top of page

Chương 2: GIẢI NGHĨA (2)

HungT

Jul 6, 2026

Tác-giả: Robert A. Traina



- Yếu tố tâm lý


Vì từng trải của con người siêu vượt trên cách diễn tả bằng văn chương của họ, nhà giải kinh chân chính sẽ mở rộng việc sưu tầm của mình ra xa hơn là hiện tượng ngôn ngữ của họ. Ông ta sẽ đi tìm nơi các tình cảm, các ham muốn, các hoài bão, các động cơ thúc đẩy, các tư tưởng và các thái độ nữa. Ông ta sẽ đặt việc phát giác ra phần tự-ý-thức-về-mình của các trước giả và nhân vật trong Kinh Thánh làm đối tượng nghiên cứu. Ông ta sẽ cố nhìn xa hơn các biểu tượng nhằm thấu đạt được thực tại, tức là sự từng trải mà phần văn chương trong Kinh điển chỉ là sản phẩm và là phương tiện để nói lên mà thôi.


Một thí dụ về cách áp dụng yếu tố tâm lý này là việc nhà giải kinh nhấn mạnh rằng mọi hành động và phản ứng của con người đều có thể cho là do các điều kiện của định luật về nguyên nhân đầy đủ. Chẳng hạn khi nhà giải kinh nghiên cứu các lời nói và hành vi của Chúa Giê-xu, ông ta sẽ biết là chúng đều giả định trước là có một thứ tự ý thức nào đó. Hơn nữa, ông ta sẽ biết rằng sự tự ý thức của Chúa Giê-xu phải được lý giải sao cho thật đầy đủ so với những cách bộc lộ của nó, và rằng các bộc lộ ấy sẽ phù hợp với sự tự ý thức đã làm nảy sinh ra chúng. Ông ta sẽ nhận thức được rằng muốn giải nghĩa sự tự ý thức của Chúa Giê-xu mà không cung cấp đầy đủ phần nguyên nhân khiến nó bộc lộ ra ngoài, tức là vi phạm các nguyên tắc của kinh nghiệm. Và ông ta sẽ biết rằng vi phẩm các định luật tâm lý cũng là giải sai Kinh điển.


Thật là một điểm hay khi ý thức được nguy cơ của chủ quan tính trong việc sử dụng yếu tố tâm lý để bình giải Kinh Thánh. Tuy nhiên, cần nhớ rằng một nguy cơ như vậy không phải là cần thiết cho chính yếu tố ấy. Nếu khi sử dụng nó mà người ta biết thận trọng, thì cuối cùng, người ta sẽ có được những cái nhìn xuyên suốt quan trọng vào chân lý của Kinh điển (62).


- Các hàm ý về ý (thức) hệ


Yếu tố lý giải này liên hệ mật thiết với yếu tố trước, ở chỗ là cả hai đều đặt cơ sở trên việc quyết đoán rằng mọi giao lưu giữa loài người - kể cả trong văn chương - đều có các giới hạn của nó. Chẳng hề có cách diễn tả nào có thể công nhiên nói ra được hết tất cả những gì đang có trong tâm trí của trước giả. Do đó, muốn thấu hiểu một câu văn thì người ta phải làm một điều gì đó vượt hẳn việc chỉ đọc nó bằng mắt mà thôi.


Điều này không những chỉ nghiệm đúng liên hệ với các yếu tố tâm lý, mà cũng nhhiệm đúng với phương diện ý tưởng nữa. Văn chương của Kinh điển hàm chứa nhiều ngụ ý chẳng bao giờ được vạch ra một cách minh nhiên. Và điều còn có ý nghĩa hơn nữa, là một số các hàm ý ấy lại còn có tính cách căn bản và quan trọng hơn cả các ý niệm và sự kiện đã được diễn tả một cách công khai.


Thí dụ Kinh điển đoan quyết ngay từ đầu việc con người ta vốn tự ý thức về sự hiện hữu của Thượng Đế. Chẳng có thể nào trong Sáng thế ký chương 1 lại có một câu bảo rằng Thượng Đế thực hữu, thế nhưng về mặt luận lý thì sự kiện ấy là cần thiết cho tất cả các sự kiện khác. Nếu không có nó, sẽ không thể nào có công trình sáng tạo được. Như vậy, khi ta khảo xét các nền móng thuần lý của từ"dựng nên” (bara: sáng tạo), ta phát giác ra rằng nó giả định trước nhiều hơn là điều nó công khai khẳng định, hay nhiều hơn điều nó công khai nói rõ trong chương sách ấy Và nếu có ai bỏ qua các hàm ý khi lý giải là người ấy đã không thấy được điều vốn còn căn bản hơn những gì đã được diễn tả rõ ràng phân minh.


Nếu quý độc giả nóng lòng muốn thử nghiệm tầm quan trọng của các hàm ý về ý (thức) hệ cũng như muốn phát triển khả năng, phát giác ra chúng của mình, xin hãy khải xét một khúc sách như SaSt 13:1-14:24 hay 18:1-19:38 từ quan điểm của những lời khẳng định mà Áp-ra-ham đã đưa ra về đặc tính của Thượng Đế. Xin quý độc giả cũng lưu ý đến các hàm ý của những từng trải đã được ghi lại trong mấy khúc sách đó. Một khi ta đã nhìn vào các chương sách đã đề cập dưới làn ánh sáng ấy, ta sẽ nhận thấy chúng tiết lộ càng nhiều điều về Áp-ra-ham và về ý niệm về Thượng Đế của trước giả, hơn hẳn những gì mình phát giác được trong những câu viết minh nhiên liên hệ đến đặc tính của Ngài (63)


- Diễn tiến của sự mặc khải


Trong công tác giải kinh, phải biết rằng việc Thượng Đế tự tiết lộ những gì có trong Kinh điển đều nằm trong yếu tố tiệm tiến. Điều này chẳng những chỉ nghiệm đúng trong sự chuyển biến từ Cựu ước sang Tân ước, mà cả trong lời mặc khải được tìm thấy bên trong cả hai phần Cựu và Tân ước nữa.


Diễn tiến của sự mặc khải được tìm thấy trong Kinh điển chẳng bao giờ là tĩnh tại cả; trái lại đó là một sự kiện năng động. Thật vậy, ta có thể nói rằng thỉnh thoảng nó còn thoái bộ, chớ không phải là có tiến bộ. Nhưng nó vẫn biến chuyển và biến chuyển luôn từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn diện, từ tạm thời đến chung cuộc.


Nếu quả đúng như thế, thì ta chẳng bao giờ nên giải nghĩa Cựu ước dường như đó là Tân ước, chẳng khác gì một người đọc tờ nhật báo từ năm trước dường như nó là tờ nhật báo mới xuất bản ngày hôm nay. Nhưng điều này không hàm ý rằng Cựu ước đã hoàn toàn lỗi thời rồi, do đó, là vô giá trị. Vì ngay đến các số nhật báo cũ cũng được người ta giữ lại vì chúng đóng góp rất nhiều vào việc tìm hiểu những gì đang xảy ra hôm nay. Đối với Tân ước, Cựu ước cũng đang thực thi cùng một chức năng như thế. Nhưng điều này có nghĩa là Cựu ước là phần chuẩn bị và cục bộ trong khi Tân ước mới là phần ứng nghiệm; thành tựu chung cuộc. Nếu quả đúng như thế, thì điều thiết yếu là ta chẳng bao giờ nên lý giải cái chưa hoàn tất dường như nó đã hoàn thành rồi, phần chuẩn bị dường như mọi việc đều đã xong xuôi. Sau hết, ý niệm về Thượng Đế của Tân ước không thể đưa vào Cựu ước. Nếu không tuân thủ nguyên tắc cơ bản này, tức là chắc chắn sẽ lượng giải vậy.


Những lời phát biểu liên hệ đến hai phần lớn của Kinh điển này, đều được chính cả Cựu ước lẫn Tân ước hậu thuẫn cho. Cả hai đều đòi hỏi một phương pháp tiếp cận như thế bằng chính bản tính và những câu khẳng định trong đó. Cựu ước là cũ còn Tân ước là mới. Cựu ước luôn luôn nhìn tới phía trước; Tân ước chỉ lại phía sau. Thật vậy, toàn thể ý niệm về con người của Chúa Giê-xu trong Tân ước đều nằm trong nguyên tắc này. Trước giả thư Hy-bá trong HeDt 1:1-4 đã vạch rất rõ sự kiện này. Luận đề của ông là nếu Chúa Giê-xu quả thật là Con Thượng Đế, thì về bản thể, Ngài giống y như Cha Ngài. Và Đấng mà yếu tính chẳng khác chi với Thượng Đế cả thì đương nhiên cũng là người bày tỏ, tiết lộ về Thượng Đế trọn vẹn, đầy đủ nhất. Vì chẳng những Ngài bày tỏ, tiết lộ Thượng Đế mà thôi, mà còn là chính Thượng Đế được bày tỏ, tiết lộ nữa. Trước giả thư Hy-bá bảo rằng nếu điều này là đúng, thì tất cả những mặc khải trước đều chỉ là phôi thai và bất toàn, chức năng của chúng là phục vụ như những nhà tiền khu, những người đi trước để dọn đường cho sự mặc khải đầy đủ trọn vẹn và cuối cùng, dứt khoát này. Theo quan điểm này, thì đặt việc tự bày tỏ ra của Thượng Đế trong Cựu ước ngang hàng với việc Ngài tự bày tỏ ra trong Tân ước đúng ra là phải nhận địa vị Con Thượng Đế của Chúa Giê-xu. Mà phủ nhận Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế là phủ nhận chính yếu tính của Tân ước, trong đó Địa-vị-làm-Con (Thượng Đế) của Ngài là tâm điểm và dứt khoát. Như thế, tuy cả Cựu lẫn Tân ước đều làm chứng cho cùng một Thượng Đế, chính chúng đều nhấn mạnh rằng lời chứng của Tân ước và Chúa Cứu Thế của phần Kinh điển ấy phải được lý giải là nổi bật hẳn lên, vượt xa lời chứng của Cựu ước.


Tuy nhiên, thiết tưởng cũng cần nhấn mạnh thêm rằng đọc Tân ước như trước nó chẳng bao giờ có Cựu ước, hay đọc Cựu ước dường nhưđó chính là Tân ước, hay đọc Cựu ước dường như đó chính là Tân ước, thì đều sai lầm như nhau. Đừng bao giờ lý giải giai đoạn chuẩn bị dường như đó là một công trình đã hoàn tất; nhưng cũng đừng bao giờ lý giải một công trình đã hoàn thành dường như nó chẳng hề có giai đoạn chuẩn bị nào cả. Sự đóng góp của Cựu ước là cần thiết cho việc thấu hiểu trọn vẹn Tân ước. Do đó, nhà giải kinh phải làm quen với các từ ngữ, các biểu tượng các hoài bão và nền thần học của Cựu ước, nếu muốn chiếm hữu kho báu hết sức phong phú của Tân ước làm tài sản riêng cho Kinh điển đòi hỏi như vậy.


Yếu tố mặc khải tiệm tiến trong cả hai phần Cựu và tân ước cũng phải được chú trọng trong công tác giải Kinh. Thí dụ sách Sáng Thế Ký không thể được lý giải dường như phần mặc khải trong đó thuộc cùng một bình diện với sự mặc khải trong sách Ê-sai. Tuy hai giai đoạn này có liên hệ hữu cơ với nhau, giai đoạn của các sách tiên tri vốn siêu vượt trên giai đoạn của các vị tộc trưởng về mặt tự bày tỏ mình ra của Thượng Đế.


Nhưng có điều chẳng có gì để nghi ngờ, là việc áp dụng ý niệm mặc khải tiệm tiến đã dẫn đến hậu quả là có nhiều kết quả sai lầm. Nhưng ở đây cũng như trong nhiều trường hợp khác, lầm lỗi vốn không do chính phần nguyên tắc, mà đúng hơn là do cách áp dụng sai lầm. Sử dụng sai lầm phần nguyên tắc sẽ dẫn đến nguy hiểm là lẽ tất nhiên; mà bỏ qua nó đi thì cũng nguy hiểm nữa.


Vì chính quan điểm của Kinh điển phải được chú trọng trong công tác giải kinh. Còn quan điểm mà bộ sách ấy luôn luôn làm chứng cho, ấy là Thượng Đế tự bày tỏ mình ra cho loài người một cách tiệm tiến. (64)


- Nhất quán tính hữu cơ


Tính hài hòa thiết yếu của các sách trong Kinh Thánh là một trong những nguyên tắc quyết định cho việc hình thành công tác điển chế Kinh điển (canon). Và một người càng nghiên cứu kỹ bộ sách ấy, sẽ cùng bị thuyết phục về thực tại của nhất quán tính căn bản của nó.


Nếu sự tin tưởng này là đúng, thì cách giải kinh rất có giá trị là dùng Kinh điển để giải nghĩa Kinh điển. Khi làm như thế, ta phải cẩn thận để tránh hai nguy cơ: một là kết hợp những khúc sách không giống nhau và chẳng ăn nhập gì với nhau cả; và hai là bỏ qua yếu tố mặc khải tiệm tiến. Nếu theo một phương diện, số tài liệu có thể đem so sánh đối chiếu với nhau cần được đem ra sử dụng nhất là theo đúng vị trí lịch sử của chúng, thì yếu tố này sẽ rất có lợi để có được cái nhìn xuyên suốt, thông tuệ vào các khúc sách trong Kinh điển.


Nguyên tắc về nhất quán tính hữu cơ cũng hữu ích để sửa lại việc lý giải sai lầm. Vì nếu thành phần trong Kinh điển như các sách Phúc âm cần phải nhất trí với nhau đều được lý giải dường như chúng mâu thuẫn nhau, thì người ta có quyền thắc mắc đặt vấn đề về tính cách thuần chánh đứng đắn của cách lý giải của mình. Và người ta vẫn thường nhận thấy rằng nếu các dữ kiện đều được xem đi xét lại thật nghiêm chỉnh và chân thành, thì những điểm dường như mâu thuẫn đó sẽ không còn nữa.


Thật vậy, nhân danh nhất quán tính căn bản của Kinh điển, cần phải quả quyết là không hề có những mâu thuẫn cơ bản trong bộ sách ấy, cho dù có đem nhiều khúc sách trong đó ra để so sánh, đối chiếu với nhau. Chúng có thể khác nhau - và một số những điểm dị biệt ấy sẽ được ghi nhận về sau (65) - nhưng những điểm ấy đều không phải là bản tính cốt yếu. Sự kiện này sẽ dẫn công tác giải kinh


- Quan điểm quy nạp về linh cảm


Công tác giải kinh đứng đắn (sound: thuần chánh) không thể có được ngoài việc cho phép Kinh điển phải có bản tính phân loại (dual natrue). Vì chính bộ sách ấy chứng thực sự kiện nó gồm có sự mặc khải của Thượng Đế, được thực hiện qua công cụ là con người. Do đó, phải nhớ rằng phần thần cảm (Divine inspiration: nguồn cảm hứng do Thượng Đế ban cho) rất quan trọng cho kinh nghiệm để tạo ra bộ Kinh điển, vốn không nảy sinh từ hư vô. Thượng Đế đã hành động qua các tác nhân là những con người, vốn có một số khả năng tinh thần và một số các tài năng khác nữa, mà từng trải tôn giáo của họ vốn có một phẩm chất nào đó; họ sống trong một môi trường nào đó gồm có một số các yếu tố địa lý, xã hội, chính trị kinh tế và tôn giáo và cũng thừa hưởng được một phần di sản nào đó. Và các yếu tố lịch sử đặc thù đó không khỏi có ảnh hưởng trên văn thể của Kinh Thánh.


