trước hết nói lên cứu cánh của một sản phẩm, nghĩa là cái khung sườn được cấu thành bằng cách sắp xếp các thành phần vào nhau. Tuy nhiên, rốt cuộc, cả “soạn” và “cấu trúc” phải đều ẩn tàng ý nghĩa là một cứu cánh, vì hai yếu tố này rốt cuộc vốn bất khả phân ly.
14. Muốn có định nghĩa đầy đủ các từ này, hãy tự tra từ điển. Cần lưu ý tuy cần thiết phải phân biệt “vế” (clause) với “câu” (sentence), nhiều khi chúng lại giống y nhau, vì nhiều câu chỉ gồm có một vế duy nhất.
15. Việc dùng “đoạn trung bình” không cần thiết cho việc phân tích cách cấu trúc của một số các quyển sách. Điều này cũng có thể nghiệm đúng với một số các đơn vị cấu trúc khác.
16. Taylor, H.O, The Mediaeval Mind, Volume I, p.20.
17. Ante, p.5
18. Ante, p.20
19. Để hậu thuẫn cho mấy câu này, chỉ cần khảo xét một số các bức họa, các bản nhạc đại hòa tấu và các tác phẩm văn học lừng danh trên thế giới.
20. Từ “phân đoạn” được dùng theo nghĩa lý tưởng trong mấy câu này. Nó không nhất thiết ám chỉ những phân đoạn cá biệt nào trong một bản dịch cá biệt, nhưng là những nhóm câu thật sự họp thành những đơn vị tư tưởng và diễn tả.
21. Webster's Collegiate Dictionary Fifth Editon. Cũng xem Dana and Mantey, A Mannual Grammar of the Greek New Testament, pp.59 ff
22. Các vế này có thể có thời thức (moods) khác nhau, như chỉ thị cách, tiếp tục cách, mệnh-lệnh cách, v.v..
23. Phần lớn các từ mô-tả này được vay mượn của Dana and Mantey, A Manual Grammar of the Greek New Testament, pp.268-303
24. Bản Revised Standard Version sẽ được dùng cho tất cả các câu tham khảo Tân-Ước, còn bản American Revised Version cho những câu tham khảo Cựu-Ước.
25. Nhiều cách diễn tả các mối liên-hệ về thời gian và địa phương có thể được ghi nhận khi đọc qua các sách sử-ký của Cựu-Ước, các sách Phúc-Âm, hay sách Công-vụ.
26. Đối chiếu đặt tương phản, kể ra, hay diễn tiến từ cái tổng quát đến cái đặc thù, có thể gồm luôn mối liên-hệ loại này.
27. Về vấn-đề này, xem sau đây: Kierđek, John, The Macmillan Handbook of English, phụ lục; Dana and Mantey, A Manual Grammar of the Greek New Testament pp.239-267 và Gesenius, Hebrew Grammar, phụ lục.
28. Gợi ý này nhắc chúng ta sự-kiện yếu-tố vị trí thường thủ một vai trò quan-trọng trong cú pháp của một câu. Cả trong Hy bá lai văn lẫn Hi văn, vị trí tương đối của một từ trong thứ tự từ ngữ của một câu có thể chỉ ra tầm quan-trọng của nó hoặc các từ mà nó phải được kết hợp chặt chẽ hơn hết. Thí-dụ xem SaSt 1:1; XuXh 21:3; Mat Mt 5:1; GiGa 1:1; ICo1Cr 5:3-5. Nhiều khi bản dịch Anh văn không nói lên được yếu tố vị trí đó.
29. Về một thí-dụ khác cho việc phân tích văn phạm, xem L.M.Sweet, The Study of the English Bible, Phụ lục C. Thỉnh thoảng, việc vẽ lược đồ tình cờ là một phương tiện tuyệt hay để nắm được các mối liên-hệ giữa các vế với các câu. Nếu quý độc-giả chưa quen với các kỹ thuật vẽ lược đồ, hãy tham khảo Kierzek, The Macmillan Handbook of the English, pp.31-3.
30. Mối liên-hệ về thứ tự thời gian rất quan-trọng được nhóm giới từ “sau sáu ngày” gợi ý, là một mối liên-hệ giữa các phân đoạn và các phần nhỏ của phân đoạn (segments), chớ không phải là giữa hai câu trong cùng một phân đoạn. Chính vì lý-do đó mà nó không được khảo xét đúng mức ở điểm này.
31. Ante, pp.31-32
32. Ante, p.20
33. Theo thiển ý của tác-giả, một trong những nhược điểm của phương pháp giải kinh truyền-thống là nhấn mạnh các mối liên-hệ văn phạm mà chẳng đếm xỉa gì đến cảm thức bén nhạy đối với cách cấu trúc văn chương.
