top of page

HungT
Jul 3, 2026
Tác-giả: Robert A. Traina
TÓM TẮT.
Ngay ở phần bắt đầu công trình nghiên-cứu này, chúng tôi có đề-cập cách định nghĩa “phương pháp” của Dewey, theo đó ông chỉ rõ nó chú trọng vào “các điểm tối quan-trọng mà các điều-kiện tăng-trưởng phải được duy trì và vun đắp” (1).
Một khi đã sử dụng điều đó làm cơ sở nghiên-cứu cho phần thảo luận trên đây, ta có thể nhìn lại nó bằng 7 từ ngữ đơn giản sau đây: nhìn thấy, tra cứu, trả lời, tóm tắt, đánh giá, ứng dụng và kết hợp.
-Điểm tối quan-trọng đầu tiên của công tác nghiên-cứu đúng phương pháp là phải học tập để biết nhìn thấy. Vì quan sát là chiếc vòng nối liền, chủ thể với đối tượng. Nhờ nó mà tâm-trí biết được các thành phần cấu tạo nên một khúc sách, và như thế là quy nạp ph áp đã được bắt đầu rồi.
Con số của các thành phần chủ yếu cấu tạo nên một khúc sách là 4: các từ, cách cấu trúc, các thể loại văn chương tổng quát, và bầu không khí.
Vậy 4 thành phần ấy phải được đặt làm đối tượng cho con mắt nhìn thấy. Điều này đặc biệt nghiệm đúng cho cách cấu trúc vốn hết sức quan-trọng trong việc truyền-thông bằng văn chương, thế nhưng lại chỉ được người nào chịu truy tầm thật tỉ mỉ mới quan sát thấy nó mà thôi (2)
-Nhưng nếu chỉ biết như thế mà thôi thì vẫn chưa đủ. Chủ-đích của sự hiểu biết, ý thức, là cung-cấp cho tâm-trí phần chất liệu để làm việc. Mà công việc này bắt đầu khi tâm-trí thắc mắc để tra vấn phần ý nghĩa của những gì đã được nhận biết. Do đó, đây là điểm quan-trọng thứ hai mà sự tăng-trưởng rất cần để được duy trì và vun đắp. Vì nếu người ta không phát triển được tánh hiếu kỳ và thắc mắc tra hỏi để tìm hiểu, thì các kết quả của công tác khảo (quan) sát sẽ như một trái cây đã được hái xuống mà không được ăn.
Tuy nhiên, đến lượt nó, việc tra-vấn chỉ hữu ích khi nào ta cố gắng giải đáp chúng, và nếu ta đã trả lời thật đúng. Điều này chỉ có thể thực hiện nhờ biết phát triển thái-độ tái sáng tạo, khiến ta tự đặt mình vào địa-vị của các trước-giả Kinh-Thánh hầu cảm nhận được những gì các vị đã từng suy nghĩ. Và cho dù người ta có sử dụng các thói quen và trợ cụ nào để giải kinh đi chăng nữa, người ta đều phải lợi dụng chúng cách nào để chúng làm nảy sinh và đẩy mạnh việc tái sáng tạo.
-Sau khi đã có được những lời giải đáp nhờ biết tái sáng tạo đó rồi, thì công tác của ta sẽ là đúc kết và tóm tắt chúng để khám-phá ra bức thông-điệp đầu tiên của một trước-giả. Bước này là chủ yếu, bởi vì chính bản-tính của một khúc sách vốn gồm có một số các yếu-tố đan dệt chặt chẽ vào nhau mà một tác-giả phải lệ thuộc vào để truyền-thông các ý-niệm của mình. Như thế, một khi ta đã phát giác được bức thông-điệp của ông ta rồi, ta phải kết hợp những cách lý giải của mình với các yếu-tố khác đã được dùng trong khúc sách ấy.
-Bước quan-trọng tiếp theo đó là sự cần thiết phải đánh giá bức thông-điệp của một khúc sách. Vì ta phải khám-phá cho được giá trị và tính-cách hợp thời thật chính xác của nó, trước khi biết được cách lợi dụng nó cho mình. Điều này sở dĩ cần thiết vì các thành phần khác nhau trong Kinh điển vốn đã được viết ra và gởi đến cho nhiều hoàn cảnh lịch-sử cụ thể khác nhau trải dài suốt nhiều thế kỷ. Do đó, phải có một nỗ lực nhằm xác định xem có các chân-lý nào chỉ có tính cách địa phương, và những chân-lý nào là có giá trị phổ quát trên cơ sở là Chúa Cứu Thế phổ quát.
-Một khi đã khám-phá ra chân-lý phổ quát rồi, ta phải tìm xem chân-lý ấy phù hợp cho hoàn cảnh, tình hình nào. Và ta phải ứng dụng chân-lý ấy cho một hoàn cảnh, tình hình giống như thế, không những chỉ trên lý thuyết mà bằng cả việc thật sự thực hành nữa.
-Sau khi đã nghiên-cứu nhiều khúc sách như thế rồi, ta đã sẵn sàng để bắt đầu một nhiệm-vụ vốn phải liên tục xảy ra trong suốt đời sống mình. Nhiệm-vụ đó là kết hợp các khúc Kinh-Thánh mình đã nghiên-cứu lại với nhau và với các dữ-kiện của từng-trải bên ngoài Kinh-Thánh nữa. Như thế, ta sẽ phát triển được một nền thần-học theo Kinh-Thánh và cuối cùng, là một quan-điểm được liên kết chặt chẽ vào nhau của Kinh-Thánh về cuộc đời. Đây chính là tuyệt đỉnh đích thực của quy nạp pháp.
Thế thì, phần trên đây là các bước trọng yếu của công tác nghiên-cứu Kinh-Thánh có phương pháp cần phải được duy trì và vun đắp. Và trên đời này chỉ có một người duy nhất có thể duy trì và vun đắp được cho chúng. Người đó là chính bạn, việc quyết định chẳng hay bạn sẽ tự đào luyện mình theo một phương pháp như vậy để Thánh Linh của Thượng-Đế có thể đại dụng bạn trong việc lý giải Kinh điển hay không, đang nằm trong tay bạn. Quyển sách này chỉ gợi ý cho bạn mà thôi. Nó hàm chứa một số các bảng chỉ dẫn vạch ra phần methodos hầu có thể tiến đến việc có thể nghiên-cứu Kinh-Thánh có kết quả. Bây giờ thì tất cả đều tùy thuộc vào người lữ khách!
CHÚ THÍCH.
1. Ante, p.5
2. Ante, p.37
PHỤ LỤC.
Phụ lục A - Biểu đồ.
1. Các loại biểu đồ.
2. Các lý-do hàng đầu cho việc vẽ biểu đồ.
3. Các nguyên tắc ẩn tàng và gợi ý cụ thể cho việc vẽ biểu đồ.
4. Các nội dung khác của biểu đồ.
5. Các thí-dụ về biểu đồ.
a. Thi Tv 23:1-6
b. GiGa 5:1-47
c. Gia Gc 2:1-26
d. Giô-suê
e. ISa-mu-ên
Phuc lục B - Nghiên-cứu từ ngữ “Thánh” (Kadash)
1. Ngữ nguyên.
2. Cách thông dụng.
3. Tóm tắt một phần các phát kiến.
Phụ lục C - Bố-cục hợp lý
1. Mô-tả các bố-cục hợp lý.
2. Công dụng của các bố-cục hợp lý.
3. Các gợi ý để lập những bố-cục hợp lý.
4. Các thí-dụ về các bố-cục hợp lý.
a. Thí-dụ về một bố-cục chi tiết (RôRm 1:18-32).
b. Thí-dụ về một bố-cục tóm tắt (2:1-3:8).
Phụ lục D - Sử dụng sách Chỉ nam này trong việc giảng dạy cách nghiên-cứu Kinh-Thánh đúng phương pháp.
Chú thích.
PHỤ LỤC A : BIỂU ĐỒ.
