top of page

CƠ-ĐỐC GIÁO HIỆN ĐẠI

Hung Tran

Jun 18, 2023

Sau cuộc cải chánh, bản đồ Cơ-đốc giáo thay đổi toàn diện. Mặc dầu vẫn còn sự phân cách giữa các Hội thánh chính thống miền Đông và Hội thánh Công giáo miền Tây, nhưng tại phương Tây còn có những chia rẽ mới...



VII. CƠ-ĐỐC GIÁO HIỆN ĐẠI


34. TÌNH HÌNH SAU CUỘC CẢI CHÁNH


Sau cuộc cải chánh, bản đồ Cơ-đốc giáo thay đổi toàn diện. Mặc dầu vẫn còn sự phân cách giữa các Hội thánh chính thống miền Đông và Hội thánh Công giáo miền Tây, nhưng tại phương Tây còn có những chia rẽ mới. Như chúng ta đã thấy, sự hiệp một của Hội thánh Công giáo thời Trung cổ không còn nữa khi Âu Châu theo Tin Lành và Anh quốc theo Anh giáo. Tô cách lan, các nước bắc Âu, Phần Lan, Estomia, Latvia, những xứ thuộc miền Bắc nước Đức, những quận thuộc miền Tây Thụy sĩ, Cộng Hòa Hòa lan đều rút khỏi thế lực của Giáo hội Công giáo La-mã để thành lập các Giáo hội Tin Lành quốc gia. Giáo hội La-mã còn tồn tại ở Ý, Tây ban nha, Ba lan, Bohemia, Hung, Bồ đào nha, Pháp, nam Hòa lan, Nam Đức, tại Pháp và Ái nhĩ lan, nhưng ảnh hưởng Giáo hội Công giáo ở những nơi khác đã sụt đến tối thiểu. Tuy nhiên, nói chung tình hình tại tây Âu như đã mô tả trên đây tương đối được vững an từ 1600 đến nay. Ta cũng đã thấy, nhờ có phong trào cải cách mà Hội thánh Công giáo La-mã đã trổi dậy mạnh mẽ hơn và sốt sắng hơn để hồi sinh Cơ-đốc giáo. Các tệ đoan phổ thông nhất đã được bài trừ, cương vị thần học được Giáo hội ấn định rõ ràng, những dòng tu mới phục vụ dân chúng một cách thiết thực hơn nhờ đáp ứng nhu cầu tâm linh của họ, vì vậy Hội thánh Công giáo La-mã bước vào thời đại mới một cách vững chắc. Tại những nước chịu ảnh hưởng Tin Lành, đời sống thuộc linh của nhiều người được thức tỉnh. Nhiều người đọc Kinh Thánh, lòng tin kính nẩy nở, người ta biết quan tâm đến đồng loại và lo về sự cứu rỗi của linh hồn họ. Nhưng Tin lành cũng bị yếu vì chia rẽ. Ngoài những hệ thống Lutheran, Cải Cách (Calvinitic) và Hội thánh Anh (Anglican), lại còn có những phong trào độc lập khác, nhỏ hơn khiến cho các cơ cấu Tin Lành lớn cũng gặp khó khăn trong lý thuyết và thực hành.


- Tại Anh, có nhóm Thanh giáo (puritan) chống lại một số hình thức trong Hội thánh Anh, mà họ coi là mê tín Công giáo còn sót lại, nên họ muốn thanh tẩy những nghi lễ và giáo thuyết cho hoàn hảo. Họ tin rằng Kinh Thánh phải là uy quyền căn bản của Cơ-đốc giáo, chứ không phải Hội thánh. Vì họ cổ võ quan niệm mọi tín đồ đều là thầy tế lễ, nên họ đồng ý việc các Mục sư mặc áo lễ, dường như đặt mình ra một loại người riêng biệt. Họ đề cao một đức tin sốt sắng nhưng đơn giản, không có những nhà thờ hào nhoáng, nhưng có một nếp sống đạo đức cao, một xã hội cải cách. Đời sống của người Puritan được mô tả đầy đủ trong sách 'Thiên Lộ Lịch Trình' (the Pilgrim's Progress) của John Buyan; ở thế kỷ thứ 17 những người chống lại Hội thánh được nhiều người theo, trong nước họ thường bị bác bỏ vì không có tự do tín ngưỡng và sự nhường nhịn nhau cũng hiếm. Tại Âu Châu, duy có Hòa lan có một trình độ tự do và nhân nhượng về tôn giáo khá rộng rãi, do đó nhiều người bị bắt bớ chỗ khác chạy đến Hòa lan ẩn náu, trong số này có nhóm Separatist Puritan, nhóm Hội Chúng (Congregationalist) Anh, sau này cũng theo chân nhóm những người hành hương tự do (pilgrim Fathers) đến định cư tại Tân Thế giới vào năm 1620.


