Câu gốc của bài học: “Hãy xin sẽ được, hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa sẽ mở cho” (Ma-thi-ơ 7:7).
Mục đích:
Nhằm giúp học viên:
(1) Hiểu đúng về sự cầu nguyện.
(2) Làm thế nào để lời cầu nguyện được Chúa nhậm.
Câu gốc trên đây là lời hứa của Chúa Giê-xu.
Ngài hứa: Đức tin chính là chìa khóa để lời cầu nguyện được Chúa nhậm. Trong bài học số 2 “Kinh Thánh”, chúng ta đã học biết Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Vậy khi đọc và học Kinh Thánh nghĩa là chúng ta lắng nghe Lời Đức Chúa Trời phán cùng chúng ta. Trong bài học sau đây, chúng ta học biết phải thưa chuyện với Đức Chúa Trời như thế nào khi cầu nguyện.
Đọc Kinh Thánh và cầu nguyện là hai điều thiết yếu của đời sống Cơ-đốc nhân, vì lẽ chúng ta cần phải tương giao với Đức Chúa Trời luôn.
1. Cầu nguyện là gì?
Cầu nguyện (tiếng Anh là ‘pray’) là:
a. Giải bày lòng mình ra cùng Ðức Chúa Trời.
•“An-ne thưa rằng: Chẳng phải vậy, chúa; tôi vốn một đờn bà có lòng buồn bực, chẳng uống rượu hay là vật gì uống say; nhưng tôi giãi bày lòng tôi ra trước mặt Ðức Giê-hô-va.”(I Sa-mu-ên 1:15).
b. Cầu xin Ðức Chúa Trời về những điều mình cần.
•“Hãy xin, sẽ được’ hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho.” (Ma-thi-ơ 7:7)
c. Dâng hương cho Ðức Chúa Trời như các thầy tế lễ thời Cựu-ước.
•“Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đờn và những hình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh.”(Khải-huyền 5:8)
d. Thưa chuyện với Chúa và lắng nghe Chúa phán cùng mình.
•“Ðã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi. Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Ðấng Christ ở trong tôi.” (II Cô-rinh-tô 12:8-9).
Như thế, cầu nguyện là tương thông với Ðức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu trong quyền năng của Ðức Thánh Linh.
2. Tại sao chúng ta là loài người mà được phép cầu nguyện với Ðức Chúa Trời?
a. Vì nhờ tin Chúa Giê-xu, chúng ta đã trở nên con cái của Ðức Chúa Trời.
•“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài.” (Giăng 1:12),
b. Vì hễ ai đã nhận danh Chúa Giê-xu mà cầu nguyện thì được Ðức Chúa Trời nhậm lời.
•“Trong ngày đó, các ngươi không còn hỏi ta về điều chi nữa. Quả ta nói cùng các ngươi, điều chi các ngươi sẽ cầu xin nơi Cha, thì Ngài sẽ nhơn danh ta mà ban cho các ngươi.” (Giăng 16:23).
3. Tại sao chúng ta chỉ cầu nguyện với Ðức Chúa Trời mà thôi?
a. Vì một mình Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời.
•“Ðức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại.”(I Vua 18:37).
b. Vì Ðức Chúa Trời là Ðấng Thành Tín Ðời Ðời.
•“Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết.” (Giê-rê-mi 33:3).
•“Trong các lời lành mà Ðức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành: thảy đều ứng nghiệm hết.” (Giô-suê 21:45).
4. Chúng ta phải cầu nguyện cho ai?
Chúng ta phải cầu nguyện cho:
a. Anh chị em trong Hội thánh.
•“Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều.”(Gia-cơ 5:16).
•“Hãy nhờ Ðức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ.” (Ê-phê-sô 6:18).
b. Mục sư, Truyền đạo.
•“Cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi, xin Ðức Chúa Trời mở cửa cho sự giảng đạo, hầu cho tôi được rao truyền lẽ mầu nhiệm của Ðấng Christ, vì lẽ đó mà tôi bị xiềng xích.”(Cô-lô-se 4:3),
•“Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện, để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin Lành.” (Ê-phê-sô 6:19),
c. Con cái của mình.
•“Xin Chúa hãy ban cho Sa-lô-môn, con trai tôi, một lòng trọn vẹn, để gìn giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Chúa, cùng làm cho các công việc nầy, xây cất cái đền mà tôi đã sắm sửa thờ lạy cho.” (I Sử ký 29:19).
d. Kẻ làm hại mình.
•“Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi,” (Ma-thi-ơ 5:44)
e. Mọi người.
•“Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc c ầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn.”(I Ti-mô-thê 2:1-2).
g. Chính mình.
•“Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin hãy nhớ lại tôi tùy ơn Ngài làm cho dân sự Ngài; Hãy lấy sự cứu rỗi mà đến viếng tôi.”(Thi-thiên 106:4).
5. Phải cầu nguyện khi nào?
a. Cầu nguyện bất cứ lúc nào, ngày thãy cả đêm.
•“Buổi chiều, buổi sáng, và ban trưa, tôi sẽ than thở rên-siết; Ngài ắt sẽ nghe tiếng tôi.” (Thi-thiên 55:17).
b. Cầu nguyện trước mỗi bửa ăn.
•“Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời mà tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng.” (Ma-thi-ơ 14:19)
c. Cầu nguyện trong cơn gian truân.
•“Trong ngày gian truân hãy kêu cầu cùng ta: Ta sẽ giải cứu ngươi, và ngươi sẽ ngợi khen ta.” (Thi-thiên 50:15).
d. Cầu nguyện không thôi.
•“Cầu nguyện không thôi.”(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:17).
6. Phải/có thể cầu nguyện tại đâu?
Cầu nguyện bất cứ nơi nào.
a. Cầu nguyện trong nơi riêng tư.
•“Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó; và Cha ngươi, là Ðấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.”(Ma-thi-ơ 6:6)
•“Sáng hôm sau trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện tại đó.” (Mác 1:35).
b. Cầu nguyện giữa công chúng.
•“Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Ðức Chúa Trời rồi, thì bè ra và ăn.”(Công-vụ 27:35).
c. Cầu nguyện trong khám tù.
•“Lối nữa đêm, Phao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Ðức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe.” (Công-vụ 16:25).