34. Có thể có người thắc mắc chẳng hay định luật nối tiếp có phải đưa vào bảng liệt-kê này không. Có thể chủ trương rằng một định luật như thế chỉ là phần mô-tả tổng quát, sự diễn tiến hay sự gọt đẽo mài giũa, đến lượt nó có thể đưa đến tuyệt đỉnh, việc tiếp nối, v.v.. Tuy nhiên, nó phải được giữ theo đúng thứ tự để bảo đảm tính cách đầy đủ, vì trong một số trường hợp, người ta có thể nêu ra một câu hỏi hợp lý là chẳng hay đang có hiện diện của các mối liên-hệ cấu trúc nào khác hay không.
35. Muốn có một phần thảo luận đầy đủ hơn về một số các định luật này, xin xem H.T.Kuist, “These Words Upon Thy Heart”, pp.80-87 và phần phụ lục của cùng quyển sách ấy, có bài “Essay on Composition” của John Ruskin. Cần chú ý là tác-giả quyển sách chỉ nam này đã tái định nghĩa và áp dụng các định luật đã được mô-tả trong các đoạn sách tham khảo trên; Cũng xin lưu ý rằng các định luật về tính cách chủ yếu (principality) và khuếch tán (radiation) được Ruskin liệt-kê, đã không được đưa vào đây. Lý-do là vì theo thiển ý tác-giả, các định luật ấy bao gồm các cứu cánh chớ không phải các phương tiện, và do đó, là khác hẳn với các mối liên-hệ về cấu trúc khác. Thí-dụ, chức-vụ thầy tế-lễ tối cao của Chúa Giê-xu đã được cho là chủ yếu trong thư Hy-bá lai nhờ các phương-tiện lặp đi lặp lại và liên tục.
36. Xem Rô-ma 6 như một thí-dụ.
37. Mấy câu này có thể ứng-dụng cho nhiều giai đoạn nghiên-cứu đúng phương pháp khác nữa. Cũng không nên căn-cứ vào đó để suy diễn rằng phương pháp tiếp cận quy nạp không đưa đến kết quả là những niềm tin mạnh mẽ. Tuy nhiên, các sự-kiện này phải được ghi nhận liên-hệ với các niềm niềm tin vào quy nạp pháp: một là chúng được căn-cứ trên các dữ-kiện cụ thể chớ không phải trên các cơ sở độc đoán; hai là chúng đều được truyền thông với các dữ-kiện khác trên cùng những cơ sở từ đó chúng nảy sinh, không phải bằng thẩm quyền độc đoán, nhưng bằng việc khảo xét những điểm đặc trưng; và ba là, dầu sao chúng chẳng bao giờ bị cưỡng ép để áp đặt lên một cá nhân.
Liên-hệ với điểm cuối cùng này, tác-giả đã theo thói quen diễn-tả các niềm tin riêng của mình trong những trường hợp mà chứng cứ hiển nhiên hiện ra cho mình một cách dứt khoát. Nhưng sau khi làm như vậy, tác giả phải làm sáng tỏ sự việc cho các sinh viên trong lớp rằng chính họ cũng phải tự ghi khắc vào tâm-trí y như thế. Người ta có thể nhận thấy rằng một phương pháp như thế là đúng sư phạm, vì các sinh viên sẽ dễ tiếp thu nó hơn là một phương pháp độc đoán rất nhiều, và các quyết định của họ có khuynh hướng quy nạp hơn là diễn dịch.
38. Xem phần Phụ lục có nhiều thí-dụ đầy đủ hơn về công tác khảo sát cách cấu trúc văn chương
39. Nguyên-tắc chọn lọc có chủ đích ứng-dụng cho các từ và các thể loại văn chương tổng quát cũng như cách cấu trúc.
40. Nhiều khi vấn-đề thu thập tài-liệu có thể nảy sinh trong việc áp-dụng định luật cân đối; vì có thể chỉ có một số tài liệu có sẵn và sự-kiện này hạn chế sự lựa chọn của tác-giả. Trong những trường hợp như thế, mọi dữ-kiện có sẵn phải được nghiên-cứu kỹ mới có thể đạt được một kết luận có giá trị. Khi làm vậy, ta phải nhớ là tác-giả không bị bắt buộc phải đưa vào tất cả các chủ-đề có thể sử dụng, cả khi phạm vi của nó có thể bị hạn chế.
41. Tuy trong phần thảo luận này, việc chọn lọc các biến cố và ý-niệm đã được nhấn mạnh vì lý do thuận tiện, ta không nên vì đó mà suy diễn rằng định luật chọn lọc chỉ có tác dụng trong các thể loại văn chương Sử ký và nghị luận mà thôi. Thật vậy, việc chọn lọc được gắn liền với mọi thể loại văn chương và nghệ thuật. Do đó, tuân thủ định luật tuyển chọn cũng hữu ích trong công tác khảo sát các loại sắp xếp có tính cách tiểu sử, địa lý, và biên niên sử nữa.
