
HungT
Ấn Độ Giáo Truyền Thống
Mục đích :
Mục đích của bài học nầy là nhấn mạnh những tính xấu xa bất công của hệ thống đẳng cấp đồng thời cũng cho thấy rằng trải qua suốt lịch sử Ấn độ giáo, hệ thống nầy là nầy nền tảng cho kết cấu xã hội; bài học nầy cũng nhấn mạnh đến sự thiếu sót yếu tố cứu chuộc trong giáo lý và tư tưởng của Ấn độ giáo ( chẳng hạn: tư tưởng của Ấn Độ Giáo về sự nhục hóa), và sự thiếu tính thống nhất thuộc linh đúng đắn của Ấn Độ Giáo về việc thần thánh hóa cõi thọ tạo theo thuyết vạn vật hữu linh. Chúng tôi hy vọng rằng sự hiểu biết về Ấn Độ Giáo mà bạn có được qua bài họa nầy sẽ khơi dậy hơn nữa ước ao của bạn để nói về Chúa cho người Ấn Độ Giáo và khả năng của bạn để làm điều đó.
Dàn bài
Giới thiệu về Ấn Độ Giáo trong số các tôn giáo.
Sự thờ phượng thiên nhiên thời kỳ đầu.
Ấn Độ Giáo thời kỳ tăng lữ.
Ấn Độ Giáo thời kỳ triết lý.
Ấn Độ Giáo thời kỳ có luật pháp
Ấn Độ Giáo thời kỳ có tu dưỡng đạo tâm
Ấn Độ Giáo thời kỳ phổ cập.
Những mục tiêu của bài học .
Khi hoàn tất bài học nầy, bạn sẽ có thể:
Trình bày được nguồn gốc và sự phát triển của Ấn Độ Giáo.
Trình bày được sự thờ phượng thiên nhiên thời kỳ đầu của Ấn Độ Giáo.
Giải thích tính chất tăng lữ của Ấn Độ Giáo.
Trình bày sơ lược triết lý của Ấn Độ Giáo về Đấng tối cao.
So sánh tính chất luật pháp của Ấn Độ Giáo với những giai đoạn trước của Ấn Độ Giáo.
Cho biết tại sao Kinh Thư về sự tu dưỡng đạo tâm của Ấn Độ Giáo được rất nhiều người tôn trọng.
Thảo luận về tính chất kết hợp chặt chẽ trong sự phổ cập của Ấn Độ Giáo.
Các sinh hoạt học tập
1. Đọc trước những bài học bằng cách xem kỹ phần khái quát, mục đích và những mục tiêu.
2. Tìm nghĩa từ nào trong phần “ từ quan trọng” mà bạn chưa biết.
3. Đọc trang 19-23 trong sách giáo khoa của bạn.
4. Làm dần dần những bài tập trong phần phát triển bài học, trả lời những câu hỏi trước khi xem phần giải đáp.
5. Trình bày sự phát triển của Ấn Độ Giáo (qua 6 giai đoạn được nói đến trong phần khai quát bài học) bằng cách vẽ một biểu đồ với những cột sau:
1.Tên gian đoạn.
2. Các thánh thư.
3. Phương pháp cứu rỗi chính.
6. Nhiệm vụ không bắt buộc. Nếu có thể được, bạn hãy nói chuyện hoặc viết thư cho một người Ấn Độ Giáo có học thức và một người Ấn Độ Giáo thất học để biết họ hiểu gì về tôn giáo của họ.
Từ ngữ quan trọng
Đẳng cấp
Thợ thủ công.
Phiếm thần luận.
Thuộc về lý thuyết.
Tượng hình.
Sự truyền kiếp
Lời truyền
Tự hạ phẩm giá.
Tăng lữ thuyết.
Trung tín
Thuyết chống luật pháp
Cách ngôn
Quyền tối thượng.
Người đánh xe ngựa
Khối kết.
Đoán số tử vi
Cái nhìn độc địa.
Thuộc về siêu hình học.
Triển khai bài học
Bây giờ bạn sẽ nghiên cứu về Ấn Độ Giáo “ một tôn giáo sống, có t ổ chức và cổ xưa nhất trên thế giới” ( Huma 19) Ấn Độ Giáo có nhiều tín đồ hơn bất kỳ tôn giáo nào có nguồn gốc ở Nam Á và Đông Á. Vào thập kỷ 60 của thế kỷ nầy, có khoảng 1/7 dân số thế giới là người Ấn Độ Giáo ( Hardon, 1968 trang 91) Ngày nay trên 82 % trong số 580 triệu người Ấn Độ Theo Ấn Độ Giáo.
Hume nhận xét rằng: “ Ấn Độ Giáo hầu như chỉ giới hạn trong nước Ấn Độ ngoại trừ những người Ấn Độ Giáo di chuyến đến những vùng khác” (19). Tuy nhiên ảnh hưởng của nó bắt đầu xuất hiện ở các nước phương Tây trong thời gian gần đây. Đề cập đến sự giảng dạy và sự thống nhất các tôn giáo của Rama Krishna ( 1836- 1886) Bradley nói rằng: “ Ở Ấn Độ cũng như ở Hoa Kỳ, phong trào Ramakrishna đã được người ta tiếp thu một cách đồng tình và nó có ảnh hưởng rất lớn đối với số tín đồ tương đối ít oi của nó” (102) Sự nghiên cứu về Ấn Độ Giáo là rất quan trọng để bạn hiểu Ấn Độ và dân tộc Ấn Độ cũng như để bạn đối phó với họ một cách thông suốt ở phương Đông hoặc ở phương Tây.
1. Có khoảng 82 % dân số Ấn Độ là:
a) Người Ấn Độ Giáo ngay trước khi thành lập nước Pakistas.
b) Người Ấn Độ Giáo theo thống kê dân số năm 1931.
c) Người Ấn Độ Giáo hiện nay.
d) Người Ấn Độ Giáo theo thống kê dân số năm 1951.
Mục tiêu: Trình bày nguồn gốc và sự phát triển của Ấn Độ Giáo .
