top of page

Phần 2: Nền-Tảng Của Hồi-Giáo Và Lịch-Sử Thời Cận Đại.

HungT

Jan 28, 2026

Tác giả: Thomas F.Harrison.



CÁC TÔN GIÁO Ở TÂY Á


Nền-Tảng Của Hồi-Giáo Và Lịch-Sử Thời Cận Đại


Mục đích:

Mục đích bài học này nhằm trình-bày những giáo-lý và các nguyên-tắc sống đạo căn-bản trong Hồi-giáo cũng như trình-bày lịch-sử của Hồi-giáo. Chúng tôi tin rằng điều nầy sẽ giúp các bạn có khả năng đánh giá đúng đắn hơn ưu điểm và khuyết điểm của Hồi-giáo. Ước mong bạn sẽ có được tình yêu rộng rãi hơn đối với người Hồi-giáo và cầu-nguyện nhiều hơn cho họ.


Dàn bài:

-Quan-niệm về Đấng tối-cao.

-Những niềm tin căn-bản của Hồi-giáo.

-Những bổn-phận chính yếu của Hồi-giáo.

-Lịch-sử Hồi-giáo.

-Kế-hoạch chính trị.

-Các giáo-phái.

-Những khuynh hướng hiện nay của Hồi-giáo.

-Đánh giá.


Các mục tiêu của bài học.

Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể:

-So sánh các khái-niệm về Đấng tối cao trong Hồi-giáo và Cơ-đốc giáo

-Định nghĩa và giải thích các niềm tin căn-bản của Hồi-giáo.

-Mô-tả các bổn-phận chính yếu của Hồi-giáo.

-rình-bày nguyên nhân và các yếu-tố dẫn đến sự phân chia thành các bè nhóm chính trị trong Hồi-giáo.

-Nêu lên vấn-đề quan-trọng nhất mà Hồi-giáo phải đối diện trong thế giới hiện đại.

-Đánh giá Hồi-giáo về phương diện thích hợp đối với thời đại, về cái nhìn đối với thế giới và về tính thích hợp của nó.


Các sinh hoạt học tập:

1. Nghiên-cứu dàn bài, mục đích và các mục tiêu.

2. Khảo-sát những từ ngữ quan-trọng, tìm hiểu ý nghĩa của những từ mà bạn chưa biết.

3. Đọc trang 231-244 trong sách giáo khoa.

4. Nghiên-cứu phần triển khai bài học, trả lời các câu hỏi và so sánh các câu trả lời với phần giải đáp.

5. Viết một bài ngắn bày-tỏ quan-điểm của bạn đối với sự đánh giá của Hume về Hồi-giáo.


Từ ngữ quan trọng:

Trái với tự nhiên

Có ích lợi

Không dễ hiểu

Tràng hạt (xâu chuỗi)

tình trạng phạm tội

giàu có

ghê gớm

tháp

văn phòng của vị Caliph

huyền bí

nghiên cứu


Triển khai bài học.

Mục tiêu: So sánh khái-niệm về Đấng tối-cao trong Hồi-giáo và Cơ-đốc giáo


Khái-niệm về Đấng Tối-Cao

(Hume 231-233)

Trước thời đại của Mohammed, người Ả-rập tin rằng có nhiều thần và Allah là một trong những thần-linh đó. Ý niệm về Allah tương tự như ý niệm về Elohim của người Do-Thái tức là Đấng tối-cao. Mohammed tuyên-bố rằng chỉ có Allah là Đức Chúa Trời. Niềm tin căn-bản này là một phần trong lời tuyên-xưng lặp lại nhiều lần của người tín-đồ Hồi-giáo: “Chỉ có một Đức Chúa Trời là Allah và Mohammed là tiên-tri của Ngài.”

1. Trong số những phát biểu dưới đây phát biểu nào phù hợp với quan-niệm của Mohammed về Đức Chúa Trời? Allah là:

a) Đấng cao-trọng hơn tất cả các thần.

b) Cha của cả nhân-loại.

c) Một nguyên-lý chứ không phải là một thân-vị.

d) Không phải là tất cả các điều trên.

Người Hồi-giáo tin rằng sự hiện hữu của Đức Chúa Trời loại bỏ mọi ý niệm về Ba ngôi Đức Chúa Trời của Cơ-đốc giáo. Người Hồi-giáo đã hiểu lầm giáo-lý Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Họ cho rằng quan-niệm về Ba Ngôi đã phủ nhận sự hiệp-một của Đức Chúa Trời bởi vì giáo-lý đó gợi ý rằng Đức Chúa Trời gồm Ba Ngôi vị.