Thật vậy, có thể nói thật hợp pháp, hợp lý rằng chính Thượng Đế đã bị các phẩm cách và khả năng cá nhân cũng như thời đại đặc thù của những nhân vật mà Ngài đã tự bày tỏ mình ra và tuyển chọn để làm công cụ cho Ngài đó, hạn chế một phần nào. Đây là sự thật vì chính Thượng Đế đã thu xếp việc ấy bằng chính bản tính mà Ngài đã ban cho loài người. Và vì Ngài sẽ không phá hủy, triệt tiêu điều mà Ngài đã sắp xếp từ khởi thủy, cho nên Ngài cũng không tiêu hủy cá tính độc đáo của những người được Ngài linh cảm.


Dành một chỗ phải lẽ cho phương diện con người trong việc linh cảm Kinh điển làm sáng tỏ lý do khiến nhiều yếu tố đã được đề cập từ trước cho đến đây liên hệ với vấn đề giải kinh. Thí dụ nó dùng để giải thích các thể văn khác nhau. Phao-lô không thể làtrước giả thư La-mã. Những điểm dị biệt về tài năng và tuổi tác cá nhân là nguyên nhân của việc sử dụng phần ngôn ngữ độc đáo và một số các biểu tượng, các thành ngữ và phong tục tập quán. Nhu cầu phải xét kỹ bản tính tiệm tiến của sự mặc khải cũng là do yếu tố này. Việc phát triển điều mà Thượng Đế tự bày tỏ Ngài ra cho con người vốn không do sự tăng trưởng về trí tuệ và thuộc linh của chính Ngài, mà đúng hơn, nó sở dĩ cần thiết là do các giới hạn của con người mà chính Thượng Đế không thể bỏ qua, không tôn trọng. Loài người vẫn chưa sẵn sàng tiếp nhận sự mặc khải đầy đủ của Thượng Đế trước khi đã được chuẩn bị sẵn sàng để tiếp thu nó (66). Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng loài người không thể được thay đổi; nhưng cả khi làm cái công việc sẽ đưa đến kết quả là biến hóa họ, Thượng Đế vẫn bị hạn chế do một số nét đặc trưng và hoàn cảnh của con người. Do đó mà quan điểm của một người về sự mặc khải phải dành cho thích hợp cả cho Thần tính lẫn nhân tính của Kinh điển. Vì chính đặc tính của Kinh điển đòi hỏi điều đó.


- Phê bình văn bản


Vì chúng ta không còn có một tài liệu nguyên thủy nào liên hệ đến Kinh điển cả, cho nên thỉnh thoảng cần sử dụng phương pháp phê bình văn bản hay “cấp thấp” để khẳng định nghĩa đúng của một bản văn. Có ba bước căn bản phải theo tiến trình này. Một là cổ bản được xem là chứng cứ hiển nhiên được sưu tập, tra cứu và đánh giá. Trong công tác đánh giá, có khuynh hướng tôn trọng các cổ bản xưa nhất. Hai là khi tính cách hiển nhiên căn cứ vào các cổ bản không được rõ ràng dứt khoát ý nghĩa phù hợp nhất với văn mạch sẽ được chọn. Và ba là, nếu chẳng có chứng cứ hiển nhiên nào do cổ bản hoặc yếu tố nào của văn mạch giúp giải quyết dứt khoát được, thì nghĩa bất thường sẽ được ủng hộ. Sở dĩ như vậy là vì rất ít khi một bản văn có thể bị thay đổi khiến nó có thể có nghĩa bất thường, trong khi người ta vẫn có thể hiểu được thế nào một người sao chép rất có thể thay đổi nó nhằm mục đích khiến cho nó rõ nghĩa hơn hoặc hài hoà với điều mà dường như lý trí (lẽ phải) đòi hỏi (67)


Sau đây là một số tác phẩm có thể nghiên cứu để làm quen với các yếu tố trên (xem 7 tác phẩm được liệt kê ở trang 161 của nguyên tác)


- Các lý giải của những người khác


Việc tra cứu các quan điểm của các nhà giải kinh khác được sử dụng nhằm hai mục đích: một là nó đặt chúng ta đối diện với một số các yếu tố lý giải có thể đã bị ta bỏ qua hoặc giải sai; và hai là nó cho ta thấy các kết luận giải kinh của nhiều người khác, mà phần đông vốn là các chuyên gia đã đưa ra khi sử dụng các dữ kiện sẵn có. Cả hai chức năng này đều quan trọng, nhưng chính điều sau mới đáng quan tâm trước nhất tại điểm này.


Liên hệ với vấn đề này, Dana có đưa ra những lời phát biểu đầy ý nghĩa:


Giải kinh là một tiến trình xã hội. Các kết quả tốt đẹp nhất chỉ được thành tựu nhờ sức cộng tác của nhiều tâm trí. Các kết quả của những học giả trong một thời đại là di sản tự nhiên và hợp pháp của những người cùng lao khổ trong cùng một lãnh vực với các thời đại ấy sử dụng. Chẳng hề có nhà giải kinh Tân ước nào lại có thể khôn ngoan đến mức chẳng đếm xỉa gì đến các kết quả mà các thế hệ trước đã tạo ra được và xóa sạch tất cả để chỉ hoàn toàn đưa ra những câu kết luận độc lập và độc sáng về mọi phương diện. Người ấy phải làm quen càng được nhiều chừng nào càng tốt chừng nấy với những gì đã được thực hiện về trước... Những quyển chú giải đã được giới học giả của quá khứ tạo ra họp thành một phần thiết yếu của số tài liệu sử dụng cho việc giải kinh (68)


Cần đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khảo xét các quan điểm giải kinh trong lịch sử liên hệ đến một khúc sách nào đó. Nghĩa là, chẳng những ta chỉ phải đọc các nhà giải kinh hiện đại hay cận đại mà thôi, nhưng còn phải cố gắng tìm ra những lời giải nghĩa do các nhân vật lỗi lạc từng chủ trương trong sử ký Hội thánh Cơ-đốc. Điều này đặc biệt cần thiết khi ta đang nghiên cứu một đoạn khó hiểu, có thể giải nghĩa theo nhiều cách.


Quý độc giả cần ghi nhận vị trí tương đối của yếu tố giải kinh này trong bảng liệt kê. Theo ý nghĩ của nhiều người bước đầu tiên vào việc nghiên cứu Kinh Thánh toàn bộ cũng như một tiến trình lý giải là phải tra cứu các nguồn tài liệu thứ yếu. Quyển sách chỉ nam này đã gợi ý việc đó cả trong việc nghiên cứu đúng phương pháp nói chung, lẫn trong giai đoạn lý giải riêng biệt, là công tác nghiên cứu trực tiếp Kinh điển phải đứng hàng đầu về mặt trật tự cũng như về thứ hạng.


Chúng tôi đã vạch rõ một số các lý do chủ yếu để nhấn mạnh như thế rồi (69). Việc còn lại chỉ là làm sáng tỏ còn có những yếu tố nào liên hệ với việc bình giải nữa. Điều này không hề hàm ý rằng việc khảo sát chính văn bản theo thói quen nhằm nhận xét và lý giải được gợi ý từ trước cho đến đây đều phải thực hiện thật xong xuôi, rốt ráo cả trước khi có thể nhờ đến các bộ sách chú giải. Trái lại, nó nhấn mạnh sự kiện việc nghiên cứu cá nhân phải là bước đầu tiên. Sau khi đã dành riêng một số thì giờ phải lẽ cho việc đó rồi, thì nhà giải kinh phải tra cứu các nguồn tài liệu phụ. Và sau khi đã tra cứu một phần các nguồn tài liệu phụ rồi, phải có việc quay lại với công tác nhận xét và lý giải ban đầu. Sau đó, tiếp theo có thể là việc khảo xét kỹ hơn ý kiến của các nhà giải kinh. Như vậy, nhà giải kinh cứ lao vào một chu kỳ cứ tái diễn chẳng bao giờ ngừng nghỉ, nhất là từ quan điểm tra cứu trực tiếp đầu tiên. Như thế, phần nghiên cứu trực tiếp đầu tiên được dùng làm bước khảo sát và lý giải đầu tiên cũng như cho những lần luôn luôn quay trở lại sau này. Hệ quả của phương pháp tiếp cận này sẽ là việc nghiên cứu Kinh Thánh bao giờ cũng tươi mới, hăng say và nhiều kết quả mà người ta không thể đạt tới được bằng một cách nào khác (70).


Để tóm tắt, đây là nguyên tắc vốn là nền móng của mọi công trình giải kinh chân chính: việc giải nghĩa Kinh điển phải phản ảnh chính bản tính và các đòi hỏi của Kinh điển. Các đặc tính và cái nhìn hướng ngoại của chúng phải nói lên cần sử dụng các yếu tố nào trong khi chúng giảng giải. Thí dụ, bởi vì chúng liên hệ với các vấn đề thuộc linh, chúng đòi hỏi phải có sự mẫn cảm thuộc linh trong khi lý giải. Vì Kinh Thánh là cả một thư viện, mỗi quyển sách trong đó vốn do một nhân vật nào đó, sống trong một hoàn cảnh nào đó, sử dụng một thứ ngôn ngữ và một thể văn nào đó viết ra, cho nên hệ quả là những điều đó và những nhận xét có liên hệ với chúng phải được lợi dụng trong tiến trình lý giải. Nếu nguyên tắc giải kinh căn bản này được dùng làm nền móng cho mọi công trình bình giải Kinh Thánh, thì kết quả sẽ là một lối lý giải phù hợp với Kinh điển.


Nhiều sự kiện cần lưu ý liên hệ đến các yếu tố quyết định này.


Thứ nhất, chúng vốn liên hệ hỗ tương, một số yếu tố này nhiều hơn một số khác. Bất chấp sự kiện này, có một nỗ lực nhằm phân biệt chúng, vì một phân tích như thế có giá trị giúp ta ý thức các yếu tố khác nhau đang chi phối việc lý giải.


Thứ hai, phần thảo luận về các yếu tố quyết định của công tác giải kinh này chỉ là sự gợi ý cần thiết. Ngoài các tác phẩm đã nêu liên hệ với các yếu tố cá nhân, quý độc giả được khuyến giục nên nghiên cứu một hoặc nhiều hơn nữa các tác phẩm về giải kinh sau đây:


Dana, Searching the Scriptures


Davidson, Sacred Hermeneutics


Fairbairn, Hermeneutical Manual


Lund, Hermeneutics


Terry, Biblical Hermeneutics


Thứ ba, các yếu tố đã được mô tả là khách quan có thể được phân loại thêm là chẳng hay chúng vốn nằm bên trong hay bên ngoài văn bản. Thí dụ các mối liên hệ về văn mạch là nội tại, trong khi phần bối cảnh lịch sử chứa đựng các yếu tố ngoại tại.


Thứ tư, phụ liệu để bình giải này có tầm quan trọng khác nhau, tùy thuộc phần nào vào khúc sách cá biệt cần lý giải. Hơn nữa, bản tính của đơn vị được nghiên cứu cũng như bản tính của số phụ liệu sẽ quyết định phụ liệu nào phải được lưu ý đưa vào, phụ liệu nào chỉ ứng dụng ngầm mà thôi, và phụ liệu nào là không phù hợp.


Thứ năm, việc liệt kê các yếu tố quyết định này không hàm ý có một công thức cứng nhắc để lý giải. Không hề có sự trông mong rằng ta phải lần lượt thay phiên nhau xem xét từng yếu tố một mỗi lần muốn lý giải một từ. Trái lại, chủ đích của chúng là giúp quý độc giả phát triển các bản năng lý giải. Thật vậy, mỗi người có thể cảm thấy mình cần phải ứng dụng một cách tận tình, có ý thức từng yếu tố một mỗi lần, cũng như người tập lái xe vậy. Nhưng chủ đích tối hậu khi làm như thế là giải kinh, cũng như việc lái xe, có thể trở thành một vấn đề của bản tính thứ hai (71).


Thứ sáu, ta phải hết sức dè dặt khi ứng dụng các yếu tố quyết định này. Độc giả không nên suy diễn rằng khi nghiên cứu mọi thành phần trong Kinh Thánh, người ta phải vét cùng vắt kiệt tất cả trước khi tiến sang giai đoạn nghiên cứu kế tiếp. Ta phải biết chọn lọc cả trong các câu hỏi dẫn tới công tác lý giải và các câu hỏi cần được trả lời, lẫn trong việc lợi dụng các yếu tố nào đang thống trị các câu trả lời cho chúng.


Thứ bảy, vì thiếu chỗ cho nên một số yếu tố quyết định chỉ được kể ra mà chưa được trình bày đầy đủ về các đặc điểm làm cơ sở cho chúng. Chúng tôi không hề trông mong các cơ sở ấy sẽ được chấp nhận nếu quý độc giả không chịu nghiên cứu chúng theo phương pháp quy nạp. Tập tài liệu này chỉ trình bày các kết quả công trình nghiên cứu quy nạp của tác giả liên hệ đến yếu tố cuối cùng phải được xét đến trong việc bình giải rốt ráo bất kỳ một khúc sách nào cũng như tất cả các khúc sách (72)


2. Hình thành các câu trả lời nhằm mục đích lý giải.


Nhiều khuyết nhược điểm thường xuất hiện trong tiến trình lý giải. Một trong các khuyết nhược điểm ấy là sự kiện nhà giải kinh thường tắc trách làm liều và vô tổ chức trong nhiệm vụ do không phát triển một phương pháp tiếp cận đúng phương pháp để có thể lợi dụng khi lý giải một khúc sách. Một khuyết nhược điểm khác nữa là không biết các yếu tố đã được sử dụng để lý giải. Ông ta không biết đúng ra mình đang làm gì, tại sao mình bị làm như thế, hay mình phải làm gì, vì đã không phân tích cẩn thận các phụ liệu, cấu thành việc lý giải. Liên hệ với cả hai khuyết nhược điểm trên là việc không bình giải thật rốt ráo. Vì người ta chỉ ứng dụng các yếu tố tình cờ xảy ra cho mình đúng lúc ấy, hoặc vì người ta không tự biết mình trong tiến trình bình giải, cho nên người ta rất thường quên lợi dụng một vài yếu tố quyết định đáng lẽ có thể làm thay đổi phần cốt yếu của công tác lý giải của mình.


Trong khi tìm lời đáp cho các câu hỏi dẫn đến việc lý giải, quý độc giả được khuyến cáo phải cảnh giác đối với các khuyết nhược điểm ấy, cũng như các khuyết nhược điểm liên hệ. Chúng tôi đề nghị hãy dùng phần nhân tính các phụ liệu để bình giải trên đây làm nền móng nhằm khai triển một phương pháp tiếp cận đúng phương pháp tự ý thức và triệt để cho công tác giải kinh có thể chắc chắn đạt được mục tiêu của nó.