35. CƠ-ĐỐC GIÁO VÀ MỸ CHÂU


Trưóc hết Cơ-đốc giáo đến Tân Thế Giới vào thế kỷ 16 do những người Tây ban nha đi chinh phục trung Mỹ và nam Mỹ Châu. Theo đó có rất nhièu giáo sĩ Franciscan, Dominican và Jesuit đến thành lập những hệ thống truyền giáo để kêu gọi dân địa phương. Năm 1551 và 1553 những giáo sĩ này mở hai trường lớn nhất tại Tân Thế Giới: Đại học San Marcos thành phố Lima, thuộc Peru và Đại học Mexico.

Năm 1604, Pierre de Monts, người Pháp thành lập nhóm Tin Lành Huguenot đầu tiên tại Gia nã đại. Sau đó những người Công giáo Pháp đến dưói sự hướng dẫn của Giám mục đầu tiên, Francis de Laval, ở Québec, Hội thánh Công giáo La-mã trở nên một sinh lực trong khối dân định cư này. Hồi đó, tiểu thuyết gia Willa Cather viết chuyện Bóng Người Trên Đá (Shadows on the Rock) và trong truyện đó Giám mục De Laval là nhân vật chính.

Các nhóm dân khác từ Âu Châu đến Mỹ Châu định cư phần lớn là vì họ bị bắt bớ bởi đức tin của họ. Dĩ nhiên cũng có nhiều người đến vì lý do chính trị, kinh tế hay xã hội, nhưng hầu như mỗi giáo phái đã xuất hiện sau phong trào Cải Chánh đều có gửi tín đồ sang Tân Thế Giới. Bốn khối lớn nhất định cư trong thời gian này: Anh giáo (Anglican), Hội chúng (Congregational), Trưởng Nhiệm (Presbyterian) và Báp-tít (Baptist).

- Năm 1607, khi các người Anh đến định cư tại Jamestown họ thành lập ngay tiểu bang Virginia với ý định lập một nơi cư ngụ vĩnh viễn và họ ra một đạo luật công nhận Hội thánh Anh là Hội thánh chính thức tại đây, dưói sự cai quản của Giám mục Luân đôn (London). Rồi lần lượt Hội thánh Anh được gọi là Hội thánh chính thức tại Tiểu bang Maryland, Bắc và Nam Carolina, Nữu Ước và Georgia nhưng tại các tiểu bang này, cũng có chỗ Hội thánh Anh yếu thế là vì có nhiều Hội thánh khác không đồng ý.


Tại Virginia năm 1693 đại diện của Giám mục London là giáo sĩ James Blair, thành lập đại học William & Mary tại thành phố Williamsburg. Đây là ngôi trường cổ thứ hai tại Bắc Mỹ. Ngôi trường thứ nhất là Harvard do những giáo sĩ Hội Chúng (Congretionalist) thành lập năm 1636. Hai trường trên mở đường cho một danh sách dài những trường đại học nổi tiếng do các Hội thánh tổ chức. Trong số này có trường King's College nay là đại học Columbia thành lập tại Nữu Ước năm 1754 do Hoàng Gia trợ cấp. Lúc đầu các lớp được dạy học tại Hội thánh Trinity.


