top of page

Phần 4: Ấn-Độ Giáo Truyền-Thống.

HungT

Jan 26, 2026

Tác giả: Thomas F.Harrison.


CÁC TÔN-GIÁO Ở NAM Á 


Ấn-Độ Giáo Truyền-Thống.


Mục đích:

Mục đích của bài học nầy là nhấn mạnh những tính xấu xa bất công của hệ-thống đẳng cấp đồng thời cũng cho thấy rằng trải qua suốt lịch-sử Ấn-độ giáo, hệ-thống nầy là nền-tảng cho kết cấu xã hội; bài học nầy cũng nhấn mạnh đến sự thiếu sót yếu-tố cứu-chuộc trong giáo-lý và tư tưởng của Ấn-độ giáo. (chẳng hạn: tư-tưởng của Ấn-độ giáo về sự nhục hóa), và sự thiếu tính thống nhất thuộc-linh đúng đắn của Ấn-độ giáo về việc thần-thánh hóa cõi thọ tạo theo thuyết vạn vật hữu-linh. Chúng tôi hy-vọng rằng sự hiểu biết về Ấn-độ giáo mà bạn có được qua bài học nầy sẽ khơi dậy hơn nữa ước ao của bạn để nói về Chúa cho người Ấn-độ giáo và khả năng của bạn để làm điều đó.


Dàn bài

-Giới thiệu về Ấn-độ giáo trong số các tôn-giáo.

-Sự thờ-phượng thiên nhiên thời kỳ đầu.

-Ấn-độ giáo thời kỳ tăng-lữ.

-Ấn-độ giáo thời kỳ triết-lý.

-Ấn-độ giáo thời kỳ có luật-pháp.

-Ấn-độ giáo thời kỳ có tu-dưỡng đạo tâm.

-Ấn-độ giáo thời kỳ phổ cập.


Những mục tiêu của bài học:

Khi hoàn tất bài học nầy, bạn sẽ có thể:

-Trình-bày được nguồn gốc và sự phát triển của Ấn-độ giáo.

-Trình-bày được sự thờ-phượng thiên nhiên thời kỳ đầu của Ấn-độ giáo.

-Giải thích tính-chất tăng-lữ của Ấn-độ giáo.

-Trình-bày sơ-lược triết-lý của Ấn-độ giáo về Đấng tối-cao.

-So sánh tính chất luật-pháp của Ấn-độ giáo với những giai đoạn trước của Ấn-độ giáo.

-Cho biết tại sao Kinh Thư về sự tu-dưỡng đạo tâm của Ấn-độ giáo được rất nhiều người tôn-trọng.

-Thảo-luận về tính-chất kết hợp chặt chẽ trong sự phổ cập của Ấn-độ giáo.


Các sinh hoạt học tập

1. Đọc trước những bài học bằng cách xem kỹ phần khái quát, mục đích và những mục tiêu.

2. Tìm nghĩa từ nào trong phần “từ quan-trọng” mà bạn chưa biết.

3. Đọc trang 19-23 trong sách giáo khoa của bạn.

4. Làm dần dần những bài tập trong phần phát triển bài học, trả lời những câu hỏi trước khi xem phần giải đáp.

5. Trình-bày sự phát triển của Ấn-độ giáo (qua 6 giai đoạn được nói đến trong phần khai quát bài học) bằng cách vẽ một biểu-đồ với những cột sau:

1. Tên giai đoạn.

2. Các thánh-thư.

3. Phương pháp cứu-rỗi chính.

6. Nhiệm-vụ không bắt buộc.

Nếu có thể được, bạn hãy nói chuyện hoặc viết thư cho một người Ấn-độ giáo có học thức và một người Ấn-độ giáo thất học để biết họ hiểu gì về tôn-giáo của họ.


Từ ngữ quan-trọng

Đẳng cấp

Thợ thủ công.

Phiếm-thần luận.

Thuộc về lý thuyết.

Tượng hình.

Sự truyền-kiếp

Lời truyền

Tự hạ phẩm giá.

Tăng-lữ thuyết.

Trung-tín

Thuyết chống luật-pháp

Cách ngôn

Quyền tối-thượng.

Người đánh xe ngựa

Khối kết.

Đoán số tử-vi

Cái nhìn độc địa.

Thuộc về siêu hình học.


Triển khai bài học

Bây giờ bạn sẽ nghiên-cứu về Ấn-độ giáo “một tôn-giáo sống, có tổ chức và cổ xưa nhất trên thế giới” (Huma 19) Ấn-độ giáo có nhiều tín-đồ hơn bất kỳ tôn-giáo nào có nguồn gốc ở Nam Á và Đông Á. Vào thập kỷ 60 của thế kỷ nầy, có khoảng 1/7 dân-số thế giới là người Ấn-độ giáo. (Hardon, 1968 trang 91) Ngày nay trên 82 % trong số 580 triệu người Ấn-độ theo Ấn-độ giáo.

Hume nhận xét rằng: “Ấn-độ giáo hầu như chỉ giới hạn trong nước Ấn-độ ngoại trừ những người Ấn-độ giáo di chuyển đến những vùng khác” (19).

Tuy nhiên ảnh hưởng của nó bắt đầu xuất hiện ở các nước phương Tây trong thời gian gần đây. Đề-cập đến sự giảng dạy và sự thống nhất các tôn-giáo của Rama Krishna (1836-1886) Bradley nói rằng: “Ở Ấn-độ cũng như ở Hoa-Kỳ, phong trào Ramakrishna đã được người ta tiếp thu một cách đồng tình và nó có ảnh hưởng rất lớn đối với số tín-đồ tương đối ít oi của nó” (102)

Sự nghiên-cứu về Ấn-độ giáo là rất quan-trọng để bạn hiểu Ấn-độ và dân-tộc Ấn-độ cũng như để bạn đối phó với họ một cách thông suốt ở phương Đông hoặc ở phương Tây.

1. Có khoảng 82 % dân-số Ấn-độ là:

a) Người Ấn-độ giáo ngay trước khi thành lập nước Pakistas.

b) Người Ấn-độ giáo theo thống-kê dân-số năm 1931.

c) Người Ấn-độ giáo hiện nay.

d) Người Ấn-độ giáo theo thống-kê dân-số năm 1951.