1. Các loại biểu đồ.
Có thể chia các biểu đồ thành 2 loại, các biểu đồ theo chiều ngang và các biểu đồ theo chiều dọc. Trong cả 2 loại này đều có những trường hợp biến dạng, nhưng chúng tiêu biểu cho 2 loại biểu đồ chính. Loại thứ nhất rất hữu ích đối với các khúc sách mà phần viễn cảnh là quan-trọng như các đơn vị có tài-liệu nhiều hơn; loại thứ hai thường hữu dụng trong việc nghiên-cứu các đơn vị ngắn hơn, như những đoạn ngắn (segments)
Có thể vẽ một biểu đồ theo chiều ngang như sau đây (Xem hình 1, tr.235)
Một biểu đồ theo chiều dọc có thể được vẽ như sau đây: (xem hình 2, tr.235)
2. Các lý-do hàng đầu cho việc vẽ biểu đồ
a. Chúng tạo lợi thế cho việc dùng thị giác làm cửa ra vào và do đó lợi dụng được một đại lộ khác nữa cho việc học hỏi.
b. Chúng áp dụng một phương-tiện hết sức hữu ích để ghi lại những gì ta phát giác được.
c. Chúng giúp tạo ra cho ta một ấn-tượng về phần khung sườn và các ý-niệm vượt trội về cái toàn thể.
d. Chúng cung-cấp một nền móng để truyền dạy nhiều đơn vị tài-liệu lớn trong một lượng thời gian giới hạn.
3. Các nguyên tắc ẩn tàng và gợi ý cụ thể cho việc vẽ biểu đồ.
a. Ta phải cẩn thận giữ cho các biểu đồ có đặc-tính quy nạp. Biểu đồ phải do cách cấu trúc của tài-liệu Kinh-Thánh quyết định; biểu đồ không thể quyết định cho cách cấu trúc của phần tài-liệu trong Kinh-Thánh. Đừng cưỡng ép để đưa một ý-niệm nào đó vào trong một đơn vị chỉ vì nó có thể cung-cấp được một tài-liệu tốt cho một biểu đồ. Phải nhớ rằng biểu đồ là một phương-tiện chớ không phải là cứu cánh.
b. Các biểu đồ phải phản ảnh phần phân tích chớ không phải chỉ chứa đựng các lời lẽ y như trong Kinh điển.
c. Thông thường thì chúng phải là của riêng của một ai đó, là sản phẩm của một công trình nghiên-cứu cá nhân.
d. Các biểu đồ phải cho thấy cả những mối liên-hệ cấu trúc bên trong các đơn vị Kinh-Thánh (phép đặt tương phản đối chiếu, v.v..) lẫn các tài-liệu làm ra các mối liên-hệ ấy (địa lý, tiểu-sử, v.v..)
e. Chúng chỉ nên chứa đúng các từ, các mối liên-hệ, các ý-niệm chủ yếu mà thôi. Ta không nên đưa quá nhiều tài-liệu hoặc vẽ quá nhiều đường biểu diễn vào một biểu đồ khiến nó trở thành một nguồn gây rắc rối lộn xộn thay vì là một phương-tiện để làm sáng tỏ. Nếu sau một năm được vẽ ra mà nhìn vào đó người ta không hiểu được nó thật dễ dàng, thì rất có thể là phần kỹ thuật của một biểu đồ vốn là một sai lầm.
f. Ta phải nghĩ ra các phương pháp để nói lên những đoạn, những mối liên-hệ, những ý-niệm, v.v.. nào đó của một đơn vị Kinh-Thánh là quan-trọng nhất. Có thể đưa những điểm đó vào bằng cách viết chữ đậm nét, gạch dưới hoặc khuyên tròn.
g. Về bản-tính và mục-đích, các biểu đồ phải có đặc tính tổng hợp; chúng không nêu chỉ đơn giản vạch ra các thành phần phân biệt hay những phần lớn của một khúc sách mà thôi.
h. Ta phải cố gắng thay đổi các ph ương pháp vẽ biểu đồ
i. Các biểu đồ phải có tính cách liên tục để đạt được mục-tiêu của chúng là giúp vun bồi thêm cho phần viễn cảnh. Thí-dụ nếu một biểu đồ được vẽ theo chiều ngang, ta không nên chỉ chia nó thành 2 phần rồi đặt phần này nằm dưới phần kia.
j. Các biểu đồ không nên dài quá vì chiều dài quá đáng gây trở ngại cho tầm nhìn xa (viễn cảnh).
k. Các biểu đồ phải được dàn dựng như thế nào để từ một lợi điểm nào đó, người ta có thể đọc rõ phần khung sườn của nó. Người ta sẽ không nhận ra được giá trị thật đầy đủ của một biểu đồ nếu thấy là phải nhìn vào đó từ nhiều góc cạnh khác nhau khi cần đọc nó.
l. Ta phải đưa phần tham khảo vào các biểu đồ của mình. Thí-dụ các tài-liệu trong Kinh-Thánh phải được ghi ra bằng chương và câu. Nếu cần trích dẫn các tài-liệu ngoài Kinh-Thánh, cũng phải ghi rõ xuất xứ.
m. Thông thường thì việc ghi luận-đề được nội dung và biểu đồ ấy làm sáng tỏ lên trên đầu trang giấy sẽ rất hữu ích.
n. Các biểu đồ phải được vẽ ra sao cho nhiều người khác cũng có thể đọc chúng. Chúng phải tự giải thích chính mình. Nếu cần ta có thể có phần chỉ dẫn. Tuy nhiên, các biểu đồ phải được vẽ càng đơn giản càng hơn.
o. Biểu đồ phải phản ảnh được cả bức thông-điệp lẫn phần hình thức. Nó phải có đặc tính vừa lý giải vừa nhận xét.
p. Nếu có thể được, ta phải cố gắng chia các phần của các biểu đồ thật cân đối về chiều dài với số tài-liệu trong Kinh-Thánh mà ta giới thiệu. Nói khác đi, nếu cấu trúc của một đơn vị của một khúc sách gồm 10 chương, thì ta phải dành nhiều chỗ cho nó hơn là một đơn vị cấu trúc chỉ gồm có 2 chương mà thôi.
q. Khi vẽ biểu đồ, nói chung thì tốt nhất là phải theo đúng thứ tự thời gian của văn bản, chớ không nên sắp xếp nó lại theo một cách khác.
r. Ngoài ra các biểu đồ nên sử dụng các thị cụ khác nữa, như các bố-cục. Phải tránh việc làm nô-lệ cho các biểu đồ.
4. Các nội dung khác của biểu đồ.
Sau đây là một số các gợi ý về nhiều nét đặc trưng khác nữa thỉnh thoảng có thể được đưa vào trong một biểu đồ. Một số có thể đưa vào trong chính biểu đồ, và một số khác được ghi bên dưới.
a. Chương sách hoặc các tiểu mục của một phân đoạn.
b. Phần đối chiếu và tương phản nhau giữa phần đầu và phần cuối của quyển sách.
c. Các nghiên-cứu về từ ngữ.
d. Những nét đặc trưng nổi bật đã không được chỉ ra bằng những phương pháp khác.
e. Thông tin do sử-ký cung-cấp, như các niên đại.
f. Các bố-cục có tính cách phân tích các phân đoạn hay đoạn ngắn
g. Các bản đồ.
h. Các nghiên-cứu theo đề mục hay tiểu-sử
i. Những đoạn trích dẫn tốt - cả trong lẫn ngoài Kinh-Thánh.
j. Các vấn-đề đặt ra cho việc tra cứu tương lai.
k. Các đề-mục cho công-trình nghiên-cứu sau.
l. Các bài học chính (ứng dụng)
m. Các câu cần học thuộc lòng.
n. Những khúc sách có tính cách bồi-linh.
o. Những gợi ý cho bài giảng.
p. Các phương pháp có thể đem ra truyền dạy.
q. Mối liên-hệ với các khác sách khác.
5. Các thí-dụ về biểu đồ.
Các biểu đồ sau đây không hề ngụ ý minh họa thật đầy đủ các nguyên tắc và gợi ý trong phần thảo luận trên đây. Tuy nhiên, chúng tôi hy-vọng chúng sẽ giúp làm sáng tỏ một số điểm thiết yếu liên-hệ đến việc vẽ biểu đồ cũng như chỉ rõ cách cấu trúc của một số các đơn vị tài-liệu chọn lọc nhỏ hơn hoặc lớn hơn trong Kinh-Thánh.
(xem hình 3, tr.239) (xem hình 4, tr.240)
Gia Gc 2:1-26
Các việc l àm của đức-tin.
Lời khuyên (c.1)
(vô tư)
Các lý-do (cc.2-13)
(hậu thuẫn lý tưởng)
1. Tây vị là trái với ý chỉ, mục-đích và cách đánh giá của Thượng-Đế (cc.2-6a)
2. Tây vị là trái với lương-tri.
(cc.6b-7)
3. Tây vị là trái với luật của Cơ-đốc giáo và sự an-vui phúc lợi đời-đời của các độc-giả.
(cc.8-13)
NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT.