GIỚI THIỆU VỀ ẤN ĐỘ GIÁO
Hume 19-22.
Vì Ấn Độ Giáo không có người thành lập nên niên đại về nguồn gốc của nó không thể xác định chính xác được. Người Ấn Độ Giáo gọi tôn giáo của họ là Santhana Dharma, nghĩa là “tôn giáo vĩnh cửu” ( Nichols 1975 trang 136) Vì cớ tính chất phức tạp của Ấn Độ Giáo, nên người ta không thể đi đến một sự định nghĩa thỏa đáng về tôn giáo nầy.
Ấn Độ Giáo không phải là giáo lý, không phải là một hệ thống triết học đặc biệt, không phải là một hình thức thờ phượng đặc biệt, không phải là một thánh thư đặc biệt. Không phải là một nhóm dân tộc đặc biệt, cũng không phải là một sự thiết lập các nghi lễ hay tập tục nào. Đó là một sinh hoạt có ẩn chứa một ý nghĩa về sự thống nhất, chấp nhận nhiều loại tín ngưỡng.
Có nhiều nhánh trong Ấn Độ Giáo tín nơi một Thượng Đế có thân vị trong khi những nhánh khác tin nơi Đấng tuyệt đối không có thân vị. Một số người Ấn Độ Giáo tin nơi một Thượng Đế có thân vị bên trong, còn những người khác lại không tin nơi một hình thức nào về Thượng Đế cả. Tuy nhiên tất cả những nhóm người nầy đều thuộc về Ấn Độ Giáo. Tất cả những quan điểm trái ngược nầy đều cùng tồn tại trong Ấn Độ Giáo làm cho nó thêm đa dạng nhưng lại không làm hại đến tính thống nhất của nó.
Ấn Độ Giáo cho rằng có sự thống nhất trong tính đa dạng và có sự đa dạng trong sự thống nhất. Điều quan trọng là bạn phải hiểu được mối quan hệ giữa tính thống nhất và tính đa dạng để hiểu được tính chất phức tạp của Ấn Độ Giáo. Một người Ấn Độ Giáo đã định nghĩa Ấn Độ Giáo như “ Một cái dù đức tin lớn mà dưới cái dù đó ai cũng thấy chỗ của mình”
Tuy nhiên theo quan điểm Cơ đốc thì dường như trải qua suốt lịch sử Ấn Độ Giáo, sự thống nhất nầy chỉ được duy trì qua bổn phận xã hội đối với hệ thống đẳng cấp hơn là bởi đức tin. Dường như nó thiếu hẳn tính chất thống nhất như Kinh Thánh là căn cứ trên yếu tố thuộc linh.
2 Điều gì đã làm cho Ấn Độ Giáo trở nên đặc biệt trong số các tôn giáo trên thế giới ?
3 Sắp xếp lại 4 đẳng cấp sau đây trong Ấn Độ Giáo theo thứ bậc.
a................................................................
b................................................................
c................................................................
d................................................................
1, Vaisya
3, Sudra
2, Brahmin
4, Kshatriya
Everett L.Cettell ( Carttell, 1954 trang 144) nói rằng : “ Hơn bất cứ điều gì khác, hệ thống đẳng cấp là một nét đặc trưng của Ấn Độ Giáo, mà mọi người đều thừa nhận “ Sự phân chia đẳng cấp đã dẫn đến sự cấm cưới gả khác đẳng cấp, cấm ăn chung và cấm đổi nơi cư ngụ. Trong tác phẩm “ The Religim of Mankind”, Edmund D. Soper có nói: “ Trở thành một người Ấn Độ Giáo có nghĩa là phải thuộc về một trong những đẳng cấp và tuân theo những quy định của đẳng cấp” ( Soper, 1951 trang 103)
“ Ấn Độ Giáo không phải là một tôn giáo có tín điều như Hồi giáo vàCơ đốc giáo. Người Ấn Độ Giáo là do bẩm sinh” ( Nichols, 1975, trang 137) Câu trích nầy có sự mở rộng Ấn Độ Giáo là do tiến trình sinh học. Nó cùng được mở rộng bởi tiến trình đồng hóa. Tuy nhiên do thiếu tầm nhìn về sự truyền giáo hải ngoại nên làm hạn chế sự phát triểu của tôn giáo nầy.
4 Câu nào trong những câu sau đây không nói lên nét đặc trưng của Ấn Độ Giáo?
a)Tất cả tín đồ đều có một tin thần duy nhất.
b) Niềm tin nơi sự truyền kiếp ( luân hồi)
c) Niềm tin nơi một Đấng thiêng liêng vô sở bất tại.
d) Sự khoan dung tôn giáo.
5 Câu nào trong những câu dưới đây không nêu lên đặc điểm được tìm thấy trong vòng người Ấn Độ Giáo ? Người ta thấy trong số những người Ấn độ Giáo có
a) Người theo thuyết hữu thần tin nơi một Thượng Đế có thân vị.
b) Một tiêu chuẩn đạo đức duy nhất.
c) Người theo thuyết phiếm thần luận cho rằng Đức Chúa Trời là mọi sự.
d) Người theo thuyết phiếm thần tin nơi nhiều thần.
6 Mặc dù Ấn Độ Giáo rất là phức tạp nhưng vẫn có một cách để hiểu và biết rõ về tôn giáo nầy. Cách nào?
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Vệ đà ( vedaas) là thánh thư cổ nhất của Ấn Độ Giáo “ vệ đà” có nghĩa là “sự hiểu biết”. Thánh thư của Ấn Độ Giáo có thể được chia thành 2 loại Sruti và Smriti có thẩm quyền hơn Smriti. “ Sruti”nghĩa là “ điều được nghe” và “ Smriti” có nghĩa là “ điều được ghi nhớ” do đó về phương diện lịch sử người ta cho rằng các rishis (các nhà hiền triết) thời xưa đã tạo nên Sruti khi họ nghe được những chân lý nầy trong khi suy gẫm chân lý. Sruti không đề cập đến những sự kiện hoặc nhân vật lịch sử nhưng đề cập đến chân lý xác quyết bằng hình thức châm ngôn và thi ca. Kinh vệ đà thuộc về loại Sruti. Epics và Puranas thuộc về nhóm Smitri ( Nichols, 1975, trang 137- 138)
7 Theo nguyên bản, Kinh vệ đà được viết bằng
a) Tiếng Anh.
b) Tiếng Đức.
c) Tiếng Hindi.
d) Tiếng Phạn.
e) Tiếng Tamil
8 Dân tộc nào có trách nhiệm chính về tôn giáo được phản ảnh trong kinh vệ đà?
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Ghi chú: Cattell có ý kiến ( 190) cho rằng người Aryans đã xâm lược Ấn Độ đồng thời với lúc “Ápraham rời khỏi Mêsôpôtani ( giữa năm 2000 và 1500 trước C.N)” Dân tộc mà họ thấy đang sống ở Ấn Độ là người Dravidians.