Mục tiêu: Trình-bày nguồn gốc và sự phát triển của Ấn-độ giáo .


Giới thiệu về Ấn-độ giáo.

(Hume 19-22).

Vì Ấn-độ giáo không có người thành lập nên niên đại về nguồn gốc của nó không thể xác định chính xác được. Người Ấn-độ giáo gọi tôn-giáo của họ là Santhana Dharma, nghĩa là “tôn-giáo vĩnh cửu” (Nichols 1975 trang 136) Vì cớ tính-chất phức tạp của Ấn-độ giáo, nên người ta không thể đi đến một sự định nghĩa thỏa đáng về tôn-giáo nầy.

Ấn-độ giáo không phải là giáo-lý, không phải là một hệ-thống triết-học đặc biệt, không phải là một hình thức thờ-phượng đặc biệt, không phải là một thánh thư đặc biệt. Không phải là một nhóm dân-tộc đặc biệt, cũng không phải là một sự thiết lập các nghi-lễ hay tập tục nào. Đó là một sinh hoạt có ẩn chứa một ý nghĩa về sự thống nhất, chấp nhận nhiều loại tín-ngưỡng.

Có nhiều nhánh trong Ấn-độ giáo tin nơi một Thượng-Đế có thân-vị trong khi những nhánh khác tin nơi Đấng tuyệt đối không có thân-vị. Một số người Ấn-độ giáo tin nơi một Thượng-Đế có thân-vị bên trong, còn những người khác lại không tin nơi một hình thức nào về Thượng-Đế cả. Tuy nhiên tất cả những nhóm người nầy đều thuộc về Ấn-độ giáo. Tất cả những quan-điểm trái ngược nầy đều cùng tồn tại trong Ấn-độ giáo làm cho nó thêm đa dạng nhưng lại không làm hại đến tính thống nhất của nó.

Ấn-độ giáo cho rằng có sự thống nhất trong tính đa dạng và có sự đa dạng trong sự thống nhất. Điều quan-trọng là bạn phải hiểu được mối quan-hệ giữa tính thống nhất và tính đa dạng để hiểu được tính-chất phức-tạp của Ấn-độ giáo.

Một người Ấn-độ giáo đã định nghĩa Ấn-độ giáo như “Một cái dù đức-tin lớn mà dưới cái dù đó ai cũng thấy chỗ của mình”

Tuy nhiên theo quan-điểm Cơ-đốc thì dường như trải qua suốt lịch-sử Ấn-độ giáo, sự thống nhất nầy chỉ được duy trì qua bổn-phận xã hội đối với hệ-thống đẳng cấp hơn là bởi đức-tin. Dường như nó thiếu hẳn tính-chất thống nhất như Kinh Thánh là căn-cứ trên yếu-tố thuộc-linh.

2. Điều gì đã làm cho Ấn-độ giáo trở nên đặc biệt trong số các tôn-giáo trên thế giới?

3. Sắp xếp lại 4 đẳng cấp sau đây trong Ấn-độ giáo theo thứ bậc.

a................................................................

b................................................................

c................................................................

d................................................................

1, Vaisya

3, Sudra

2, Brahmin

4, Kshatriya

Everett L.Cettell (Carttell, 1954 trang 144) nói rằng: “Hơn bất cứ điều gì khác, hệ-thống đẳng cấp là một nét đặc-trưng của Ấn-độ giáo, mà mọi người đều thừa nhận“ Sự phân chia đẳng cấp đã dẫn đến sự cấm cưới gả khác đẳng cấp, cấm ăn chung và cấm đổi nơi cư-ngụ. Trong tác-phẩm “The Religim of Mankind”, Edmund D. Soper có nói: “Trở thành một người Ấn-độ giáo có nghĩa là phải thuộc về một trong những đẳng cấp và tuân theo những quy-định của đẳng cấp” (Soper, 1951 trang 103)

“Ấn-độ giáo không phải là một tôn-giáo có tín-điều như Hồi-giáo và Cơ-đốc giáo. Người Ấn-độ giáo là do bẩm sinh” (Nichols, 1975, trang 137)

Câu trích nầy có sự mở rộng Ấn-độ giáo là do tiến-trình sinh-học. Nó cùng được mở rộng bởi tiến trình đồng hóa. Tuy nhiên do thiếu tầm nhìn về sự truyền-giáo hải ngoại nên làm hạn chế sự phát triểu của tôn-giáo nầy.

4. Câu nào trong những câu sau đây không nói lên nét đặc trưng của Ấn-độ giáo?

a) Tất cả tín-đồ đều có một tin thần duy nhất.

b) Niềm tin nơi sự truyền-kiếp (luân-hồi).

c) Niềm tin nơi một Đấng thiêng-liêng vô sở bất tại.

d) Sự khoan dung tôn-giáo.

5. Câu nào trong những câu dưới đây không nêu lên đặc điểm được tìm thấy trong vòng người Ấn-độ giáo? Người ta thấy trong số những người Ấn-độ giáo có:

a) Người theo thuyết hữu-thần tin nơi một Thượng-Đế có thân-vị.

b) Một tiêu-chuẩn đạo đức duy nhất.

c) Người theo thuyết phiếm-thần luận cho rằng Đức Chúa Trời là mọi sự.

d) Người theo thuyết phiếm-thần tin nơi nhiều thần.

6. Mặc dù Ấn-độ giáo rất là phức tạp nhưng vẫn có một cách để hiểu và biết rõ về tôn-giáo nầy. Cách nào?

............................................................................................................................

............................................................................................................................

Vệ-Đà (vedaas) là thánh thư cổ nhất của Ấn-độ giáo “Vệ-Đà” có nghĩa là “sự hiểu biết”. Thánh thư của Ấn-độ giáo có thể được chia thành 2 loại: SrutiSmriti có thẩm-quyền hơn Smriti.

“Sruti” nghĩa là “điều được nghe” và “Smriti” có nghĩa là “điều được ghi nhớ” do đó về phương diện lịch sử người ta cho rằng các rishis (các nhà hiền-triết) thời xưa đã tạo nên Sruti khi họ nghe được những chân-lý nầy trong khi suy gẫm chân-lý.