“Đức-tin không thực hành chỉ là đức-tin vô dụng”
(cc.17,26)
1. Đức-tin được minh họa và nêu rõ. (cc.14-17)
2. Đức-tin được hậu thuẫn và nhắc lại. (cc.18-26)
(Dự đoán và trả lời các phản bác)
VẤN-ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP ĐẶC THÙ ĐỨC-TIN (C.1)
NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT VÔ TƯ
(Tổng quát hóa và hậu thuẫn lý tưởng) ĐỨC-TIN (c.14)
Việc làm:
• Giô-suê
Sở dĩ Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên chinh-phục được xứ Ca-na-an là nhờ họ biết trông-cậy vào Đức Giê-hô-va
Đáng Tin Cậy và Tối Cần Thiết.
(Hình 6 - tr.242)
Xin chú ý các sự-kiện sau đây liên-hệ với biểu đồ này.
-Thứ nhất, nó chứng-minh cho sự phân biệt giữa cách cấu trúc trên bề mặt và cách cấu trúc tiềm ẩn bên dưới bề mặt. Cách sắp xếp được chỉ ra bằng các triển mục “chuẩn bị”, “xâm nhập”, “phân chia”, v.v.. vốn có bản-tính lịch-sử. Trong sách cũng có những đoạn viết về địa lý và tiểu-sử, như đặt tương phản giữa đoạn bắt đầu và đoạn kết thúc quyển sách đã chỉ rõ. Tất cả những điều đó đều cấu thành phần cấu trúc trên bề mặt. Phần khung sườn được chỉ ra bằng các tiểu-mục “dự đoán”, “thực hiện” và “ôn duyệt” bao gồm phần cấu trúc tiềm ẩn dưới bề mặt và có liên-hệ chặt chẽ với diễn biến đã được gọi là “lý tưởng”. Phần cấu trúc tiềm ẩn dưới bề mặt vốn khó phát hiện hơn, và trong trường hợp ở đây, đã nói lên điều vốn gần gũi bám sát nhất vào mục đích và bức thông-điệp của quyển sách (2).
-Thứ hai, biểu đồ minh họa giá trị của việc đặt tương phản giữa phần bắt đầu với phần kết thúc của một số các quyển sách. Một phương thức như thế chẳng những chỉ ra sự tiến triển, mà còn cung-cấp cả một cái nhìn xuyên suốt vào nội dung bao quát của một quyển sách nữa. Vì trong trường hợp cá biệt này, nó gợi ý rằng sách Giô-suê hàm chứa cuộc hành-trình của dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Mô-áp đến xứ Ca-na-an, là các biến cố đã xảy ra trong thời gian lãnh đạo của Giô-suê, và là các biến-cố bởi đó Thượng-Đế đã làm ứng nghiệm các lời-hứa trước đó của Ngài (3).
-Thứ ba, biểu đồ này chỉ ra cả các mối liên-hệ cấu trúc lẫn số tài-liệu đã được sử dụng để thực hiện chúng.
ISa-mu-ên
PHỤ LỤC B : NGHIÊN-CỨU TỪ NGỮ: THÁNH (KADASH)
Phần tài-liệu sau đây chưa phải là cạn kiệt, rốt ráo, nhưng tác-giả mong là nó sẽ gợi ý cả về phương pháp tiếp cận lẫn các giá trị hàm chứa trong các công-trình nghiên-cứu từ ngữ.
1. Ngữ nguyên.
Các nguồn tài-liệu tham khảo: các sách về từ vựng Hy bá lai văn như của Genesis về nghiên-cứu từ ngữ như của Girdlestone; các bộ Thánh-Kinh Từ điển như International Standard Bible Encyclopedia; Anh văn Từ điển; các nguồn tài-liệu linh tinh như Jewish Encyclopedia.
a. Nghĩa gốc
Nghĩa gốc của Kadash vốn bị thắc mắc đặt thành vấn-đề. Tuy nhiên, quan-điểm được ủng hộ nhiều nhất, là Kadash nguyên có ý-niệm về phân rẽ hay rút lui khỏi. Theo nghĩa này, nó đã được dùng để mô-tả một số đồ vật được dùng để cúng lễ, do đó, bị rút ra khỏi cách sử dụng thông thường. Nó cũng được dùng chỉ các thần ngoại đạo, vì các thần vốn được biệt riêng ra, hoặc vốn khả hẳn với người thường, Kadash dường như đã được dùng theo nghĩa nguyên thủy của nó trong PhucDnl 22:9.
b. Nghĩa biến đổi.
Từ nghĩa gốc này, trong Cựu-Ước nó bị biến đổi để có ý-niệm về thánh khiết hay thiêng-liêng. Vật thánh được rút ra khỏi cách sử dụng thông thường để được biệt ra và dùng cho Thượng-Đế mà thôi. Một sự tách rời, cách ly như vậy là cần thiết vì nó có liên-hệ với vị Thần Tối Cao. Vì vị Thần Tối Cao vốn độc nhất vô nhị, cho nên bất kỳ điều gì có liên-hệ với vị Thần ấy, cũng phải có một không hai.
2. Cách dùng thông thường.
(Các nguồn tài-liệu: các sách phù dẫn, thêm vào số sách đã kể ra ở trên).
Phương thức thực hiện liên-hệ với phương diện tra cứu này là khảo-xét mọi tài-liệu có thể tham-khảo về các hình thức khác nhau mà một từ ngữ đã được sử dụng để cố phân loại chúng nếu có thể phân loại được. Căn cứ vào các loại sử dụng khác nhau cũng như cách dùng nào là vượt trội nhất, ta có thể khám-phá ra cách thức cơ bản mà một từ ngữ đã được sử dụng. Tuy nhiên, phải nhớ rằng nói cho cùng thì mỗi một từ đều phải được lý giải trong cùng ánh sáng của văn mạch riêng biệt của nó.
a. Ứng dụng cho các nơi chốn (địa điểm)
- ”...Đức Chúa Trời bèn ở giữa bụi gai gọi (người) rằng:... Hãy cổi giày ngươi ra, vì chỗ người đương đứng là đất thánh” (XuXh 3:4-5)
- “Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và ta sẽ ở giữa họ” (25:8)
- “Bởi vì Đức Giê-hô-va ngươi đi giữa trại quân ngươi... vậy, trại quân ngươi phải thánh, kẻo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi thấy sử ô uế ở nơi ngươi, và xây mặt khỏi ngươi chăng” (PhucDnl 23:14)
- “Hết thảy người Lê-vi ở trong thành thánh, được hai trăm tám mươi bốn người” (NêhNe 11:18)
- “Dầu vậy, ta đã lập vua ta trên Si-ôn là núi thánh ta” (ThiTv 2:6)
- “Rày tôi biết Đức Giê-hô-va cứu đấng chịu xức dầu của Ngài. Từ trên trời thánh, Ngài sẽ trả lời người” (20:6)
b. Ứng dụng cho các đồ vật
- “Người (A-rôn) sẽ mặc áo lá trong thánh bằng vải gai... Ấy là bộ áo thánh mà ngươi sẽ mặc...” (LêLv 19:24)
- “Nhưng qua năm thứ tư các trái nó sẽ nên thánh làm của lễ khen ngợi Đức Giê-hô-va” (19:24)
- “Vua Đa-vít cũng biệt các món này riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va...” (IISa 2Sm 8:11)
- “Những thầy tế-lễ và người Lê-vi đều đem lên cái hòm, hội mạc, và các khí dụng thánh vốn ở trong trại” (IISu 2Sb 5:5)
- “Ta đã gặp Đa-vít là kẻ tôi tớ ta, xức cho người bằng dầu thánh ta” (ThiTv 89:20)
c. Ứng dụng cho thời gian.
- “Rồi Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi” (SaSt 2:3)
- “Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm hiệp thành, chẳng nên làm một công việc xác thịt” (LêLv 23:7)
- “Khá định sự kiêng ăn (thánh, theo bản Anh văn), gọi một hội đồng trọng thể, nhóm các trưởng-lão và hết thảy dân-cư trong đất lại nơi nhà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, và hãy kêu cùng Đức Giê-hô-va” (GioGe 1:14)
d. Ứng dụng cho người ta.