Đến lúc phong trào định cư chấm dứt và nền độc lập của Hoa Kỳ được công nhận vào năm 1783, thì những Hội thánh Anh bấy lâu vẫn do Giám mục London cai quản, bây giờ tự tổ chức lại trong hoàn cảnh mới. Những người Anh này lấy tên là Giám nhiệm (Episcopalian) và các Hội Thánh của họ trở thành Giáo hội Giám nhiệm (Episcopal Church) để bày tỏ lòng trung thành của họ đối với công việc các Giám mục đã làm từ thời các Sứ Đồ, cho tới lúc đó chưa có người Mỹ nào làm Giám mục. Năm 1783 một vị Giám mục đã được bầu lên ở Connecticut là Samuel Seabury không được Hoàng gia Anh chấp thuận là vì có luật định rằng các Giám mục phải tuyên thệ trung thành với Hoàng gia, ông Seabury bèn đi Tô cách lan. Tại đó các vị Giám mục có thể phong chức cho ông Seabury mà không cần buộc phải tuyên thệ. Cho nên ngày 14 tháng 11 năm 1784, ba vị Giám mục của Hội thánh Episcopal Tô cách lan đã phong chức cho ông Seabury làm Giám Mục đầu tiên của Hội thánh Giám nhiệm (Episcopal). Đây là bưóc đầu tiên mở đường cho sự bành trướng của Hội thánh Anh giáo ra hải ngoại và khắp thế giới.


Hai năm sau, Quốc hội Anh ra một đạo luật miễn cho các Giám mục được phong chức để hầu việc tại các Hội thánh ngoài các lãnh thổ thuộc Anh, khỏi tuyên thệ trung thành với Hoàng gia. Và Tổng Giám mục tại Canterbury năm 1787 đã phong chức cho những vị Giám mục được bầu là ông William White ở Pennsylvania và ông Samuel Provost ở Nữu Ước. Buổi lễ được tổ chức tại ngôi nhà nguyện cổ đẹp trong lâu đài Lambeth nơi Matthew Parker (chương 32) đã được phong chức Tổng Giám mục tại Canterbury hơn hai trăm năm trước và cũng là nơi Wycliffe (xem cuối chương 21) bị xử tội tà giáo vào thế kỷ 14.


Quyển sách cầu nguyện chính thức đầu tiên tại Mỹ, được nhuận chánh lại cho thích hợp với nhu cầu tín đồ Mỹ được xuất bản năm 1789 sau đại hội đồng Hội thánh nhóm họp tại Philadelphia. Từ đó Hội thánh Tin Lành Giám nhiệm (Episcopal) tại Hoa Kỳ được thiết lập, có Sách Cầu Nguyện Chung, có Giám mục và tổ chức Hội thánh theo lối dân chủ. Từ Tiểu bang Maine đến tiểu bang Georgia, đâu cũng có những Hội thánh Episcopal, nhưng ít hơn các Hội thánh Hội chúng. (congregationalist), Trưởng nhiệm (Presbyterian), và Báp-tít (Baptist). Tuy nhiên trong số người đã ký tên vào bản tuyên ngôn độc lập, thì những người Tin Lành Giám nhiệm (Episcopalian) nhiều hơn các Hội thánh khác. Khởi đầu từ ngày các tín đồ Thanh giáo (Puritan - Pilgrim Fathers) đặt chân lên Plymouth năm 1620, rất nhiều người Thanh giáo (Puritan) Anh đã vượt qua Đại Tây Dương để lánh nạn và tránh bắt bớ tại quê hương, họ đến Tân Thế Giới lập những cộng đồng khả dĩ thể hiện những lý tưởng Cơ-đốc của họ. Do đó tại Plymouth, Massachusetts Bay, Connecticut (Hartford) và New Haven các nhóm Hội chúng (Congragationalist) đã tổ chức thành những khối 'thịnh vượng chung' theo lời Kinh Thánh, đặt dưới quyền Đức Chúa Trời, được những lãnh đạo như John Winthrop và John Cotton ở Boston, Richard Mather ở Dorchester, Thomas Hooker ở Hartford và John Davenport ở New Haven. Họ theo hình thức Hội chúng (Congregational) về tổ chức Hội thánh và mỗi Hội thánh đều tự do giải quyết công việc nội bộ. Mỗi khối đều phải có hình thức tôn giáo thống nhất. Những người không đồng ý phải bị loại ra ngoài khối, quyển sách kỷ luật của nhóm Hội chúng, ghi những điểm chính yếu của Calvin, trong bản xưng nhận niềm tin Westminster làm năm 1647. Đại học Harvard được thành lập năm 1636 bằng trợ cấp của nhóm Hội Chúng (Congragational) định cư tại vùng Vịnh Massachusetts và tài sản của John Harvard để lại cho. Ông tốt nghiệp trường Emmanuel ở đại học Cambridge và Đại học mang tên ông có mục đích để huấn luyện Mục sư cho các Hội thánh Hội chúng (Congragational) nhiều hơn những Hội thánh mang ba danh hiệu kia.