Sruti không đề-cập đến những sự-kiện hoặc nhân vật lịch-sử nhưng đề-cập đến chân-lý xác quyết bằng hình thức châm-ngôn và thi-ca. Kinh Vệ-Đà thuộc về loại Sruti. Epics và Puranas thuộc về nhóm Smitri (Nichols, 1975, trang 137- 138)

7. Theo nguyên bản, Kinh Vệ-Đà được viết bằng:

a) Tiếng Anh.

b) Tiếng Đức.

c) Tiếng Hindi.

d) Tiếng Phạn.

e) Tiếng Tamil

8. Dân-tộc nào có trách-nhiệm chính về tôn-giáo được phản ảnh trong kinh Vệ-Đà?

..............................................................................................................................

..............................................................................................................................

Ghi chú: Cattell có ý kiến (190) cho rằng người Aryans đã xâm lược Ấn-độ đồng thời với lúc “Áp-ra-ham rời khỏi Mê-sô-pô-ta-ni (giữa năm 2000 và 1500 trước C.N)” Dân-tộc mà họ thấy đang sống ở Ấn-độ là người Dravidians.

9. Trong những câu sau đây về nền văn minh thời tiền Aryan ở Ấn-độ, những câu nào là đúng ?

a) Nó nằm ở thung lũng sông Ấn-độ.

b) Được khai quật từ thế chiến thứ I

c) Có từ năm 6000 trước C.N

d) Đồng thời với Ai-cập và Ba-by-lôn cổ đại.

e) Không có ngôn ngữ viết (văn tự)

10. Về 2 câu dưới đây, cây nào là đúng?

.......a. Nền văn minh Dravidian thời tiền Aryan đã hoàn toàn bị người Aryans xâm lược phá hủy.

......b. Một số tín-ngưỡng của người Dravidians đã pha trộn với tín-ngưỡng của người Aryan để tạo nên tín-ngưỡng của Ấn-độ giáo sau nầy.

1. Cả 2 câu đều sai.

2. Cả 2 câu đều đúng.

3. Chỉ câu 1 đúng.

4. Chỉ câu 2 đúng.


Mục tiêu: Trình-bày sự thờ-phượng thiên nhiên rất sớm của Ấn-độ giáo.


Sự thờ-phượng thiên nhiên từ ban đầu.

(Hume 22-23)

Chú ý: Trong bài học nầy, chúng ta xem Vệ-Đà chỉ là một phần trong các thánh thư của Ấn-độ giáo, nhưng trong phần nầy, Hume cho rằng: “tên dùng cho tất cả thánh thư của Ấn-độ giáo là Vệ-Đà” và ông còn cho rằng: “Những trưởng phái khác nhau trong Ấn-độ giáo đều có những kinh Vệ-Đà đặc biệt của họ” ( c22) trong phần còn lại của bài học chúng ta về Ấn-độ giáo, chúng ta sẽ tiếp tục xem Vệ-Đà như là một phần trong tất cả những thánh thư của Ấn-độ giáo.

11. Sắp xếp lại theo thứ tự 4 loại Vệ-Đà mà Huma có đề-cập

a..............................................................................

b.............................................................................

c.............................................................................

d.............................................................................

1. Atherva.

2. Rig.

3. Sama.

4. Yajur.

12. Trong những câu hỏi dưới đây, câu nào không mô-tả sống động về kinh Rig Vệ Đà.

Kinh Rig Vệ-Đà:

a) có niên đại vào khoảng 2000-1000 trước C.N

b) là tài-liệu cổ nhất trong tôn-giáo sống trên thế giới.

c) được viết bằng tiếng Timal cổ.

d) gồm có 1028 bài ca.

e) được người Ấn-độ giáo xem là có uy-quyền không thể sai lầm.

13.. Viết chữ Đ trước những câu mà theo câu thơ Gayatri của Kinh Rig Vệ-Đà là đúng, và chữ S trước những câu sai.

........a. Thượng-Đế không có thân-vị.

........b. Thượng-Đế phải được thờ-phượng

.......c. Thượng-Đế là Đấng ban sự sống.

........d. Thượng-Đế có liên-lạc với con người.

........e. Thượng-Đế không hành động.

Câu thơ Gayatri là một ví-dụ về thuyết vạn vật hữu-linh trong Ấn-độ giáo: Trong câu thơ đó, mặt trời được nhân-cách hóa và thần-thánh hóa. Trong luận án tiến-sĩ không xuất bản của ông vào năm, 1975 về đề-tài: “Thuyết vạn vật hữu-linh trong Ấn-độ giáo phổ thông” Benyamin Prasad Shindde có viết:

“Mặt trời được mô-tả có tính-chất thần-thánh không những với cả làng mà còn với mỗi gia đình theo Ấn-độ giáo. Cứ mỗi buổi sáng, người chủ nhà thắp một cái đèn nhỏ với một nén nhang thơm vẩy qua vẩy lại trong ánh sáng mặt trời như là một của lễ dâng cho mặt trời và ban ngày. Đối với một triết-gia, điều nầy là biểu-tượng của một nguyên-tắc thiêng-liêng, nhưng đối với những người Ấn-độ giáo ở tỉnh lỵ, làng mạc vùng quê thì đó là sự thờ-phượng mặt trời” (trang 48)

14. Hume liệt kê 9 đối tượng hoặc thế lực Kinh Rig Vệ-Đà mà con người dâng lên lời cầu-nguyện và ca-tụng. Hầu hết trong số nầy là những điều có thể nhìn thấy được, nhưng có 2 đối tượng không thể nhìn thấy được. Nêu tên 2 đối tượng nầy:

..............................................................................................................................

..............................................................................................................................

15. Sắp xếp (dĩ nhiên là theo quan-điểm của những tác-giả của kinh Vệ-Đà) 5 đối tượng được thần thánh hóa trong Kinh Vệ-Đà thích hợp với sự giải thích bên cạnh bằng cách đánh số của mỗi đối tượng đó vào chỗ trống trước những câu giải thích (Hãy làm cẩn thận vì mặc dù không có đối tượng nào trong 5 đối tượng nầy được xem là có đủ tất cả các phẩm chất trong phần giải thích nhưng có sự trùng lặp về tính-chất giữa 5 đối tượng nầy được xem là có đủ tất cả các phẩm chất trong phần giải thích nhưng có sự trùng lặp về tính-chất giữa 5 đối tượng nầy)

......a. Mênh mông hoặc vô tận.