C. Tóm tắt và đúc kết công tác lý giải


Sau khi các câu hỏi quan trọng dẫn đến việc lý giải được đặt ra liên hệ đến một đơn vị đã được giải đáp vấn đề còn lại là đúc kết các câu trả lời khác nhau để đạt đến bức thông điệp chủ yếu của khúc sách. Nhiều khi việc làm này ít nhất cũng đã được thực hiện một phần khi trả lời các câu hỏi nhằm bình giải, vì một số có thể vốn có sẵn bản tính đúc kết rồi. Dầu sao thiết tưởng cũng nên nói rõ ràng vào một vài giai đoạn nào đó, việc đúc kết phải xảy ra, và sau đó, là một sự đúc kết như thế phải được diễn tả bằng hình thức tóm tắt.


Có rất nhiều kỹ thuật có thể sử dụng để đúc kết và tóm tắt công tác giải nghĩa một khúc sách, mà một số sẽ được trình bày sau đây.


1. Lắm khi liệt kê các chân lý chủ yếu được tìm thấy trong một đơn vị Kinh điển sẽ rất hữu ích. Làm như thế, người ta có thể phân biệt được một hoặc các chân lý nổi bật với các chân lý phụ thuộc.


2. Ta có thể nhấn mạnh luận đề chủ yếu của một khúc sách bằng cách dùng một tiểu mục hay một mệnh đề có tính cách mô tả. Thí dụ việc lý giải Ês 5 có thể tóm tắt bằng tiêu đề “Điều tốt lành nhất của Thượng Đế, và điều tệ hại nhất của dân Y-sơ-ra-ên”. Hoặc ý niệm đầu tiên về sách Giô-suê có thể được nhấn mạnh bằng mệnh đề “Việc chinh phục Ca-na-an đã được thực hiện bằng việc Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên trông cậy vào Đức Giê-hô-va là Đấng cần thiết và có thể trông cậy”.


3. Nếu ta đang làm việc với một đoạn sách ngắn (segment), nhất là theo thể tản văn thuật sự, dùng các tiểu mục có tính cách phân tích hoặc lý giải một phân đoạn sẽ có lợi cho chúng ta (73)


4. Việc sử dụng một bố cục thường giúp được người ta đúc kết và tóm tắt một khúc Kinh điển. Phần bố cục được dùng có thể theo đề mục hoặc theo diễn biến lý luận tùy bản tính của khúc sách. Nói chung, thì một bố cục theo đề mục không thể được dùng để tóm tắt những khúc sách có tính cách lý luận như trong các thư tín của Phao-lô; vì một bố cục theo đề mục không thỏa mãn được một chuyển động lý luận. Phương tiện được sử dụng để tóm tắt phải hợp với bản tính của khúc sách đang được khảo sát (74)


5. Cách diễn ý có thể cớ lợi cho trường hợp ấy (75)


6. Biểu đồ cũng là một phương tiện hữu ích để đúc kết và tóm tắt (76)


7. Ta có thể sử dụng hình thức khảo luận ở đây. Ta có thể viết một hoặc nhiều phân đoạn về một đơn vị. Có một số các câu hỏi đúc kết căn bản có thể được sử dụng làm kim chỉ năm. Sau đây là hai câu hỏi trong số đó “Cách cấu trúc của khúc sách cho thấy chủ đích và bức thông điệp được lồng trong đó như thế nào? Đâu là những đóng góp quan trọng của một khúc sách vào cách cấu trúc của đơn vị lớn hơn mà nó là một thành phần?”


IV. VÀI LOẠI LÝ GIẢI SAI LẦM


Nhằm làm sáng tỏ hơn nhỡng gì đã tham dự vào công tác bình giải chính xác chúng tôi sẽ cố gắng liệt kê và thảo luận vắn tắt vài phương pháp lý giải sai lầm đã được dùng trong lịch sử Hội thánh Cơ-đốc. Cần lưu ý là mỗi phương pháp như thế đều ẩn chứa một chân lý nào đó, hay ít ra cũng phần nào có một nguyên nhân hợp lý làm động cơ thúc đẩy. Sẽ có một cố gắng để chỉ ra phần nào trong đó là đúng. Sự kiện những cách làm đó vẫn bao gồm một số yếu tố của chân lý được dùng để cảnh giác chúng ta rằng việc bình giải sai lầm thường là hậu quả của việc nhấn mạnh thái quá vào một giai đoạn tuy đúng nhưng không bao quát được tất cả của công tác giải kinh (77)


A. Lý giải manh mún


Người lý giải manh mún xem Kinh điển dường như chỉ là một bộ sưu tập các câu rời rạc, cô lập, mỗi câu có thể được hiểu riêng rẽ đối với văn mạch rộng lớn và cận tiếp hơn của nó. Việc làm ấy một phần là do cách chia phần Kinh Thánh một cách độc đoán thành chương và câu. Hơn nữa, có nhiều lúc, khi không thể trích dẫn cả những khúc sách dài, cho nên việc làm đơn giản và thuận tiện nhất là chủ dùng một hoặc hai câu mà thội. Việc làm này nhiều khi đưa tới việc bỏ qua bối cảnh của văn mạch của nhiều câu Kinh Thánh.


Có một sự kiện là chính các chức sắc của Cơ-đốc giáo lại thuộc vào số người vi phạm điều này tệ hại nhất. Họ thường lấy một từ, một thành ngữ hay một nhóm từ trong Kinh điển làm một bản văn, và sau đó hoàn toàn chẳng đếm xỉa gì đến phần bối cảnh phù hợp với cách dùng từ ấy, thành ngữ ấy hay nhóm từ ấy. Và nếu các vị chức sắc của Cơ-đốc giáo lại hay vi phạm bằng cách làm như thế, thì người ta có thể trông mong gì nơi các thành viên tín đồ của họ, vốn bị lệ thuộc vào họ để hướng dẫn họ trong công tác giải kinh? (78)


B. Lý giải độc đoán


Loại lý giải này có chủ đích tìm sức hậu thuẫn trong Kinh điển cho một vài giáo điều độc đoán đã được thừa nhận. Hậu quả là Kinh Thánh bị giải nghĩa để ủng hộ cho một số tin tưởng nào đó, còn bất luận cách lý giải nào có thể phủ nhận các niềm tin ấy đều lập tức bị bác bỏ một cách độc đoán. Một phương pháp tiếp cận như thế thường có liên hệ với cách bình giải manh mún ở chỗ nó sử dụng các văn bản đã bị tách rời khỏi văn mạch của chúng để chứng minh, hậu thuẫn cho một số các giáo điều. Cả hai phương pháp tiếp cận manh mún và độc đoán đều minh họa sự kiện Kinh điển có thể bị lạm dụng để chứng minh bất cứ điều gì.


Tuy nhiên, cả hai loại lý giải sai lầm này cũng có một yếu tố chân lý trong chúng. Vì chúng chấp nhận cái nguyên tắc là phải nhờ vào Kinh Thánh là bộ sách có thẩm quyền mà các Cơ-đốc nhân phải tin. Tuy nhiên, người ta đã không chịu khảo xét cẩn thận ý nghĩa đích thực của thẩm quyền của Kinh điển. Vì Kinh điển chỉ thật sự có thẩm quyền khi nào bộ sách ấy được dùng như làm cơ sở hình thành niềm tin của người ta, chớ không phải khi chúng chỉ được dùng để hậu thuẫn cho những lập trường độc đoán. Phương pháp tiếp cận thứ nhất bắt đầu với Kinh điển rồi mới chuyển sang các niềm tin; phương pháp tiếp cận thứ hai thì bắt đầu với các tín ngưỡng rồi mới chuyển qua Kinh điển. Trong trường hợp đầu, Kinh Thánh là thẩm quyền đích thực; còn trong trường hợp sau, thì cá nhân (lạm dụng bộ sách ấy) mới là thẩm quyền thật sự. Phương pháp tiếp cận đầu là khách quan và có giá trị; phương pháp sau là chủ quan và vô giá trị. Tóm lại, phương pháp đầu làm giáo lý, vì nó tìm trong Kinh điển các niềm tin đã chứa sẵn trong đó; phương pháp sau là giáo điều độc đoán, vì nó tự đưa ra phần quyết đoán cho các phần nòng cốt, rồi tìm sức hậu thuẫn cho chúng trong Kinh Thánh (79)


C. Lý giải duy lý.


Các nhà duy lý cố gắng lý giải Kinh điển sao cho lý trí có thể hiểu và chấp nhận bộ sách ấy. Cách giải nghĩa phép lạ hoá bánh cho năm ngàn người ăn trong tác phẩm The Robe của Lloyd Douglas là một thí dụ về loại phương pháp tiếp cận này.


Có nhiều nguyên nhân khác nhau để người ta nhấn mạnh như thế. Việc không chịu tin một số sự kiện trong Kinh Thánh như các phép lạ thường dẫn tới hậu quả là lý giải duy lý. Tuy nhiên có khi nó tiêu biểu cho việc chống lại điều không hợp lý hoặc cả thái độ nhẹ dạ đến mức phi lý mà nhiều người vẫn có đối với Kinh điển. Duy lý chủ nghĩa nhắc nhở chúng ta rằng công tác giải kinh phải bao gồm việc sử dụng lý trí (lẽ phải), và phải có một nỗ lực chân thành để lãnh hội bức thông điệp của Kinh Thánh. Tuy nhiên, người duy lý cần ý thức rằng lý trí con người vốn hữu hạn. Do đó, nó chẳng bao giờ dốc cạn được điều huyền nhiệm trong Kinh điển. Con người vốn vượt trên lý trí, và phải tiếp cận Kinh điển bằng tất cả những gì nó vốn có (89)


D. Lý giải theo thần thoại


Cách tiếp cận theo thần thoại (huyền thoại) liên hệ chặt chẽ với loại trước ở chỗ nó thường là phần biểu hiện của duy lý chủ nghĩa. Vì thường thường muốn vứt bỏ đi những gì mà lý trí không hiểu hoặc chấp nhận, người ta sẽ tuyên bố rằng một số biến cố nào đó là thần (huyền) thoại, chớ không phải là sử kiện đích thực. Do đó, chúng chỉ như phần vỏ của một trái khô để lấy hạt mà người ta có thể vứt bỏ ngay, sau khi phần chân lý thuộc linh mà nó nói lên - là phần hạt - đã được phát giác rồi.


Một phương pháp tiếp cận như thế được dùng để loại bỏ một phần rất lớn góc cạnh lịch sử của Kinh điển bằng cách nhấn mạnh rằng chẳng hề có mối liên hệ cần thiết nào giữa lịch sử và việc nói lên một chân lý thuộc linh. Điều này thường dẫn đến hậu quả là lập trường cho rằng các sách Phúc âm ghi lại huyền thoại về Chúa Cứu Thế. Một số người sử dụng phương pháp tiếp cận này chủ trương rằng sự sống lại không phải là một biến cố lịch sử có thật. Nó chỉ là một huyền thoại nhằm mục đích truyền dạy cái chân lý thuộc linh tối cao là tuy Chúa Giê-xu đã bị giết, nhưng tâm linh Ngài vẫn còn sống. Và một khi người ta đã học biết được bài học thuộc linh quan trọng này rồi, thì có thể vứt bỏ “câu chuyện” đã được dùng để diễn tả nó.


Điều hiển nhiên là một phương pháp tiếp cận như thế đã lợi dụng được một nguyên tắc rất có ý nghĩa để lý giải và đánh giá, tức là các chân lý thuộc linh được các phần thuật sự trong Kinh điển truyền thông vốn quan trọng hơn chính các phần thuật sự ấy, và do đó rằng các phần thuật sự chỉ là phương tiện nhằm vào một cứu cánh. Tuy nhiên, cho dù quả đúng là bài học thuộc linh là cứu cánh, và do đó, là quan trọng hơn phương tiện, người ta vẫn không thể đi đến kết luận rằng phương tiện thì chẳng có gì quan trọng cả. Một mặt, vẫn có khác nhau giữa cái quan trọng hơn và cái kém quan trọng hơn, nhưng mặt khác vẫn còn cái quan trọng và cái không quan trọng. Nói khác đi, thì điều vẫn thường nghiệm đúng, là phương tiện vốn gắn liền bất khả phân ly với cứu cánh. Do đó dùng hình ảnh vỏ của trái khô với hạt của nó, nhiều khi là sai. Trong một số trường hợp, nên dùng hình ảnh về trái táo thì đúng hơn. Vì tuy cỏ của trái táo là phần bên ngoài để bao bọc bảo vệ nó, người ta sẽ không thể bóc nó đi mà không gây ảnh hưởng đến yếu tính và giá trị của trái táo. Hoặc hình ảnh về một ngôi nhà có thể được dùng thật hữu lý hợp pháp. Phần nền móng của ngôi nhà là phương tiện để khiến ngôi nhà đứng vững, và sở dĩ phần nền móng đã được xây là nhằm chủ đích ấy. Tuy nhiên, khi ngôi nhà đã được xây lên rồi, thì người ta không thể đào bỏ phần nền móng đi mà khỏi đồng thời phá hủy luôn cả ngôi nhà.


Để minh họa thêm, giả sử có một người nào đó mà ta tạm gọi là ông A, đến nhà một người bạn là ông B và kể lại thế nào mình đã chịu hi sinh rất nhiều khi dâng một số tiền lớn cho Hội thánh. Trên cơ sở là sự hi sinh cá nhân đó, ông ta nài nỉ ông B cũng hãy làm như vậy để giúp Hội thánh chu toàn được các nghĩa vụ thiêng liêng của mình. Ông B rất cảm động vì tấm gương sáng và lời van nài của ông A, nên quyết định rằng mình cũng phải dâng tiền cho Hội thánh, cả khi việc làm đó có nghĩa là phải tự chối mình đi. Nhưng sau khi điều tra lại, ông ta khám phá ra rằng ông A chỉ kể lại cho ông ta một “truyệt tích” hay một “huyền thoại” về sự hi sinh dâng tiền của ông ta mà thôi. Ông A đã không hề thật sự dâng gì cả, mà chỉ bịa ra một câu chuyện để dạy ông B một bài học thuộc linh, quan trọng về một đời sống tự hi sinh đến độ quên mình đi mà thôi. Sau khi đã phát giác được sự kiện này, ông B sẽ phản ứng ra sao? Ông A có thể nào biện bạch gì để lý lẽ của ông ta có được một sức mạnh y như sức mạnh đã có khi quả quyết rằng mình đã thật sự có liên hệ với một biến cố lịch sử từng thật sự xảy ra hay không? Phải chăng câu chuyện của ông A chỉ là một phương tiện suông, có thể vứt bỏ đi mà chẳng gây ảnh hưởng gì đến cứu cánh của nó? Hay nó vốn “bị” kết hợp bất khả phân ly với phần chân lý mà nó đã nói lên? Câu trả lời chắc đã hết sức hiển nhiên! Từng trải cá nhân rất cần thiết cho bài học thuộc linh của nó. Như thế, tuy thỉnh thoảng người ta có thể dạy phần nội dung của một số chân lý bằng cách dùng huyền thoại như Plato từng làm, cần phải có các biến cố đã thật sự xảy ra trong lịch sử để hậu thuẫn cho loại động cơ thúc đẩy để người khác tin nhận và tuân thủ những chân lý như thế. Nếu huyền thoại đã có thể cung cấp được một động lực thúc đẩy như vậy, ấy chỉ vì chúng đã phản ảnh được đúng điều đã thực sự xảy ra trong kinh nghiệm con người.