9 Trong những câu sau đây về nền văn minh thời tiền Aryan ở Ấn độ, những câu nào là đúng ?
a) Nó nằm ở thung lũng sông Ấn Độ.
b) Được khai quật từ thế chiến thứ I
c) Có từ năm 6000 trước C.N
d) Đồng thời với Ai Cập và Babylôn cổ đại.
e) Không có ngôn ngữ viết ( văn tự)
10 Về 2 câu dưới đây, cây nào là đúng?
.......a. Nền văn minh Dravidian thời tiền Aryan đã hoàn toàn bị người Aryans xâm lược phá hủy.
......b. Một số tín ngưỡng của người Dravidians đã ha trộn với tín ngưỡng của người Aryan để tạo nên tín ngưỡng của Ấn Độ Giáo sau nầy.
1. Cả hai câu đều sai.
2. Cả hai câu đều đúng.
3.Chỉ câu đầu đúng.
4. Chỉ cân hai đúng.
Mục tiêu: Trình bày sự thờ phượng thiên nhiên rất sớm của Ấn Độ Giáo
SỰ THỜ PHƯỢN THIÊN NHIÊN TỪ BAN ĐẦU
Hume 22-23
Chú ý: Trong bài học nầy, chúng ta xem Vệ Đà chỉ là một phần trong các thánh thư của Ấn Độ Giáo, nhưng trong phần nầy, Hume cho rằng: “ tên dùng cho tất cả thánh thư của Ấn Độ Giáo là vệ Đà” và ông còn cho rằng: “Những trưởng phái khác nhau trong Ấn Độ Giáo đều có những kinh vệ đà đặc biệt của họ” ( c22) trong phần còn lại của bài học chúng ta về Ấn Độ Giáo, chúng ta sẽ tiếp tục xem vệ đà như là một phần trong tất cả những thánh thư của Ấn Độ Giáo.
11. Sắp xếp lại theo thứ tự 4 loại vệ đà mà Huma có đề cập
a..............................................................................
b.............................................................................
c.............................................................................
d.............................................................................
1. Atherva
2. Rig
3. Sama
4. Yajur
12. Trong những câu hỏi dưới đây, câu nào không mô tả sống động về kinh Rig Vệ đà. Kinh Rig Vệ Đà:
a) có niên đại vào khoảng 2000 - 1000 trước C.N
b) là tài liệu cổ nhất trong tôn giáo sống trên thế giới.
c) được viết bằng tiếng Timal cổ.
d) gồm có 1028 bài ca.
e) được người Ấn Độ Giáo xem là có uy quyền không thể sai lầm.
13.. Viết chữ Đ trước những câu mà theo câu thơ Gayatri của Kinh Rig Vệ đà là đúng, và chữ S trước những câu sai.
........a. Thượng Đế không có thân vị.
........b. Thượng Đế phải được thờ phượng
.......c. Thượng Đế là Đấng ban sự sống.
........d. Thượng Đế có liên lạc với con người.
........e. Thượng Đế không hành động.
Câu thơ Gayatri là một ví dụ về thuyết vạn vật hữu linh trong Ấn Độ Giáo: Trong câu thơ đó, mặt trời được nhân cách hóa và thần thánh hóa. Trong luận án tiến sĩ không xuất bản của ông vào năm, 1975 về đề tài “Thuyết vạn vật hữu linh trong Ấn Độ Giáo phổ thông” Benyamin Prasad Shindde có viết:
“ Mặt trời được mô tả có tính chất thần thánh không những với cả làng mà còn với mỗi gia đình theo Ấn Độ Giáo. Cứ mỗi buổi sáng, người chủ nhà thắp một cái đèn nhỏ với một nén nhang thơm vẩy qua vẩy lại trong ánh s áng mặt trời như là một của lễ dâng cho mặt trời và ban ngày. Đối với một triết gia, điều nầy là biểu tượng của một nguyên tắc thiêng liêng, nhưng đối với những người Ấn Độ Giáo ở tỉnh lỵ, làng mạc vùng quê thì đó là sự thờ phượng mặt trời ( trang 48)
14. Hume liệt kê 9 đối tượng hoặc thế lực Kinh Rig vệ đà mà con người dâng lên lời cầu nguyện và ca tụng. Hầu hết trong số nầy là những điều có thể nhìn thấy được, nhưng có 2 đối tượng không thể nhìn thấy được. Nêu tên hai đối tượng nầy
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
15. Sắp xếp ( dĩ nhiên là theo quan điểm của những tác giả của kinh vệ đà) 5 đối tượng được thần thánh hóa trong Kinh vệ Đà thích hợp với sự giải thích bên cạnh bằng cách đánh số của mỗi đối tượng đó vào chỗ trống trước những câu giải thích ( Hãy làm cẩn thận vì mặc dù không có đối tượng nào trong năm đối tượng nầy được xem là có đủ tất cả các phẩm chất trong phần giải thích nhưng có sự trùng lặp về tính chất giữa 5 đối tượng nầy được xem là có đủ tất cả các phẩm chất trong phần giải thích nhưng có sự trùng lặp về tính chất giữa 5 đối tượng nầy)
......a. Mênh mông hoặc vô tận.
