top of page

CÁC HỘI THÁNH CHÍNH THỐNG MIỀN ĐÔNG ( Năm 1054 Đến 1980 )

Hung Tran

Jun 24, 2023

Đang khi mọi diễn tiến thời Trung cổ xảy ra ở Tây Âu thì tại miền Đông xảy ra một diễn biến khác...



V. CÁC HỘI THÁNH CHÍNH THỐNG MIỀN ĐÔNG (Năm 1054 Đến 1980)


22. ĐÔNG TÂY XUNG ĐỘT


Đang khi mọi diễn tiến thời Trung cổ xảy ra ở Tây Âu thì tại miền Đông xảy ra một diễn biến khác. Các Hội thánh bắt đầu từ các thế kỷ đầu tiên trên lý thuyết kể như là hợp nhất. Trong phạm vi nội bộ này, Đại hội đồng Chalcedon lần thứ 4, họp năm 451 chỉ công nhận năm vị nắm chủ quyền cho năm vùng chính. Mỗi vùng có một Giáo trưởng, Giáo trưởng là một Giám mục có quyền trên các Giám mục khác. Năm Giáo trưởng nói trên là những vị lãnh đạo ở La-mã, Constantinople, Alexandria, An-ti-rốt và Giê-ru-sa-lem. Hơn nữa đại hội Chalcedon quyết định rằng Giáo trưởng Constantinople là người duy nhất đứng đầu toàn thể Hội thánh miền đông.


Sự phân rẽ lớn xảy ra năm 1054, mà chẳng bên nào muốn, là do mỗi bên đi quá xa về nhiều phương diện. Ngoài vấn đề ngôn ngữ, lại còn các vấn đề về văn hóa, chính trị, tôn giáo phân rẽ các Hội thánh ĐôngTây. Thế kỷ thứ ba, tiếng La-tinh được thay thế tiếng Hy-lạp ở miền tây thì miền đông vẫn duy trì tiếng Hy-lạp trong Hội thánh Cơ-đốc. Những trận xâm lấn của các giống dân man rợ thời Trung cổ làm giảm sút đời sống văn hóa của phương Tây nhưng phương Đông vẫn bình an, ở phương Tây giáo hoàng thường khi có thế lực hơn chính quyền nhưng ở phương Đông Hội thánh vẫn luôn luôn ở dưới sự kiểm soát mà Hoàng đế Constantine đã thiết lập. Vào thế kỷ thứ tám và thứ chín có cuộc tranh luận về việc sử dụng hình ảnh để thờ phượng, thì Hoàng đế Leo III tại phương Đông ra lệnh cấm và cũng ban lệnh dó cả trong hàng ngũ quân đội. Nhưng ở phương Tây thì Giáo hoàng và dân chúng không theo. Đông và Tây bắt đầu không còn thông công với nhau nữa. Cuối cùng cuộc rạn nứt lớn năm 1054 đã chia Hội thánh Cơ-đốc ra làm hai.

Hội Thánh Chính Thống Đông PhươngHội thánh Công Giáo La-mã Tây Phương. Vấn đề chia rẽ hai bên từ trước đến nay vẫn là: Đông Phương bác bỏ thẩm quyền của Giáo Hoàng.


ĐẾ QUỐC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ HỘI THÁNH


Ở phương Tây trong những năm thời Trung cổ đầy khó khăn và đầy biến cố, thì kinh đô Constantinople vẫn là nơi tàng trữ chủ yếu của văn hóa Hy-lạp và La-mã đồng thời cũng là trung tâm của một nền văn minh tiến bộ và cầu kỳ nhất trên thế giới. Thành phố này có ba vòng tường thành phòng thủ kiên cố, chiếm được cũng khó, nên đã trở thành lớn rộng và thịnh vượng nhất Âu Châu. Những công viên, những đường phố, những cung điện lâu đài chứa đầy kho tàng văn chương, nghệ thuật. Những nhà thờ nổi tiếng nhất là nhà thờ Hagia Sophia khiến cho du khách Anh, Do-thái, Ả-rập, Goth và Norsemen trầm trồ ca ngợi. Có những sứ thần Nga đến từ Kiev vào thế kỷ thứ 10 được thấy nhà thờ Hagia Sophia, về viết như sau: 'Chúng tôi chỉ biết có Đức Chúa Trời ở giữa loài người và lễ của họ trang mỹ hơn mọi lễ ở các nước khác, vì chúng tôi không thể quên được vẻ tráng lệ ấy.'


Hoàng đế Justinian (527 - 565) đã thành công trong viêc cầm đầu Hội thánh phương Đông hơn cả các Hoàng đế trước, Hội thánh trở nên giống như một "bộ trong guồng máy Quốc Gia!" Vì được coi như đại diện Chúa Christ trên đất, Hoàng đế cũng là người quản trị Hội thánh và người đứng ra triệu tập các hội đồng Cơ-đốc. Những uy quyền chính trị, những hiểu làm ganh tỵ, lại thêm những quan niệm khác nhau về nhân vị Chúa Christ luôn luôn làm đầu mối xung đột giữa Giáo phụ, Hội thánh vì cớ đó trở nên yếu dần.