......b. Không thể đụng chạm được nhưng không thể thiếu được.

......c. Nguồn gốc chính yếu cho sự sống tồn tại.

......d. Không thể thấy được nhưng rất mạnh mẽ.

......e. Có thể tiếp xúc được và không thể thiếu được.

1. Không khí.

2. Trái đất.

3. Gió.

4. Bầu trời.

5. Mặt trời.

Khía cạnh “không thể đụng chạm được” trong “phần b” của bài tập trên là điểm giải thích duy nhất không nằm trong quan-niệm của Cơ-đốc giáo về Thượng-Đế. Đây là bản liệt-kê có giá-trị về những điều quan sát đúng đắn cho cách giải thích đó:

1. Không có một sức mạnh thiên nhiên nào có được tất cả những đặc điểm được mô-tả về thần-linh.

2. Mỗi sức mạnh thiên nhiên đều bị giới hạn bởi sự phụ thuộc lẫn nhau và do đó không thể đại diện cho thần-linh một cách trọn-vẹn được.

3. Không có sức mạnh thiên nhiên nào được cho là có khả năng liên-lạc được với con người theo cách cá nhân.

4. Những sức mạnh thiên nhiên nầy mô-tả sống động về những phẩm chất thiêng-liêng nhưng không thể thay thế được các thực thể thuộc-linh.


Bài tập không bắt buộc:

Cố gắng viết ra điều quan-sát thêm về phần thần-linh dựa trên bài tập 15.

16. Theo Hume, trước hết hãy nêu tên thần-linh quan-trọng nhất trong Kinh Vệ-Đà và sau đó thần-linh có đạo đức cao nhất trong Kinh Vệ-Đà.

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

17. Kinh Rig đã trình-bày 4 đẳng cấp trong xã hội loài người bằng những bộ-phận trong cơ thể, mỗi bộ phận nầy tượng-trưng cho chức năng chính của đẳng

cấp đó trong xã hội. Hãy cho biết những chức năng nầy bằng cách điền vào khoảng trống trong biểu-đồ dưới đây (biểu đồ 5.1)


BẰNG CẤP

a. Brahmin

b. kshatriya

c. Vaisya

d. Sudra

BỘ PHẬN

Miệng

2 tay

2 đui

2 chân

CHỨC NĂNG

18. Phương pháp cứu-rỗi chính trong kinh Rig Vệ-Đà là gì?

..............................................................................................................................

..............................................................................................................................

Phần lớn lời nhận-xét của Hume trong phần nầy dựa trên kinh Rig Vệ-Đà. Chúng ta hãy kết luận phần nầy bằng một lời nhận xét ngắn gọn về từng loại kinh Vệ-Đà khác nhau: Kinh Yajur Vệ-Đà gồm có những lời cầu-nguyện và những nghi thức tế-lễ có thể so sánh như sách Lê-vi ký.

Kinh Sama Vệ-Đà gồm có những bài hát được hát vào lúc dâng của lễ dùng để uống.

Kinh Atharva Vệ-Đà là sách nói về y-khoa, những bài hát, những câu thần chú và cách dùng phép-thuật để chữa bịnh hoặc xua đuổi tà-linh (xem Cattell 191)

Nền y-khoa của Ấn-độ được mọi người biết đến là quyển “Ayurveda” được rút ra từ những cách sử dụng phép thuật nầy.


Mục tiêu: Trình-bày tính-chất của Ấn-độ giáo thời kỳ các tăng-lữ .


Ấn-độ giáo thời kỳ các tăng-lữ.

(Hume 24-25).

Tiếp theo sự thờ-phượng thiên nhiên “đã nổi lên một hình thức mới về ăn chương và tôn-giáo” (Hume 24) Tôn-giáo mới, Ấn-độ giáo thời kỳ các tăng-lữ thời kỳ tăng-lữ dựa trên Brahmanas là yếu-tố tạo nên nền văn học mới. Vào thời đó “Chủ nghĩa lễ thức đã trở thành một hình thức nổi bật của tôn-giáo . . . . và điều nầy dần dần trở thành điều độc quyền của đẳng cấp tăng-lữ” (Hardon 52)

Từ “brah điều độc quyền của đẳng cấp tăng-lữ” (Hardon 52) Từ “Brahmanas” Có nghĩa là “thuộc về các thần tế-lễ” Brahmanas là những bài chuyên luận về tôn-giáo mà đặc biệt nhấn mạnh đến các của lễ.

Bạn cần phải phân biệt giữa Brahmanas (văn chương) Brahmin (thầy tế-lễ) và Brahma (Thượng-Đế)

Một số học-giả đề-cập đến Đấng tối-cao của Ấn-độ giáo là “Brahman” còn những thần khác là “Brahma” Để phù hợp với Hume, chúng ta gọi Đấng tối-cao là Brahma. Đại từ “Nó” (ít) thay vì “Ngài” (he) thường được dùng để chỉ Brahma vì Brahma được xem như một thực thể phi thân-vị (Xem Huma 26)

19. Trong đoạn đầu bài viết của Hume về phần nầy, ông đã trình-bày sự tác động lên tôn-giáo về việc biến đổi tính-chất thờ-phượng thiên nhiên (tôn-giáo đơn giản của Kinh Vệ-Đà) thành Ấn-độ giáo có tính-chất tăng-lữ là như thế nào?

..............................................................................................................................

...............................................................................................................................

20. Câu nào trong những câu sau đây là đúng? Brahmanas

a. là những bài thuốc để trị bịnh.

b. là những cách hướng dẫn về của tế-lễ.

c. là những truyền-thuyết tôn-giáo.

d. là những tác-phẩm văn xuôi Ấn - Âu cổ nhất còn tồn tại đến bây giờ.

e. quy định những bổn-phận của Brahmin.

21. Gọi tên của lễ mà khởi đầu gồm có việc giết 609 con thú và cần phải mất cả năm mới làm xong?

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................


Sự cải cách: Trong bài học tiếp theo, sẽ có một phần dành để nói về “những nổ lực cải cách của Ấn-độ giáo” (xem Hume 34- 3) Ở dây Hume chưa đề-cập đến những điểm cải cách nhưng chúng tôi sẽ kết luận phần nầy trong sách hướng dẫn nghiên-cứu của chúng tôi bằng những điểm thay đổi hiện nay trong hệ-thống đẳng cấp của Ấn-độ giáo.