* Roger William được coi như là ông tổ của những người Báp-tít Mỹ. Ông bị truất khỏi cộng đồng Vịnh Massachusets vì chống đối sự gò bó tôn giáo, và ông lánh đến Rhode Island. Năm 1639, tại thành phố Providence ông và nhiều đồng bạn muốn tìm tự do tín ngưỡng đã thành lập Hội Thánh Báp-tít đầu tiên tại Mỹ.

Những người Báp-tít chủ trương những nguyên tắc sau đây:

- Hội thánh và chính quyền phân biệt

- Phép Báp-têm nhận chìm xuống nước

- Tin Chúa là được làm thành viên Hội thánh

- Mỗi Hội thánh đều độc lập

- Cá nhân chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời .

Trong những thời kỳ phấn hưng ở thế kỷ 18 và những chuyến di cư lớn về phía Tây số tín đồ Báp-tít tăng nhanh là vì tổ chức Hội thánh dân chủ, và các Mục sư không cần đưọc huấn luyện, không lãnh lương đặc biệt của dân chúng sống trong các vùng biên giới.


* Giáo sĩ Francis Makemie, người Ái nhĩ lan gốc Tô cách lan được gọi là ông tổ của nhóm Trưởng nhiệm (Presbyterian) Mỹ vì ông có công tổ chức hội Trưởng nhiệm đầu tiên tại Philadelphia năm 1706. Từ 1720 đến 1740 có hơn 100.000 người Trưởng nhiệm ở Ái nhĩ lan, nhưng gốc Tô cách lan, họ không chịu được những điều kiện kinh tế, tôn giáo do chính quyền Anh ép buộc họ, nên họ đã đến Mỹ. Vì họ đến muộn nên những người Trưởng nhiệm (Presbyterian) sùng đạo này tiến xa về phía Tây, định cư tại West Virginia, phía Tây north Carolina, Kentucky, Tennessee và các tiểu bang phía nam. Để huấn luyện Mục sư cho số Hội thánh tăng trưởng nhanh, năm 1746 những người Trưởng nhiệm (Presbyterian) lập trường Đại học New Jersey nay là Đại học Princeton. Ông John Wetherspoon, Viện trưởng Đại học này là Mục sư duy nhất đã ký vào bản tuyên ngôn độc lập. Khi cuộc chiến tranh cách mạng bắt đầu (1775 - 1783) các lãnh thổ Anh tại Mỹ dứt ra khỏi quyền kiểm soát của nước Anh. Các hội thánh Trưởng Nhiệm (Presbyterian) chỉ thua các Hội thánh Hội chúng (Congragational) về con số mà thôi.


Ngoài bốn tổ chức tôn giáo lớn nhất kể trên, còn một số những giáo phái nhỏ hơn nhưng có ảnh hưởng rải rác trong các khối định cư tại Mỹ. Nhóm lâu dài nhất là nhóm Hội thánh Cải cách Hòa lan, lập tại New Amsterdam, bây giờ là thành phố Nữu Ước, năm 1628. Ông Jonas Michaelius từ Hòa Lan đến làm Mục sư đầu tiên cho Hội thánh này. Hội thánh này và các Hội thánh Cải cách khác theo giáo thuyết Calvin nhưng hình thức tổ chức quản trị thì theo Trưởng nhiệm (Presbyterian). Có nhiều nhà thờ của người di dân định cư ở Hudson Valley, Long Island, New York và New Jersey đã dựng lên cho Hội thánh Cải cách Hòa lan. Năm 1766, Hội Đồng Trưởng nhiệm của họ đã thành lập Queens College nay là Đại học Rutgers ở New Jersey.