E. Lý giải theo lịch sử


Quan điểm đối lập với quan điểm vừa mô tả, là phương pháp tiếp cận Kinh điển có tính cách hoàn toàn theo lịch sử. Có một số người mà trước hết, việc nghiên cứu Kinh Thánh là nghiên cứu sử ký của một số các dân tộc. Một phương pháp tiếp cận như thế không nhận thức được rằng Kinh điển hàm chứa một điều gì vượt trên cả sử ký; bộ sách ấy bao gồm sử ký với các hàm ý thuộc linh và nhằm một chủ đích thuộc linh. Sử ký là một phương tiện nhằm vào một cứu cánh. Do đó, ta không thể giới hạn tiến trình giải kinh vào việc chỉ khảo xét phần phương tiện mà thôi. Nếu muốn khám phá ra ý nghĩa đầy đủ, trọn vẹn của Kinh điển, ta còn phải ý thức về mục đích của nó nữa.


Tuy nihên quan điểm theo lịch sử nhắc nhở chúng ta cái chân lý quan trọng rằng bức thông điệp của Kinh Thánh vốn có phần nền móng là sử ký. Nó thật sự quan trọng đến mức nào, thì đã được chứng minh rồi trong phần thảo luận về cách lý giải theo huyền thoại. Tuy nhiên, cho dù phần nền móng trong lịch sử có quan trọng đến đâu đi nữa, nó vẫn chỉ là phần nền móng. Mà nền móng chỉ tồn tại vì cớ ngôi nhà được xây trên đó mà thôi (81)


F. Lý giải theo dụ ngôn


Quan điểm lý giải theo dụ ngôn thường được dùng như trong việc lý giải các ẩn dụ chẳng hạn. Thay vì giải nghĩa chúng như những ẩn dụ, nghĩa là với những điểm giống nhau được mở rộng thêm ra, những người sử dụng phương tiếp cận này lý giải chúng như những câu chuyện ngụ ngôn hay những cách ví von được mở rộng. Hệ quả là mọi chi tiết đều được gán ép cho một ý nghĩa thuộc linh (82)


Tuy nhiên, có một hình thức có ý nghĩa và nguy hiểm hơn của cách lý giải theo dụ ngôn liên quan với cách giải quyết các phần thuật sự có tính cách sử ký. Những người sử dụng phương pháp tiếp cận theo dụ ngôn thường nhìn nhận những phần thuật sự ấy là sử ký, nhưng thay vì giải nghĩa chúng theo quan điểm của bối cảnh lịch sử cụ thể của chúng, họ lại dùng chúng như những dụ ngôn nhằm truyền dạy những bài học thuộc linh. Và tuy các bài học từ đó rút ra thường là đúng vì chúng được đặt cơ sở trên phần ý thức tổng quát về chúng là một bức thông điệp của Kinh Thánh, chúng vốn chẳng có mối liên hệ hữu cơ nào với các phần thuật sự về lịch sử đã được giải thích. Có thể nói ít nhất rằng một phương pháp lý giải như thế rất hấp dẫn, nhưng cũng tạo thất vọng. Vì thường thường giao điểm của lằn ranh giữa cách giải nghĩa theo văn phạm của sử ký và cách lý giải theo dụ ngôn hầu như không thể nào nhận ra được. Do đó, người quan tâm đến cách giải kinh đứng đắn, có giá trị cần cảnh giác đối với loại giải nghĩa này.


Muốn hiểu rõ các lý do của quan điểm theo dụ ngôn, ta phải biết phần cư sở triết lý của chúng, ấy là chủ đích dùng cái vật lý hữu hình để nói lên các chân lý thuộc linh. Vũ trụ này là thánh lễ thiêng liêng vĩ đại. Thí dụ giữa cách tăng trưởng của hạt giống với sự phát triển của Nước Trời, không phải chỉ là một mối liên hệ ngẫu nhiên. Sở dĩ Chúa Giê-xu dùng hình ảnh hạt giống để mô tả bản tính của Đạo, là vì Ngài có thể phân biệt được chủ đích thiêng liêng của Thượng Đế khi Ngài khiến cho hạt giống bằng vật thể phát triển như đang có. Hơn nữa, lý do khiến Thượng Đế trù liệu cho thế hệ con về mặt vật lý (thuộc thể) phải lệ thuộc vào thế hệ cha, là để truyền dạy cho loài người về chính đặc tính của Ngài trong mối liên hệ giữa chính Ngài với họ. Do đó, khi Chúa Giê-xu dùng hình ảnh của người cha, thì không những Ngài chỉ đơn giản gợi 1 về một sự giống nhau ngẫu nhiên giữa những người cha là loài người với Đức Chúa Cha Thiên Thượng, mà đúng hơn là Ngài ngụ ý dạy rằng mối liên hệ giữa hình ảnh vật lý (thuộc thể, hữu hình) và quan niệm thuộc linh là có chủ đích và là thiết yếu.


Nhiều người trong chúng ta có lẽ sẽ đồng ý phần nào với cái triết lý về đời sống này. Tuy nhiên chúng ta sẽ không vì thế mà bênh vực cho việc dùng quan điểm theo dụ ngôn để giải nghĩa bất cứ một phần nào, hay tất cả các phần trong Kinh điển. Vì trước hết, phải có một cái nhìn xuyên suốt, thông tuệ mới có thể giải nghĩa đúng ý nghĩa thuộc linh của cái thế giới vật lý này. Nhưng điều còn quan trọng hơn, sự kiện là nhà giải kinh không thể quan tâm trước nhất đến việc lý giải đời sống nói chung, mà đúng hơn là giải thích cho đúng các khúc Kinh Thánh đặc thù.


Nếu quả đúng như thế, thì vấn đề căn bản mà nhà giải kinh phải quan tâm là “Trước giả đã dùng phương tiện nào và chủ đích của ông ta khi chép lại các biến cố này là gì?” Nhưng một trước giả có thể dùng một trong hai cách sau đây để đưa ra những bài học thuộc linh. Ông ta có thể sử dụng phương pháp tiếp cận theo lịch sử, là phương pháp trực tiếp, hay phương pháp tiếp cận bằng ẩn dụ hoặc dụ ngôn, là phương pháp gián tiếp. Và vấn đề đầu tiên cho nhà giải kinh là khám phá xem trước giả đang dùng phương pháp nào trong hai phương pháp trên để giải nghĩa khúc sách ấy cho đúng. Nếu ông ta đã dùng phương pháp trực tiếp, thì cách bình giải đúng phải được giới hạn trong phương pháp trực tiếp. Nếu ông ta dùng phương pháp gián tiếp, thì nhà giải kinh phải sử dụng phương pháp tiếp cận gián tiếp.


Nhưng rõ ràng là trong các ẩn dụ của Ngài, Chúa Giê-xu đã dùng phương pháp gián tiếp. Quả thật là các ẩn dụ của Ngài đã phản ảnh các từng trải có thật, nhưng không phải là Ngài đang mô tả một biến cố lịch sử cụ thể như việc đóng đinh người ta vào thập tự giá. Do đó, giải nghĩa các ẩn dụ của Chúa Giê-xu trên cơ sở các phương tiện gián tiếp nhằm nói lên chân lý thuộc linh là đúng. Tuy nhiên, nếu giải nghĩa việc Ngài bị đóng đinh vào thập tự giá y như thế, tức là đã bỏ sót phần ý nghĩa quan trọng đứng hàng đầu của nó. Việc Ngài bị đóng đinh không hề có ngụ ý bảo rằng đó là một ẩn dụ; phương pháp truyền thông chân lý của nó là phương pháp trực tiếp. Tóm lại có một sự khác nhau thiết yếu giữa phương pháp nói lên chân lý bằng ẩn dụ và dụ ngôn về một phía, và bên kia là phương pháp theo lịch sử. Và nhà giải kinh phải khám phá xem một trước giả đang sử dụng phương pháp nào để giải nghĩa khúc sách ấy cho thật đúng, nếu muốn bảo đảm cho ý nghĩa mà khúc sách ấy ngụ ý muốn nói (83)


Nhằm làm sáng tỏ hơn các nhận xét trên cần biết phân biệt điều sau đây. Trong vấn đề lý giải, có chỗ khác nhau tối quan trọng giữa những câu kết luận đích thực, với những câu kết luận chính xác hoặc có giá trị. Các bài học ta rút ra từ một khúc sách có thể là đúng, nghĩa là phù hợp với các sự kiện trong Kinh điển và thực tại nói chung, chỉ đơn giản là vì ta đã quá quen thuộc với Kinh Thánh để có thể rút ra những kết luận phù hợp với nó. Tuy nhiên, điều đó không hề hàm ý rằng các kết luận của ta là một cách giải nghĩa đúng khúc sách ấy. Vì những câu kết luận có giá trị là những câu kết luận nảy sinh một cách hợp lý từ một khúc sách đặc biệt nào đó, chớ không phải chỉ là những câu kết luận phù hợp với chân lý Kinh Thánh nói chung mà thôi. Như vậy, tuy nhà giải kinh theo dụ ngôn có thể rút ra nhiều bài học từ một đơn vị vốn là sự thật, chúng không nhất thiết đều chính xác cả. Và điều mà nhà giải kinh phải phấn đấu để đạt được, là những suy luận chính xác.


G. Lý giải theo nghĩa đen


Những người sử dụng loại lý giải này nhấn mạnh rằng Kinh điển phải được giải nghĩa bằng - và phần lớn là bằng - nghĩa đen. Lẽ dĩ nhiên là không thể nào giải nghĩa hoàn toàn theo nghĩa đen được, vì người ta bị bắt buộc phải giải nghĩa một số câu theo nghĩa bóng. Mặt khác, sở dĩ người ta giải nghĩa nhiều khúc sách có nghĩa bóng theo nghĩa đen, là vì sợ làm tan loãng chân lý của Kinh điển đi.


Phương pháp tiếp cận này nhắc nhở chúng ta rằng có một số các khúc sách phải được lý giải theo nghĩa đen. Các trước giả Kinh Thánh thường dùng những câu viết theo nghĩa đen để nói lên các ý tưởng của mình. Và hễ nơi nào mà trước giả dùng nghĩa đen để diễn tả tư tưởng của mình, thì nhà giải kinh cũng phải sử dụng các phương tiện tương ứng để giải nghĩa các tư tưởng ấy, tức là phải dùng phương pháp lý giải theo nghĩa đen. Mặt khác, điều cũng được nghiệm đúng là các trước giả viết Kinh Thánh thường sử dụng phương pháp viết theo nghĩa bóng để truyền thông chân lý; và trong những trường hợp này, nhà giải kinh cũng phải sử dụng phương pháp giải theo nghĩa bóng, nếu muốn thấu hiểu bức thông điệp của họ. Và nhà giải kinh chỉ giải theo nghĩa đen mà quên mất sự kiện này trong khi quá nhiệt thành muốn bảo toàn chân lý của Kinh điển, lại triệt tiêu chính điều mà mình đang muốn tận tình bảo vệ.


Một trong các lý do chính để nhà giải kinh theo nghĩa đen bị sai lầm, là vì ông ta muốn đánh đồng nghĩa đen với nghĩa lịch sử, và nghĩa bóng với nghĩa không đúng với lịch sử. Như thế, ông ta đã phạm một sai lầm về phương diện luận lý học, vì ông ta đã gắn liền bất khả phân ly phần sự kiện lịch sử với cách diễn tả nó bằng văn chương chữ nghĩa. Ông ta đã không nhận thức được rằng cả hai phương pháp tiếp cận theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đều không nhất thiết liên hệ riêng biệt với một đàng là sự kiện và đàng kia là với việc hư cấu. Vì chúng chỉ đơn giản là hai hình thức diễn tả bằng văn chương, và một biến cố từng thực sự xảy ra có thể được một trước giả truyền thông bằng bất cứ phương tiện nào. Hệ quả là cách dùng hình ảnh (hư cấu tưởng tượng) để mô tả một biến cố không hề triệt tiêu không tránh né vào đâu được sử tính của nó.


Thí dụ ta có thể chủ trương rằng Sáng 3 được viết theo nghĩa bóng chớ không phải theo nghĩa đen mà không nhất thiết ngụ ý bởi đó rằng nó chủ yếu là phi lịch sử chớ không phải là sử kiện, là do hư cấu chớ không phải là sự kiện. Quyết định trước bao hàm phương pháp lý giải theo nghĩa đen; quyết định sau liên hệ đến phương pháp phê phán lịch sử. Cần phải cẩn thận phân biệt hai giai đoạn giải kinh này (84)


H. Lý giải theo hình bóng học


Những người thực hành phương pháp tiếp cận này giải nghĩa Cựu ước dường như ở tất cả các điểm, nó đều là những “chiếc bóng” mà “hình thật” thì nằm trong Tân ước. Cả đến các chi tiết nhỏ nhặt nhất trong các đoạn thuật sự về lịch sử cũng thường được lý giải là những “hình bóng” sẽ được ứng nghiệm trong Tân ước.


Một quan điểm như thế vốn bắt nguồn từ nguyên tắc hợp lý hợp pháp, rằng Cựu ước là phần chuẩn bị cho sự mặc khải trong Tân ước và rằng có một phương diện quan trọng trong phần chuẩn bị ấy là cách sử dụng một số các tập tục có tính cách biểu tượng má chủ đích là nhằm chuẩn bị cho dân Y-sơ-ra-ên thông hiểu sự giáng lâm và ý nghĩa của Chúa Cứu Thế. Hệ thống tế lễ của sách Lê-vi ký cung cấp một thí dụ tuyệt vời cho những tập tục ấy.


Tuy nhiên, việc này không thể đưa đến cách kết luận rằng mọi chi tiết trong Cựu ước đều chỉ là một “chiếc bóng” của Tân ước. Cho nên muốn hiểu Cựu ước thì phải vi phạm hai nguyên tắc căn bản trong công tác giải kinh: một là lý giải những khúc sách căn cứ vào bối cảnh lịch sử của chúng; và hai là nguyên tắc phải giải nghĩa chúng dưới ánh sáng của các ý hướng của trước giả. Do đó, ta cần thận trọng để khỏi giải nghĩa những điểm giống nhau một cách tình cờ giữa những việc xảy ra trong hình bóng học của Cựu và Tân ước. Đường lối hay nhất nên theo để tránh nguy cơ này là giới hạn việc bình giải các biểu tượng trong Cựu ước vào số các biểu tượng vốn đã được chính Kinh điển giải nghĩa mà thôi.


Tuy nhiên, có một điểm ở đó chúng ta cần đối chiếu Cựu ước và Tân ước là đúng. Ta thường nhận thấy có nhiều điểm tương đồng giữa các nguyên tắc thuộc linh của Cựu ước và các nguyên tắc thuộc inh của Tân ước. Khi việc này xảy ra, thì chắc chắn phải chú ý đến chúng là đúng. Tuy nhiên, điều này vốn khác xa với thói quen của nhiều người vẫn giải thích các chi tiết lịch sử hết sức nhỏ nhặt dường như đó là những chiếc bóng mà hình thật đều ở trong Tân ước và nhiều khi là cả với hàm ý rằng chúng đã được trước giả cố ý sử dụng nhằm một chủ đích nào đó, hoặc là được chính Thượng Đế linh cảm nữa.