......b. Không thể đụng chạm được nhưng không thể thiếu được.
......c. Nguồn gốc chính yếu cho sự sống tồn tại.
......d. Không thể thấy được nhưng rất mạnh mẽ.
......e. Có thể tiếp xúc được và không thể thiếu được.
1. Không khí.
2. Trái đất.
3. Gió.
4. Bầu trời.
5. Mặt trời.
Khía cạnh “ không thể đụng chạm được” trong “ phần b” của bài tập trên là điểm giải thích duy nhất không nằm trong quan niệm của Cơ đố giáo về Thượng Đế. Đây là bản liệt kê có giá trị về những điều quan sát đúng đắn cho cách giải thích đó:
1. Không có một sức mạnh thiên nhiên nào có được tất cả những đặc điểm được mô tả về thần linh.
2. Mỗi sức mạnh thiên nhiên đều bị giới hạn bởi sự phụ thuộc lẫn nhau và do đó không thể đại diện cho thần linh một cách trọn vẹn được.
3. Không có sức mạnh thiên nhiên nào được cho là có khả năng liên lạc được với con người theo cách cá nhân.
4. Những sức mạnh thiên nhiên nầy mô tả sống động về những phẩm chất thiêng liêng nhưng không thể thay thế được các thực thể thuộc linh.
BÀI TẬP KHÔNG BẮT BUỘC: Cố gắng viết ra điều quan sát thêm về phần thần linh dựa trên bài tập 15.
16. Theo Hume, trước hết hãy nêu tên thần linh quan trọng nhất trong Kinh vệ đà và sau đó thần linh có đạo đức cao nhất trong Kinh vệ Đà.
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
17. Kinh Rig đã trình bày bốn đẳng cấp trong xã hội loài người bằng những bộ phận trong cơ thể, mỗi bộ phận nầy tượng trưng cho chức năng chính của đẳng
cấp đó trong xã hội. hãy cho biết những chức năng nầy bằng cách điền vào khoảng trống trong biểu đồ dưới đây (biểu đồ 5.1)
BẰNG CẤP
a. Brahmin
b. kshatriya
c. Vaisya
d. Sudra
BỘ PHẬN
Miệng
2 tay
2 đui
2 chân
CHỨC NĂNG
18. Phương pháp cứu rỗi chính trong kinh Rig vệ đà là gì?
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Phần lớn lời nhận xét của Hume trong phần nầy dựa trên kinh Rig vệ đà. Chúng ta hãy kết luận phần nầy bằng một lời nhận xét ngắn gọn về từng loại kinh vệ đà khác nhau: Kinh Yajur vệ đà gồm có những lời cầu nguyện và những nghi thức tế lễ có thể so sánh như sách Lêviký. Kinh Sama vệ đà gồm có những bài hát được hát vào lúc dâng của lễ dùng để uống. Kinh Atharva vệ đà là sách nói về y khoa, những bài hát, những câu thần chú và cách dùng phép thuật để chữa bịnh hoặc xua đuổi tà linh ( xem Cattell 191) Nền y khoa của Ấn độ được mọi người biết đến là quyển “ Ayurveda” được rút ra từ những cách sử dụng phép thuật nầy.
Mục tiêu: trình bày tính chất của Ấn độ giáo thời kỳ các tăng lữ .
ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ CÁC TĂNG LỮ.
Hume 24- 25.
Tiếp theo sự thờ phượng thiên nhiên “ đã nổi lên một hình thức mới về ăn chương và tôn giáo” ( Hume 24) Tôn giáo mới, Ấn Độ Giáo thời kỳ tăng lữ dựa trên Brahmanas là yếu tố tạo nên nền văn học mới. Vào thời đó “Chủ nghĩa lễ thức đã trở thành một hình thức nổi bật của tôn giáo . . . . và điều nầy dần dần trở thành điều độc quyền của đẳng cấp tăng lữ” ( Hardon 52) Từ “ brah điều độc quyền của đẳng cấp tăng lữ” (Hardon 52) Từ “Brahmanas” Có nghĩa là “ thuộc về các thần tế lễ” Brahmanas là những bài chuyên luận về tôn giáo mà đặc biệt nhấn mạnh đến các của lễ.
Bạn cần phải phân biệt giữa Brahmanas (văn chương) Brahmin (thầy tế lễ) và Brahma (Thượng Đế) Một số học giả đề cập đến Đấng tối cao của Ấn Độ Giáo là “ Brahman” còn những thần khác là “ Brahma” Để phù hợp với Hume, chúng ta gọi Đấng tối cao là Brahma. Đại từ “Nó” (ít) thay vì “Ngài” (he) thường được dùng để chỉ Brahma vì Brahma được xem như một thực thể phi thân vị ( Xem Huma 26)
19. Trong đoạn đầu bài viết của Hume về phần nầy, ông đã trình bày sự tác động lên tôn giáo về việc biến đổi tính chất thờ phượng thiên nhiên ( tôn giáo đơn giản của Kinh Vệ đà) thành Ấn Độ Giáo có tính chất tăng lữ là như thế nào?
..............................................................................................................................
...............................................................................................................................
20. Câu nào trong những câu sau đây là đúng? Brahmanas
a. là những bài thuốc để trị bịnh.
b. là những cách hướng dẫn về của tế lễ.
c. là những truyền thuyết tôn giáo.
d. là những tác phẩm văn xuôi Ấn - Âu cổ nhất còn tồn tại đến bây giờ.
e. qui định những bổn phận của Brahmin.
21. Gọi tên của lễ mà khởi đầu gồm có việc giết 609 con thú và cần phải mất cả năm mới làm xong?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
SỰ CẢI CÁCH : Trong bài học tiếp theo, sẽ có một phần dành để nói về “ những nổ lực cải cách của Ấn Độ Giáo” ( em Hume 34- 3) Ở dây Hume chưa đề cập đến những điểm cải cách nhưng chúng tôi sẽ kết luận phần nầy trong sách hướng dẫn nghiên cứu của chúng tôi bằng những điểm thay đổi hiện nay trong hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ Giáo.