Những nhân viên của Hội thân hữu (Society of Friends) tức là Quaker từ Anh đến Massachusetts năm 1656 như là giáo sĩ để rao truyền giáo thuyết của người sáng lập ra hội này là ông George Fox. Ông là một tín đồ có đời sống nội tâm đăc biệt, gần như thần bí. Ông tin ở 'ánh sáng nội tâm' trong mỗi người và ông giảng rằng Cơ-đốc giáo chân thật thể hiện ở đời sống dâng hiến và biến đổi. Ông không ưa hình thức, ghét chế độ nô lệ và tuyên bố rằng đối với người Cơ-đốc, chiến tranh là bất hợp pháp. Cũng vì tư cách của họ, những người Quaker chống đối quyền hành Hội thánh của người Thanh giáo (Puritan) tại Masschusetts nên bốn người trong bọn họ đã bị treo cổ ở công viên Boston. Ông George Fox du hành qua các vùng định cư từ New England đến North Carolina, lấy lời giảng mạnh mẽ củng cố đức tin của những người theo ông. Trước khi ông tạ thế năm 1691, ông đã gây dựng được nếp sống kỷ luật và tiết độ làm thơm danh những người Quaker từ đó.

Năm 1681 ông Willian Penn, một giáo sĩ Quaker tài giỏi, đã xin được vua Charles II cấp cho một vùng đất lớn rộng để định cư, nay là tiểu ban Pennsylvania, ông quyết tâm đến Mỹ là để tìm ra tự do mà người Quaker không có được ở nơi khác, ông luôn luôn nhấn mạnh vào nguyên tắc tự do tôn giáo. Điều này trở thành một nguyên tắc căn bản cho hệ thống chính trị Mỹ. Ông Penn thành lập thành phố Philadelphia và mở rộng vùng định cư cho những người Quaker. Với 100 bảng Anh, một người có thể mua được 5000 mẫu đất và một khu đất trống tại thành phố Philadelphia. Khoảng năm 1775, có số người Quaker đến tập trung ở Pennsylvania, nhưng cũng có những cuộc nhóm họp của họ tổ chức từ Maine đến Georgia. Chính sách tự do tôn giáo của Willian Penn thu hút đến Pennsylvania nhiều người có tín ngưỡng khác nhau. Nhóm Tin Lành Mennonite từ Đức và thụy sĩ đến nương náu ở Germantown vào năm 1683. Nhóm nay sống đơn giản và mặc áo xềnh xoàng. Những nhóm từ Đức đến gồm những người Báp-tít Đức gọi là Dunker. Những người thuộc Hội Thánh Cải Cách Đức, và những người Lutheran. Khoảng năm 1748, khi ông Henry M. Muhlenberg tổ chức Hội đồng đầu tiên các Hội thánh Lutheran (Có tính cách trường cửu) thì nhóm Lutheran là tôn giáo lớn nhất ở Pennsylvania.


Hội thánh Moravian là sự hồi phục lại của nhóm Bohemian Brothers thành lập năm 1457 do những người theo John Huss, bị tử đạo (xin xem cuối chương 21). Nhờ sự lãnh đạo của Bá tước Von Zinzendorf, Hội thánh Moravian nổi danh vào thế kỷ 18 không những về sinh hoạt thuộc linh mà cũng vì lòng sốt sắng truyền giáo nữa. Năm 1741 Zinzendorf đặt tên vùng định cư của người Moravian tại Pennsylvania là Bethlehem thành phố này trở thành trung tâm của phong trào do ông khởi xướng tại Mỹ và sau này có nhiều cơ xưởng đúc thép. Tính tất cả những giáo phái nhỏ kể trên, có 95 Hội thánh Quaker, 251 Hội thánh Cải Cách Hòa Lan và Đức, khoảng 20 Hội t hánh Mennonite, 20 nhóm Dunker và độ 8 Hội thánh Moravian.