Nhiều sự khác biệt và tập tục của đẳng cấp không còn nữa, ở Ấn-độ, một người Brahmin hiện nay không còn nắm quyền tôn-giáo trên những người khác nhiều như trước. Họ phải kiếm việc làm như những người khác. Ngày nay đẳng cấp Brahmin không còn được tôn-trọng vì đẳng cấp của họ nữa nhưng vì nhân cách của họ.

Ngày nay đẳng cấp Sudra được học hành như đẳng cấp Brahmin là cùng làm việc trong một cơ quan hoặc trường học. Họ có thể cùng đi chung trên một xe buýt hoặc cùng ăn chung trong một nhà hàng, và cũng không có gì khác thường khi một người thuộc đẳng cấp thấp được chọn vào một chức vụ nào đó của một bang hoặc trung ương và có quyền cao hơn đẳng cấp Brahmin đẳng cấp. Việc ăn chung giữa các đẳng cấp không bị kiểm soát gắt gao như vấn-đề hôn-nhân.

Ngày nay, Barhmin không còn dâng tế-lễ bằng thú vật nữa. Những vật được dùng chủ yếu hiện nay trong sự thờ-phượng là hoa, lúa mì, dầu dừa và nhang. Đẳng cấp Brahmin đang tự điều chỉnh mình theo những thay đổi đang xảy ta trong Ấn-độ giáo dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thế tục hóa.


Mục tiêu: Trình bày sơ-lược sự mô-tả mang tính, triết-học của Ấn-độ giáo về Đấng tối-cao


Ấn-độ giáo thời kỳ triết-lý.

(Hume 25- 28)

“Upanishad” có nghĩa là “sự hiểu biết thánh và bí mật” để giáo-sư trao đổi với học viên của mình bằng phương-tiện đối thoại và sự tương tác. Các sự dạy dỗ nói đến trong Upanishads rất giống với phong cách dạy dỗ của Socrate. Siêu hình học là điểm chính trong triết-học Ấn-độ. Tôn-giáo và triết-học Ấn-độ không thể tách rời nhau.

Trong Upanishads có một nổ lực nhằm tổng hợp làm cho hài hòa những niềm tin của kinh Vệ-Đà. Điểm chính yếu trong Upanishads là tập trung vào Brahma để mô-tả “nó” như là một nguyên-tắc tiềm ẩn của tất cả mọi sự tồn tại và tư duy.

22. Theo Vệ-Đà, “Brahma” có nghĩa là gì?

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................

23. Theo Upanishads “Brahma” Có nghĩa là gì?

..........................................................................................................................

...........................................................................................................................

Điều đáng chú ý là có nhiều luận thuyết tạo nên phần chủ yếu của văn chương được mọi người biết là Upanishad. Trong phần nầy Huma chỉ đề-cập đến hai trong số đó: chandogyaAruneya

24. Những từ nào trong các từ dưới đây không được đề cập đến trong phát biểu của Hume về sự mô-tả mang tính-chất triết-học bản-thể của Brahma theo Upanishad

a) vô biên tính.

b) tính vô sở bất tại.

c) không có thân-vị.

d) không thể mô-tả.

e) tính toàn-tri.

f) trung-tính.

g) tính vô sở bất năng.

25. Theo ánh sáng trình-bày về Brahmi trong bài tập chỉ có 2 câu trong những câu dưới đây là đúng. Đó là những câu nào? Brahma:

a) có thể làm mọi sự.

b) biết tôi.

c) ở đây.

d) ở khắp mọi nơi.

f) tự mặc-khải chính Ngài.

Theo sự trình-bày trong Upanishad về Brahma thì “nó” có tính không thể biết và không có thân-vị. Do đó những gì được nói đến trong nổ lực trình-bày về “Nó” đều chỉ là sự suy đoán của con người Brahma trung-tín thì bất động và yên lặng do đó nó không thể sáng tạo cũng không thể bảo vệ được con người.

Upanishads trình-bày sự bất hòa hợp tâm-linh của từng con người vào trong Brahma. Nó không dạy rằng con người cần được cứu theo ý nghĩa của sự cứu-rỗi trong Kinh Thánh, nhưng dạy con người chỉ cần nhận thức mình là một phần của Brahma là đủ.

Sự nhận thức nầy được gọi là “Sự tự nhận thức” hoặc là “sự nhận thức Brahma” và đã dẫn người Ấn-độ giáo đến chỗ tuyên-bố rằng Aham Brahma asmi (tôi là Brahma) Lời tuyên-bố nầy và lời Tat tvam asi (bạn cũng vậy) là Mahavakyas (những lời nói vĩ đại) của văn chương Upanishad.

Lời tuyên-bố “Tôi là Brahma” bày-tỏ sự nhận thức của một người Ấn-độ giáo rằng họ, atman (linh-hồn con người) cũng như Brahma và Brahma cũng là atman. Trường phái nhứt nguyên luận Advaita Vedanta được giáo ngộ nói rằng: “Tôi là Thượng-Đế” Thì không phải anh ta có ý lộng ngôn nhưng anh ta chứng-thực cho quan điểm nhứt nguyên về sự cứu-rỗi nầy. (Nichols 146)

Những thánh thư đầu tiên của Ấn-độ giáo (đặc biệt là Rig Vesda) cho biết hậu quả của tội-phạm đến Thượng-Đế là cần phải có sự kêu nài tha-thứ, nhưng “điều quan-trọng nầy hầu như đã bị đánh mất trong Upanishad” (Nichols 145). Trong triết-lý của Ấn-độ giáo hầu như không có sự nhận biết tội-lỗi the ý nghĩa của Kinh Thánh. Nó xem tội-lỗi như một sự ngu dốt không biết đã ngăn cản sự nhận thức. Theo quan-điểm nầy không cần có sự chuộc-tội và tha-thứ tội-lỗi như sự cứu-rỗi trong Kinh Thánh đòi hỏi.

26. Quan điểm của triết-lý Ấn-độ giáo về sự thay đổi hiện tượng thế giới là gì?

...........................................................................................................................

...........................................................................................................................