Nhiều sự khác biệt và tập tục của đẳng cấp không còn nữa, ở Ấn Độ, một người Brahmin hiện nay không còn nắm quyền tôn giáo trên những người khác nhiều như trước. Họ phải kiếm việc làm như những người khác. Ngày nay đẳng cấp Brahmin không còn được tôn trọng vì đẳng cấp của họ nữa nhưng vì nhân cách của họ.
Ngày nay đẳng cấp Sudra được học hành như đẳng cấp Brahmin là cùng làm việc trong một cơ quan hoặc trường học. Họ có thể cùng đi chung trên một xe buýt hoặc cùng ăn chung trong một nhà hàng, và cũng không có gì khác thường khi một người thuộc đẳng cấp thấp được chọn vào một chức vụ nào đó của một bang hoặc trung ương và có quyền cao hơn đẳng cấp Brahmin đẳng cấp. Việc ăn chung giữa các đẳng cấp không bị kiểm soát gắt gao như vấn đề hôn nhân.
Ngày nay, Barhmin không còn dâng tế lễ bằng thú vật nữa. Những vật được dùng chủ yếu hiện nay trong sự thờ phượng là hoa, lúa mì, dầu dừa và nhang. Đẳng cấp Brahmin đang tự điều chỉnh mình theo những thay đổi đang xảy ta trong Ấn Độ Giáo dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thế tục hóa.
Mục tiêu: Trình bày sơ lược sự mô tả mang tính, triết học của Ấn Độ Giáo về Đấng tối cao
ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ TRIẾT LÝ.
Hume 25- 28
“ Upanishad” có nghĩa là “ sự hiểu biết thánh và bí mật” để giáo sư trao đổi với học viên của mình bằng phương tiện đối thoại và sự tương tác. Các sự dạy dỗ nói đến trong Upanishads rất giống với phong cách dạy dỗ của Socrate. Siêu hình học là điểm chính trong triết học Ấn Độ. Tôn giáo và triết học Ấn Độ không thể tách rời nhau.
Trong Upanishads có một nổ lực nhằm tổng hợp làm cho hài hòa những niềm tin của kinh vệ đà. Điểm chính yếu trong Upanishads là tập trung vào Brahma để mô tả “nó” như là một nguyên tắc tiềm ẩn của tất cả mọi sự tồn tại và tư duy.
22. Theo vệ đà, “Brahma” có nghĩa là gì?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
23. Theo Upanishads “Brahma” Có nghĩa là gì ?
..........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Điều đáng chú ý là có nhiều luận thuyết tạo nên phần chủ yếu của văn chương được mọi người biết là Upanishad. Trong phần nầy Huma chỉ đề cập đến hai trong số đó: chandogya và Aruneya
24. Những từ nào trong các từ dưới đây không được đề cập đến trong phát biểu của Hume về sự mô tả mang tính chất triết học bản thể của Brahma theo Upanishad
a) vô biên tính.
b) tính vô sở bất tại.
c) không có thân vị.
d) không thể mô tả.
e) tính toàn tri.
f) trung tính.
g) tính vô sở bất năng.
25. Theo ánh sáng trình bày về Brahmi trong bài tập chỉ có 2 câu trong những câu dưới đây là đúng. Đó là những câu nào ? Brahma:
a) có thể làm mọi sự.
b) biết tôi.
c) ở đây.
d) ở khắp mọi nơi.
f) tự mặc khải chính Ngài.
Theo sự trình bày trong Upanishad về Brahma thì “nó” có tính không thể biết và không có thân vị. Do đó những gì được nói đến trong nổ lực trình bày về “ Nó” đều chỉ là sự suy đoán của con người Brshma trung tín thì bất động và yên lặng do đó nó không thể sáng tạo cũng không thể bảo vệ được con người.
Upanishads trình bày sự bất hòa hợp tâm linh của từng con người vào trong Brahma. Nó không dạy rằng con người cần được cứu theo ý nghĩa của sự cứu rỗi trong Kinh Thánh, nhưng dạy con người chỉ cần nhận thức mình là một phần của Brahma là đủ. Sự nhận thức nầy được gọi là “ Sự tự nhận thức” hoặc là “ sự nhận thức Brahma” và đã dẫn người Ấn Độ Giáo đến chỗ tuyên bố rằng Aham Brahma asmi ( tôi là Brahma) Lời tuyên bố nầy và lời Tat tvam asi ( bạn cũng vậy) là Mahavakyas ( những lời nói vĩ đại) của văn chương Upanishad.
Lời tuyên bố “ Tôi là Brahma” bày tỏ sự nhận thức của một người Ấn Độ Giáo rằng họ, atman ( linh hồn con người) cũng như Brahma và Brahma cũng là atman. Trường phái nhứt nguyên luận Advaita Vedanta được giáo ngộ nói rằng “Tôi là Thượng Đế” Thì không phải anh ta có ý lộng ngôn nhưng anh ta chứng thực cho quan điểm nhứt nguyên về sự cứu rỗi nầy. ( Nichols 146)
Những thánh thư đầu tiên của Ấn Độ Giáo ( đặc biệt là Rig Vesda) cho biết hậu quả của tội phạm đến Thượng Đế là cần phải có sự kêu nài tha thứ, nhưng “ điều quan trọng nầy hầu như đã bị đánh mất trong Upanishad” (Nichols 145). Trong triết lý của Ấn Độ Giáo hầu như không có sự nhận biết tội lỗi the ý nghĩa của Kinh Thánh. Nó xem t ội lỗi như một sự ngu dốt không biết đã ngăn cản sự nhận thức. Theo quan điểm nầy không cần có sự chuộc tội và tha thứ tội lỗi như sự cứu rỗi trong Kinh Thánh đòi hỏi.
26. Quan điểm của triết lý Ấn Độ Giáo về sự thay đổ hiện tượng thế giới là gì?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Triết lý Advaita do SanKara truyền bá đã cho rằng thực thể duy nhất là Brahma và tất cả những đều khác chỉ là sự ảo giác ( Maya) Triết lý nầy đã dẫn đến nhiều rối loại, bi quan và thờ ơ ở Ấn độ.