• Với con người để trở thành một tác nhân tích cực:
- “Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, bất luận người hay vật hãy vì ta biệt riêng ra thánh mọi con đầu lòng; bởi con đầu lòng thuộc về ta” (XuXh 13:2)
- “Đoạn, hãy lấy bộ áo đó mặc cho A-rôn anh người, cùng các con trai người, hãy xức dầu cho, lập và biệt riêng ra thánh, để họ làm chức tế-lễ trước mặt ta” (26:41)
- “Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; ta là thánh nên các ngươi phải nên thánh, thì sẽ được thánh. Các ngươi chớ vì một con nào của loài côn trùng trên mặt đất mà làm lây ô uế cho thân mình” (LêLv 11:44)
- “Hãy truyền cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Hãy nên thánh, vì ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vốn là thánh” (19:2)
• Với Thượng-Đế, là tác nhân tích cực:
- ”...nhứt là các ngươi hãy giữ ngày sa-bát ta... để thiên-hạ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, làm cho các ngươi nên thánh” (XuXh 31:13)
- “Các ngươi hãy giữ làm theo những luật-pháp ta: Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng làm cho các ngươi nên thánh” (LêLv 20:8)
- ”...trước khi ngươi sanh ra, ta đã biệt riêng ngươi (nên thánh), lập ngươi làm kẻ tiên-tri cho các nước” (GiêGr 1:5)
e. Ứng dụng cho Thượng-Đế
• Để mô-tả mối liên-hệ giữa Ngài với loài người.
- ”...và ta sẽ được tỏ ra thánh trong các ngươi ở trước mắt dân ngoại” (ÊxeEd 20:41)
- “Ta sẽ làm nên thánh danh lớn của ta, là danh đã bị phạm trong các dân giữa các dân đó, các ngươi đã phạm danh ấy. Chúa Giê-hô-va phán: Như vậy, các dân-tộc sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va khi trước mắt chúng nó, ta sẽ được tỏ ra thánh bởi các ngươi” (36:23)
• Để mô-tả đặc (cá) tính của Ngài:
- Tính-cách vô đối của Ngài - “Đấng Thánh phán rằng: Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta?” (EsIs 40:25)
- Tính-cách không thể đến gần của Ngài - “Bấy giờ Bết-sê-mết nói: Ai có thể đứng nổi trước mặt Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chí thánh?...” (ISa1Sm 6:20)
- Thần-tánh Ngài - “Ta cầm sự nóng giận lại và sẽ chẳng lại hủy diệt Ép-ra-im. Vì ta là Đức Chúa Trời, không phải là người; ta là Đấng thánh ở giữa ngươi, chẳng lấy cơn giận đến cùng ngươi...” (OsHs 11:9)
- Tính-cách cao trọng của Ngài - “Đấng cao cả ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường...” (ÊsIs 57:15)
- Tính-cách thuần khiết đạo đức của Ngài - “Các Sê-ra-phin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân... Bấy giờ tôi (Ê-sai) nói: khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!” (6:3, 5)
3. Tóm tắt một phần các phát triển.
a. Nghĩa đầu tiên - một mối liên-hệ (căn cứ cả vào ngữ nguyên lẫn trên cách dùng thông thường vượt trội)
- Vạch rõ mặt tiêu cực - tách rời với cái thông thường (XuXh 3:4, 5; ThiTv 89:20; ÊxeEd 20:41; OsHs 11:9)
- Vạch rõ mặt tích cực - dâng lên hoặc được biệt riêng ra để phụng sự Thượng-Đế (XuXh 13:2; IISa 2Sm 8:11; GiêGr 1:5) (6)
b. Nghĩa hàm ngụ - một phẩm chất (sự thuần khiết đạo đức) (LêLv 11:44; PhucDnl 23:14; ÊsIs 6:3, 5)
c. Mối liên-hệ giữa chúng.
Muốn có đầy đủ phẩm cách để phụng-vụ Thượng-Đế, là chủ-đích của sự thuần khiết liên-hệ với các nơi chốn, đồ vật, thì giờ và con người phải có sự phân rẽ, cách ly với những gì vốn được dùng cho những công việc thông thường không phải là việc phụng-vụ Thượng-Đế, và phải được dâng lên, được biệt riêng ra cho Ngài. Nhưng vì tình trạng thông thường là ô uế, bất khiết; cho nên việc rút ra khỏi cái thông thường đòi hỏi sự rửa sạch, thanh tẩy.
Và hơn thế nữa vì Thượng-Đế vốn cách biệt với loài người tội-lỗi, và do đó, vốn thuần khiết về phương-diện đạo đức, cho nên chỉ có những gì đã được thanh tẩy, tinh luyện mới thích hợp để được dùng vào việc phụng vụ Ngài. Như thế, nghĩa đầu tiên cung-cấp phần nguyên nhân của điều mà nghĩa hàm ngụ vốn là hậu quả không trốn tránh vào đâu được. Việc biệt riêng ra cho Thượng-Đế bao hàm việc thanh tẩy (6)
PHỤ LỤC C : BỐ-CỤC HỢP LÝ.
1. Mô-tả các bố-cục hợp lý.
Về căn bản, thì bố-cục hợp lý khác với bố-cục theo đề-mục. Cái sau quan tâm đến nhiều góc cạnh song hành với đề-mục. Thí-dụ, nếu cần phác thảo một bố-cục về đề tài “Thành phố Nữu-Ước”, một vài trong số các phần lớn của nó sẽ là “Diện tích của nó”, “Trọng tâm của nó” hoặc “Quốc tế chủ nghĩa của nó”. Vậy, quả thật là các giai đoạn ấy đều có liên-hệ với nhau, nhưng chúng vốn khá phân biệt nhau, đủ để chúng có thể đựơc đưa ra đề-cập như những nét đặc trưng riêng rẽ. Mặt khác, một bố-cục hợp lý bao gồm nhiều bước liên tục và lệ thuộc lẫn nhau, mỗi bố-cục như thế có bản tính lý luận; nó có khuynh hướng muốn chứng-minh một điều gì đó. Nó nói lên sự phát triển hợp lý. Nó không chỉ mô-tả một đề-mục mà thôi, nhưng còn hậu thuẫn cho một kết luận nữa.
2. Công dụng của các bố cục hợp lý.
Căn cứ vào cách mô-tả một bố cục hợp lý trên đây, rõ ràng là loại bố-cục này giúp ích đặc biệt cho việc nghiên-cứu loại văn học có tính cách ý (thức) hệ, như trong thư La-mã hoặc thư Hy-bá.
Ta phải biết rằng loại bố-cục này chỉ là một phương tiện dẫn đến chỗ nắm vững được cái hợp lý (the logic) của một đơn vị văn chương. Việc sử dụng nó không hề hàm ý rằng trước-giả của khúc sách hoặc của quyển sách ấy vốn có sẵn một bố-cục trong tâm-trí mình và ông ta cứ theo đó mà viết ra như chỉ là một tên nô-lệ hành động theo sự sai khiến của chủ mình. Nó chỉ được sử dụng như một công cụ nhờ đó người ta vẽ lại sự tiến triển hợp lý của nó, để khám-phá xem các tư tưởng khác nhau có liên-hệ với nhau như thế nào, để xác định xem đâu là điều chủ yếu và đâu là điều thứ yếu, và để biết chắc chiều hướng mà trước-giả tiến về đoạn kết luận.
Cần lưu ý thêm rằng bố-cục hợp lý là một phương-tiện bất toàn. Nó có các khuyết nhược điểm của nó, như ta sẽ phát giác ra ngay khi dùng nó đến một chừng mực quan-trọng nào đó. Tuy nhiên, dường như nó là công cụ tốt nhất có thể dùng để đưa ta đến chỗ phải đối diện với cách khai triển và sức mạnh của một khúc sách có tính cách lý luận.
3. Các gợi ý để thiết lập những bố-cục hợp lý
a. Dùng hình thức câu cho bố-cục, vì sức mạnh của một luận cứ chỉ có thể được nói lên bằng những câu thật đầy đủ mà thôi.
b. Các phân tích về chủ-đích, cơ sở hậu quả, v.v... có thể đặt trong 2 dấu ngoặc đơn sau nhiều câu khác nhau của bố-cục. Bản thân chúng không thể là những điểm cấu thành bố-cục.
c. Chỉ ra thật rõ ràng và vững chắc các mối liên-hệ giữa các ý-niệm bằng một ho ặc cả 2 phương pháp sau đây: một là bằng vị trí - thí-dụ như - một vị trí thứ yếu chỉ cho thấy một ý-niệm thứ yếu, và hai là bằng cách liên từ, như “do đó”, “vậy”, “vì thế”, “vì lý-do ấy” hoặc bằng các vế lệ thuộc hay độc lập. Các mối liên-hệ phải được diễn tả thế nào cho kết quả của nó chứng-minh được điều mà trước-giả đang chứng-minh.
d. Trên đầu mỗi bố cục phải nêu rõ luận-đề của khúc sách bằng một mệnh-đề. Một luận-đề như thế, ngoài nhiều điều khác ra phải nêu rõ mối liên-hệ hợp lý của khúc sách với văn mạch cận tiếp của nó và chủ-đích của nó trong sự chuyển biến của cả quyển sách. Có khi luận-đề này được vạch rõ một cách công nhiên, cũng có khi nó co tính cách mặc nhiên, hàm ngụ.
