ISOM CẤP 4 Cá Nhân Chứng Đạo (Personal Evangelism)
HungT
Feb 14, 2024
Giáo Trình I.S.O.M International School of Ministry (Mục sư Ray Comfort)
Ray Comfort là một mục sư và nhà truyền giáo Cơ-đốc sinh tại Tân Tây Lan New Zealand, sống ở Hoa Kỳ. Ông bắt đầu mục vụ The Way of the Master với nam diễn viên Kirk Cameron, dạy nhà thờ rao giảng hiệu quả hơn thông điệp của Cơ-đốc giáo truyền giáo. Bộ phim truyền hình được phát sóng từ năm 2004 đến năm 2007 với bốn mùa. Ông là tác giả bán chạy nhất của Bí Mật Giữ Kín của Hoả Ngục (Hell’s Best Kept Secret, True and False Conversions) cùng với 80 cuốn sách đã xuất bản khác.
(Mở Bài Học - Mở Bài Thi)
D5.1 Bí Mật Hỏa Ngục.
D5.2 Thuyết Vô Thần.
D5.3 Truyền Giảng Theo Kỷ Luật Quân Ð ội.
D5.4 Sự Biến Cải Thật Và Giả.
D5.5 Làm Thế Nào Ðể Nóng Cháy Cho Chúa.
BÀI 1: TỐT NHẤT LÀ NÊN GIỮ BÍ MẬT CỦA ĐỊA NGỤC
LỜI GIỚI THIỆU
Khi tôi đi vòng quanh thế giới, tôi khiếp sợ mà khám phá ra rằng trên 80% số người quyết định tin nhận Chúa đang quay lưng lại với Ngài. Vào năm 1991, một giáo phái lớn có thể có được 294.000 người quyết định tin nhận Chúa. Họ chỉ có thể tìm thấy 14.000 người trong sự thông công. Nói cách khác, họ không thể giải thích được vì sao 280.000 người còn lại quay lưng lại với Ngài.
Đây là một kết quả truyền giảng hiện đại thông thường. Sau đó tôi đến một điểm cầu nguyện và cũng học được nơi những người vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã sử dụng họ trải qua nhiều thế kỷ như Charles Spurgeon, John Wesley và những người khác nữa. Tôi phát hiện ra rằng họ đã sử dụng nguyên tắc mà hoàn toàn bị xao lãng trong việc truyền giảng hiện đại.
Nếu bạn đến với một tội nhân, và nói với người ấy rằng Chúa Jêsus Christ đã chết trên thập tự giá vì cớ người, thì người ấy sẽ cho rằng lời nói của bạn là dồ dại và sỉ nhục (xúc phạm) đối với người đó.
- Dồ dại, vì cớ lời nói của bạn không có ý nghĩa.
- Sỉ nhục (xúc phạm), vì cớ bạn đang ám chỉ người ấy là một tội nhân khi mà người không nghĩ chính mình là người như vậy.
Nhưng nếu bạn theo dấu chân Chúa Jêsus, và dành thì giờ tra xem luật pháp của Chúa, Mười Điều Răn và chỉ cho tội nhân thấy một cách chính xác những việc mà người làm sai, sau đó người ấy biết chắc mình là một tội nhân, thì Tin Lành của Đấng Christ sẽ không là dồ dại và sỉ nhục (xúc phạm). Hơn nữa, Tin Lành sẽ là quyền năng của Đức Chúa Trời đối với sự cứu rỗi.
DÀN Ý BÀI HỌC
• RoRm 3:19 “Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời;”
I. LUẬT PHÁP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
II. CHỨC NĂNG CỦA LUẬT PHÁP ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ LÀM CHO TỘI NHÂN NGẬM MIỆNG VÀ NHẬN BIẾT TỘI LỖI CỦA MÌNH TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI (3:20).
- Luật pháp của Đức Chúa Trời cho chúng ta biết tội lỗi là gì (7:7).