2. Điều chúng ta vừa nói đến ở trên cho thấy rằng người Hồi-giáo tố-cáo các Cơ-đốc nhân tin tưởng vào

a) Giáo-lý độc thần.

b) Giáo-lý đa thần

c) Giáo-lý phiến thần

d) Giáo-lý tin vào một nguyên-lý tuyệt đối duy nhất.

e) Giáo-lý tin vào một vị thần trong một thời điểm.

Ý tưởng về Đức Chúa Trời có một người con là không thể chấp nhận đối với người Hồi-giáo bởi vì họ cho rằng như thế sẽ hạ thấp Đấng Toàn Năng xuống ngang hàng với con người.

Tín-đồ Hồi-giáo không hiểu rằng các Cơ-đốc nhân cũng dứt khoát nhấn mạnh tính duy nhất của Đức Chúa Trời với tư cách là một Đấng Tối cao, vĩnh cửu đã bày-tỏ chính Ngài qua Ba thân-vị. Quan-điểm của Cơ-đốc nhân tin rằng Đức Chúa Trời là một với Ba thân-vị và Ba thân-vị hiệp lại làm một Đức Chúa Trời.

Câu hỏi: “Làm thế nào chúng ta có thể biết về Đức Chúa Trời hầu có thể mô-tả các đặc tính của Ngài một cách đúng đắn?” là vấn-đề quan-trọng đối với việc so sánh ở đây.

3. Quan-niệm Cơ đốc giáo nào về Đức Chúa Trời dưới đây là không thể chấp nhận đối với Hồi giáo?

a) Chúa Jêsus là con Đức Chúa Trời.

b) Đức Chúa Trời là Cha thiêng-thượng của chúng ta.,

c) Đức Chúa trời trở thành con người và sống giữa con người.

d) Tất cả những điều trên.

Mohammed mô-tả Đức Chúa Trời qua sự khải-thị cá nhân của ông về Đức Chúa Trời. Còn các Cơ-đốc nhân xác nhận rằng chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus Christ là Đấng đã đến để bày-tỏ về Đức Chúa Trời và về chính Ngài như là con của Đức Chúa Trời. Các Cơ-đốc nhân không tuyên-bố rằng họ biết Đức Chúa Trời qua sự phỏng đoán dựa vào các phân tích khoa-học nhưng là nhờ sự khải-thị của Đức Thánh Linh (GiGa 14:26)

Lời làm-chứng của Đấng Christ đem lại sự hiểu biết đúng đắn nhất về Đức Chúa Trời bởi vì chỉ có Ngài có thể tuyên-bố và chứng-minh rằng Ngài đến từ Đức Chúa Trời.

4. Dưới đây là 4 quan-niệm của Cơ-đốc nhân về Đức Chúa Trời. Không phải tất cả quan-niệm này đều được người Hồi-giáo chấp nhận. Bạn hãy sắp xếp những quan-niệm này theo thứ tự mà bạn sẽ trình-bày và giải thích để thuyết phục người hồi-giáo tin vào Đấng Christ.

..a. 1) Một ý tưởng về Đức Chúa Trời ở với chúng ta và trong chúng ta.

..b. 2) Ba ngôi Đức Chúa Trời Hiệp một.

..c. 3) Ý niệm về Đức Chúa Trời xa cách chúng ta.

..d. 4) Sự duy nhất của Đức Chúa Trời.

5. Câu trả lời của chúng ta trong bài tập trên đã đặt ra mối liên-hệ như thế nào giữa những điều người tín-đồ Hồi-giáo tin tưởng với những điều mà họ không tin tưởng? Viết câu trả lời của bạn trong sổ ghi chép.

Ghi chú: Bạn hãy nghiên-cứu kỹ danh sách 6 đặc tính thần-học của Allah theo quan-điểm của người Hồi-giáo.

Hồi-giáo có những điểm không cân bằng về khái-niệm quyền năng vĩ đại và sự siêu-việt của Thượng Đế:

1) Hồi-giáo nhấn mạnh quyền-năng của Thượng đế đến nỗi sẵn sàng hy-sinh đức tính nhân-từ và yêu thương của mình,

2) Họ nhấn mạnh tính siêu việt của Thượng Đế và bỏ qua đặc tính hiện diện khắp mọi nơi của Ngài .