I. Lý giải bằng cách phỏng đoán


Những người theo phương pháp tiếp cận này quyết đoán rằng Kinh Thánh vốn đầy dẫy những lời tiên báo về các biến cố sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó, họ cố gắng chứng minh thế nào mọi biến cố lớn xảy ra đều đã được các trước giả Kinh điển biết trước cả, và khi làm như thế là họ phạm lỗi xuyên tạc Kinh điển.


Sự sai phạm này thường có cơ sở là việc không phân biệt được giữa lời tiên tri và lời tiên đoán suông mà thôi. Trong lời tiên tri, phương diện tiên báo (prediction) vốn liên quan không tránh né vào đâu được với phương diện nói trước (foretelling); thật vậy, mục đích đầu tiên của nó là để hậu thuẫn cho bức thông điệp của nhà tiên tri. Do đó, điều mà nhà tiên tri nói trước phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong đó, và vì nó, mà ông ta nói ra. Mặt khác, việc tiên đoán suông có thể hoàn toàn chẳng liên hệ gì với bối cảnh lịch sử trong đó nó được đưa ra. Kinh điển hàm chứa những lời tiên tri mà không có những lời tiên đoán suông; và khi có người bỏ qua sự kiện này, là người ấy đã bất chấp tầm quan trọng của yếu tố lịch sử trong Kinh điển, và do đó, mới giải sai chúng.


Phương pháp tiên đoán áp dụng vào việc giải nghĩa Kinh điển còn do một nguyên nhân khác nữa là không phân biệt giữa nhiều cách khác nhau mà Tân ước sử dụng Cựu ước. Điều này có thể chia làm ba loại. Một là các trước giả Tân ước nhiều khi sử dụng lời tiên tri Cựu ước mà họ xem như chỉ ứng nghiệm có một lần cho thời Tân ước mà thôi. Hai là, Tân ước sử dụng những câu trong Cựu ước và cho rằng phần ứng nghiệm tối hậu của chúng sẽ xảy ra trong Tân ước, nhưng chúng vốn đã ứng nghiệm ngay trong thời Cựu ước rồi, câu trích dẫn Cựu ước ở Mat Mt 1:23 có thể thuộc vào loại này. Điều này không hề hàm ý rằng khi nói ra, nhà tiên tri đã biết là sẽ có đến hai lần ứng nghiệm, nhưng chỉ có nghĩa rằng khi nhìn lại quá khứ, người viết Tân ước thấy trong câu Cựu ước kia một (hình) bóng đã hoàn toàn ứng nghiệm trong thời Tân ước. Cách dùng thứ ba gồm có việc đối chiếu nhều câu hoặc biến cố trong Tân ước đã thấy có trong Cựu ước rồi. Dường như Cựu ước đã đựơc sử dụng theo cách này trong 13:14-15. Thật ra Chúa Giê-xu muốn nói rằng “Hiện trạng về các thầy dạy luật và Biệt phái là một thí dụ rõ ràng, do đó, ứng nghiệm điều nhà tiên tri Ê-sa ngụ ý muốn nói khi ông bảo 'Các ông sẽ nghe nhưng không hiểu'” (85)


Nhiều khi thật là khó xác định cách dùng nào trong số vừa kể trên đã được nhận thấy trong khúc sách nào trong Tân ước. Tuy nhiên, ta phải cảnh giác về chúng và cố gắng lợi dụng chúng nếu muốn tránh việc chỉ lý giải bằng cách phỏng đoán mà thôi.


J. Lý giải hệ thống hóa


Thiên hạ thường xem Kinh điển như một bộ sách đã chứa sẵn một nền thần học hệ thống hóa rồi. Hệ quả là thí dụ nếu một trước giả Tân ước gợi ý về một hành động nào đó cho những người được ông viết (sách, thư) cho, thì hành động ấy được lý giải là một phụ liệu cần thiết cho toàn thể từng trải của Cơ-đốc nhân. Như thế, một lời khuyến giục sẽ được phổ quát hóa bằng cách quyết đoán rằng Kinh điển có một phần trình bày đã được hệ thống hóa về các thành phần cấu thành đời sống thuộc linh chớ không phải là những lời phát biểu đã được đưa ra nhân những hoàn cảnh lịch sử đặc thù, những hoàn cảnh mà lắm khi phải họa hoằn lắm mới xảy ra và không nên đánh đồng theo kiểu “cá mè một lứa”


Nói rõ hơn, vì trước giả thư Hy-bá khuyến giục các độc giả của ông hãy tiến bộ để đạt mức trưởng thành và phải xếp qua một bên các nguyên tắc sơ đẳng của Cơ-đốc giáo mà họ đã bám víu từ quá lâu rồi (HeDt 5:11-6:12) nhiều người thường cho rằng mỗi một Cơ-đốc nhân đều cần đến lời khuyên này trong từng trải của riêng mình, không tránh né vào đâu được cả. Tuy nhiên, người ta đã quên rằng một quan điểm như thế cũng kết án tất cả mọi người là đã phạm vào các tội lỗi của các Hội thánh Tân ước một lần thứ hai nữa, khiến cho những lời khuyến cáo đã được đưa ra đó trở thành điều mà họ phải chấp nhận. Nhưng chắc chắn là việc ấy không hề nhằm vào (các tín hữu) Tân ước. Trái lại, phải hiểu là các trước giả tân ước vốn đang ngỏ lời với những người đang sống trong những hoàn cảnh lịch sử cá biệt, và những lời cảnh cáo ấy chỉ thích hợp cho các hoàn cảnh ấy mà thôi. Do đó, nếu có các Hội thánh nào hoặc cá nhân nào phạm vào cũng những khiếm khuyết ấy, thì những khuyến cáo ấy mới phải được lý giải là thích hợp với họ. Tuy nhiên, mục đích của ta là phải tránh cách sai lầm của các Hội thánh Tân ước mà một hệ quả là tránh sự cần thiết phải quở trách các sai phạm ấy. Đây chính là cách làm đúng nhất để hoàn thành chủ đích của Tân ước (96)


Quả thật có một trong nhiều lý do để ta có thể sử dụng phương pháp lý giải hệ thống hóa, ấy là nhu cầu hợp lý phải liên kết các ý niệm trong Kinh Thánh lại với nhau và để giải nghĩa Kinh điển như thế nào để có thể cung cấp một mẫu mực cho sinh hoạt Cơ-đốc nhân. Tuy nhiên, trong tiến trình để đáp ứng nhu cầu này, ta không nên quên rằng các sách trong Tân ước nguyên được viết ra nhân các hoàn cảnh đặc thù, trong đó có những vấn đề đặc thù, chớ không phải cho một hoàn cảnh phổ quát trừu tượng. Hơn nữa, ta không nên phạm vào sai lầm tâm lý nghiêm trọng là quyết đoán rằng đến cuối cùng thì từng rải của tất cả mọi người đều có thể bị nhồi nhét chung vào cùng một cái khuôn đúc giống y nhau (87)


K. Lý giải bằng phương pháp tham khảo


Có một số người quan niệm Kinh điển như một mê cung gồm những tài liệu cần tham khảo chằng chịt. Hệ quả là họ luôn luôn sưu tầm những khúc sách tương tự nhau, rồi giải nghĩa từng khúc sách một dưới ánh sáng của những khúc sách mà họ đem ra để đối chiếu với nó khi làm như vậy, họ thường không dùng đầy đủ thì giờ để khảo xét từng đơn vị một hầu phát giác ra ý nghĩa độc đáo của nó, do đó, họ thường gán ghép kết hợp sai lầm. Hệ quả là phần lý giải gặp phải nhiều sai lầm.


Phần phát biểu trên đây không hề hàm ý rằng sử dụng phương pháp tham khảo những câu Kinh Thánh giống nhau, hay gán ghép, kết hợp nhiều khúc sách lại với nhau, tự nó là vô giá trị. Vì một phương thức như thế vốn nằm trong công tác khảo sát các từ ngữ thông dụng cần đem đối chiếu so sánh với nhau chẳng hạn (88). Cơ nguy mà chúng tôi kêu gọi quý độc giả phải chú ý là việc không giải nghĩa mỗi đơn vị một cách riêng biệt thật phải lẽ trước khi hòa lẫn nhiều đơn vị vào nhau. Nếu mỗi khúc sách trước nhất đều được giải nghĩa như một thực thể văn chương, thì người ta có thể thực hiện những việc gán ghép, liên kết chúng lại với nhau rất có giá trị, và cách gán ghép, kết hợp như vậy sẽ rất có lợi. Nhưng nếu có việc trộn lẫn các tài liệu trước khi một đơn vị đã được giải nghĩa trong chính văn mạch của nó, thì hậu quả có nhiều sai lầm trong công tác bình giải sẽ là điều không thể nào tránh được.


L. Lý giải bách khoa


Nhà giải kinh bách khoa xem Kinh Thánh như có thể vét cạn vắt kiệt được, dường như bột sách ấy có chứa lời giải cho tất cả các câu hỏi mà người ta có thể đặt ra. Do đó, nếu không tìm được lời giải ngay cho một câu hỏi cá biệt nào đó bằng phương pháp giải kinh thích hợp ông ta “gán” nó cho một khúc sách nào đó, để nó có thể có cơ sở trong Kinh điển. Ông ta vẫn khăng khăng làm như thế, cả khi nếu làm như vậy ông ta có thể biến một số thành phần trong Kinh điển thành ra phi lý.


Sự thật là Kinh Thánh hàm chứa rất nhiều lời giải đáp cho nhiều vấn đề về đời sống và ta phải giải nghĩa sách ấy sao cho nó có thể cung cấp lời giải cho các vấn đề kia. Tuy nhiên phải nhớ rằng Kinh Thánh không phải là một bộ Bách Khoa Từ điển Anh quốc trong lãnh vực tôn giáo. Chủ đích lịch sử của nó không nhằm bao quát mọi vấn đề có thể được đặt ra. Nó gồm chứa một số lời đáp đặc thù và nhiều nguyên tắc tổng quát. Hễ khi nào tìm được những câu trả lời đặc thù, chúng phải được đem ra ứng dụng; khi không tìm được, thì phải giải nghĩa và sử dụng các nguyên tắc tổng quát. Nhưng không nên đọc thẳng trong Kinh điển những câu trả lời đặc thù cho các vấn đề thật ra không có trong đó.


M. Lý giải bằng phương pháp bình văn


Nhiều người cố ý khảo cứu Kinh điển bằng cách nhìn bộ sách ấy như một áng văn kiệt tác mà không chú ý đến sự kiên nhẫn chủ đích rất thiết yếu cho một áng văn kiệt tác. Vì họ chỉ tra cứu Kinh Thánh vì cớ những câu văn du dương, những hình ảnh kỳ thú trong đó, dường nhưKinh Thánh là một bộ sưu tập vô mục đích, chỉ có những lối diễn tả hấp dẫn mà không còn chi khác nữa.


Thật tốt hơn biết bao, nếu ta chịu nghiên cứu Kinh Thánh trên cơ sở bộ sách ấy là một áng văn kiệt tác không những vì hình thức văn chương của nó rất đáng ca ngợi mà còn vì nó vốn nhằm một chủ đích vĩ đại nữa. Phương pháp tiếp cận này thừa nhận sự kiện tuy hình thức văn chương là quan trọng, nó chỉ là phương tiện chớ không phải là cứu cánh, và người ta phải nghiên cứu văn học trên cơ sở là theo cả hai phương diện phương tiện lẫn cứu cánh (89).


Nếu quý độc giả có thể nhận ra các loại lý giải sai lầm trên đây và nhiều loại tương tự khi gặp chúng, và nếu bạn chịu chăm chỉ cố gắng tránh được các sai lầm ấy, đồng thời biết cẩn thận lợi dụng các phương thức giải kinh có giá trị, nhất định quý độc giả sẽ trở thành một nhà giải kinh chính xác và sâu nhiệm vậy (90)


V. CÁC GỢI Ý LINH TINH CHO CÔNG TÁC GIẢI KINH


A. Có ba nguy cơ phải tránh khi giải kinh: giải sai, gồm việc gán cho một khúc sách một nghĩa sai; giải thiếu là không bảo đảm được ý nghĩa đầy đủ của một khúc sách; và giải thừa là tuy có chính xác đến một chừng mực nào đó, nhưng lại sai lầm khi gán nhiều ý nghĩa cho một khúc sách hơn là ý nghĩa thật sự tiềm ẩn trong đó.


B. Phương pháp tiếp cận căn bản để bình giải Kinh điển phải là phương pháp văn phạm lịch sử. Terry định nghĩa phương pháp này là “cách lý giải ngôn ngữ (của trước giả) theo sự đòi hỏi của các định luật về văn phạm và của các sử kiện” (91)


C. Vì mỗi quyển sách của Kinh điển đều được viết cho một tình hình lịch sử cụ thể nào đó, việc bình giải nó phải (sao cho) phù hợp với tình hình ấy. Vì khẳng định rằng các trước giả vốn thông minh sáng suốt đủ để viết ra những gì phù hợp với hoàn cảnh trong đó các vị đang sống và các vị sở dĩ viết sách là vì chính hoàn cảnh ấy, thì mới an toàn. Điều này không hàm ý rằng sách của các vị ấy không có ý nghĩa cho chúng ta như vốn có ý nghĩa đối với các độc giả nguyên thủy của nó, mà ý nghĩa của nó đối với chúng ta phải có liên hệ hữu cơ với ý nghĩa vốn có cho họ, và hơn nữa, chính phần phân biệt với ý hướng nguyên thủy. Khởi điểm của công tác giải kinh phải là ý nghĩa của một đơn vị trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù của nó. Chẳng hạn nếu sách khải thị được lý giải theo cách đó, thì ta sẽ phát giác được bức thông điệp đích thực của nó (92).


D. Nhà giải kinh phải luôn luôn phân biệt giữa việc gán cho các từ ngữ trong Kinh điển một ý nghĩa nào đó, với việc khám phá ra ý nghĩa của các từ ngữ trong Kinh điển. Phương pháp thứ nhất là chủ quan và diễn dịch còn phương pháp thứ hai là khách quan và quy nạp.


E. Cách giải nghĩa dễ nhất, nghĩa là phương pháp nảy sinh từ tất cả các sự kiện một cách tự nhiên nhất và không bị cưỡng ép, thường là cách lý giải chính xác nhất. Bảo rằng lối lý giải cầu kỳ nhất hay bí hiểm nhất là đúng nhất thì không đúng.


F. Trong một văn mạch nào đó, mỗi từ mỗi câu Kinh Thánh đều có một nghĩa và chỉ có một nghĩa duy nhất mà thôi. Do đó, ta phải cảnh giác đối với việc gán cho chúng đến hai nghĩa.


G. Nhà giải kinh phải thận trọng, không nên giải một khúc sách trên cơ sở những định kiến là trong đó phải có gì. Thí dụ, ông ta không nên tiếp cận một đơn vị với một số thành kiến về loại Thượng Đế mà nó tả vẽ ra, và hậu quả là cố nhồi nhét định kiến thần học của mình vào đó. Chẳng có gì để nghi ngờ là thói quen này rất thường được noi theo, nhất là với Cựu ước (93).