- Luật pháp thực hiện vai trò của một người thầy giáo để đem chúng ta đến với Đấng Christ (GaGl 3:24).
- Luật pháp không giúp chúng ta, nhưng luật pháp để cho chúng ta cần sự giúp đỡ.
- Luật pháp không bào chữa cho chúng ta, luật pháp chỉ để cho chúng ta nhận biết tội lỗi của mình trước tòa án của Đức Chúa Trời.
III. BI KỊCH CỦA VIỆC TRUYỀN GIẢNG HIỆN ĐẠI
Thay vì dùng luật pháp và quyền hạn của luật pháp để bắt buộc tội nhân đến với Chúa, việc truyền giảng hiện đại phải tìm lý lẽ khác để đem tội nhân về cùng Chúa.
Vấn đề truyền giảng hiện đại đã lựa chọn là vấn đề nâng cao đời sống. Tin Lành đã suy thoái vì (bạn nghĩ rằng): Chúa Jêsus Christ sẽ ban cho bạn sự bình an, niềm vui, tình yêu thương và sự đầy trọn.
Minh họa về hai người nam đang ngồi trên máy bay. Là con cái của Chúa, chúng ta biết rằng sự công nghĩa của Đấng Christ sẽ giải cứu chúng ta khỏi cơn thạnh nộ hầu đến. Nếu chúng ta nương cậy vào Chúa để hành động đúng, chúng ta sẽ tránh khỏi cơn thạnh nộ hầu đến, khi hoạn nạn xảy đến, chúng ta sẽ không tức giận Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chắn chắn được vui mừng và bình an.
Hoạn nạn đó sẽ đưa chúng ta đến gần Chúa hơn. Đáng buồn là chúng ta có một số đông tín hữu đã mất đi niềm vui, sự bình an của họ khi gặp hoạn nạn.
Tại sao? Bởi vì đó là kết quả của việc truyền giảng hiện đại. Không cần gì phải chữa trị, khi bạn không tin thì bạn đã bị bệnh. Luật pháp cho biết rằng bạn có một chứng bệnh vì thế bạn có thể tiếp nhận Tin Lành. Việc truyền giảng trong Kinh Thánh thì luôn luôn là luật pháp cho kẻ kiêu ngạo, và ân điển cho người khiêm nhường.
Bạn sẽ không bao giờ thấy Chúa Jêsus ban Tin Lành, thập tự giá, ân điển của Đức ChúaTrời chúng ta cho kẻ kiêu ngạo, người kiêu căng tự cho mình là đúng. Với luật pháp, Ngài làm tan vỡ những tấm lòng cứng cỏi và với Tin Lành, Ngài chữa lành những tấm lòng tan vỡ.
IV. THÍ DỤ ĐIỂN HÌNH CỦA CHÚA JÊSUS
A. Ban luật pháp cho kẻ kiêu ngạo (LuLc 10:25).
Một thầy dạy luật nào đó đứng dậy và thử Chúa.
a. Chúa Jêsus bắt ông làm theo luật pháp.
b. Thầy dạy luật muốn xưng mình là công bình.
c. Chúa Jêsus nêu cho ông câu chuyện về người Sa-ma-ri nhơn lành.
Câu chuyện này làm cho thầy dạy luật cứng họng (không nói được một lời) vì cớ ông không yêu thương người lân cận như chính mình.
B. Người trai trẻ giàu có (18:18).
Anh ta nói rằng anh ta đã giữ điều răn của Chúa. Chúa Jêsus nêu ra cho anh điều răn thứ nhất để chỉ cho anh thấy thần của anh là tiền bạc mà anh đang có.
C. Ban ân điển cho người khiêm nhường.
- Trường hợp của Ni-cô-đem (GiGa 3:1-36). Ông là một người Do-thái khiêm nhường.
- Trường hợp của Na-tha-na-ên (1:1-51). Ông ta là một người Y-sơ-ra-ên đích thật! Không có dối trá trong lòng ông ta. Luật pháp là thầy giáo để đem họ đến với Đấng Christ.