Tuy trong thời gian định cư, người Công giáo La-mã chỉ có độ 50 Hội thánh, phần lớn tại Maryland và Pennsylvania, nhưng nhân số họ đã tăng mau do những chuyến di cư lớn từ Ái nhĩ lan và nam Âu Châu vào thế kỷ 19 và 20. Hiện nay họ có khoảng 50 triêu tín đồ và là nhóm tôn giáo lớn nhất tại Hoa Kỳ. Mặc dầu có nhiều Hội thánh sinh hoạt trong các vùng định cư, có nhiều hình thức thờ phượng phong phú, về đức tin cũng như nghi lễ, đa số dân chúng Mỹ vẫn lãnh đạm với tôn giáo cho đến ngày Phong Trào Phấn Hưng (Great Awakening) xuất hiện và đời sống Cơ-đốc được dứt dấy, họ mới bắt đầu đến các nhà thờ. Bắt đầu từ 1726 từ các Hôi Thánh Cải Cách Hòa Lan tại New Jersey, sự phấn hưng này gây xúc động mạnh lan tràn qua tất cả các vùng định cư và kéo dài hơn nửa thế kỷ. Các Mục sư giảng khuyên mọi người sống một đời sống đạo đức, và phải có lòng tin kính nghiêm trang, đồng thời nêu cao tính chất biến đổi đời sống của sự 'tin Chúa'. Phong trào bắt đầu từ Anh với John Wesley. Khi ông còn là sinh viên tại Oxford, ông có thành lập một nhóm tôn giáo nhỏ trong đó có em ông là Charles sáng tác thánh ca và ông George Whitefield, có tài giảng ngoài trời cho công chúng. Các sinh viên khác chế riễu và gọi họ là ‘Methodists’ vì họ chăm nghiên cứu và dự những buổi nhóm đều đặn, nhưng họ cứ vững lòng tiến bước. Ông John Wesley trở thành một Mục sư của Hội thánh Anh. Ông nỗ lực rao truyền đạo Chúa khắp nơi. Ngoài đồng ruộng, trong xưởng máy, và trong Hội thánh du hành tại Anh, Tô cách lan và Ái nhĩ lan. Sứ điệp của ông là 'sự cứu rỗi chỉ đến từ Chúa Christ' và khi ông đề cao sự tái sanh và đời sống thánh thiện, có hàng nghìn người tin theo. Năm 1791 ông tạ thế thọ 88 tuổi. Ông có thể thỏa lòng là đã cùng các bạn đồng công cách mạng đời sống đức tin của từng lớp hạ lưu và trung lưu tại Anh. Nhờ một người trong số các bạn của Wesley là ông Georga Whitefield, nhà truyền giảng phấn hưng danh tiếng dã du hành nhiều lần qua các vùng định cư từ 1740 đến 1770 giáo phái Giám lý (Methodist) được thành lập tại Mỹ.

Năm 1764 ông Thomas Coke được John Wesley ủy thác, thành lập Hội thánh Methodist Epicopal tại Mỹ. Ông Coke và ông Francis Asbury, một nhà truyền giảng du hành nổi tiếng, trở thành hai Giám mục đầu tiên. Sự sốt sắng của các Giám mục du hành và lòng tin kính cao độ tại các trại nhóm họp đã khiến các hội thánh Giám lý (Methodist) mọc lên nhan nhản. Hơn nữa, người Giám lý (Methodist) nhấn mạnh vào điểm 'Ân điển được ban nhưng không' và cá nhân phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời nên thích hợp với dân chúng sống trong một xã hội dân chủ. Ba nhánh của những người Giám lý (Methodist) họp nhau lại để thành lập Hội thánh Giám lý (methodist) vào năm 1939. Đến 1968 Hội thánh này lại hiệp một với Hội thánh Evangelical United Brethren Church (chính Hội thánh này cũng là kết quả của một cuộc liên kết) để lập nên Hội thánh Giám lý Tổng hợp (United Methodist Church) một trong những Hội thánh lớn mạnh có uy thế nhất tại Hoa Kỳ và trên thế giới.