H. Nhà giải kinh khách quan không có thành kiến về một khúc sách căn cứ vào cách lý giải truyền thống hay của một hệ phái nào. Ông ta sẽ cân nhắc kỹ lưỡng các lập trường khác nhau và chọn cách giải nghĩa nào được các chứng cứ hiển nhiên ủng hộ nhiều nhất. Hơn nữa, nếu các dữ kiện không dẫn tới một kết luận dứt khoát được, ông ta sẽ có đủ thành thật để bảo rằng “Tôi không biết chắc ý nghĩa của khúc sách này “Đường lối này chẳng những sẽ dẫn đến kết quả là những lời lỷ giải vô tư hơn và do đó cũng chính xác hơn mà còn kết thúc bằng sự thông cảm và thiện cảm với các lập trường của những người khác cũng như tự biết rõ các lý do của lập trường của chính mình.


I. Ta phải luôn luôn tìm kiếm một lời giải thích của chính trước giả ngay trong quyển sách của mình, như được thấy trong LuLc 1:1-4 hoặc trong GiGa 20:30-31. Vì nếu chẳng biết gì đến các câu như thế, thật chẳng khác chi lý giải một tấm bản đồ hay một biểu đồ mà không chịu sử dụng tỷ lệ xích mà tác giải của nó cung cấp hay muốn mở một ổ khóa mà không chịu dùng chiếc chìa khóa mà đã được chế tạo cho nó.


J. Nguyên tắc trước sau sau vậy (nhất quán) phải là đặc điểm của tiến trình lý giải. Nhà giải kinh phải tự tỏ ra thủy chung như nhất với bản thân trong công tác giải kinh. Hơn nữa, ông ta còn phải tin chắc là một trước giả cũng trung thành với điều mình viết.


K. Không quên để cho các vấn đề nảy sinh không thể trốn tránh vào đâu được gây trở ngại cho việc giải nghĩa điều đã hết sức rõ ràng rồi. Nói như thế không có nghĩa là các vấn đề nảy sinh là vô nghĩa và do đó, phải lờ đi chẳng cần đếm xỉa đến, mà trái lại, người ta có thể gặp nguy cơ là vì quá bận tâm lo lắng đến các vấn đề rồi cứ để cho mặc cảm có vấn đề ám ảnh mình đến nỗi nhìn thấy trong Kinh điển có không biết cơ man nào là những câu đố nát óc. Nếu trường hợp này xảy ra, công tác giải kinh sẽ bị bóp chết ngay từ trước khi được bắt đầu (94)


L. Ta phải thừơng hiểu ngầm những gì không biểu hiện ngay trên các hàng chữ, nếu muốn lãnh hội được ý nghĩa đầy đủ của một đơn vị văn chương của Kinh Thánh. Điều này đặc biệt nghiệm đúng khi ta nghiên cứu các thư tín trong Tân ước. Bởi vì do chính bản tính của một thư tín, mà nảy sinh sự cần thiết không những phải cố gắng khám phá ra các hàm ý không được trước giả nói toạc ra, nhưng vì các tư tưởng của các độc giả mà trước giả chỉ ước đoán thế thôi. Thí dụ Phao-lô đã dự đoán nhiều phản ứng từ phía các độc giả người Rô-ma của ông căn cứ vào những gì ông đã được biết về họ. Thế nhưng ông đã không thường nói toạc ra bằng nhiều lời lẽ dài giòng, vì chẳng có gì cần thiết phải làm như thế. Các thư từ bao giờ cũng có nhiều điều dự đoán và ngụ ý muốn nói, hơn là những điều được thố lộ thật rõ ràng. Và vì sự việc quả đúng như thế, nhà giải kinh phải cố gắng tái tạo, hình dung lại tình hình trong đó chúng đã được viết ra. Tuy nhiên, việc tái tạo như thế cần phải được các sự kiện khách quan của chính bức thư và các sử kiện cấu thành bối cảnh của nó hướng dẫn. Điều đã được nghiệm đúng cho việc lý giải các thư tín, về cơ bản, cũng có giá trị đối với các sách khác (95)


M. Khi giải nghĩa các khúc Kinh Thánh, nhà giải kinh phải lưu ý tìm kiếm các nguyên tắc ẩn tàng cũng như các chân lý đặc thù.


N. Nhiều sách và nhiều thành phần của các sách cần được nghiên cứu chung với nhau. Thí dụ hai sách Ô-sê và A-mốt phải được kết hợp lại với nhau trong công tác lý giải, cũng như sách Gióp, phần bàn về sự khôn ngoan của sách Thi thiên, sách Châm ngôn và sách Truyền đạo. Thật vậy, nhiều khi liên kết một số các sách trong Kinh Thánh với các văn phẩm ngoại kinh là một việc làm cần thiết. Một thí dụ cho trường hợp này là sự kiện sách Ecclesisticus và The Wisdom of Solomon phải được nghiên cứu kết hợp với các sách về khôn ngoan vừa kể ra trên đây.


O. Khi lý giải một đơn vị Tân ước có một câu trích dẫn Cựu ước, câu được trích dẫn phải được nghiên cứu trong văn mạch gốc của nó. Vì khẳng định rằng các trước giả Tân ước vốn hiểu rõ văn mạch của những câu mà các vị trích dẫn khi suy nghĩ và viết chúng ra, là đúng.


P. Khi có những khúc sách giống nhau trong Kinh điển, như những đoạn như thế trong các sách Phúc âm Cộng quan, chúng cần phải được đem ra đối chiếu với nhau. Tuy nhiên phải nhớ rằng mỗi phần ký thuật là một thực thể văn chương, do đó không thể đem pha lẫn các đoạn giống nhau ấy lại với nhau đến độ không còn tôn trọng cá tính của chúng nữa. Việc nghiên cứu đối chiếu các khúc sách ấy chỉ được dùng để bổ sung cho công tác khảo sát từng khúc sách một dưới ánh sáng của chính bối cảnh là văn mạch của chúng và của chú đích của từng trước giả riêng biệt (98).


Q. Hãy cố gắng khai triển điều vốn là đặc điểm của C.S.Lewis, người đã được mô tả là có tài đặt các chân lý đã lỗi thời vào những câu nói lắt léo rất hiện đại (97).


R. Điều cũng thường cần thiết là phải hết sức thận trọng phân biệt những gì là hợp lý, nếu muốn tránh các lầm lỗi trong công tác giải kinh. Chúng tôi đã chỉ rõ một số điều như thế rồi, như sự phân biệt giữa các câu kết luận đúng với những câu kết luận chính xác, và giữa điều quan trọng hơn với điều kém quan trọng hơn về một phía, về phía kia là điều quan trọng hơn với điều không quan trọng. (98) Thiết tưởng cần biết phân biệt những trường hợp tương tự như thế.


Thí dụ việc giải nghĩa thật đúng các phép lạ đòi hỏi người ta phải phân biệt giữa quyền năng thần hựu trong các phép lạ, với các phép lạ tuyệt đối. Các phép lạ do quyền năng thần hựu là các phép lạ mà các đặc tính lạ thường của chúng gồm có việc chúng được đặt vào đúng thời gian và do sự kiện chúng hoàn thành những kế hoạch và lời hứa đã được thu xếp trước. Các tai vạ tại Ai-cập và việc vượt Hồng hải có thể được xếp vào loại này. Các phép lạ tuyệt đối là những phép lạ hoàn toàn khác với các tiến trình thông thường của cõi thiên nhiên, như việc khiến người chết sống lại. Hơn nữa cũng cần phải phân biệt các phép lạ do Thượng Đế và do Sa-tan thực hiện (99).


Khi giải kinh, cũng phải phân biệt giữa điều mà Kinh điển đưa ra tiêu biểu cho mục tiêu lý tưởng của đời sống thuộc linh với điều khả dĩ thực hiện được. Nếu những câu Kinh Thánh chỉ ra phần lý tưởng không thể đạt tới được lại được lý giải là chúng tiêu biểu cho điều khả dĩ đãt tới được, thì hậu quả sẽ là có nhiều vấn đề rắc rối nảy sinh. Về một trường hợp liên hệ, xin xem Mat Mt 5:48


C. Ta phải thận trọng tránh việc pha lẫn việc đánh giá với công tác lý giải. Các câu phê phán giá trị phải được giữ lại cho đến khi nào ta đã biết chắc ý nghĩa của một khúc sách. Câu nói của một người phải được tìm hiểu trước hết, rồi mới có thể phê phán là nó đúng hay sai. Nguyên tắc này chẳng bao giờ nên xem là nhấn mạnh quá đáng cả (100)


T. Ta cũng không nên biện giải gì trước khi hoàn tất công tác giải nghĩa. Thật vậy, nếu quả thật ý nghĩa của một đơn vị đã được khám pá ra rồi, nó sẽ chẳng cần được biện hộ, bênh vực chi cả. Vì việc “cởi trói” cho Kinh điển tự nó đã là cách bút chiến tốt nhất để bênh vực cho bộ sách ấy rồi.


U. Không nên quyết đoán rằng một khi ta đã noi theo các phương thức đã được thảo luận từ trước cho đến đây rồi, thì công tác giải kinh của chúng ta đã xong xuôi, không còn thay đổi gì được nữa. Sự việc có thể là như vậy nếu các gợi ý đều đã được thực hiện một cách lý tưởng. Tuy nhiên, vì có rất ít điều có thể được người ta thực hiện một cách lý tưởng, nên dành chỗ cho việc ta có thể thay đổi các cách lý giải của mình nếu và khi, điều ấy trở thành cần thiết. Thật vậy, theo nghĩa đích thực của nó, những cách lý giải vốn là hệ quả của một công trình nghiên cứu theo quy nạp pháp, đích thực bao giờ cũng có tính cách thể nghiệm, vì chúng có thể bị thay đổi khi có một chứng cứ hiển nhiên nào đó được đưa ra ánh sáng do một công trình khảo sát các điểm cá biệt sau này (101)


V. Có người lưu ý đến sự kiện có tới hai loại kiến thức. Một là kiến thức theo chiều ngang ẩn chứa trong thiên nhiên. Hai là kiến thức theo chiều thăng đứng, bao hàm chiều sâu chớ không phải chiều rộng. Thí dụ như một người biết được các thuộc tính khác nhau của Thượng Đế và có thể định nghĩa chúng theo đúng ý nghĩa căn bản của chúng, là người có loại kiến thức thứ nhất. Chẳng hạn như người ấy biết rằng Thượng Đế vốn thánh khiết, thiện hảo, vĩnh hằng và yêu thương và người ấy rất thành thạo về các câu định nghĩa các phẩm cách ấy. Tuy nhiên, khi người ấy dùng nhiều phương tiện khác nhau để đào sâu thêm các hàm ý sâu nhiệm của từng phẩm cách một trong số đó cũng như mối liên hệ giữa chúng với nhau, thì kiến thức của người ấy trở thành kiến thức theo chiều thẳng đứng. Chính loại kiến thức theo dọc đứng này mới là mục tiêu cuối cùng của người lý giải Kinh Thánh.


Có nhiều cách để làm phát triển phần kiến thức về Kinh điển theo chiều dọc. Một trong số đó, là mở cửa để giao du, làm quen rộng rãi với tư tưởng thần học và triết học. Tiếp xúc với các tâm trí lỗi lạc như của Plato, Origen và Augustine sẽ khiến người ta hiểu biết về ý nghĩa sâu nhiệm của các ý niệm quan trọng mà Kinh điển quan tâm. Ngay cả theo một quan điểm trên của việc tiếp xúc với nhiều lập trường thần học và triết học khác nhau giúp người ta có được cái nhìn xuyên suốt sâu nhiệm hơn vào ý nghĩa của chân lý Kinh điển. Thí dụ khi ta đặt quan điểm của Sáng thế ký 1 với vô thần chủ nghĩa, phiếm thần chủ nghĩa, hữu thần chủ nghĩa, định mệnh thuyết, trí huệ phái, nhân bản chủ nghĩa, duy lý chủ nghĩa, hiện sinh chủ nghĩa, v.v... ta bắt đầu phân biệt được các hàm ý sâu nhiệm của chương đầu tiên của Sáng thế ký. Thật vậy có được một kiến thức căn bản về các lãnh vực nghiên cứu khác, như tâm lý học và xã hội học, để hiểu rõ ý nghĩa của những câu Kinh Thánh đề cập các lãnh vực ấy, là điều bổ ích. Vậy việc quen biết sâu rộng với tư tưởng và các vấn đề thần học, triết học và như thế là chuẩn bị để nó lãnh hội các chân lý sâu nhiệm của Kinh điển, mà hậu quả là có được phần kiến thức theo chiều dọc.


Ta không thể đến với Kinh Thánh với một tâm trí rỗng hoặc u mê, mà trông mong sẽ uống được nơi các nguồn nước thâm sâu của nó.


Tuy nhiên, còn một phương tiện thiết yếu nữa cần phải khảo xét. Ta cũng phải dành nhiều thì giờ để vừa cầu nguyện vừa suy gẫm, nếu muốn thăm dò các chiều sâu của Kinh điển. Do đó, nhà giải kinh phải tự khép mình vào kỷ luật là dành một giờ hoặc nhiều hơn nữa để suy nghĩ về một chân lý hay một khúc sách cá biệt nào đó. Trong những giai đoạn suy gẫm như thế, điều thường giúp ích là nên viết ra các tư tưởng được chúng ta chú ý. Khi ta thực hành loại suy tư tập trung này ta sẽ bắt đầu tin nhận phần ý nghĩa ẩn tàng của chân lý Kinh Thánh. Ta cũng sẽ bắt đầu thấy các mối liên hệ và liên hệ hỗ tương giữa các chân lý, và nhờ đó khám phá ra nhất quán tính của chân lý.


W. Ta cần đặt vấn đề phải đọc các sử ký về khoá giải kinh như các tác phẩm của Farrar hay Grant. Các sử ký về quyển Kinh Thánh Anh văn như của Braikie và Goodspeed, cũng cung cấp được một phương tiện có giá trị làm gia tăng tài năng bình giải Kinh điển.


VI. TÓM TẮT CÔNG TÁC GIẢI KINH


Chức năng của nhà giải kinh là phải làm sao để có thiện cảm với các trước giả và các nhân vật trong Kinh Thánh, hầu có thể sống trở lại các từng trải của họ. Việc này được thực hiện bằng cách sử dụng óc tưởng tượng, nhờ đó một cuộc trao đổi tinh thần và thuộc linh giữa các hoàn cảnh trong Kinh điển sẽ xảy ra, khiến ta có thể tái tạo chúng.


Một sự tái sáng tạo như thế siêu vượt trên việc chỉ phát giác suông ý nghĩa căn bản của văn tự chữ nghĩa trong Kinh Thánh mà thôi. Vì các trước giả và nhân vật Kinh Thánh đều có lý do cho những lời phát biểu của họ, kể cả một số các động cơ thúc đẩy khiến họ phải đưa ra một bản văn có tính cách lịch sử như thế. Hơn nữa, những lời phát biều trong Kinh điển hàm chứa một số các sự kiện không được diễn tả bằng lời nào đó, trong đó có một số do họ giả định trước và một số khác là sự phát triển về phương diện luận lý của chúng. Như vậy, muốn cho công tác giải kinh có tính cách tái sáng tạo thật sự, nó phải bao gồm các phương diện thuần lý và mặc nhiên lẫn các phương diện định nghĩa nữa.