- Trường hợp của những người Do-thái vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Đây là những người Do-thái tin kính từ mọi dân tộc. ITi1Tm 1:8 cho chúng ta biết mục đích của luật pháp. Kinh Thánh đầy tràn những thí dụ về luật pháp đang thi hành công việc của nó trong việc truyền giảng.
D. Sự tiếp xúc của Chúa Jêsus (4:1-51).
Trước tiên Chúa Jêsus tiếp xúc với người đàn bà này trong lĩnh vực tự nhiên. Kế đến luập pháp của Đức Chúa Trời. Luật pháp chỉ cho thấy tội lỗi trong quan niệm đúng của nó. Điều này dẫn đến sự ăn năn.
Charles Spurgeon nói: “Mãi cho đến khi nào họ run sợ trước luật công nghĩa và thánh thiện thì họ mới tiếp nhận ân điển: Họ sẽ không bao giờ chữa bệnh, trừ phi ban đầu họ tin rằng họ có bệnh.”
Vì thế chính bạn hãy tìm một tội nhân, cũng thử nghiệm và quan sát người đó xem sự việc trên có xảy ra hay không. Chúa Jêsus đưa ra thí dụ tiếp theo điều đó. Nếu một người nào đó đến với bạn, xưng nhận họ là một tội nhân, hãy ban cho họ ân điển. Nhưng hơn thế nữa, có nhiều người sẽ đến với bạn chứng minh họ là người công bình. Đó là lúc mà bạn phải đưa ra cho họ luật pháp. Tôi không bàn về việc giảng đạo nơi lửa địa ngục. Việc giảng đạo nơi lửa địa ngục sẽ tạo ra một trạng thái tinh thần đầy sợ hãi. Nhưng sử dụng luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ tạo ra một trạng thái tinh thần đầy nước mắt (đầy sự ăn năn).
THẢO LUẬN NHÓM
Thảo luận những lý do khác nhau vì sao có nhiều quyết định trong Hội thánh ngày nay mà chỉ có một vài quyết định trong số đó trở lại với Chúa thật sự.
Chúng ta có thể làm gì để thay đổi khuynh hướng này? Vấn đề nâng cao đời sống khác với việc sử dụng luật pháp của Đức Chúa Trời trong sự dẫn dắt tội nhân đến với Đấng Christ như thế nào?
Thảo luận những sự tiếp xúc khác nhau mà bạn có thể đưa vào việc ban luật pháp cho kẻ kiêu ngạo, tín ngưỡng và tự cho là công bình trước Tin Lành của Chúa. Khi nào bạn có thể biến đổi phương pháp luật lệ thành phương pháp ân điển?
TỰ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các thí dụ của Chúa trong các sách Phúc-âm cách mà Chúa đã sử dụng những sự tiếp xúc khác nhau trong việc giảng đạo. Đưa ra ba thí dụ trong mỗi thí dụ của Chúa đã sử dụng về luật pháp và ân điển.
BÀI 2:THUYẾT VÔ THẦN
LỜI GIỚI THIỆU
Theo tự điển, thuyết vô thần là một tín ngưỡng không có Đức Chúa Trời.
Mussolini: “kết luận rằng không có Đức Chúa Trời.” Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã có lần đáp lời cầu nguyện của ông ta sau đó.
Trong RoRm 1:18-20.
Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời ở trên tội nhân vì hai lý do: Điều có thể nhận biết về Đức Chúa Trời phát lộ ra trong họ. Mỗi người trong chúng ta có một lương tâm.
1. Từ lương tâm có nghĩa là: Có sự hiểu biết.
2. Vì Đức Chúa Trời đã bày tỏ điều đó cho họ qua mọi vật mà Ngài đã dựng nên.
DÀN Ý BÀI HỌC
I. NGUYÊN LÝ (LÝ THUYẾT) CỦA HỘP COCA COLA
Vì một hộp Coca Cola được làm nên ắt hẳn phải do một người chế tạo ra nó. Nếu nó được thiết kế, ắt hẳn phải có một nhà thiết kế.