Trong cả 2 trường hợp, luận-đề đều phải được tìm thấy và ghi nhận. Phải cẩn thận đi tìm luận-đề bằng quy nạp pháp, chớ không phải bằng cách đặt chồng lên một khúc sách. Bố cục phải chứng-minh được các bước hợp lý mà trước-giả đã noi theo để hậu thuẫn cho luận-đề của mình.
e. Như đã chỉ rõ trong gợi ý trước, một bố-cục hợp lý phải bao gồm được cả những gì là công nhiên lẫn mặc nhiên (hàm ý) trong một đơn vị. Nếu muốn hiểu sức mạnh đầy đủ của một luận cứ trong một khúc sách lý luận; ta phải đọc được cả những gì không xuất hiện rõ ràng trên các hàng chữ nữa. Tuy nhiên, ta phải thận trọng đặt cơ sở cho các kết luận của mình trên những dữ-kiện khách quan, chớ không phải chỉ trên óc tưởng tượng thuần tuý mà thôi (7)
f. Phải noi theo thứ tự trong khúc sách để tránh việc đảo lộn trật tự luận lý của nó. Có khi thay đổi thứ tự của văn bản cũng không khiến nó khác đi bao nhiêu, nhưng lắm khi hậu quả của việc làm ấy sẽ khiến có nhiều thay đổi nghiêm trọng. Do đó, cách làm an-toàn là phải theo đúng cách sắp xếp của một khúc sách.
g. Phải vét cạn vắt kiệt khi bạn lập bố-cục, vì nhiều tư tưởng trong một số các khúc Kinh điển vốn kết chặt mật thiết vào nhau đến nổi bỏ sót một tư tưởng nào đó, là tạo ra một chiếc hố sâu ngăn cách nghiêm trọng cho luận cứ. Tốt nhất là phải vét cạn vắt kiệt nếu có thể được, còn hơn là chưa vét cạn vắt kiệt đủ.
h. Nên dùng hình thức bố-cục thông thường, là I, A, 1, a, , ., v.v.. Đừng dùng “I” nếu sau nó không có phần “II”, “A” nếu sau nó không có phần “B”, v.v.. Vì lập bố-cục bao hàm việc đưa ra 2 góc cạnh hoặc nhiều hơn nữa của một điều *vấn-đề) gì đó. Nếu không có ít nhất là 2 phương-diện của một ý-niệm nào đó cần phải được khảo xét, thì không nên lập bố-cục. Do đó, thí-dụ như nếu ta đặt một phần “A” dưới một phần “I” mà không có phần “B” tương ứng, thì phải kết hợp phần “A” với phần “I” (8)
i. Nên dùng chính lời lẽ của bạn. Phải tránh việc chỉ lặp lại ngôn từ của văn bản.
j. Một bố cục hợp lý phải phục-vụ cho 2 mục-tiêu: tổng hợp và phân tích. Các điểm chủ yếu, nhất là “I” và “A” phải có tính cách tổng hợp. Thí-dụ những phần được đánh số La-mã phải tổng hợp được tối đa các ý-niệm tương tự liên-hệ với một luận-đề nào đó. Mặt khác, các điểm nhỏ hơn phải tiêu biểu cho góc cạnh phân tích của một bố-cục. Chúng phải chứa đựng các luận cứ riêng rẽ được đan dệt vào nhau nhằm hậu thuẫn cho các luận cứ quan-trọng hơn và cho luận-đề.
k. Nên tránh việc chia những câu ra quá nhiều phần nhỏ vì nguy cơ có thể bị mất tính liên tục; mặt khác, nên tránh đưa quá nhiều ý-niệm vào trong một câu vì nguy cơ có thể đánh mất tính cách quan-trọng của từng ý-niệm một.
l. Chỉ ra các chương và câu sách tham khảo sau các điểm quan-trọng của bạn.
m. Chỉ lập bố-cục sau khi bạn đã nghiên-cứu thật thấu đáo và xem đó như một phương-tiện để tóm tắt công trình nghiên-cứu của bạn. Nếu ta đã nghiên-cứu thật kỹ một khúc sách rồi, nó phải được lập thành một bố-cục theo ý mình muốn. ta không nên quan tâm đến việc lập bố-cục như đã làm trong tiến-trình lý giải (9)
4. Các thí-dụ về các bố-cục hợp lý.
a. Thí-dụ về một bố-cục chi tiết (RôRm 1:18-32)
Luận đề:
Người ngoại quốc cần có Phúc-Âm cứu-rỗi, vì một khi đã có được chân-lý (đã được) mặc-khải của Thượng-Đế rồi, họ lại cố ý hủy bỏ nó do họ không tôn-trọng Ngài, cho nên trở thành đối tượng của sự phán-xét công-bằng của cơn thạnh nộ Ngài (918) (10)
I. Ho đã biết rõ sự thật (chân-lý) về Thượng-Đế, vì Ngài đã mặc-khải nó rất rõ ràng cho họ rồi; do đó họ không thể bào chữa gì được, việc lẽ là họ ngu dốt, thiếu liên kết (cc.19-20) (SỰ MẶC-KHẢI - HỆ QUẢ LÀ PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM)
A. Vì điều nhờ đó người ta có thể học biết về Thượng-Đế, tức là về sự hiện hữu và bản-tính Ngài, đều vốn được họ biện biệt phân minh vì Thượng-Đế đã cố tình vạch rõ cho họ thấy cả rồi (c.19 - Sự-kiện mặc-khải)
1. Điều này là đúng sự thật, ngay từ khi đặt nền móng cho thế giới này, vì công trình sáng tạo chính là phương-tiện bởi đó Thượng-Đế đã tự bày-tỏ mình ra cho họ (c.20a - sức hậu thuẫn - Thì giờ và phương-tiện mặc khải)
2. Vì thông qua công-trình sáng tạo, điều có thể nhìn thấy được - tức là tính cách vô hình của Thượng-Đế, quyền-năng đời-đời của Ngài và tính cách khác hẳn loài người của Ngài - đều được khiến cho mọi người nhìn thấy rõ ràng cả rồi (c.20b - Sức hậu thuẫn của mặc khải)
B. Vì cớ sự tự biểu hiện rõ rệt này của sự hiện hữu và bản tính của Thượng-Đế, họ không thể tự bào chữa cho các hành động của mình viện lẽ là do họ không biết (c.20c - Chủ-đích và kết quả) của sự mặc-khải - Trách nhiệm)
II. Vì tuy đã được mặc khải rõ ràng chân-lý về Thượng-Đế, họ vẫn cố tình khước từ nó và không chịu hành động đúng theo đó (cc.21-23 - TỪ BỎ và THOÁI HÓA)
A. Thay vì ngưỡng mộ Thượng-Đế phù hợp với tính cách vĩ đại Ngài đã tự biểu hiện, và thay vì tri ân Ngài về những gì Ngài đã cung-cấp cho, họ lại khước từ không chịu thờ-phượng hoặc tạ ơn Ngài (c.21a - Tương phản - không chịu thờ-phượng - Bước suy tàn đầu tiên)
B. Trái lại, họ bị thất bại ngay trong tư tưởng vì cố gắng lý luận là không có một định đề lấy Thượng-Đế làm cơ sở. Hệ quả là ngay từ nơi sâu thẳm nhất của đời sống, họ đã bị hoang mang, lẫn lộn (c.21b - Tương phản - Trí tuệ và tấm-lòng họ trở thành u mê, tối tăm - Bước suy tàn thứ hai)
C. Hậu quả là họ đã hoàn toàn tự lừa dối mình, tự cho là khôn-ngoan trong khi thật ra lại điên dại; và chiều sâu của sự-kiện họ đã được chứng-tỏ bằng sự-kiện họ đánh đổi vẻ rạng rỡ uy nghiêm của Thượng-Đế chân thật, không hề băng hoại để chỉ lấy cái tương tự như vậy của loài người, loài chim, loài thú bốn chân và cả loài sâu bọ vốn băng hoại mà thôi (cc.22,23 - Hậu quả - Thờ-phượng sai lầm - Bước suy tàn thứ ba)
III. Vì họ đã được Thượng-Đế mặc-khải thật rõ ràng nhưng lại cố tình hủy bỏ nó đi, Thượng-Đế đoán phạt họ bằn cách cất đi cái khả năng biết tự chế của lương-tâm và lý-trí của họ, và phó mặc họ cho các dục vọng hư hoại và tâm-trí đã bị hư hỏng của chính họ (cc.24-32 - Sự BÁO TRẢ - KẾT QUẢ)
A. Thượng-Đế phó mặc họ cho quyền-năng của dục vọng của lòng họ (cc.24-25 - Hậu quả)
1. Hệ quả là họ trở nên ô uế bằng cách tự hành hại thân thể của nhau (c.24 - Hậu quả tiếp theo)
2. Xin nhắc lại là Thượng-Đế đã phó mặc họ cho các dục vọng đồng thời với các hậu quả của chúng, sở dĩ đã đến với họ vì họ đánh đổi Thượng Đế chân-thật, là Thượng-Đế của quyền-năng và thần tánh đời-đời để nhận lấy các thần không có thật, và vì họ thờ lạy và phục-vụ các loài thọ tạo thay vì chính Đấng Tạo Hóa, là Đấng duy nhất đáng được ca ngợi tán tụng (c.25 - Nhắc lại lý-do)
B. Vì họ đánh đổi Thượng-Đế chân thật lấy các thần giả dối, đánh đổi Đấng Tạo Hóa lấy các loài thọ tạo, Thượng-Đế đã phó mặc họ cho quyền lực của những đam mê đáng xấu hổ của họ (cc.26-27 - Nhắc lại lý-do và hậu quả phụ trội)
1. Hậu quả là phụ nữ đổi cách luyến ái tự nhiên thành các thói xấu bất bình thường. (c.26b - Hậu quả)
2. Cũng vậy, đàn ông luyến ái lẫn nhau theo lối tình dục đồng giới, mà hậu qu ả là phải nhận lấy sự đoán phạt phải lẽ dành cho họ (c.27 - Hậu quả tương tự)
C. Xin nhắc lại một lần nữa, là vì họ cố tình khước từ không chịu tán thành và nhìn nhận Thượng-Đế ngay trong tư tưởng, nên Thượng-Đế cũng phó mặc họ cho quyền-năng của một tâm-trí vô lại, thoái hóa, do đó, họ sa ngay vào đủ cách ăn ở ứng xử vô lý và bất thích hợp, cả về mặt cá nhân lẫn về mặt xã hội (cc.28-32 - Nhắc lại lý-do và các kết quả phụ trội).