36. CỘNG ĐỒNG CƠ-ĐỐC GIÁO NGÀY NAY


Giữa những biến đổi của thế kỷ 19 và 20, Cơ-đốc giáo phát triển nhanh tuy phải đương đầu với sự thách đố của các triết lý quá thiên về vật chất và về đời sống hiện tại. Nhiều phong trào truyền giáo đã được tung ra để rao truyền sứ điệp của Chúa đến mọi nơi trên thế giới. Cơ-đốc giáo đã thành lập được nhiều Hội thánh then chốt mới, đã dịch Kinh Thánh ra gần 2000 thứ tiếng và thổ ngữ, đã nghiên cứu lại những tín điều căn bản, đã nhìn sâu hơn vào lời Chúa dã làm cho lễ thờ phượng phong phú hơn, đã cố gắng sửa sai và đi tiên phong trong nhiều dịch vụ nhân đạo. Vô số các thành tựu khác nhau đó của cộng đồng Cơ đốc là do lòng hiến dâng và sự hi sinh không hề ngưng cuả vô vàn Cơ-đốc nhân. Câu chuyện Cơ-đốc giáo vẫn 'mạnh tiến qua giông tố; trongnhững năm này, là câu chuyện của nhiều dân tộc trong nhiều quốc gia, hẳn bao nhiêu pho sách cũng còn chưa đủ chép.


Giáo thuyết Tin Lành đã khuyến khích tự do tín ngưỡng lại vừa là con đường cho sự phát triển, nên tiềm tàng có khuynh hướng thành lập nhiều Hội thánh mới. Ví dụ, những người trong Hội Thánh Hội Chúng (Congregationalist) không tin giáo lý Ba Ngôi Đức Chúa Trời, đi ra thành lập một nhóm mới, vào khoảng năm 1815 lấy danh hiệu là Unitarian. Trong số người lãnh đạo của nhóm này, có Ralph Waldo Emerson nhà luận thuyết, triết gia và thi sĩ nổi danh. Vào đầu thế kỷ 19, Thomas và Alexander Campbell cùng một số người khác rao truyền một Tin Lành đơn sơ, mộc mạc, họ ước mong tất cả các tín đồ đều trở về sự đơn sơ mộc mạc ấy, để chấm dứt mọi chia rẽ phe phái, nhưng chính những người theo họ sau cùng tách ra khỏi để lập Hội thánh 'Môn đồ Đấng Christ' (Disciples of Christ) nay gọi là Giáo Hội Cơ-Đốc (Christian Church).


Còn những tổ chức khác cũng bắt nguồn từ đức tin Cơ-đốc, dầu không là chính thống, chúng ta cũng nên nhắc đến ở đây: Nhóm Mormon, do Joseph Smith thành lập năm 1830; nhóm Christian Scientist, do Mary Baker Eddy thành lập năm 1879, nhóm Nhân Chứng cho Giê-hô-va (Jehovah's Witnesses) thành lập năm 1931. Những nhóm khác theo đúng tinh thần của Phúc âm là nhóm Ngũ Tuần (Assemblies of God), một nhóm có nhiều tinh thần truyền giáo thành lập năm 1914, và nhiều nhóm khác ảnh hưởng đến đời sống tại Mỹ như Hội Phước Âm Liên Hiệp (Christian & Missionary Alliance) Hội Na-xa-rin (Church of the Nazarene)

Vì quá nhiều khối tôn giáo nên nhiều Cơ-đốc nhân và những người lãnh đạo lấy làm chán nản không biết tương lai đi về đâu. Nhớ đến Lời Chúa dạy Hội Thánh là 'một bầy chiên, một người chăn' (GiGa 10:16), những người lãnh đạo bắt đầu tiến từ phân rẽ đến cộng tác và hiệp một. Tại Hoa Kỳ, nước đầu tiên vào năm 1905 có 30 Hội thánh thỏa thuận lập nên một số cơ quan để phối hợp hoạt động. Đến giữa thế kỷ 20, cơ quan này thành Hội Đồng Quốc Gia các Hội Thánh Đấng Christ tại Hoa Kỳ (National Council of the Churches of Christ in the U.S.A) bao gồm khoảng 33 danh hiệu của Tin Lành vừa chính thống Đông phương tổng cộng hơn 40 triệu tín đồ. Tại Pháp, Thụy sĩ , Anh và Gia nã đại, người ta cũng tổ chức các cơ quan tương tự. Phong trào hợp nhất cứ tiếp tục, tránh được sự chia rẽ do giáo thuyết dị biệt trong cùng một danh hiệu, và nhiều Hội thánh đã từng tách rời nay lại hiệp một lại. Từ 1925 đến 1965 trên khắp thế giới có 37 tổ chức liên hiệp mới xuất hiện, bao gồm những 124 Hội thánh trước đó đứng riêng rẽ.