NHỮNG THÀNH QUẢ VÀ THẤT BẠI CỦA MIỀN ĐÔNG


Nestorius là một Linh mục ở Sy-ria, nổi tiếng là sống thanh đạm khắc khổ và có tài hùng biện. Ông trở thành Giáo phụ Constantinople năm 428. Hồi đó những người tin kính gọi Ma-ri Mẹ Chúa Giê-xu là 'Mẹ Đức Chúa Trời'. Nestorius khi giảng chống lại cách gọi như thế vì nó làm cho sự phân biệt nhân tính và thần tính của Chúa Christ không được rõ ràng. Do đó có một cuộc tranh cãi thần học cam go về việc định nghĩa chính xác nhân vị của Chúa Christ. Và ông Cyril, Giáo phụ tại Alexandria, nắm lấy cơ hội để làm mất mặt một Giáo phụ trổi hơn bèn lên án Nestorius là muốn tách đôi nhân vị của Chúa Christ. Tuy thế, Nestorius chỉ có nói: 'Khi nói Danh Đấng Christ, chúng ta đồng thời hàm ý hai bản chất.' Dầu vậy, lòng ganh tỵ, hiếu danh, óc bè đảng đã thổi phồng sự 'khác biệt' giữa hai chủ thuyết của hai Giáo phụ đến nỗi kéo luôn cả hai Hoàng đế Đông và Tây vào sự chia rẽ. Thế là sự hợp nhất của Cơ-đốc giáo không còn nữa. Hội đồng Ê-phê-sô năm 431 lên án và cất chức Nestorius mà không cho ông phần trần, ông bèn rút về tu viện cũ của ông tại An-ti-ốt, nhưng rồi cũng bị Hoàng đế lưu đày sang xứ A-ra-bia. Sau đó Hội thánh Đông phương dưới quyền của Hoàng gia, làm khó cho những người theo Nestorius khiến cho họ phải trốn sang Ba-tư, ở đây họ thành lập những Hội thánh Nestorian rất mạnh mẽ.


Sự sốt sắng của các Hội thánh này lên cao độ đến nỗi họ đã sai các giáo sĩ của họ tới tận bờ biển Malabar tại Ấn-độ vào thế kỷ thứ 6. Tại đây, họ khởi lập, hoặc tái lập Hội thánh Mar Thoma là cộng đồng Cơ-đốc địa phương lâu đời nhất, còn duy trì ở Ấn-độ ngày nay. Đến thế kỷ thứ 7, những người Cơ-đốc theo thuyết của Nestorius vào trung bộ Trung Hoa và nhờ họ có một số người tin Chúa tại tỉnh Shensi (Giang Tây). Tại Sian (Tây An) trung tâm hoạt động của giáo phái này còn thấy một bia đá dựng lên năm 781 để kỷ niệm sự thành lập một Hội thánh và trên tảng đá có khắc bằng chữ Trung hoa và Syriac nội dung nói Tân Ước có 27 sách. Sau khi cộng đồng Cơ-đốc Trung hoa ấy bị tiêu diệt, những giáo sĩ Nestoran còn trở lại Trung hoa lần nữa vào thế kỷ 13, và thuyết phục được nhiều người trong các bộ lạc Tartar và Thổ tin nhận Chúa. Một bà công chúa gốc Thổ nhĩ kỳ theo giáo phái này là bà mẹ của Kublai Khan (Hốt-tất-liệt) vị thủ lãnh Mông cổ đã cai quản cả đế quốc Trung hoa rộng lớn. Marco Polo, một thuyền trưởng từ Venice (Ý đại lợi) đã đến thăm triều đình tai Bắc kinh, ở đó các tín đồ Nestorian được Hoàng đế Kublai Khan che chở, và một tòa nhà Tổng giám mục được thành lập tại Kinh đô vào năm 1275.


Những điều mà giáo phái này tin nhận cũng gây nên một phản ứng lớn. Vào thế kỷ thứ 5 và thứ 6 xuất hiện một chủ thuyết tên là Monophysitism, do một từ ngữ Hy-lạp có nghĩa là 'một bản chất', 'một tính'. Mặc dầu chủ thuyết này nói rằng Chúa Christ chỉ có một bản chất vừa nhân tính, vừa thần tính không phân chia nhưng hậu quả vẫn là đặt nặng phần thần tính.


Hội thánh Chính thống không đồng ý, nhưng có điều Hội thánh miền Đông đã theo chủ thuyết 'nhất tính' này. Những người Ai-cập theo có lẽ chẳng phải vì thật tin, nhưng vì không ưa người Hy-lạp chế ngự trong các Hội thánh Chính thống. Họ lập ra Hội thánh Coptic độc lập, có tính cách quốc gia của riêng họ, nay hãy còn và Hội thánh Ê-thi-ô-bi (Ethiopia) là con đẻ của Hội thánh Coptic Ai-cập hiện cũng còn. Ban đầu, giữa thế kỷ thứ 4, có Frumentius được Giáo phụ Athanasius ở Alexandria phong cho làm Giám mục tại Axum là người đã t hành lập Hội thánh Ethiopia. Các nước Palestine, Syria và Armenia đều theo gương Ai-cập lập các Hội thánh độc lập, có tính cách quốc gia. Hội thánh Sy-ria này gọi là Hội thánh Jacobite của Sy-ria nay còn sinh hoạt tại thung lũng sông Tigris và có tín đồ ở nam Ấn.