Để tin vào điều gì khác thì phải chuyển sang một lĩnh vực tự do tư tưởng. Cũng như để tin vào người nào thiết kế một hộp Coca Cola thì thật là khó, vì vậy nên thật là khó để tôi nhận ra rằng không có Đức Chúa Trời.
* Toàn bộ công cuộc sáng tạo đã chứng minh về thiên tài của bàn tay sáng tạo của Đức Chúa Trời.
Một trong những chỗ tuyệt nhất để xem kỳ tích về sự sáng tạo của Đức Chúa Trời là ở trong gương. Hãy suy nghĩ làm sao mà một em bé được hình thành trong tử cung. Một người nữ mang thai. Bác sĩ nói rằng cô ta phải ăn nhiều món ăn và uống nhiều sữa.
A. Sữa là gì?
B. Cỏ. Cỏ là gì?
C. Bụi được sắp đặt (bố trí) trước.
D. Con bò nhai cỏ và sữa được tạo thành. Người mẹ uống sữa và làm tăng trưởng em bé.
E. Một quả trứng xuất phát từ đâu? Con gà.
F. Charles Darwin, người mà phát minh thuyết tiến hoá nói “Giả sử rằng con mắt có thể được hình thành bởi sự chọn lọc tự nhiên, thì dường như, tôi tự do nói rằng vô lý lên đến mức độ cao nhất.” thì dường như tôi nhận thấy rằng điều này thật là vô lý.
G. Nếu con người thừa nhận rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, thì họ đang thừa nhận rằng họ tin cậy vào Ngài một cách tuyệt đối.
H. Người tin theo thuyết vô thần không thể thấy Đức Chúa Trời cũng một thể ấy một kẻ trộm không thể thấy cảnh sát.
II. CHỨNG CỚ VỀ SỰ HIỆN HỮU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
A.Khi bạn nhìn một tòa nhà, làm sao bạn biết được có một người xây dựng?
Toà nhà này là một chứng cớ có một người xây dựng. Tôi không cần vật gì để làm tin, tôi chỉ cần một con mắt để nhìn. Nguyên tắc tương tự áp dụng cho một bức tranh và hoạ sĩ. Nguyên tắc tương tự này ứng dụng vào Đức Chúa Trời. Tất cả những điều mà tôi cần để nhận biết Đức Chúa Trời hiện hữu là mắt để thấy cũng như trí óc để suy nghĩ (1:18-20).
• Như vậy tôi không cần vật làm tin để tin vào một người xây dựng bởi vì toà nhà này là chứng cớ hiển nhiên, vì thế tôi không cần vật làm tin để tin Đức Chúa Trời bởi vì tôi được dựng nên là chứng cớ hiển nhiên.
• Nhưng nếu tôi cần người xây dựng để làm điều gì đó cho tôi, sau đó tôi hẳn phải có sự tin cậy vào người đó (HeDt 11:6).
• Khi chúng ta nhìn tạo vật, thì thật là có trật tự.
Nan đề với một người tin theo thuyết vô thần là điều mà người ấy thật sự không nghĩ đến nếu người nhìn thấy một điều gì đó người có thể tin vào nó.
Có nhiều điều mà chúng ta tin nhưng điều đó chúng ta chưa thấy. Sự giống nhau (tương tự) của làn sóng truyền hình: Nó không thể thấy được.
B. Tất cả những gì bạn cần là một người nhận.
Khi tôi gặp một người tin theo thuyết vô thần, tôi nói với người ấy rằng, thế là bạn không tin vào điều mà bạn không thể thấy. Rồi thì tôi hỏi người ấy, bạn có thấy bộ não của bạn bao giờ chưa?