1. Do đó, họ phạm đủ thứ bất công gian ác, tham lam quỉ quyệt. Họ đầy lòng ghen tị bất mãn, thù hận đến mức có thể giết người, gian trá, có tâm-trí xảo quyệt, ganh đua, giả dối. Họ nói xấu, phao vu, thù ghét phỉ báng Thượng-Đế, xấc láo kiêu căng, khoác lác, ưa tìm cách làm ác mới mẻ, bội nghịch cha mẹ, không phân biệt thiện ác, không tình nghĩa, không thương xót (cc.29-31 - Hậu quả và Cá biệt hóa)
2. Thật vậy, họ hoàn toàn hư hỏng đến độ, tuy biết rõ luật Thượng-Đế quy định rằng hễ ai phạm vào các tội-lỗi ấy thì sẽ bị tử hình theo lẽ công-bằng, không tránh né vào đâu được, nhưng họ chẳng những tự mình làm tội, mà còn vỗ tay tán thưởng những ai cùng làm như họ nữa (c.32 - Hậu quả phụ trội và Cá biệt hóa) (11)
b. Thí-dụ về một bố cục tóm tắt (2:1-3:8)
Luận đề:
Người Do-thái cũng cần Phúc-Âm cứu-rỗi. Vì sự phán-xét có tính cách phổ quát căn cứ vào cá tính và các hành vi thật sự; và vì người Do-thái tuy đã được đặc quyền lớn lao và do đó tự xưng là bậc thầy, cũng khiếm khuyết về phương-diện luận lý đạo đức đến nỗi nhân vì họ mà người ngoại quốc nói phạm đến Thượng-Đế, cũng vì họ không thể nhờ vào phép cắt-bì thuộc thể hay tự xưng mình là công-chính mà được miễn trừ cho nên chính họ cũng đang bị Thượng-Đế định tội.
I. Sự phán-xét có tính cách phổ quát, căn cứ vào cá tính và các hành động thật sự (2:1-16 - NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT)
II. Vì sự phán-xét có tính cách phổ quát căn cứ vào cá tính và hành động thật sự cho nên chính người Do-thái, tuy được nhiều đặc ân đặc quyền và vì họ biết rõ là họ có thể dạy bảo cho người khác nhưng lại hư hỏng về mặt luân lý đạo đức đến nỗi khiến cho người ngoại quốc nói phạm đến Thượng-Đế, cho nên tôi xin nói rằng chính các ông, là người Do-thái cũng đang bị Thượng-Đế định tội y như người ngoại quốc vậy (2:17-24 - ỨNG DỤNG ĐẶC THÙ)
III. Vì đã phạm-tội và ở dưới sự phán-xét, các ông sẽ không thoát được cơn thịnh nộ, hoặc bằng cach viện lẽ các ông đã chịu phép cắt-bì thuộc thể, hoặc bằng bất cứ bao nhiêu lý luận để mong vượt thoát, hoặc hợp lý hoá trường hợp của chính mình (2:25-3:8 - PHẢN BÁC LẠI NHỮNG LỜI PHẢN ĐỐI ĐƯỢC DỰ ĐOÁN LÀ NGƯỜI DO-THÁI CÓ THỂ ĐƯA RA)
PHỤ LỤC D : SỬ DỤNG SÁCH CHỈ NAM NÀY TRONG VIỆC GIẢNG DẠY CÁCH NGHIÊN-CỨU KINH-THÁNH ĐÚNG PHƯƠNG PHÁP.
Vì phương pháp tiếp cận trình-bày trong quyển sách chỉ nam này có vẻ mới mẻ, chúng tôi cảm nghĩ rằng quý vị giáo-sư đọc tập tài-liệu này có lẽ rất quan tâm muốn biết tác-giả của nó sử dụng nó như thế nào để giảng dạy cách nghiên-cứu Kinh-Thánh đúng phương pháp.
Trước khi chỉ ra điều ấy, tác-giả muốn nói rõ ràng có rất nhiều cách sử dụng quyển sách chỉ nam này, tùy theo mục đích và các đòi hỏi của những hoàn cảnh cụ thể. Do đó mà trong phần phát biểu tiếp sau đây, sẽ không hề hàm ý là chỉ có một phương pháp duy nhất là đúng để sử dụng nó.
Chỉ có một nguyên tắc căn bản mà người ta có thể khẳng định chắc chắn là có giá trị phổ quát mà thôi. Ấy là nếu ta phải truyền dạy điều gì đúng phương pháp, thì đó là nghiên-cứu Kinh-Thánh có phương pháp vậy. Về điểm này, thì chắc ai ai cũng phải nhất trí. Vì làm khác đi, tức là phủ nhận chính điều mà ta đang cố gắng hoàn tất bằng chính phương pháp mình đang dùng để hoàn tất nó. Mặt khác, nếu ta được sự hướng dẫn của một ước muốn làm việc thật đúng phương pháp, thì những điểm có phần khác nhau đã được đề-cập trước đây trong những trường hợp cá biệt, sẽ chẳng có gì khác nhau về bản chất cả.
Tác-giả đã dùng tập sách chỉ nam này kết hợp với việc nghiên cứu sách Phúc-Âm Mác mà vì chính bút pháp thuật sự đơn sơ dung dị của nó đã tự giới thiệu mình là một sách rất tốt có thể sử dụng để giảng dạy cách nghiên-cứu theo quy nạp pháp. Trong giáo-trình này, đã không có nỗ lực nhằm bao quát trọn vẹn sách Phúc-Âm ấy. Trái lại, sách ấy chỉ được dùng như một khu đất nhằm chứng-minh và thực tập nhiều nguyên tắc và bước đi khác nhau của việc nghiên-cứu đúng phương pháp.
Giáo-trình này được chia thành 2 phần chính, mỗi giai đoạn sẽ được thảo luận tiếp sau đây.
1. Nghiên-cứu kỹ tập sách chỉ nam.
Phần mở đầu cho giáo-trình được dành cho việc đọc lướt qua tập sách chỉ nam này. Mục-đích của việc đọc lướt qua như vậy không nhằm giúp người sinh viên (nghiên-cứu) thông hiểu và thu nạp được tất cả những lời phát biểu trong quyển sách, vì đó là điều không thể làm nổi, do bản-tính của việc nghiên-cứu một cách có phương pháp. Mặt khác, chủ-đích của nó nhằm thực hiện 2 mục-tiêu.