42. Chủ-đích của phần này và của các bảng liệt-kê có thể đem ra so sánh với nhau gồm 2 phương-diện: một là để nhấn mạnh và ứng dụng vài điểm quan-trọng đã được đề-cập rồi; và 2 là để chỉ ra vài nguyên-tắc và cách làm có ý nghĩa chưa được nói ra trong phần thảo-luận đi trước nó.
43. Ante, pp.38-39
44. Ante, pp.39
45. Ante pp.53-54
46. Ante, p.52. Định luật hài hòa, về căn bản hàm chứa trong gợi ý này.
47. Sự phân biệt này nhằm mục đích nhấn mạnh sự kiện một số các lãnh vực sở dĩ có tính cách chiến lược là nhờ vị trí của chúng trong sự chuyển biến của lịch sử, trong khi nhiều lãnh vực khác sở dĩ quan trọng trước hết là theo quan điểm về cách cấu trúc văn chương. Về vấn đề này, xin xem phần thảo luận về cách cấu trúc lịch sử và văn chương ở các trang 66,67
48. Ante, p.52
49. Xem phía sau, các trang 69,70
50. Ante, pp.59-62
51. Ante, pp.55-59
52. Xem phụ lục dành cho các thí dụ về các lược đồ về cách cấu trúc
53. Xin tra sách Biblical Hermeneutics của Mục sư Terry, pp. 144-156
54. Nên lưu ý rằng nhiều hình thức văn chương nhỏ hơn như châm ngôn, truyện ngụ ngôn, câu đố, cách nói bóng gió, cách dùng hình bóng và biểu-tượng đều không thuộc vào bảng liệt-kê này. Về một cuộc thảo-luận bổ ích về các thể loại văn chương, xin xem “The Bible Literature” của L.B.Longacre, trong The Abingdon Bible Commentary, pp.19-25. Có thể tìm phần khảo sát đầy đủ hơn về các thể loại văn chương cùng với các gợi ý trong Kinh-Thánh trong những trang chót của tập sách chỉ nam này (xem phía sau, các trang 148-150)
55. Sự phân biệt này chỉ có thể áp dụng cho những quyển sách dài. Nó không nghiệm đúng cho việc nghiên-cứu các quyển sách ngắn, như sách Phi-lê-môn.
56. Về các gợi ý liên-hệ đến việc đặt tên cho các chương sách, xin xem phần thảo-luận về cách đặt tên cho các phân đoạn, trang 77
57. Có thể tìm các thí dụ cho các mối liên-hệ này trong phần Phụ lục.
58. Trong trường hợp này thì bản American Revised Version được sử dụng. Xin chú ý phần tham khảo ngoài lề.
59. Ante, pp.34-35
60. Câu “các nhận xét liên-hệ đến các từ... hình thức...” trong Anh văn được tác-giả dùng một hình thức “viết tắt” là “term al...form al...observations” không thường gặp trong Anh văn, nên dành một chú thích ở đây cho vấn đề ấy. Nó chẳng có liên-quan gì với bản Việt dịch quyển sách này.
61. Gilman, L., Toscinini and Great Music, p.2
62. Ante, p.33
63. Kipling, R.
64. James, W, The Varieties of Religious Experience, pp.290-291
65. Ante, pp.59-62
66. Xem bài in lại trong The Reader's Digest February 1922 nhan đề “How to Keep Young Mentally”
67. Xem phía sau các trang 97 và tiếp theo
68. Ante, p.42
69. Ante, p.31-32. Việc sử dụng trọn-vẹn bảng liệt-kê các gợi ý này cần gồm luôn phần giải thích cũng như nhận xét. Do đó, chỉ có các giai đoạn nào cần theo dõi cho đến điểm này mới cần được lưu ý. Các gợi ý còn lại nên được ghi nhớ như những chỉ dẫn trong tiến-trình lý giải.
70. Tác-giả rất tiếc vì khuôn khổ quyển sách không cho phép đưa ra các thí-dụ chi tiết ở điểm này về nhiều giai đoạn khảo sát Tuy nhiên, quý độc-giả sẽ thấy một bảng liệt-kê các nhận xét về Thi Tv 23:1-6 trong đoạn đề-cập công tác lý giải. Quý độc-giả cũng thấy nhiều thí-dụ về công tác khảo sát cách cấu trúc trong phần Phụ lục. Tác-giả mong rằng như thế cũng đã đủ.
bottom of page