Tiến trình đặc thù nhờ đó việc lý giải tái sáng tạo như vậy được thực hiện gồm ba phần chính: một là công tác đặt các câu hỏi dẫn đến việc lý giải, được đặt trên cơ sở là các nhận xét, được diễn tả bằng hình thức thắc mắc đặt câu hỏi bao gồm các giai đoạn giai nghĩa chúng bằng cách tái sáng tạo, hai là công tác trả lời những câu hỏi đó, được định đoạt trước tiên căn cứ vào bản tính và các đòi hỏi của chính Kinh điển; và ba là công tác đúc kết và tóm tắt các câu trả lời để khám phá ra bức thông điệp chủ yếu của đơn vị tư tưởng ấy.


Trong cả ba phần đó, nhà giải kinh tài ba phải biết phân tích, biện biệt, đúng phương pháp và có lòng chân thành. Vì trách nhiệm và nhiệm vụ thiêng liêng, nghiêm trọng của ông ta là phải lý giải sự mặc khải của Thượng Đế cho loài người, là điều sẽ quyết định cho số phận đời đời của họ.


BÀI TẬP GIẢI KINH


Với mỗi khúc sách cần nghiên cứu liên hệ với bài tập trước đây, hãy cố gắng xác định xem các câu hỏi nào là chủ yếu. Sau đó, cố gắng trả lời các câu hỏi ấy, được càng nhiều bao nhiêu càng hay bấy nhiên. Liên hệ với mỗi câu hỏi, cần khảo sát các yếu tố quyết định khác nhau để biết chắc các yếu tố nào có thể áp dụng vào đó. Tiếp theo, hãy tìm xem mỗi yếu tố đã đóng góp được gì vào phần trả lời nếu có. Sau khi bạn đã làm việc ấy đến càng kỹ lưỡng được bao nhiêu càng hay bấy nhiêu trong một thời gian phải lẽ, hãy tra cứu nhiều sách giải kinh khác nhau về khúc sách ấy. Xong rồi, hay đúc kết các câu trả lời của bạn và sử dụng một hoặc vài phương tiện tóm tắt đã được gợi ý. Xuyên suốt dự án này, cần nỗ lực một cách có ý thức để sử dụng các nguyên tắc và gợi ý của phần thảo luận trên đây.


CHÚ THÍCH


1. Coulfon, G.G., Five Centuries of Religion, Volume I, p.xxxi


2. Qúy độc giả cần đọc thật kỹ cả chương thứ nhất của tác phẩm Toscanini and Great Music của L.Gilman. Việc đọc chương này sẽ giúp giải thích tại sao trong một cuốn sách viết về vấn đề nghiên cứu Kinh Thánh lại có quá nhiều câu tham khảo liên hệ đến Tosconini như thế.


3. Webster's Collegiate Dictionary, Fifth Editon


4. Sđd.


5. Ewen, D., The Story of Arturo Toscanini


6. Từ “thuần lý” nói lên điều gì có liên hệ đến lý trí, lẽ phải; nó không hàm ý rằng điều gì hợp lý thì tương phản với cái vô lý. Điều này cũng ứng dụng cho câu hỏi dẫn đến việc lý giải cũng được mô tả bằng cùng một từ ấy (xem lại các trang 104 và tt)


7. Một số hàm ý này sẽ trở thành rõ ràng khi ta khảo sát những khúc sách như Mat Mt 22:34-40; ICo1Cr 13:1-13 và Gia Gc 2:1-13


8. Sở dĩ cách dùng câu hỏi được gợi ý ở đây vì nó hữu hiệu hơn là chỉ khảo sát các góc cạnh khác nhau của công tác lý giải mà thôi. Vì hình thức câu hỏi dường như khiến người ta phải chăm chú nhiều vào các góc cạnh này hơn bất luận một hình thức có thể có nào khác. Hơn nữa, một câu hỏi là một sự đòi hỏi phải trả lời; nó ám ảnh tâm trí cho đến khi nào câu trả lời đã được đưa ra. Vì các lý do vừa kể và nhiều lý do khác nữa mà Chúa Giê-xu thường sử dụng nguyên tắc đặt câu hỏi trong chức vụ của Ngài. Do các sự kiện này, câu hỏi dẫn đến việc lý giải được cho là một công cụ quan trọng trong công tác giải kinh.


9. Các câu hỏi dẫn đến việc lý giải là những cách bộc lộ tánh hiếu kỳ. Coleridge có lần nói “triết lý bắt đầu từ sự ngạc nhiên”. Ta cũng có thể nói như vậy đối với cái nhìn xuyên suốt vào ý nghĩa của những câu Kinh Thánh. Trong việc này, xin lưu ý là các câu hỏi dẫn đến việc lý giải tiêu biểu cho cách áp dụng câu hỏi theo cách của Socrates vào lãnh vực nghiên cứu Kinh Thánh. Hệ quả là, nếu quý độc giả muốn hiểu rõ hơn vai trò quan trọng của câu hỏi dẫn đến việc lý giải liên hệ với Kinh Thánh, hãy nghiên cứu các đối thoại của Socrates do tác giả Plato.


10. Ante, tr.39. Câu hỏi nhằm khảo sát ứng dụng cho các mối liên hệ cấu trúc, có thể gọi là câu hỏi “phân tích”, vì mục đích của nó là khiến người ta phải phân tích chức năng của một thành phần của một khúc sách với các thành phần khác và với cả khúc sách.


11. Lý do để đưa ra các thí dụ minh họa cho từng loại câu hỏi dẫn đến việc lý giải vốn không phải là do tác giả thích làm đến nơi đến chốn, cho bằng vì tác giả mong rằng chúng sẽ làm sáng tỏ được đến một chừng mực nào đó phương diện quan trọng này của việc nghiên cứu đúng phương pháp.


12. Công tác khảo sát đã được định nghĩa theo nghĩa lý tưởng của nó ngay từ đầu, nhằm đưa vào đây phần ý thức về sự cần thiết phải giải thích những điểm cá biệt đã được ghi nhận (Ante, H.31-32). Tuy nhiên kinh nghiệm đã cho thấy rằng người ta có thể ý thức sự hiện diện của một từ hay một mối liên hệ cấu trúc, nhưng lại không thật sự nhận thấy nhu cầu phải giải thích nó. CHính vì lý do này mà có việc nhấn mạnh trên cách dùng các câu hỏi dẫn đến việc lý giải để khiến ta ý thức được sự cần thiết phải khám phá cả ý nghĩa cũng như các hình thức.


13. Ante, pp.68-71


14. Căn cứ vào những câu phát biểu liên hệ đến các câu hỏi dẫn đến việc lý giải trong các khu vực thể loại văn chương nói chung và bầu không khí, thật là dễ ước đoán rằng nhiều loại câu hỏi định nghĩa khác nhau vốn không hề có giá trị ngang nhau. Những câu hỏi liên quan đến các từ và các mối liên hệ cấu trúc vốn có ý nghĩa hơn các câu hỏi trong các lãnh vực thể loại văn chương và bầu không khí. Điều này nói chung được nghiệm đúng với cả các câu hỏi thuần lý và mặc nhiên (có ẩn ý) nữa. Vì theo một ý nghĩa ta cần biết các câu trả lời cho những câu hỏi dẫn đến việc lý giải về thể loại văn chương hoặc bầu không khí trước khi ta có thể sử dụng chúng một cách thông minh để khảo sát một khúc sách. Thí dụ việc ta gán cho một phần nào đó có đặc điểm của thi ca cần đến ý thức về ý nghĩa của thể loại thi ca nếu ta làm việc ấy với sự hiểu biết đầy đủ. Mặt khác, con người chúng ta vốn có khuynh hướng sử dụng các từ để mô tả mà không biết chắc là chúng có nghĩa gì. Chính vì khuynh hướng này mà các câu hỏi dẫn đến việc lý giải liên hệ đến thể loại văn chương nói chung và giọng điệu tiềm ẩn trở thành có giá trị


15. Ante, p.96


16. Cần chú ý là có thể nhận thấy có tuyển chọn cả trong mối liên hệ với bản thân trước giả, lẫn với các nhân vật trong tác phẩm của vị ấy. Trong trường hợp này, việc chọn lựa của trước giả giả định trước là có sự lựa chọn của Chúa Giê-xu.


A. Lời đáp cho câu hỏi này cung cấp một thí dụ về một mối liên hệ về cấu trúc mặc nhiên (Ante, pp.38-39)


18. Ante, p.100


19. Vì phần thảo luận về các câu hỏi liên hệ đến phần hình thức và bầu không khí đều ngắn gọn, vắn tắt, nhiều khi chúng sẽ được kết hiệp lại với nhau. Sự việc cũng giống như thế với các loại câu hỏi kém quan trọng hơn.


20. Ante, pp.68-71; cũng xem lại H.148-150


21. Như trên


22. Thi thiên 23 được chọn cho bài nghiên cứu này vì ba lý do chủ yếu: vì nó ngắn gọn vì nó rất quen thuộc, và vì cớ thực thể văn chương của nó.


23. Như đã lưu ý trước cho đến đây, người ta vẫn chưa có thể đưa ra một số nhận xét, nhất là trong lãnh vực cấu trúc, trước khi đã có một phần lý giải nào đó rồi. Phải biết rằng một số nhận xét như câu hỏi khảo sát hay phân tích cần được đưa vào số các câu hỏi dẫn tới việc lý giải. Tất cả các câu hỏi có tính cách khảo sát hay phân tích cần được đưa vào số các câu hỏi dẫn tới việc lý giải. Tất cả các câu hỏi có tính cách khảo sát được dùng sẽ chú trọng vào các mối liên hệ cấu trúc (Ante, pp.99-100)


24. Vì bài thi thiên này thuộc thể loại thi ca, hệ quả là sẽ sử dụng ngôn ngữ có nghĩa bóng, vấn đề lý giải gồm hai phương diện: một là khám phá ra có gì ẩn tàng trong phần nền tảng vật lý (thuộc thể) của hình ảnh trong trường hợp ở đây là xác định các phẩm cách của một người chăn chiên thuộc thể (theo nghĩa đen); và hai là quyết định xem những cách so sánh có thể được ứng dụng cho lãnh vực thuộc linh tại những điểm nào, nghĩa là khám phá ra ở những điểm nào đặc tính của Đức Giê-hô-va và mối liên hệ của Ngài với tác giả Thi thiên giống với đặc tính của một người chăn và mối liên hệ của người ấy với chiên của mình. Nhằm khám phá ra ý nghĩa song phương này, các câu hỏi dẫn đến việc lý giải phải được đặt ra liên hệ cả đến các hình ảnh thuộc thể lẫn với các thành phần thuộc linh tương ứng. Quý độc giả sẽ thấy là trong trường hợp này các câu hỏi được gợi ý về cả hai lãnh vực này. Tuy nhiên, vì không muốn dài giòng, phần hình ảnh thuộc thể nói chung sẽ chỉ cần phỏng đoán mà thôi.


25. Khi được viết hoa, “Đấng Chăn giữ” và “Chiên” chỉ việc ứng dụng hình ảnh về người chăn và con chiên thuộc thể.


26. Các câu hỏi tương tự có thể đặt ra liên hệ với một mối liên hệ về cấu trúc khác nếu lời đáp cho câu hỏi thứ nhất trong loạt câu hỏi là “không”. Điều này được nghiệm đúng cho toàn thể bài tập này.


27. Vì toàn bài Thi thiên này đều được bao gồm trong một câu hỏi như thế này, thành phần cấu thành khúc sách này không được ghi vào bảng phân loại của nó.


28. Về vấn đề phân tích kỹ thuật thể loại văn chương của Thi thiên 23, xin xem Delitzch, F., A Commentary on the Psalms, Volume I, od.loc. Cách cấu trúc toàn diện của Thi thiên này được trình bày dưới hình thức biểu đồ trong phần phụ lục. Vì lý do ấy, nó không được xem xét lại tại điểm này trong bài tập. (Ante, p.72)


29. Ante, p.9


30. Ante, pp.69-70


31. Ante, pp.20-21


32. Ante, p.16


33. Ante, p.72


34. Ante, pp.32-31,74,77-79


35. Ante, p.49


36. Ante, p.75


37. Ante, p.73


38. Ante, p.100


39. Ante, p.20


40. Tất cả những khúc sách này không phải là những đơn vị văn chương trọn vẹn. Một số trong đó đã được cố ý cắt ngắn đi nhằm khuyến khích một bảng liệt kê các nhận xét và các câu hỏi dẫn đến việc lý giải đầy đủ hơn.


41. Cả Phao-lô lẫn Chúa Giê-xu đều kêu gọi chúng ta phải chú ý đến một yếu tố quan trọng trong bất luận một mối liên hệ thầy trò nào. Nếu bài học đã không được lãnh hội, thì nguyên nhân có thể là một trong hai điều sau đây: hoặc đó là lầm lỗi vì người học trò không sẵn sàng để tiếp thu hoặc đủ không khả năng để tiếp thu lời truyền dạy.


42. Ante, p.13. Chính vì ý thức được tính cách cần thiết của yếu tố thuộc linh, nên nó mới được liệt vào số các tiền đề căn bản của việc nghiên cứu đúng phương pháp. Vì điều gì cần thiết để đạt được một mục tiêu, đều là một thành phần hợp lý của bất kỳ một phương tiện nào đã được hoạch định nhằm đạt được nó.


43. Nếu muốn cho phần thảo luận này đi tới điểm tận cùng, thì việc cần thiết phải làm là giải quyết cho rốt ráo vấn đề tổng quát về vai trò của lý trí trong tiến trình giải kinh. Tuy nhiên, vì đây chỉ là những điều gợi ý, thiết tưởng chỉ cần nói rằng các câu mà theo lương tri ngụ ý yếu tố thuần lý là một phụ liệu có ý nghĩa trong tiến trình lý giải cũng đã đủ lắm rồi. Và sự kiện này là điều quan trọng phải thừa nhận, vì trong một số các trường hợp “mặc khải” và “đức tin” đã “bị” định nghĩa khiến cho lý trí bị loại trừ.


44. Một số các yếu tố giải kinh sau đây sẽ không thể đem ra sử dụng đầy đủ nếu người ta không biết ít nhiều nguyên văn. Do đó, nếu quý độc giả không biết các ngôn ngữ nguyên văn, thì được khuyên là nên học biết ít nhất là các phân biệt các phụ âm với các nguyên âm hầu có thể sử dụng các bộ từ điển và từ vựng. Lẽ dĩ nhiên là chúng tôi nhiệt liệt nhắn gởi quý độc giả nên thông thạo các ngôn ngữ trong nguyên văn.


45. Khảo sát đối chiếu cách sử dụng từ ngữ trong Kinh điển - vốn có tầm quan trọng lớn lao để lý giải chúng - là điều có thể thực hiện được một phần lớn căn cứ vào ngôn ngữ thông dụng, là một sự kiện rất có ý nghĩa.