• Mục-tiêu thứ nhất là cho người sinh viên một cái nhìn bao quát toàn diện trước khi bị đòi hỏi sử dụng các thành phần riêng lẽ. Điều này giúp người ấy có được một ý-niệm có tổ chức và bao quát của công tác nghiên-cứu theo quy nạp pháp vốn hãy còn thiếu khi ta bị đẩy vào các bước chi tiết của nó một cách không có hệ thống. Hậu quả là người sinh viên sẽ hiểu rõ vai trò và chức năng của từng giai đoạn riêng biệt trong mối liên-hệ với các giai đoạn khác, và sẽ nhờ đó mà thực thi từng bước một cách thông minh hơn. Vì người ấy sẽ thấy trước chủ-đích của từng bước, nhờ biết rõ điều gì sẽ tiếp theo sau. Người ấy sẽ được hưởng các lợi ích tương tự như các lợi ích của người được lên tầng chót của tòa cao ốc Empire State để nhìn thấy toàn thể thành phố Nữu-Ước trước khi cố gắng tìm đường đi từ đường phố này sang đường phố khác trong đó (12).
• Mục-tiêu thứ hai của việc nghiên-cứu sơ khởi quyển danh sách chỉ nam này, là cấp cho người nghiên-cứu một phần kiến thức có thể đem ra sử dụng trong công tác nghiên-cứu. Chức năng này có thể ví sánh với việc cung ứng cho một sinh viên học môn hình học các định đề và định lý để người ấy có thể sử dụng giải đáp các bài toán hình học.
Thí-dụ như về sau, người ấy được yêu cầu phải quan sát, người ấy sẽ biết rõ ý nghĩa, chủ-đích và đối tượng mà mình quan sát, hay ít ra cũng biết là mình có thể tìm chúng ở đâu. Mặt khác, đ òi hỏi một sinh viên phải quan sát mà không cho người ấy biết rõ ý nghĩa của việc quan sát hay phải thực hiện việc quan sát như thế nào, thì thật chẳng khác gì bảo anh ta giải đáp các bài toán hình học trước khi anh ta biết các định đề và định lý hình học.
Sự-kiện này từng là một đòn đau gây kinh ngạc cho tác giả nhiều năm trước đây trong một khóa học về vấn đề nghiên-cứu đúng phương pháp. Gần nửa niên học đã trôi qua trong đó nhiều thì giờ đã được sử dụng để chứng-minh và thực tập phần khảo sát. Bỗng trong một giờ thảo luận nọ của cả lớp học, một sinh viên đã đưa ra câu hỏi: “Quan sát là gì?”
Nhưng điều còn đáng ngạc nhiên hơn nữa đối với tác-giả, là cả lớp học đều đồng thanh với người sinh viên đã đưa ra câu hỏi đó, và yêu cầu hãy chứng-minh xem đúng ra thì quan (khảo) sát có nghĩa gì và phải thực hiện nó như thế nào. Kinh nghiệm ấy đã đưa tác-giả tới chỗ phải nghiêm khắc xét lại phương pháp giảng dạy của mình, và đi đến kết luận là người sinh viên phải được cho biết trước một số các định nghĩa đặc thù và sự-kiện cụ thể, nếu muốn cho những lần chứng-minh trong lớp học và việc thực tập cá nhân tiếp thu được gần đầy đủ các tiềm-năng của chúng.
Phải chia phần số tài-liệu của tập sách chỉ nam này như thế nào cho lần nghiên-cứu sơ khởi này thì tùy thuộc vào số thì giờ dành cho từng giáo trình riêng biệt. Tuy nhiên, ta phải lập kế hoạch để đọc nó tùy theo số các đơn vị của công tác nghiên-cứu đúng phương pháp. Nếu cần thì đoạn có nhan-đề là “Vài loại lý giải sai” hoặc một số các đoạn khác, có thể đựơc gác lại trong lần đọc qua đầu tiên (13).
Trong thời gian quyển sách chỉ nam này được các sinh viên nghiên-cứu, tác-giả lợi dụng thì giờ trong lớp học để thảo luận và minh họa số tài-liệu đang được đọc liên-hệ với từng tiết học một. Khi làm như thế, tác-giả sẽ hướng dẫn bằng 2 yếu-tố: một là các nguyên tắc và thói quen quan-trọng nhất, và hai là các điểm khó hiểu nhất.
Thí-dụ liên-hệ với yếu-tố đầu tiên ở đây trong khi các sinh viên đọc đoạn về công tác khảo sát, tác-giả sẽ thảo luận vấn-đề cách cấu trúc và minh họa nó bằng các khúc sách trong sách Phúc-Âm Mác sẽ không thể được nghiên-cứu trong giáo-trình. Về yếu-tố thứ hai, các câu hỏi của các sinh viên thường chỉ ra một số các vấn-đề khó lãnh hội đối với họ. Điều này không hề hàm ý rằng tất cả các thắc mắc của họ đều có thể đựơc giải đáp ngay từ đầu, vì một số đòi hỏi phải có thời gian để trí hiểu của người sinh viên được phát triển (14). Tuy nhiên, người dạy phải cố gắng trả lời ngay một số các câu hỏi. Đó là các câu hỏi mà tác-giả khảo-sát trong giai đoạn bắt đầu này.
2. Ứng dụng sách chỉ nam này vào các khúc sách chọn lọc trong Phúc-Âm Mác.
Sau khi các sinh viên đã nghiên-cứu qua tập sách chỉ nam này, họ sẵn sàng sử dụng phần tài-liệu liên quan với sách Phúc-Âm Mác. Điều này có thể thực hiện theo hai cách: một là người ấy có thể ứng dụng toàn tập sách chỉ nam này cho từng khúc sách một, nghĩa là bắt tay nghiên-cứu thật đầy đủ, trọn vẹn, từng khúc sách một; hoặc hai là người ấy có thể thực tập ứng dụng từng bước một việc nghiên-cứu đúng phương pháp riêng rẽ.
Cả 2 cách trên đều đó các khuyết điểm cũng như các ưu điểm của chúng. Tuy nhiên, do yếu-tố thì giờ và bản-tính của việc nghiên-cứu theo quy nạp pháp, thì theo tác-giả, dường như phương pháp thứ hai là thích hợp nhất để giảng dạy người mới bắt đầu cách nghiên-cứu đúng phương pháp.
Lý-do chính cho phán đoán trên đây, ấy là vì phương pháp tiếp cận đầu tiên có khuynh hướng khuyến khích tính nông cạn, chỉ chú trọng vào bề mặt. Vì nếu khi chuẩn bị cho mỗi tiết học, người sinh viên bị đòi hỏi phải khảo sát, lý giải, đánh giá, ứng dụng và liên kết thì rõ ràng là người ấy sẽ không thể thực hiện thật chu đáo một phần việc vào trong số vừa kể trên cả, và hậu quả là người ấy sẽ không thể phát triển được phần hiểu biết và tài khéo léo cần thiết để thực hiện tốt đẹp bất kỳ một phần việc nào trong số đó. Mặt khác, phương pháp tiếp cận thứ hai vun đắp một sự thông suốt thấu đáo hơn từng bước một và tài năng để thực hiện nó. Một khi đã có nó làm nền móng cuối cùng, người sinh viên sẽ có thể tự mình tiếp cận công tác nghiên-cứu Kinh-Thánh vừa thực tế vừa có giá trị (15). Vì thế, tác-giả hướng dẫn lớp học thực hành từng bước nghiên-cứu đúng phương pháp riêng rẽ một số các khúc sách trong Mác.
Do đó, nhiều tiết học đầu tiên tiếp sau giai đoạn nghiên-cứu tập sách chỉ nam này được dành cho việc kết hợp công tác khảo sát, với công tác đặt các câu hỏi dẫn đến việc lý giải (16).
Có 2 giai đoạn trong công tác khảo sát cần được chú trọng: đó là phân tích và tổng hợp (17). Điều thứ hai được chú trọng nhiều hơn vì bản tính của nó là quan tâm trước nhất đến công tác khảo-sát cách cấu trúc (18). Trong giờ học, tác-giả chứng-minh kỹ thuật khảo sát, khúc sách đang nghiên-cứu. Tác-giả cũng cố gắng vạch rõ các giá trị của những nhận xét (do khảo-sát) đưa ra bằng cách chứng-minh chúng cấu thành phần nền móng cho việc lý giải sâu nhiệm hơn khúc sách ấy như thế nào.