Người ấy trả lời “Không thấy.”Sau đó tôi đáp “Điều mà bạn đang nói thì không có chứng cớ hiển nhiên rằng bộ não của bạn hiện hữu.”Đức Chúa Trời phán: “Kẻ ngu dại nói không có Đức Chúa Trời.”
III. CHỨNG MINH MỘT NGƯỜI TIN THEO THUYẾT VÔ THẦN KHÔNG HIỆN HỮU
A. Để trình bày một cách chính xác, bạn cần phải hiểu biết chính xác. Thí dụ về một bài phát biểu chính xác:
B. Không có vàng ở Trung Quốc.
C. Vì bài phát biểu đó là sự thật, nên hẳn là bạn phải biết không có vàng ở Trung Quốc.
D. Vì có thể là vàng ở trong lòng sông, trong đá và những nơi bị che khuất khác.
E. Nếu có như thế, thì bài phát biểu không có vàng ở Trung Quốc là sai. Để trình bày một cách chính xác rằng không có vàng ở Trung Quốc, bạn phải có sự hiểu biết chính xác rằng không có vàng ở Trung Quốc.
F. “Không có Đức Chúa Trời”, là một lời phát biểu chính xác. Vì lời phát biểu đó là sự thật, bạn phải có sự hiểu biết chính xác.
G. Tôi cần thông suốt mọi sự.
Một người nào đó có sự hiểu biết trọn vẹn, người đó sẽ biết mọi sự về mọi việc. Người ấy biết có bao nhiêu tóc trên mỗi cái đầu, mọi ý tưởng trong mỗi tấm lòng. Toàn bộ lịch sử sẽ ở trước mặt người. Người ấy biết tất cả về mọi việc. Bây giờ, ông giáo sư của người tin theo thuyết vô thần nói: “Chúng tôi lấy ví dụ bạn có 1% của toàn bộ sự hiểu biết trong vũ trụ, có thể nào trong sự hiểu biết mà vô tình bạn không có, có chứng cớ về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời chăng? Nếu người đó có lý trí, người sẽ gượng nói rằng: Vâng, có thể lắm. Người đó phải nói rằng: “Với sự hiểu biết giới hạn mà tôi có được lúc đó, tôi đi đến kết luận rằng không có Đức Chúa Trời, nhưng tôi thật sự không biết.”
Vì thế người đó không phải là một người tin theo thuyết vô thần, mà người đó là mộtngười theo thuyết bất khả tri luận. Từ tương đương theo tiếng La-tinh của từ “Bất khả tri luận” (agnostic) là “vô tri”(ignoramous), là từ tóm tắt (kết luận) khả năng tri thức của một người nhìn một tòa nhàmà không biết ai là người xây dựng.
H. ChCn 28:26 chép rằng: “Kẻ nào tin cậy nơi lòng mình là kẻ ngu muội”.
Đừng tin vào những cảm giác tự nhiên của bạn. Người Mỹ nổi tiếng, Benjamin Franklin nói: “Càng trở nên già, tôi càng dễ nghi ngờ hơn về sự xét đoán của riêng tôi nhưng lại tôn trọng hơn đối với sự phán xét của người khác.”
Điều mà chúng ta vừa mới xem trong bài này là điều được gọi là chứng cớ biện giải (biện hộ) về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Thật buồn mà nói rằng nhiều Cơ-đốc nhân ở trong lĩnh vực tranh luận biện hộ này. Họ cố gắng chứng tỏ với mọi người rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời hoặc sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.
Nếu bạn làm cho một người nào đó tin về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, thì tất cả những gì bạn làm là để thuyết phục người đó tin về điều mà người đã biết rồi trong lòng của họ mà thôi. Khi bạn làm chứng với mọi người, hãy nắm sự chú ý của họ, sau đó dùng Mười Điều Răn mà chỉ cho họ biết rằng họ đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời. Bởi vì Đức Chúa Trời không cần sự nhìn nhận về sự hiện hữu của Ngài, mà Ngài cần sự ăn năn và đức tin nơi Cứu Chúa Jêsus Christ. Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta trở nên những chứng nhân trung thành. Vì vậy hãy cầu nguyện cho s ự khôn ngoan.