6. Trong khái-niệm dưới đây, khái-niệm nào hoàn toàn khác với khái-niệm của người Hồi-giáo về Thượng đế?

a) Quyền-năng.

b) Thương-xót.

c) Mặc lấy thân xác con người.

d) Tha-thứ.

e) Báo thù.

f) Yêu-thương.

7. Nếu bản liệt kê của Hume về những câu trưng dẫn trong Kinh Koran nói đến những người được Allah yêu thương là chưa đầy đủ thì có nghĩa rằng Allah không yêu thương những người

a) Bị hư-mất trong tội-lỗi.

b) Làm điều thiện.

c) Tin theo Mohammed.

d) Tin và hành động đúng đắn.

e) Chiến đấu vì chánh nghĩa của Allah.

Quan-niệm Hồi giáo về mối liên-hệ giữa Thượng đế và những tạo vật của Ngài cho thấy rõ mầu sắc của chủ nghĩa định mệnh. Hồi-giáo dạy rõ rằng những biến-cố liên-quan đến vận mệnh con người đã được Allah an bài từ trước trong một cách thức mà con người không thể thay đổi được. Anderson cho rằng: “Trong quá khứ thuyết định mệnh này đã đóng một vai trò to lớn trong đời sống hàng ngày của hàng triệu tín-đồ Hồi-giáo” ( trang 118).

8. Ông Hume nói đến một quan-niệm Hồi-giáo về đặc tính của Thượng đế thường được nhắc đến trong Kinh Koran thể hiện một khía cạnh quan-trọng trong cách thức mà Thượng đế an-bày từ trước những biến-cố xảy ra. Đặc tính đó là gì?

...............................................................................................................................


Mục tiêu: Xác định và giải thích những niềm tin căn-bản của Hồi-giáo .


Những niềm tin căn-bản của Hồi-Giáo.

(Hume 23.3-23.6)

Niềm tin thứ nhất là giáo-lý về thuyết độc thần. Vì chúng ta đã nói về điều nầy rồi nên chúng ta sẽ bước sang Niềm tin thứ hai: tin vào các thiên-sứ.

Hồi-giáo chính thống tin vào 4 thiên-sứ chính: Jibril hay Gabriel, là vị thiên-sứ của sự khải-thị và được gọi là Thánh Linh; Mikail hay Michel, Đấng bảo vệ người Do-Thái, Israfil, Đấng kêu-gọi đến sự sống lại và Izrail, vị Thiên-sứ của sự chết.

9. Jinn là tên của một nhóm linh vừa tốt vừa xấu. Hume đã nói gì liên-quan đến mối liên-hệ giữa vị trí của các linh này với vị trí của loài người và các thiên-sứ?

Những người Hồi-giáo tin Jinn thường xuất hiện như các thú vật, loài bò sát hoặc trong hình dạng con người. Một người có thể bị linh Jinn ám ảnh và chỉ được giải cứu bởi việc đuổi quỷ. Ma quỷ là một trong các linh Jinn. Nó được gọi là Shaitin và thường được xem là một tạo vật đã sa ngã vì không vâng-phục Đức Chúa Trời. Nó là đứa cám-dỗ nhân loại và là tổ-tiên của tất cả các tà linh.

...............................................................................................................................

10. Theo niềm tin của Hồi-giáo thì điều nào trong những điều sau đây không phải là vai trò của các thiên-sứ.

a) Cầu thay cho loài người được tha-thứ.

b) Hộ vệ ngai của Allah.

c) Thiên-sứ của sự chết.

d) Đấng tuyên-bố sự sống lại.

e) Người canh giữ địa-ngục

f) Người trung gian giữa Allah và Satan.

Niềm tin căn-bản thứ ba của Hồi-giáo là niềm tin vào Kinh Koran. Người Hồi-giáo tin rằng Kinh Koran được Allah đọc cho Mohammed viết lại từ một bản Kinh nguyên thủy hiện vẫn còn giữ trên trời.

11. Trong những Kinh điển sau đây Kinh điển nào được cho là không được Allah ban xuống theo như niềm tin Hồi-giáo?

a) Kinh Torah của Do-Thái.

b) Kinh Vedas.

c) Kinh Zabur.

d) Kinh Injil.

Niềm tin căn-bản thứ tư của Hồi-giáo là niềm tin vào các đấng tiên-tri của Đấng Allah. Bạn sẽ nhận thấy rằng hầu như tất cả các tiên-tri của Hồi-giáo đều là các nhân vật trong Kinh Thánh. Một số trong những người nầy được Kinh Thánh gọi là tiên-tri nhưng một số khác không được gọi là tiên-tri.