27. Triết lý Ấn Độ Giáo hầu như nhấn mạnh rằng sự cứu rỗi
a) có được qua sự tha tội.
b) là đạt được sự bình an và vui mừng
c) được nhận thức qua một thực thể vĩnh vữu.
d) là sự đắc tháng nổi sợ hãi.
28. Theo triết lý Ấn Độ Giáo, mục tiên của sự cứu rỗi là
a) được ở trong sự hiện diện của Brahma.
b) sự thu hút vào trong Brahma.
c) sự sống vĩnh cữu có tính cách cá nhân.
d) sự thông công với Brahma.
Nichollls nói rằng “ Mục đích của yoga là để tạo nên một sự thay đổi triệt để trong trạng thái tỉnh táo của con người . . . để người tập Yoga kinh nghiệm được một tình trạng vượt trên không ian và thời gian” ( 184)
29. Phương pháp yoga tạo nên một trạng thái vượt trên không gian và thời gian bằng cách nào?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
30. Danh xưng nào trong những danh xưng dưới đây không áp dụng cho thức tể tối cao trong triết ký Ấn Độ Giáo?
a) linh hồn thế giới.
b) Brahma.
c) Atman.
d) Đấng tối cao.
e) Thượng Đế toàn tri.
31. Tại sao triết lý Ấn Độ Giáo dạy rằng người nào đã đạt được sự hiệp một trọn vẹn với Brahma có thể được xem như đã vượt lên trên mọi khác biệt về đạo đức?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Hume nói rằng sáu trường phái chính thống giải thích về triết lý của Ấn Độ Giáo đều được công nhận. Nicholls nhận định rằng “ 6 hệ thống triết học chính yếu nầy thường được phân làm 3 cặp: Thứ nhất là Nyaya và Vaiseshika, thứ hai là Samkhya và Yoga; thứ ba là Purva Mimamsa và Veddnta ( 151)
32. The Upanishad điều gì là yếu tố quan trọng nhất để một người nhận được sự cứu rỗi?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Mục tiêu: So sánh Ấn Độ Giáo có luật pháp với những giai đoạn trước đó của Ấn Độ Giáo .
ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ CÓ PHÁP.
(Hume 28-29)
Ấn Độ Giáo có một sự kiện giống như là Lễ vượt qua của Do thái giáo nhưng người Ấn Độ Giáo tuyên bố rằng họ có một người ban hành luật pháp tên là Manu. Tất cả những người Ấn Độ Giáo đều làm theo luật pháp của Manu.
33. Sắp xếp lại những tác phẩm văn chương của Ấn Độ Giáo phù hợp với sự mô tả về nói bằng cách đánh số thích hợp trước mỗi tác phẩm đó
........a. Vệ đà.
........b. Brahmanas.
........c. Upanishad.
........d. Manu
1. Luật pháp.
2. Lời cầu nguyện chân thành.
3. Nghi thức dâng của lễ.
4. Triết học tự biện.
34. Theo Huma điều gì có thể làm cho Ấn Độ Giáo tiếp tục là một thế lực có ảnh hưởng trong đời sống của những tín đồ của họ?
............................................................................................................................
............................................................................................................................
35. Trong những câu sau, câu nào nói về sách luật pháp của Manu là không đúng?
a) Sách nầy bao gồm những luật pháp về việc giữ ngày Sabát.
b) Sách nầy được viết trước thời Đấng Christ.
c) Sách nầy gồm có những câu châm ngôn khôn ngoan nói về sự vâng lời Cha mẹ.
d) Sách nầy có lời khuyên về sự ăn năn và xưng tội.
Ghi chú: Người ta cho rằng mục đích của những luật lệ của Manu “rõ ràng là để ủng hộ tôn giáo Brahmanism chống lại Phật giáo” (Gloriee Encyclopedia, 1954, trang 202) Mặc dù những luật nầy kém uy quyền hơn kinh Vệ đà ( Nicholls 134) nhưng nó vẫn được xem là bắt buộc người Brahma phải thi hành.
36. Hai câu nào trong những câu sai đây là không đúng? Sách luật pháp của Manu:
a) Dạy về cách dâng của lễ.
b) Dạy cách tránh chiến tranh.
c) Dạy về sự giải thoát chung cuộc khỏi sự truyền kiếp.
d) Cấm sự duy trì hệ thống đẳng cấp.
e) Nói rõ 4 giai đoạn trong đời sống của một người Ấn Độ Giáo.
Theo Manu 4 gian đoạn trong cuộc đời là: 1) giai đoạn đi học (brahmacari) Kinh vệ đà; 2) Giai đoạn làm người chủ gia đình (grihastha) nuôi dưỡng gia đình, 3) Giai đoạn ở ẩn (Vanaprasthe) nghĩ ngơi trong rừng sau khi đã thấy con cháu, 4) Giai đoạn làm khuất sĩ (Sannyasi) đi lang thang như một người hành khuất và người giảng đạo.
Cũng nên thấy rằng điểm nhấn mạnh trong luật pháp của Manu là nếu vâng giữ luật pháp sẽ có sự cứu rỗi. (Người ta cho rằng luật pháp càng nghiêm khắc bao nhiêu thì phần thưởng càng lớn bấy nhiêu. Vì vậy nhiều luật pháp phức tạp đã được đặt ra để làm cho cuộc sống rất gò bó và thường làrất khốn khổ). Sự từ bỏ thế gian và những thú vui thế gian là điều kiện tiên quyết chomột đời sống mộ đạo đích thực. Hai giai đoạn cuối của đời sống (vanaprastha và sannyasi) dành để tìm kiếm những điều thuộc về tôn giáo. Trong giai đoạn Vanaprastha, việc bắt chước theo chim, thú qua những kỷ luật khắt khe về thân thể được qui định nhiều.