Ở cấp bậc cao hơn, phong trào Cơ-đốc nói chung đã tới một khúc quanh khi 150 tổ chức Tin Lành, Anh giáo, Và Chính thống từ 44 nước đã họp tại Amsterdam năm 1948 để chính thức thành lập Hội Đồng Các Hội thánh thế giới (World Council of Churches). Ba mươi năm sau số hội viên gia nhập đã gia tăng lên đến hơn 200. Hội thánh Công giáo La-mã đã bắt đầu nối liên lạc với các Hội Thánh khác sau khi Hội Đồng Vatican II (1962 - 1965) ban hành sắc lệnh khuyến khích người Công giáo cộng tác với những 'Hội thánh và cộng đồng phân cách' đứng ngoài Hội Thánh La-mã'. Giáo hoàng John 23 (1958 - 1963) tuy chỉ giữ chức vụ có 5 năm nhưng đã mở lòng nghênh đón những Hội thánh Chính thống Miền Đông từ lâu đời phân cách. Giáo hoàng John nhớ đến chuyện Giô sép và những người anh đã trở nên xa lạ của Giô sép, đón chào vị thủ lãnh của Hội thánh chính thống Hy-lạp bằng mấy tiếng đầy ý nghĩa 'Tôi là John, người em của các anh'.


Trải qua 20 thế kỷ, như chúng ta đã thấy, Hội thánh đã từng tiến bước trong giông tố cũng như dưới ánh nắng quang đãng. Cộng đồng thánh của dân Chúa mỗi thời đại vẫn lớn mạnh nhờ đức tin và đời sống thuộc linh sâu đậm của mỗi tín dồ, những người này dù có lúc đã thất bại có lúc đã xử sự như kẻ thù, và dù bản chất con người nhiều lúc yếu đuối, nhưng họ vẫn tiêp tục tiến tới đúng như lời Cyrill F. Garbett vị Tổng Giám mục tại NewYork mới đây đã viết: 'Hội thánh là một đoàn quân tiến giữa lòng đất địch, không phải là nơi nghỉ cho người mệt mỏi'


Tại mặt trận nào Hội thánh cũng phải đương đầu với các mẫu mực vật chất và những giá trị mau thay đổi. Dần dần những chân lý Cơ-đốc cũng bị nghi ngờ khiến cho sự hầu việc của Hội thánh để đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân loại càng khó khăn. Dầu vậy sứ điệp của Cơ-đốc giáo vẫn mãi là một sinh lực thâm nhập và thắng hơn trong nền văn minh của chúng ta. Mỗi thế hệ mới, phấn đấu với những khốn khó của đời người, bất mãn với tình trạng sống chỉ là hiện hữu mà thôi, khao khát nhân đạo, tự do, hòa bình và niềm vui. Con người vẫn tự hỏi: 'Tại sao tôi sống? Ý nghĩa đời sống của tôi là gì? Từ xưa đã có lời "loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi' (PhuDnl 8:3; Mat Mt 4:4). Ngày nay cộng đồng dân Chúa rải khắp thế giới, cộng đồng của tình thương rao truyền một Phúc Âm, một sứ điệp đã liên tiếp giải phóng mọi người nam nữ khỏi ràng buộc nô lệ của tội lỗi và đem họ vào sự sống hoàn toàn đổi mới. Lời hứa của Chúa vẫn vững bền: 'Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta '(GiGa 12:32)


Chuyển ngữ

Xong ngày 14 tháng 1, 1986

10 giờ tối

Fountain Valley, CA 92708

Nguyễn Xuân Cảnh



bottom of page