46. Thật ra việc nghiên cứu cách sử dụng các từ ngữ trong Kinh điển gồm luôn yếu tố các mối liên hệ trong văn mạch và sẽ được khảo xét ở vài trang sau đây (xem lại pp.145-148)


47. Người ta rất thường hay quên rằng các vấn đề về bối cảnh của từ nguyên và cách sử dụng phương pháp đối chiếu rất quan trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thông dụng cũng như trong việc khảo sát nguyên văn. Vì lẽ tất nhiên là những người phiên dịch Kinh điển vốn biết rõ nghĩa gốc, nghĩa do ngữ căn, và cách dùng các từ mà họ sử dụng. Nếu quả đúng như thế, thì một bộ từ điển Anh văn tốt cũng sẽ có thể là một công cụ cho việc nghiên cứu bộ Kinh Thánh Anh văn theo đúng phương pháp. Cũng một nguyên tắc ấy cũng áp dụng cho các yếu tố lý giải khác như các phép biến cách và cú pháp, kết hợp với những cuộc thảo luận về văn phạm Anh ngữ tất cả đều có thể được lợi dụng.


48. Terry, M.S., Biblical Hermeneutics, p.86


49. Ante, p.35. Cần lưu ý là nhiều yếu tố được đề cập trong chương về công tác khảo sát sẽ được thảo luận thêm ở đây. Trong số đó, có các yếu tố về các từ theo nghĩa đen và nghĩa bóng, các biến cách, cách cấu trúc, các thể loại văn chương nói chung, và bầu không khí. Thoạt nhìn qua thì dừơng như việc này sẽ kéo theo việc phải nhắc đi nhắc lại cho thấy tại sao cần phải nhắc lại các yếu tố đó tại giao điểm này.


Về một phương diện, đã có một nỗ lực nhằm giới thiệu tất cả các yếu tố quyết định, chủ yếu có thể lợi dụng để trả lời cho bất kỳ câu hỏi dẫn đến việc lý giải nào. Chẳng hạn như ta có thể khảo sát các từ “vật ghê tởm (làm cho hoang tàn)” trong Mac Mc 13:14. Trên cơ sở là công tác khảo sát về từ ngữ, ta có thể đặt câu hỏi “vật ghê tởm” có nghĩa gì? Tại sao các từ này lại được dùng ở đây?” Để trả lời cho các câu hỏi này, ta sẽ dùng một số yếu tố đã được đề cập ở mấy trang trước, như về từ nguyên và cách dùng thông thường. Tuy nhiên, cũng có thể là cần lưu ý đến mối liên hệ cấu trúc của việc tra hỏi, vốn là phần căn bản cho cái khung sườn của khúc sách này. Cả khi nếu quả thật là ta đã thấy ngay mối liên hệ này, điều chẳng có gì là cần thiết cho trường hợp ở đây, điều đó không có nghĩa rằng công tác quan sát sẽ tự động dẫn tới một cái nhìn xuyên suốt được ý nghĩa cần lý giải của nó hoặc cách dùng nó một cách tự động trong tiến trình lý giải. Vì ta có thể thấy định luật đặt câu hỏi trong Mác 13 mà chẳng bao giờ nhận thấy là nó có liên hệ với cách lý giải “vật ghê tởm” do sự kiện các từ này xuất hiện trong lời đáp đặc thù của Chúa Giê-xu cho những câu hỏi của các môn đệ Ngài. Như vậy, vì muốn giải quyết thật rốt ráo mà ta lại phải đề cập các yếu tố này một lần nữa, vì chúng đều tác động lẫn nhau để có thể có được một lời giải.


Hơn nữa, ngay trong mối liên hệ của các trường hợp mà sự tác động giữa các yếu tố không xảy ra, chính tiến trình lý giải cũng đòi hỏi phải nhắc lại từng yếu tố một. Thí dụ ta có thể nhận thấy trường hợp biến cách của động từ “tỏ ra” trong RoRm 1:18 (bản dịch cũ). Căn cứ vào nhận xét ấy, ta có thể đặt ra những câu hỏi sau “Có gì hàm chứa trong thì hiện tại? Tại sao nó lại được dùng ở đây?” Thế thì, điều gì quyết định việc ta sẽ trả lời các câu hỏi ấy như the nào? Yếu tố đầu tiên là bản tính và ý nghĩa của thì hiện tại trong Hi văn. Như thế, biến chuyển sẽ xảy ra như sau: một là việc nhận thấy thì của động từ; hai là các câu hỏi dẫn tới việc lý giải liênhệ đến thì của động từ; và ba là các câu trả lời lý giải căn cứ vào việc phân tích thì hiện tại - các loại, các cách dùng, và ý nghĩa. Nói khác đi, một số các yếu tố đã được nhận thấy trong giai đoạn khảo sát là nhằm mục đích phân tích chúng và áp dụng chúng vào việc lý giải. Như thế, yếu tố biến cách và những yếu tố tương tự xuất hiện cả trong tiến trình khảo sát lẫn trong tiến trình lý giải. Việc liên kết hai giai đoạn nghiên cứu này là cần thiết, nếu muốn cho cách tiếp cận của ta xảy ra đúng phương pháp.


Một lý do thứ ba để nhắc lại các yếu tố này, là để chỉ ra càng đầy đủ hơn ý nghĩa của chúng đối với công tác lý giải. Việc này đã được thực hiện một phần nào trong việc thảo luận về công tác khảo sát để vạch rõ lý do tại sao các yếu tố ấy phải được ghi nhận trước nhất. Tuy nhiên, cần phải chứng minh tầm quan trọng giải kinh của chúng càng đầy đủ hơn, nếu muốn cho phần thảo luận này có ý nghĩa.


Và sau cùng, việc khám phá ra một số các yếu tố này thường sẽ không xảy ra trứơc khi ta đã bắt tay vào tiến trình trả lời các câu hỏi dẫn đến việc lý giải. Do đó, nếu ta không chú ý đến chúng trong giai đoạn khảo cứu này, chúng có thể bị bỏ qua, làm thiệt hại cho việc lý giải đúng, có giá trị.


50. Xem phần Phụ lục về một thí dụ vắn tắt liên hệ đến việc nghiên cứu một chữ nằm trong một số các yếu tố này


51. Ante, pp.35-36. Lý lịch của các từ được khẳng định ở đây, vì theo một phương diện, chỉ có một vài loại từ nào đó mới có một vài biến cách mà thôi.


52. Dana and Mantey. A Manual Grammar of the Greek New Testament, p.197


53. Mấy câu này không hàm ý rằng các biến cách đều có ý nghĩa giống nhau trong tất cả các ngôn ngữ. Vì mỗi ngôn ngữ đều có các đặc điểm riêng của nó. Thí dụ các thì của động từ Anh ngữ liên hệ mật thiết với thời gian; thì của các động từ trong Hy-bá-lai văn lại chẳng có liên hệ gì với thời gian cả, trái lại, lại liên hệ với các tình trạng của hành động; các thì của động từ Hi văn rất giống với các thì của động từ Hy-bá-lai văn, tuy chúng có bao hàm một phần nào yếu tố thời gian. Như thế, mỗi ngôn ngữ đều cá biệt, và ta đừng bao giờ nhầm lẫn mà xem chung như giống hệt nhau. Cần phải có một nỗ lực để liên kết chúng lại với nhau nhất là vì việc sử dụng bản dịch Anh văn. Nhưng việc này phải được thực hiện với ý thức về những điểm dị biệt hết sức rõ rệt của chúng (Ante, p.81)


54. Ante, pp.40-55)


55. Tất cả các yếu tố về văn mạch này không có nơi từng từ một của tất cả các khúc sách


56. Ante, pp.68-71


57. Về một phần thảo luận đầy đủ hơn liên hệ đến ý nghĩa của thể văn ẩn dụ, xem các chương mở đầu của tác phẩm của R.Trench, Notes on the Parables of Lord


58. “Revelation, Book of”, Schaff Herzog Encyclopedia of Religion Knowledge


59. Ante, p.71


60. Ante, pp.93-95


61. Gồm luôn trong góc cạnh này, là tất cả các yếu tố của phong trào phê bình cao hơn (higher critisism) liên quan đến vấn đề các quyển sách trong Kinh Thánh đã được viết ra như thế nào.


Một trong số rất nhiều thí dụ về tầm quan trọng của bối cảnh lịch sử đối với công tác giải kinh là nhu cầu phải am hiểu các quan điểm của Trí huệ phái để thấu hiểu thư Cô-lô-se và IGiăng.


62. Ante, pp.10-11, 93-95. Yếu tố tâm lý rất thích hợp cho cuộc tranh cãi là chẳng hay Chúa Giê-xu tự cho mình là nhà tiên tri vĩ đại nhất, hay Ngài tự nghĩ mình là chính Thượng Đế. Về vấn đề này, cần đối chiếu các lời nói và việc làm của Chúa Giê-xu, như những câu trong Mat Mt 11:27-30, với lời nói và việc làm của các nhà tiên tri, để khám phá xem sự tự ý thức về mình mà các vị bộc lộ là thiết yếu giống nhau hay khác nhau về phẩm chất.


Về một thí dụ khác liên hệ đến hiệu quả của yếu tố tâm lý, xem các trang 17-22 bài tiểu luận nhan đề Negleeted Enphases in the Biblical Criticism trong đó có bài diễn văn khai mạc của Tiến sĩ Donald G.Miller cũng như của Walter H.Robertson, Giáo sư về Tân ước tại Chủng việc Thần học Liên hiệp, Richmond, Virginia đã đọc.


Nguyên tắc giải kinh này Tiến sĩ A.C. Wyckoff vừa từ Chủng viện Thánh Kinh tại New York mới hồi hưu gần đây đóng góp các nỗ lực của mình vào. Tiến sĩ Wyckoff đã thực hiện một công trình nổi bật ở lãnh vực này, và tác giả sách này đã hàm ơn ông rất nhiều trong tất cả những cái nhìn xuyên suốt mình đã có được về ý nghĩa của công tác lý giải.


63. Ante, p.96. Các giai đoạn thuần lý và mặc nhiên trong công tác lý giải đều gồm luôn trong yếu tố này.


64. Xem lại tr.160


65. Xem các trang 206-208, 212-213 sau đây


66. Xem GaGl 4:4


67. Xem cách đưa thì quá khứ (aorist) của động từ “được” trong Mac Mc 11:24 làm một thí dụ cho việc thực hiện tiến trình sau này. Cũng lưu ý rằng, theo nghĩa hẹp, việc chú ý phần phê bình văn bản thật ra thuộc về đoạn sách đang khảo sát, vì nó liên hệ với câu hỏi “Ở đây có gì?” Tuy nhiên, trong số nhiều việc khác, việc cần làm có khi là giải nghĩa khác nhau, nghĩa nào là phù hợp nhất với nó, dường như giải quyết vấn đề này trong giai đoạn lý giải là khôn ngoan


68. Dana, H.E. Searching the Scriptures, p.237


69. Ante, pp.8-9


70. Ante, pp.21-22. Cần lưu ý là tuy yếu tố ý kiến lý giải được xếp vào loại yếu tố quyết định khách quan, vì lẽ dĩ nhiên là nó vốn khách quan đối với cá nhân người nghiên cứu, nó vẫn có một yếu tố chủ quan bên trong từ quan điểm nhà bình luận.


71. Ante, pp.20-21


72. Ante, pp.16


73. Ante, p77


74. Xem phần Phụ lục thảo luận các bố cục hợp lý


75. Bản dịch diễn ý cũng có thể được dùng trong công tác ứng dụng chân lý của Kinh điển. Một số các bài Thi thiên và một số các khúc sách tiên tri đặc biệt được dành cho loại giải quyết này.


76. Tìm các thí dụ minh họa trong phần Phụ lục


77. Các loại lý giải sau đây được coi bằng nhiều tên khác nhau và được tổ chức theo nhiều cách. Thật vậy, một số từ được dùng trong phần thảo luận này được nhiều người khác sử dụng theo nghĩa trái lại. Do đó, bảng danh mục được dùng ở đây phải được hiểu dưới làn ánh sáng của văn mạch của nó.


78. Ante, pp.145-48. Cách tránh việc làm nguy hiểm này khi giảng dạy, là quan niệm bài giảng như phần bình giải một đơn vị được cấu trúc của Kinh điển. Những bài giảng như thế được gọi là các bài giảng “giải nghĩa Kinh Thánh”


79. Ante, pp.6-8,11,12


80. Ante, pp.136-137


81. Ante, p.69


82. Ante, pp.70-71, 148-149


83. Ante, pp.93-95,152


84. Ante, pp.142-143. Tác giả sách này không nhất thiết hàm ý rằng mình chấp nhận quan điểm hiểu Sáng thế ký 3 theo nghĩa bóng. Tức là chỉ bảo rằng có thể chấp nhận một lời lý giải theo nghĩa bóng và vẫn giữ niềm tin vào sử tính cốt yếu của nó


85. Vấn đề cách dùng Cựu ước thứ ba thiết yếu có khác với cách dùng thứ hai không có thể hãy còn trong vòng tranh luận; tuy nhiên tác giả đã thấy việc phân biệt chúng là hữu ích.


86. Cách Tân ước dùng các thí dụ trong Cựu ước hậu thuẫn cho quan điểm này. Xin xem Hy 3-4 chẳng hạn


87. Cần lưu ý là phương pháp tiếp cận có hệ thống cũng như một số các phương pháp khác, có khuynh hướng vượt khỏi công tác lý giải để chuyển sang công tác đánh giá, ứng dụng và kết hợp, vốn là các giai đoạn sau của cách nghiên cứu đúng phương pháp.


88. Ante, pp.140-141


89. Ante. pp.9-10


90. Bảng liệt kê các loại lý giải sai lầm này là chưa đầy đủ, vì nó chưa có các loại như lý giải theo thần bí học hay đạo đức học của Kant. Nó cũng chưa có các yếu tố tự loại trừ lẫn nhau.


Có lẽ do tình cờ, quý độc giả có thể tự hỏi tại sao các sự kiện kể trên lại luôn luôn được nhấn mạnh trong số rất nhiều thí dụ và cách phân loại đã được đưa ra. Sở dĩ tác giả làm theo cách này là vì nhận thấy các sinh viên hay cho rằng bất kỳ một bảng liệt kê nào đã được đưa ra thì đều hàm ý rằng nó đã vét cạn vắt kiệt mọi khả năng, và rằng bất kỳ một cố gắng phân loại các yếu tố khác nhau nào cũng nhất thiết hàm ý rằng các loại hạng ấy đều tự loại trừ lẫn nhau. Cách quyết đoán như vậy thường dẫn đến nhiều hiểu lầm và vấn đề. Do đó, nhằm tránh cách cách lý giải sai lầm tương tự, các sự kiện đã được đề cập trên đây rất thường được yêu cầu quý độc giả chú ý.


91. Terry, M.S. Bblical Hermeneutics, p.11


92. Ante, pp.152-154


93. Ante, pp.156-158


94. Ante, p.11


95. Ante, pp.96,155-156


96. Ante, p.179-180


97. Ante, p.167


98. Ante, pp.170-171,174-175


99. Về một cuộc thảo luận rốt ráo hơn các điểm phân biệt này, xem đoạn mở đầu tác phẩm Notes on the Miracles của R.Trench


100. Về vấn đề này, xem Greene, T.M. The Arts and the Art of Criticism, pp.369-373


101. Ante, pp.21-22.

HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2026 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page