Triết-lý Advaita do SanKara truyền-bá đã cho rằng thực thể duy nhất là Brahma và tất cả những đều khác chỉ là sự ảo giác (Maya) Triết-lý nầy đã dẫn đến nhiều rối loạn, bi quan và thờ ơ ở Ấn-độ.

27. Triết-lý Ấn-độ giáo hầu như nhấn mạnh rằng sự cứu-rỗi

a) có được qua sự tha-tội.

b) là đạt được sự bình-an và vui-mừng

c) được nhận thức qua một thực thể vĩnh-cữu.

d) là sự đắc tháng nổi sợ hãi.

28. Theo triết-lý Ấn-độ giáo, mục tiên của sự cứu-rỗi là

a) được ở trong sự hiện diện của Brahma.

b) sự thu hút vào trong Brahma.

c) sự sống vĩnh-cữu có tính cách cá nhân.

d) sự thông-công với Brahma.

Nichollls nói rằng: “Mục đích của yoga là để tạo nên một sự thay đổi triệt để trong trạng thái tỉnh táo của con người . . . để người tập Yoga kinh-nghiệm được một tình trạng vượt trên không gian và thời gian” ( 184)

29. Phương pháp yoga tạo nên một trạng thái vượt trên không gian và thời gian bằng cách nào?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

30. Danh xưng nào trong những danh xưng dưới đây không áp dụng cho thức tể tối-cao trong triết-lý Ấn-độ giáo?

a) linh-hồn thế giới.

b) Brahma.

c) Atman.

d) Đấng tối-cao.

e) Thượng-Đế toàn-tri.

31. Tại sao triết-lý Ấn-độ giáo dạy rằng người nào đã đạt được sự hiệp-một trọn-vẹn với Brahma có thể được xem như đã vượt lên trên mọi khác biệt về đạo đức?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

Hume nói rằng 6 trường phái chính thống giải thích về triết-lý của Ấn-độ giáo đều được công nhận. Nicholls nhận định rằng “6 hệ-thống triết-học” chính yếu nầy thường được phân làm 3 cặp: Thứ nhất là Nyaya và Vaiseshika, thứ hai là Samkhya và Yoga; thứ ba là Purva Mimamsa và Veddnta (151)

32. The Upanishad điều gì là yếu-tố quan-trọng nhất để một người nhận được sự cứu-rỗi?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................


Mục tiêu: So sánh Ấn-độ giáo có luật-pháp với những giai đoạn trước đó của Ấn-độ giáo .


Ấn-độ giáo thời kỳ có pháp.

(Hume 28-29)

Ấn-độ giáo có một sự-kiện giống như là Lễ vượt qua của Do-thái giáo nhưng người Ấn-độ giáo tuyên-bố rằng họ có một người ban hành luật-pháp tên là Manu. Tất cả những người Ấn-độ giáo đều làm theo luật-pháp của Manu.

33. Sắp xếp lại những tác-phẩm văn chương của Ấn-độ giáo phù hợp với sự mô-tả về nói bằng cách đánh số thích hợp trước mỗi tác-phẩm đó

........a. Vệ-Đà.

........b. Brahmanas.

........c. Upanishad.

........d. Manu

1. Luật-pháp.

2. Lời cầu-nguyện chân-thành.

3. Nghi thức dâng của lễ.

4. Triết-học tự biện.

34. Theo Huma điều gì có thể làm cho Ấn-độ giáo tiếp tục là một thế lực có ảnh hưởng trong đời sống của những tín-đồ của họ?

............................................................................................................................

............................................................................................................................

35. Trong những câu sau, câu nào nói về sách luật-pháp của Manu là không đúng?

a) Sách nầy bao gồm những luật-pháp về việc giữ ngày Sa-bát.

b) Sách nầy được viết trước thời Đấng Christ.

c) Sách nầy gồm có những câu châm-ngôn khôn-ngoan nói về sự vâng lời Cha mẹ.

d) Sách nầy có lời khuyên về sự ăn-năn và xưng-tội.


Ghi chú: Người ta cho rằng mục đích của những luật-lệ của Manu “rõ ràng là để ủng hộ tôn-giáo Brahmanism chống lại Phật-giáo” (Gloriee Encyclopedia, 1954, trang 202) Mặc dù những luật nầy kém uy-quyền hơn kinh Vệ-Đà (Nicholls 134) nhưng nó vẫn được xem là bắt buộc người Brahma phải thi hành.

36. Hai câu nào trong những câu sai đây là không đúng? Sách luật-pháp của Manu:

a) Dạy về cách dâng của lễ.

b) Dạy cách tránh chiến tranh.

c) Dạy về sự giải thoát chung cuộc khỏi sự truyền-kiếp.

d) Cấm sự duy trì hệ-thống đẳng cấp.

e) Nói rõ 4 giai đoạn trong đời sống của một người Ấn-độ giáo.

Theo Manu 4 gian đoạn trong cuộc đời là: 1) giai đoạn đi học (brahmacari) Kinh Vệ-Đà; 2) Giai đoạn làm người chủ gia đình (grihastha) nuôi dưỡng gia đình, 3) Giai đoạn ở ẩn (Vanaprasthe) nghĩ ngơi trong rừng sau khi đã thấy con cháu, 4) Giai đoạn làm khuất-sĩ (Sannyasi) đi lang thang như một người hành-khuất và người giảng đạo.

Cũng nên thấy rằng điểm nhấn mạnh trong luật-pháp của Manu là nếu vâng-giữ luật-pháp sẽ có sự cứu-rỗi. (Người ta cho rằng luật-pháp càng nghiêm khắc bao nhiêu thì phần thưởng càng lớn bấy nhiêu. Vì vậy nhiều luật-pháp phức tạp đã được đặt ra để làm cho cuộc sống rất gò bó và thường là rất khốn khổ).

Sự từ bỏ thế-gian và những thú vui thế-gian là điều kiện tiên-quyết cho một đời sống mộ đạo đích thực. Hai giai đoạn cuối của đời sống (vanaprastha và sannyasi) dành để tìm kiếm những điều thuộc về tôn-giáo. Trong giai đoạn Vanaprastha, việc bắt chước theo chim, thú qua những kỷ-luật khắt khe về thân thể được quy định nhiều.