Những vụ cãi nhau về lý thuyết ấy không có lợi cho Giáo hội Cơ-đốc miền Đông, nên khi những đoàn quân Hồi Giáo cuồng tín tiến đánh những nơi đã có tín đồ Cơ-đốc vào thế kỷ thứ 7, Đế quốc không còn sức chống lại xâm lăng: Sy-ria, Pa-les-tine, Ai-cập, và vùng bắc Phi, đảo Sicily đều bị chiếm trong danh Allah! Một 'nước Hồi giáo' được lập nên, biên giới lan đến tận Tây ban nha. Nhưng năm 732 ông của Charlemagne là Charles Martel thắng trận tại Tours, đánh đuổi được những người theo Mohammed ra khỏi đất Pháp.


Giáo hội miền Đông thất lợi phía Nam vì sự bành trước của Hồi giáo thì lại được bù trừ nhờ sự phát triển về phương Bắc vào những lãnh thổ dân Slavic trong vùng Balkans và Nga. Được lời mời của công tước xứ Moravia, Hoàng đế miền Đông sai hai đặc sứ, Cyril và Methodius đi truyền giáo cho người Slavic vào năm 864. Để chuẩn bị cho công tác, tục truyền tằng Cyril đặt ra một loại chữ viết Slavic gọi là Cyrillic, làm căn bản cho mẫu tự chữ Nga. Còn Methodius thì dịch Kinh Thánh ra tiếng Slavic khi đã cao niên.


HỘI THÁNH CHÍNH THỐNG ĐÔNG PHƯƠNG NGÀY NAY


Sau khi Đế quốc Byzantine bị sụp đổ năm 1553, Hội thánh miền đông bước vào 5 thế kỷ liên tiếp thay đổi, nhưng vẫn cố níu lấy lề lối thờ phượng và niềm tin riêng của mình. Ở phương Đông giáo điều không quan trọng bằng kinh nghiệm tôn giáo. Người ta nhận được kinh nghiệm này khi thờ phượng, vì lòng tôn thờ mà được tiếp xúc một cách thần bí với Đức Chúa Trời. Những bài tín điều đọc lên không phải là những tuyên ngôn của đức tin mà là những hành động thờ phượng. Đến thế kỷ 13, lễ nghi Byzantine đã được phát triển ở Constantinople, và trở thành lề lối chung cho các Hội thánh Chính thống và người ta dịch lời Hy-lạp ra mọi ngôn ngữ để dùng trong các Hội thánh khác nhau. Đến lúc các Hội thánh tự trị của từng quốc gia xuất hiện thì cộng đồng Hội thánh Chính thống đông phương thành hình. Họ có được sự hiệp nhất trong chủ thuyết là vì tất cả đều thừa nhận các quyết định của 7 Giáo hội Nghị họp trong khoảng thời gian từ năm 325 đến năm 787 (462 năm)


Mặc dầu ngày nay cộng đồng này tự coi như là thừa kế đích thực của Hội thánh Cơ-đốc đầu tiên, họ cũng tạo được tình thân hữu với các khối Cơ-đốc khác và nhiều Hội thánh miền đông là thành viên của Hội đồng các Hội thánh Hoàn cầu (World Council of Church). Hội thánh miền đông gồm có 4 giáo phận dưói sự trông coi của Thượng Giáo phụ Constantinople, Alexandria, An-ti-ốt, Giê-ru-sa-lem và các Hôi thánh Chính thống của các nước sau đây: Đảo Chíp rơ (Cyprus), nước Nga, Rumania, Nam Tư, Hy-lạp, Bulgaria, Georgia, Albania, Phần Lan và Tiệp. Giáo phụ Constantinople lãnh đạo cộng đồng Chính Thống miền đông, nhưng quyền của ông tại đây không sánh được với quyền của Giáo hoàng ở miền Tây, vì Giáo phụ chỉ là người có địa vị cao hơn trong các người ngang hàng và ông chỉ trực tiếp kiểm soát Hội thánh của ông mà thôi. Nhiều thuộc viên của Hội thánh này sống tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Âu Châu.


Bởi được nuôi dưỡng qua các bí tích và cảm hứng qua nghi lễ, sự học hỏi Kinh Thánh, gương cao của đời sống tu sĩ, Cơ-đốc giáo vẫn đứng vững mặc dầu bị công kích nhiều trận và tiếp tục là một lực lượng tiềm tàng ở phương Đông. Ngày nay, nhiều Hội thánh và tu viện phương Đông còn những tấm kính màu hoặc hình trang trí trên tường, khi ngắm xem tưởng như dĩ vãng và tương lai vô tận vẫn hòa hợp cùng nhau, những dấu tích ấy quả đã chứng tỏ về những truyền thống linh động của Cơ-đốc giáo tại Đông phương.



bottom of page