Theo Manu. sự hòa hợp với thiên nhiên được xem là đời sống có phẩm hạnh tốt nhất. Rõ ràng Manu đã không mường tượng ra được những vấn đề phức tạp của cuộc sống trong thời kỳ hiện tại, đã làm cho con người không thể tuân theo nhiều luật lệ trong luật pháp của ông. Khuynh hướng phi nhân bản trong luật pháp Manu đã không giúp ích gì cho xã hội Ấn Độ.
Mục tiêu: Cho thấy tại sao kinh thứ của Ấn Độ Giáo về sự tu dưỡng đạo tâm được rất nhiều người tôn trọng .
ẤN ĐỘ GIÁO THỜI KỲ TU DƯỠNG ĐẠO TÂM.
Hume 29-31.
Cũng giống như những giai đoạn khác của Ấn Độ Giáo, giai đoạn tu dưỡng đạo tâm cũng được thể hiện bằng thánh thư của giai đoạn nầy. Thánh thư của Ấn Độ Giáo và tu dưỡng đạo tâm là Bhaga vad gita, có nghĩa là “bài hát của Chúa” ( Nicholls 139)
Kinh Bhagavad Gita được gọi là Gita ( soper 110) Nó tạo thành một phần của thiên anh hùng ca vĩ đại Mahabharata, là một bài ca trình bày về cuộc chiến giữa 2 nhóm lãnh Chúa phía bắc Ấn Độ nhóm Kauravas và nhóm Pandavas ( Cattell 193)
Gita được viết theo thể đối thoại giữa Krishna. một vì thần hóa thân và Aejune, một lĩnh Chúa dũng sĩ của Pandavas. Arjuna miễn cưỡng giết Kauraras, một người bà con của mình. Krishna khuyên ông phải thể hiện bổn phận của một người lính.
Phần lớn người Ấn Độ Giáo đọc Gita vào những lúc suy gẫm thuộc kinh cũng như để ngẫm nghĩ vể triết lý. Có một số điều đối chiếu giữa Gita và phúc âm ( Bạn có thể tìmn được một bản sao kinh Gita và trong một thư viện Cơ đốc)
37. Theo câu trích từ Kih Katha Upaishad trong Gita, những câu nào trong các câu dưới đây là đúng ? Linh hồn con người:
a) bắt đầu có lúc người đó được sinh ra.
b) không bao giờ chết.
c) bị tội lỗi làm hoen ố và cần được cứu chuộc.
d) tìm một nơi an nghĩ khi thân thể chết đi.
e) không bị ảnh hưởng bởi những gì xảy ra cho thân thể.
Vị thần Krishna là người phát ngôn chính trong Bhagarad Gita. Soper em Krishma là hóa thân của Vishnu chính là Thượng Đế) “ Một bị thần hóa thân với một lịch sử nổi bật” (109). Theo văn mạch nầy, một vị thần hóa thân là một vị thần của Ấn Độ Giáo nhục hóa.
38. Theo Hume, trong Bhagarad Gita “ sự thay đổi rất đáng lưu ý mà Ấn Độ Giáo đã trãi qua là gì?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
39. Trong những câu sau, câu nào là không đúng? Trong Gita, Krishna tuyên bố rằng ông ta được hóa thân để.
a) bày tỏ tình yêu.
b) hủy diệt kẻ ác.
c) cứu người công bình.
d) phục hồi lòng sùng kính.
Hãy chú ý đến nhận xér của Soper về sự tương phản quan trọng giữa quan niệm Cơ đốc về sự nhục hóa ( hóa thân) với quan niệm của Ấn Độ Giáo về điều đó:
Sự hóa thân là sự giáng trần hoặc sự xu ất hiện của một vị thần giữa con người, dù chỉ là tạm thôi để hoàn thành một sứ mạng đặc biệt nào đó. Đó là một sự cải trang hơn là một sự mặc khải về Thượng Đế, do đó quan niệm nầy khác với quan niệm Cơ đốc về sự nhục hóa, không hề có sự cải trang mà “chính là hình ảnh” của Thượng Đế không thể nhìn thấy được ( 108)
Mặc dù những khác biệt giữa quan niệm của Ấn Độ Giáo và Cơ Đốc Giáo về sự nhục hóa là rất quan trọng nhưng bạn cũng phải thấy những điểm tương đồng giữa hai quan niệm nầy. Biểu đồ 5.2 sẽ giúp bạn tóm lược những điểm tương đồng và khác biệt của cả 2 quan điểm. ( Dấu “ X” được đánh trong cột Ấn Độ Giáo và Cơ Đốc Giáo để cho thấy sự thực của những qun niệm nầy)
S& 7920; NHỤC HÓA# ẤN ĐỘ GIÁO CƠ ĐỐC GIÁO
1. Thượng đế giáng trần.
2. Tạo sự liên hệ giữa con người và Thượng đế.
3. Sự mặc khải trọn vẹn về Thượng Đế cho con người.
4. Sự cải trang của thần linh.
5. Hoàn thành một sứ mạng mà con người không thể làm được.
6. Bày tỏ quyền năng thiêng liêng.
7. Thể hiện những hành động thương xót.
8. Ban sự cứu rỗi cho người công bình.
9. Ban sự cứu rỗi cho người gian ác.
10. Tính chất đặc biệt của sự kiện.
11. Tính chất phổ quát của sự kiện
12. Thực tế lịch sử rõ ràng.
13. Tầm quan trọng có tính chất thần thoại X
X
X
X
X
X
X
X X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Người Ấn Độ Giáo cho rằng Vishnu, Thượng Đế tối cao đà nhục hóa 10 lần, 9 lần xảy ra, 1 lần chưa xảy ra. 9 lần đó là Cá ( Matsya), rùa ( Kaorma), Lộn đực ( varaha) nhân sự ( Narasimha), Người lùn ( Vamana), Parasu Rama, Rama, Krishna và thích ca. Đấng sẽ đến là Khatgi ( một nhân vật vào thời sau rôt có một thanh gươm) . Trong những hình thức nhục hóa của các vị thần Ấn Độ Giáo nầy, bạn có thể thấy môt sự tiến hóa từ cá đến những thực thể siêu nhiên.