THẢO LUẬN NHÓM
Thời gian của một chứng nhân Cơ-đốc chứng tỏ với một người tin theo thuyết vô thần rằng Đức Chúa Trời hiện hữu có đúng không?
Thảo luận những phương pháp khác nhau mà bạn có thể sử dụng trong việc đem một người tin theo thuyết vô thần trở lại cùng Đấng Christ. Hãy cầu nguyện cho nhau rằng khi bạn gặp những người không tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh sẽ ban cho bạn sự khôn ngoan để đến với họ và làm cho lòng họ tin quyết họ phạm tội để họ trở lại cùng Chúa.
TỰ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu Thi Tv 53:1-6 và RoRm 1:18-32 và liệt kê ra hậu quả của những người thích làm ngơ với sự khải thị về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.
BÀI 3: SỨC MẠNH CỦA SỰ TRUYỀN GIẢNG
LỜI GIỚI THIỆU
Chúng ta sẽ bắt đầu bài học này bằng cách đọc I Ti1Tm 6:11-12. Những lời cảnh cáo về chiến tranh chứa đầy ắp trong Kinh Thánh. “Chính Đức Chúa Trời là Đấng dạy tay tôi đánh trận”. “Hãy chịu khổ như người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ.”“Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành.”
Là Cơ-đốc nhân chúng ta biết rằng khí giới đánh trận của chúng ta không phải là xác thịt. Chúng ta cũng biết rằng chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết. Cho nên trong bài học này dạy rằng chúng ta sẽ xem xét ba yếu tố chính về sự thành công của một đội quân.
DÀN Ý BÀI HỌC
I. PHẢI BIẾT MỤC TIÊU CỦA CHÚNG TA
Đáng buồn thay, hầu hết các Hội thánh chỉ giống như một anh hùng thất trận - Hội thánh không biết nhắm vào điều mà mình sẽ tiến tới.
A. Hội thánh tồn tại trên đất để làm gì?
Kinh Thánh chép rằng “Con người đến để tìm và cứu kẻ bị mất.” Nếu chúng ta theo dấu chân Chúa chúng ta sẽ tìm và cứu kẻ bị mất.
B. Hội thánh đã lạc hướng.
Theo thống kê ở Mỹ, nhiều người có thể thích ứng với phần còn lại của thế giới:
Theo tờ nhật báo Dallas Morning ngày 11 tháng 6 năm 1994 cho biết rằng 68% Cơ-đốc nhân không thấy việc truyền giảng là ưu tiên số một của Hội thánh. Vào năm 1994, một nhóm nghiên cứu tìm thấy rằng 75% trong số người đó chính họ được kêu gọi tái sanh, thậm chí không thể xác định được Sứ mạng trọng yếu (vĩ đại) này. Một cái nhìn tổng quát trong số các độc giả Cơ-đốc giáo ngày nay tìm thấy rằng chỉ 1% trong số độc giả của họ có nhiệt tâm đối với kẻ bị hư mất. Số còn lại đang nói trong lòng họ rằng “Tôi không thể quan tâm đến nhân loại.” Kinh Thánh nói chúng ta nên thờ phượng Chúa l à Đức Chúa Trời của chúng ta và chỉ có Ngài là Đấng duy nhất mà chúng ta phải phục vụ.
C. Hội thánh chứa đầy ắp những người thờ phượng Đức Chúa Trời nhưng họ không phục vụ Ngài.
Nếu chúng ta đang giơ tay lên để thờ phượng Đức Chúa Trời, chúng ta hãy sẵn sàng đưa tay ra trong việc truyền giảng Tin lành cho Đức Chúa Trời. Thờ phượng không có phục vụ là vô ích.