Nhóm các giai đoạn tiếp theo được dành cho việc lý giải thực sự, gồm có phần trả lời các câu hỏi dẫn đến việc lý giải và cách đúc kết chúng. Để thực hiện việc này dường như khôn-ngoan nhất là nên chọn các lối lý giải quyết định có tính cách cơ bản nhất và tập trung vào chúng một cách riêng rẽ, chớ không phải là yêu cầu sinh viên sử dụng tất cả các yếu-tố ấy đối với tưng khúc sách một.
Thí-dụ các yếu-tố liên-hệ với việc nghiên-cứu từ ngữ có thể được nhấn mạnh trong một giai đoạn ở lớp học. Vấn-đề về các mối liên-hệ văn mạch như một yếu-tố lý giải quyết định có thể được nhấn mạnh vào một giai đoạn khác. Tuy ta không thể đề-cập tất cả các phụ-liệu theo cùng một cách giống như thế, các sinh viên sẽ lãnh hội được đến mức tối đa các yếu-tố đã được đề-cập và có nền móng vững chắc để sử dụng những gì chưa được đề-cập hơn là nếu họ bị đòi hỏi phải áp dụng tất cả các yếu-tố cho từng khúc sách một.
Tác-giả dành phần lớn thì giờ trong lớp cho 2 bước nghiên-cứu vừa kể trên. Số còn lại được dùng cho công tác đánh giá, ứng dụng và liên kết. Lý-do để làm như thế là niềm tin rằng một khi công tác khảo sát và lý giải đã được thực hiện đến nơi đến chốn và phải lẽ, thì các bước tiếp theo sẽ được thực hiện dễ dàng hơn là nếu ta làm khác đi rất nhiều.
Điều bất lợi chính cho phương pháp tiếp cận này nằm trong sự-kiện do muốn thay đổi (bầu không khí) và duy trì sự quan tâm chú ý, thì dành nhiều tiết học cho một khúc sách để nghiên-cứu thật thấu đáo theo đúng phương pháp, là không khôn-ngoan. Tuy nhiên, điều bất lợi này không quan-trọng lắm, vì các sinh viên đã được chỉ bảo rõ ràng rằng các kết luận của họ phải chỉ có tính cách thể nghiệm mà thôi, cho nên hậu quả là không nhất thiết phải lao đầu vào một công trình nghiên-cứu thật rốt ráo từng khúc sách một. Như thế, ta có thể tập trung vào việc khảo sát một khúc sách này, và vào việc lý giải một khúc sách khác.
Cần lưu ý rằng những phát biểu trên đây bao hàm việc sử dụng 3 đường lối chủ yếu để học và dạy: phần giáo huấn, phần chứng-minh, và phần thực tập.
Phần đầu được dùng chủ yếu liên-hệ với việc đọc kỹ tập sách chỉ nam này, phần thứ hai chủ yếu được thực hiện trong những cuộc thảo luận trong lớp. và phần thứ ba chủ yếu được thực hiện trong việc nghiên-cứu riêng của từng cá nhân. Cả 3 điều trên đây đều cần thiết và phải có, nhưng quan-trọng nhất là phần thực tập mà mỗi cá nhân phải làm khi tự mình nghiên-cứu một cách riêng rẽ, về vấn-đề này, tác-giả thường bảo với các sinh viên của mình rằng nếu phải chọn giữa việc đến lớp với việc làm bài tập ngoài giờ học ở lớp, thì chính bản-tính của môn học sẽ khuyến-cáo và bắt buộc họ phải chọn điều sau. Vì trong việc học tập sách nghiên cứu Kinh-Thánh cho đúng phương pháp, thì không có gì thay thế được cho phần thực tập cả (19)
CHÚ THÍCH.
1. Một số các mối liên-hệ về cấu trúc của biểu đồ này có thể gây thắc mắc, cũng như việc dĩ nhiên đã phải có trong bài tập về Thi-thiên 23 (Ante, pp.111-128)
2. Ante, pp.38-39
3. Ante, pp.64-65
4. Yếu-tố phiên dịch cũng có liên quan tới điểm này, vì ngôn ngữ thông dụng đã được sử dụng. Để có thể tận dụng yếu-tố này, ta cần đối chiếu nhiều bản dịch với nhau.
5. Tuy các phương-diện tiêu cực và tích cực của sự thánh khiết cuối cùng vốn bất khả phân ly, như ta có thể đoán ra khi nghiên-cứu những khúc sách tham khảo đã cho, việc cố gắng phân biệt giữa chúng với nhau vốn rất bổ ích.
6. Nếu muốn cho phần nghiên-cứu này có tính cách triệt để hơn, thiết tưởng cần đưa thêm vào việc khảo xét từ ngữ hagiazo, là từ ngữ trong Tân-Ước tương đương với kadash .
7 Ante, p.184.
8. Có một số người không đồng ý với gợi ý này với lý do chính đáng; tuy nhiên, tác giả nhận thấy đây là phương pháp tiếp cận thực tiễn nhất.
9. Ante, p.167
10. Tuy người ngoại quốc không được công nhiên đề cập trong khúc sách này, do nhiều lý-do khác nhau, những câu trong đó dường như bao hàm một phần mô tả thế giới phi Do-thái. Hơn nữa, ý-niệm về nhu-cầu về Phúc-Âm vốn ẩn tàng trong câu 18 là câu chỉ ra mối liên-hệ.
Thật vậy, câu 18 tóm tắt 1:18-32, do đó, hàm chứa yếu tính của luận-đề của khúc sách. Phần còn lại của đơn vị là đoạn khai triển trau chuốt cho luận-đề ấy. Như thế, có hai định luật cấu trúc chính đang tác động, tức là định luật hậu thuẫn lý tưởng (liên quan với ý (thức) hệ - ideological substantiation) và cá biệt hóa (particularization). Trong những đơn vị khác, có nhiều phương tiện hành văn khác nhau đã được sử dụng. Chúng là gì là điều cần phải khám-phá và lợi dụng nếu muốn thiết lập các bố-cục hợp lý có giá trị.
11. Cần lưu ý là chuyển biến của bố-cục này tiêu biểu cho sự tiến bộ của từng-trải con người cũng như của luận lý học. Những khúc sách hợp lý khác có thể không theo cùng một trật tự về từng-trải y như vậy, vì chúng chuyển từ hậu quả trở về nguyên nhân.
12. Ante, p.14
13. Ante, pp.167-181
14. Ante, p.22
15. Ante, pp.20-21
16. Ante, pp.97-98,129-130
17. Ante, p.72
18. Ante, p.229
19. Ante, pp.14-15, 230-231.
SÁCH THAM KHẢO.
Bảng liệt kê sau đây gồm các tác-phẩm chưa được đề cập nhưng sẽ giúp ích đặc biệt cho việc nghiên-cứu đúng phương pháp. Một số các tác-phẩm ấy thảo luận về các nguyên tắc tổng quát và các tác phẩm khác là những công-trình nghiên-cứu đặc thù đặt cơ sở trên phương pháp tiếp cận theo quy nạp pháp. Về các tác-phẩm khác nữa thuộc lãnh-vực nghiên-cứu Kinh-Thánh nói chung, quý độc-giả được khuyên nên tra cứu quyển A Bibligraphy of Bible Study for Theologiacal Students, do Thư viện của Chủng-viện Thần-học Princeton soạn thảo.
Sự-kiện có một số tác-phẩm đã được tập sách chỉ nam này khuyên nên tham khảo không hề hàm ý rằng tác-giả hoàn toàn nhất trí với các quan-điểm của chúng. Tuy nhiên, tất cả các tác-phẩm được đề-nghị đều có một phần giá trị nào đó, và hơn nữa, còn tạo cơ-hội cho quý độc-giả làm quen với nhiều quan-điểm khác nhau, một cơ-hội mà chắc người sinh viên muốn nghiên-cứu Kinh điển theo phương pháp quy nạp sẽ rất hoan nghênh.
Thiết tưởng phải nhấn mạnh một lần nữa rằng các sách tham khảo được đề-nghị trong tập tài-liệu chỉ nam này chỉ là sự gợi ý mà thôi. Hãy còn nhiều tác-phẩm khác cũng tương đương hoặc còn có giá trị cao hơn các quyển đã được đề-cập mà có lẽ quý độc-giả cũng rất thích. Nếu quả đúng như thế thì quý vị có thể sử dụng chúng bằng bất cứ giá nào.
(Xem bảng liệt kê các sách tham khảo ở hai trang 267-268 cuối sách)
bottom of page