40. Trong những câu sau, câu nào là đúng? Theo Gita, những biên nhận của một người Ấn Độ Giáo là những điều mà:
a) người cha qui định cho.
b) người đó cho là tốt nhất đối với mình.
c) do đẳng cấp qui định
d) nhà nước đòi hỏi.
Chú ý: Ngày hôm nay nhiệm vụ của một người Ấn Độ Giáo không phải được quyết định hoàn toàn bởi đẳng cấp nhưng một phần bởi học thức và sở thích. Đẳng cấp Brahmin vẫn tiếp tục là những thầy tư tế nhưng trong nhiều vùng ở Ấn Độ, lời tuyên bố độc quyền của đẳng cấp Kshatriya (chiến sĩ) không còn thích hợp nữa. Bất cứ ai trong nước Ấn Độ hiện đại điều có thể gia nhập quân đội, làm nghề nông, thương gia hoặc người lao động.
41. Hume nói rằng “ thế kỷ 20 đã chứng kiến sự sụp đổ dần dần của hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ” (32) Theo quan điểm ủng hộ hệ thống đẳng cấp trong tất cả các thánh thư của Ấn Độ Giáo mà chúng ta đã nghiên cứu (kể cả Bhagavad Gita trong phần nầy) bạn giải thích như thế nào về sự sụp đổ của hệ thống đẳng cấp trong thời đại chúng ta?
Tóm lại, chúng ta hãy nhất mạnh đến 3 đặc điểm của Bhagavad Gita mà đã làm cho nhiều người coi trọng nó.
1. Sự hình thành một tôn giáo thuộc Ấn Độ Giáo mới là con đường tu dưỡng đạo tâm ( tận hiến).
2. Mô tả sự hiện diện của thần linh tối cao trong hình thể của một con người cụ thể
3. Giải thích sự cứu rỗi qua sự tu dưỡng đạo tâm của cá nhân đối với vị thần linh thực hữu
Mục tiêu: Thảo luận về tính chất keo kết của sự phổ cập của Ấn Độ Giáo .
THỜI KỲ PHỔ CẬP.
Hume 31-33.
Cattell nói rằng “Nói một cách khác quát, có 2 loại Ấn Độ Giáo nổi bật, một loại tiềm ẩn trong sự phát triển thánh thư và một loại bộc lộ rõ trong hoàn cảnh ngày nay. Một loại mang tính phổ biến và một loại mang tính triết lý” (194) Ấn Độ Giáo phổ cập được xây dựng trên những giáo lý về triết họ của Ấn Độ Giáo một hùng ca và truyền thuyết cổ là “ phương tiện văn chương có hi ệu quả nhất trong việc phổ cập hóa Ấn Đô Giáo” ( Hume 31)
42. Trả lời những câu hỏi nầy dựa trên Hume 31-32.
a) Cho biết tên 2 bản anh hùng ca lớn của Ấn Độ Giáo
b) Purana là gì?
c) Tại sao Ấn Độ Giáo phổ cập được gọi là “ một khối liên kết to lớn”
43. Câu nào trong những câu sau là không đúng ? Ấn Độ Giáo phổ cập:
a) là tôn giáo của quần chúng.
b) có tính chất triết lý sâu sắc.
c) liên quan đến sự thờ phượng thông qua các hình tượng và biểu tượng thuộc về nghi lễ.
d) có vô số đền thờ và nơi thờ phượng.
e) được phổ cập hóa thông qua những kỳ lễ thánh.
Theo phản ứng của Shinde về chủ đề “ Lý thuy ết về phép thuật và tôn giáo”, ông nói “ trong phần nghiên cứu Ấn Độ Giáo phổ cập chúng tôi đang . . . . đề cập đến sự liên kết phép thuật và tôn giáo ở mức đô của các lỳ lễ, các ngày hội và những khủng hoảng lớn trong đời sống” ( 18) Phép thuật đóng một vai trò nổi bật trong tôn giáo theo thuyết vạn vật hữu linh Hume tuyên bố rằng tôn giáo của đẳng cấo thấp nhất trong Ấn Độ Giáo “ hầu như theo thuyết vạn vật hữu linh đã thịnh hành trong Ấn Độ Giáo phổ cập ( 33) Ông kết thúc danh sách nầy bằng “những câu thần chú”, một danh từ được định nghĩa trong văn mạch nầy là “những hành động hoặc sự diễn đạt được cho là có phép thuật”
44. Trong những yếu tố dưới đây, yếu tố nào mô tả đúng nhất thuyết vạn vật hữu linh trong Ấn Độ Giáo.
a) thờ phượng hình tượng.
b) tuân giữ những điều cấm kỵ chi tiết của tôn giáo.
c) sợ các tàn linh.
d) tin thuật chiêm tinh và cái nhìn độc địa.
e) tất cả những điều trên.
45. Bạn cho rằng điều gì l à phương tiện tốt nhất để truyền bá lẽ thật tôn giáo cho quần chúng thuộc Ấn Độ Giáo?
NHIỆM VỤ: Lập một biểu đồ theo như nhiệm vụ số 5 trong bản liệt kê những nhiệm vụ đầu bài học nầy . Đây là mẫu đã điên rồ cho giai đoạn đầu tiên của biểu đồ nầy để giúp bạn hiểu cách làm ( biểu đồ 5.3)
NHIỆM VỤ KHÔNG BẮT BUỘC: Nếu có thể được, hãy hoàn thành nhiệm vụ 6 trong bản liệt kê các nhiệm vụ ở đầu bài học nầy. Đây là một số câu hỏi mà bạn có thể hỏi trong bức thư hoặc cuộc nói chuyện của bạn.
1. Những bổn phận tôn giáo mà bạn phải thể hiện là gì?
2. Tại sao bạn phải thể hiện những bổn phận đó?
3. Thượng Đế của bạn là ai?
4. Tôn giáo của bạn dạy gì về sự sống và sự chết?
Hãy thường xuyên viết thư và nói chuyện với hy vọng là cuối cùng bạn cũng sẽ dẫn được thính giả của mình đến với Đức Chúa Trời qua con đường ân điển của Cơ Đốc Giáo.