Theo Manu: sự hòa hợp với thiên nhiên được xem là đời sống có phẩm hạnh tốt nhất. Rõ ràng Manu đã không mường tượng ra được những vấn-đề phức tạp của cuộc sống trong thời kỳ hiện tại, đã làm cho con người không thể tuân theo nhiều luật-lệ trong luật-pháp của ông. Khuynh hướng phi nhân bản trong luật-pháp Manu đã không giúp ích gì cho xã hội Ấn-độ.


Mục tiêu: Cho thấy tại sao kinh thứ của Ấn-độ giáo về sự tu-dưỡng đạo tâm được rất nhiều người tôn-trọng .


Ấn-độ giáo thời kỳ tu dưỡng đạo tâm.

(Hume 29-31).

Cũng giống như những giai đoạn khác của Ấn-độ giáo, giai đoạn tu dưỡng đạo tâm cũng được thể hiện bằng thánh-thư của giai đoạn nầy. Thánh-thư của Ấn-độ giáo và tu-dưỡng đạo tâm là Bhaga vad gita, có nghĩa là “bài hát của Chúa” (Nicholls 139)

Kinh Bhagavad Gita được gọi là Gita (soper 110) Nó tạo thành một phần của thiên anh hùng ca vĩ đại Mahabharata, là một bài ca trình-bày về cuộc chiến giữa 2 nhóm lãnh Chúa phía bắc Ấn-độ nhóm Kauravas và nhóm Pandavas (Cattell 193)

Gita được viết theo thể đối thoại giữa Krishna. một vì thần hóa thân và Aejune, một lĩnh Chúa dũng sĩ của Pandavas. Arjuna miễn cưỡng giết Kauraras, một người bà con của mình. Krishna khuyên ông phải thể hiện bổn phận của một người lính.

Phần lớn người Ấn-độ giáo đọc Gita vào những lúc suy gẫm thuộc-linh cũng như để ngẫm nghĩ vể triết-lý. Có một số điều đối chiếu giữa Gita và Phúc-Âm (Bạn có thể tìm được một bản sao kinh Gita và trong một thư viện Cơ-đốc)

37. Theo câu trích từ Kih Katha Upaishad trong Gita, những câu nào trong các câu dưới đây là đúng? Linh-hồn con người:

a) bắt đầu có lúc người đó được sinh ra.

b) không bao giờ chết.

c) bị tội-lỗi làm hoen ố và cần được cứu-chuộc.

d) tìm một nơi an-nghĩ khi thân thể chết đi.

e) không bị ảnh hưởng bởi những gì xảy ra cho thân thể.

Vị thần Krishna là người phát-ngôn chính trong Bhagarad Gita. Soper em Krishma là hóa thân của Vishnu chính là Thượng-Đế) “Một bị thần hóa thân với một lịch-sử nổi bật” (109). Theo văn mạch nầy, một vị thần hóa thân là một vị thần của Ấn-độ giáo nhục hóa.

38. Theo Hume, trong “Bhagarad Gita” sự thay đổi rất đáng lưu ý mà Ấn-độ giáo đã trãi qua là gì?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

39. Trong những câu sau, câu nào là không đúng? Trong Gita, Krishna tuyên-bố rằng ông ta được hóa thân để.

a) bày-tỏ tình yêu.

b) hủy diệt kẻ ác.

c) cứu người công-bình.

d) phục hồi lòng sùng kính.

Hãy chú ý đến nhận xét của Soper về sự tương phản quan-trọng giữa quan-niệm Cơ-đốc về sự nhục hóa (hóa thân) với quan-niệm của Ấn-độ giáo về điều đó:

Sự hóa thân là sự giáng trần hoặc sự xuất hiện của một vị thần giữa con người, dù chỉ là tạm thôi để hoàn thành một sứ-mạng đặc biệt nào đó. Đó là một sự cải trang hơn là một sự mặc-khải về Thượng-Đế, do đó quan niệm nầy khác với quan niệm Cơ-đốc về sự nhục hóa, không hề có sự cải trang mà “chính là hình ảnh” của Thượng-Đế không thể nhìn thấy được (108)

Mặc dù những khác biệt giữa quan niệm của Ấn-độ giáo và Cơ-đốc giáo về sự nhục hóa là rất quan-trọng nhưng bạn cũng phải thấy những điểm tương đồng giữa 2 quan-niệm nầy. Biểu đồ 5.2 sẽ giúp bạn tóm lược những điểm tương đồng và khác biệt của cả 2 quan điểm. (Dấu “ X” được đánh trong cột Ấn-độ giáo và Cơ-đốc giáo để cho thấy sự thực của những quan-niệm nầy)

SỰ NHỤC HÓA

ẤN-ĐỘ GIÁO

CƠ-ĐỐC GIÁO

1. Thượng-Đế giáng trần.

X

X

2. Tạo sự liên-hệ giữa con người và Thượng-Đế.

X

X

3. Sự mặc-khải trọn-vẹn về Thượng-Đế cho con người.

X

X

4. Sự cải trang của thần-linh.

X

X

5. Hoàn thành một sứ-mạng mà con người không thể làm được.

X

X

6. Bày tỏ quyền-năng thiêng-liêng.

X

X

7. Thể hiện những hành động thương-xót.

X

X

8. Ban sự cứu-rỗi cho người công-bình.

X

X

9. Ban sự cứu-rỗi cho người gian ác.


X

10. Tính-chất đặc biệt của sự-kiện.


X

11. Tính chất phổ quát của sự-kiện.



12. Thực tế lịch-sử rõ ràng.



13. Tầm quan-trọng có tính chất thần thoại.



Người Ấn-độ giáo cho rằng Vishnu, Thượng-Đế tối-cao đã nhục hóa 10 lần, 9 lần xảy ra, 1 lần chưa xảy ra. 9 lần đó là: Cá (Matsya), rùa (Kaorma), Heo rừng (varaha) Nhân sư (Narasimha), Người lùn (Vamana), Parasu Rama, Rama, Krishna và Phật Thích-ca. Đấng sẽ đến là Khatgi (một nhân vật vào thời sau rốt có một thanh gươm).

Trong những hình thức nhục hóa của các vị thần Ấn-độ giáo nầy, bạn có thể thấy môt sự tiến hóa từ cá đến những thực thể siêu nhiên.

40. Trong những câu sau, câu nào là đúng? Theo Gita, những biên nhận của một người Ấn-độ giáo là những điều mà:

a) người cha quy định cho.

b) người đó cho là tốt nhất đối với mình.

c) do đẳng cấp quy định

d) nhà nước đòi hỏi.


Chú ý: Ngày hôm nay nhiệm-vụ của một người Ấn-độ giáo không phải được quyết định hoàn toàn bởi đẳng cấp nhưng một phần bởi học thức và sở thích. Đẳng cấp Brahmin vẫn tiếp tục là những thầy tư-tế nhưng trong nhiều vùng ở Ấn-độ, lời tuyên-bố độc quyền của đẳng cấp Kshatriya (chiến sĩ) không còn thích hợp nữa. Bất cứ ai trong nước Ấn-độ hiện đại điều có thể gia nhập quân đội, làm nghề nông, thương gia hoặc người lao động.

41. Hume nói rằng: “thế kỷ 20 đã chứng-kiến sự sụp đổ dần dần của hệ-thống đẳng cấp ở Ấn-độ” (32) Theo quan điểm ủng hộ hệ-thống đẳng cấp trong tất cả các thánh thư của Ấn-độ giáo mà chúng ta đã nghiên-cứu (kể cả Bhagavad Gita trong phần nầy) bạn giải thích như thế nào về sự sụp đổ của hệ-thống đẳng cấp trong thời đại chúng ta?

Tóm lại, chúng ta hãy nhất mạnh đến 3 đặc điểm của Bhagavad Gita mà đã làm cho nhiều người coi-trọng nó.

1. Sự hình thành một tôn-giáo thuộc Ấn-độ giáo mới là con đường tu-dưỡng đạo tâm (tận hiến).

2. Mô tả sự hiện diện của thần-linh tối cao trong hình thể của một con người cụ thể

3. Giải thích sự cứu-rỗi qua sự tu-dưỡng đạo tâm của cá nhân đối với vị thần-linh thực hữu


Mục tiêu: Thảo luận về tính-chất keo kết của sự phổ cập của Ấn-độ giáo.


Thời kỳ phổ cập.

(Hume 31-33).

Cattell nói rằng “Nói một cách khác quát, có 2 loại Ấn-độ giáo nổi bật, một loại tiềm ẩn trong sự phát triển thánh thư và một loại bộc lộ rõ trong hoàn cảnh ngày nay. Một loại mang tính phổ biến và một loại mang tính triết-lý” (194) Ấn-độ giáo phổ cập được xây dựng trên những giáo-lý về triết-học của Ấn-độ giáo một hùng ca và truyền-thuyết cổ là “phương-tiện văn chương có hiệu quả nhất trong việc phổ cập hóa Ấn-độ giáo” (Hume 31)

42. Trả lời những câu hỏi nầy dựa trên Hume 31-32.

a) Cho biết tên 2 bản anh hùng ca lớn của Ấn-độ giáo

b) Purana là gì?

c) Tại sao Ấn-độ giáo phổ cập được gọi là “một khối liên kết to lớn”

43. Câu nào trong những câu sau là không đúng? Ấn-độ giáo phổ cập:

a) là tôn-giáo của quần chúng.

b) có tính-chất triết-lý sâu sắc.

c) liên quan đến sự thờ-phượng thông qua các hình-tượng và biểu-tượng thuộc về nghi lễ.

d) có vô số đền thờ và nơi thờ-phượng.

e) được phổ cập hóa thông qua những kỳ lễ thánh.

Theo phản ứng của Shinde về chủ-đề “Lý thuyết về phép thuật và tôn-giáo”, ông nói: “trong phần nghiên-cứu Ấn-độ giáo phổ cập chúng tôi đang . . . . đề-cập đến sự liên kết phép thuật và tôn-giáo ở mức-đô của các lỳ lễ, các ngày hội và những khủng hoảng lớn trong đời sống” (18) Phép thuật đóng một vai trò nổi bật trong tôn-giáo theo thuyết vạn vật hữu-linh Hume tuyên-bố rằng tôn-giáo của đẳng cấo thấp nhất trong Ấn-độ giáo “hầu như theo thuyết vạn vật hữu-linh đã thịnh hành trong Ấn-độ giáo phổ cập” ( 33) Ông kết thúc danh sách nầy bằng “những câu thần chú”, một danh từ được định nghĩa trong văn mạch nầy là “những hành động hoặc sự diễn đạt được cho là có phép thuật”

44. Trong những yếu-tố dưới đây, yếu-tố nào mô-tả đúng nhất thuyết vạn vật hữu-linh trong Ấn-độ giáo.

a) thờ-phượng hình-tượng.

b) tuân giữ những điều cấm kỵ chi-tiết của tôn-giáo.

c) sợ các tà-linh.

d) tin thuật chiêm-tinh và cái nhìn độc địa.

e) tất cả những điều trên.

45. Bạn cho rằng điều gì là phương-tiện tốt nhất để truyền-bá lẽ-thật tôn-giáo cho quần chúng thuộc Ấn-độ giáo?


NHIỆM-VỤ: Lập một biểu-đồ theo như nhiệm-vụ số 5 trong bản liệt kê những nhiệm-vụ đầu bài học nầy . Đây là mẫu đã điên rồ cho giai đoạn đầu tiên của biểu đồ nầy để giúp bạn hiểu cách làm (biểu đồ 5.3)


NHIỆM-VỤ KHÔNG BẮT BUỘC: Nếu có thể được, hãy hoàn thành nhiệm-vụ 6 trong bản liệt kê các nhiệm-vụ ở đầu bài học nầy. Đây là một số câu hỏi mà bạn có thể hỏi trong bức thư hoặc cuộc nói chuyện của bạn.

1. Những bổn-phận tôn-giáo mà bạn phải thể hiện là gì?

2. Tại sao bạn phải thể hiện những bổn-phận đó?

3. Thượng-Đế của bạn là ai?

4. Tôn-giáo của bạn dạy gì về sự sống và sự chết?

Hãy thường xuyên viết thư và nói chuyện với hy vọng là cuối cùng bạn cũng sẽ dẫn được thính-giả của mình đến với Đức Chúa Trời qua con đường ân-điển của Cơ-đốc giáo.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page