12. Hãy nêu lên một nhân vật không được nhắc đến trong Kinh thánh nhưng cũng được người Hồi-giáo gọi là tiên-tri của Allah cùng với Mohammed.

...............................................................................................................................

13. Câu nào trong những câu dưới đây không phù hợp với niềm tin của Hồi-giáo? Mohammed

a) Là tiên-tri vĩ đại nhất trong các tiên-tri.

b) Là tiên-tri cuối cùng.

c) được Chúa Jêsus làm-chứng cho.

d) Giữ chìa khóa của địa-ngục và thiên-đàng.

Niềm tin thứ năm của Hồi giáo là niềm tin vào sự phán-xét, Thiên-đàng và địa-ngục. Ngày vĩ đại của sự sống lại và phán-xét là hình ảnh nổi bật trong Kinh Koran. Anderson đề-cập đến ngày trọng đại đó “như ngày cuối cùng” và mô-tả như sau:

Tất cả mọi người đều sẽ sống lại; các cuốn sách ghi chép bởi các thiên-sứ sẽ được mở ra và Đức Chúa Trời với tư cách là vị quan án sẽ dùng cân để cân đo công việc của mỗi người. Một số người sẽ được vào thiên-đàng, ở đó họ sẽ được ngồi trên những ghế êm ái và uống rượu ban cho họ bởi thần Huris, tức là các tôi-tớ của thiên-đàng mà con người có thể cưới làm vợ bao nhiêu tùy thích, còn những người khác sẽ bị giam trong địa-ngục. Hầu như tất cả mọi người sẽ phải ở trong lửa một thời gian tuy nhiên không một người Hồi-giáo chân-chính nào sẽ phải ở trong lửa mãi mãi.

14. Trong những câu dưới đây câu nào không trình-bày niềm tin của Hồi-giáo về địa-ngục? Những người gian ác không tin-kính sẽ:

a) bị giam trong địa-ngục có lửa cháy phừng phừng.

b) bị thiêu đốt trong địa-ngục.

c) được ra khỏi địa-ngục sau một ngàn năm.

d) Sẽ ở trong địa-ngục trong tình trạng nửa sống nửa chết.

Quan-niệm của Cơ-đốc giáo về đời sống sau cõi chết nhấn mạnh sự vui mừng thuộc-linh hơn quan-niệm của Hồi-giáo. Quan-niệm của Hồi-giáo nhấn mạnh nhiều vào sự khoái lạc của các cảm giác. Sự khác biệt này được thấy rõ qua hình ảnh tương phản giữa điều Chúa Jêsus dạy về sự sống đời sau so với những giáo-lý của Hồi-giáo về sự khoái lạc của tình trạng cưới nhiều vợ được dành cho người công-chính trên thiên-đàng. Chúa Jêsus dạy rằng sau khi sống lại, người công bình sẽ “không cưới gả, nhưng sẽ như các thiên-sứ của Đức Chúa Trời trên thiên-đàng” (Mat Mt 22:30).

15. Hãy nêu lên 2 điều mà Mohammed luôn luôn nhấn mạnh từ đầu đến cuối sự dạy dỗ của ông.

...............................................................................................................................

Niềm tin thứ sáu của Hồi-giáo là niềm tin vào các sắc lệnh của Thượng-Đế. Liên quan đến các sắc-lệnh này người Hồi-giáo nghĩ rằng Allah đã tiền đinh cho mỗi người có đức-tin hay không có đức-tin, có tấm lòng thiện hay ác, thiên-đàng hay địa-ngục, tình yêu thương và sự ghen ghét, sự nghèo khó và sự thịnh vượng. Đặc tính hoàn toàn tùy tiện và không chịu trách nhiệm mà người Hồi-giáo gán cho Allah trong việc Allah quyết định những điều thuộc-linh đã khiến cho thuyết tiền định nổi bật trong Hồi-giáo. Thuyết tiền định của Hồi-giáo là nguyên nhân của nhiều nỗi đau khổ trong hàng triệu gia đình Hồi-giáo khắp nơi.

16. Theo Hồi-giáo thì các sắc lệnh thiêng-thượng đã tiền định những điều như sau

a) mọi người đều có thể chọn lựa rằng sự cứu-rỗi

b) Việc con người quyết định hành động của họ hoàn toàn không thể có được.

c) số phận của con người tùy thuộc phần nào vào sự lựa chọn của họ.

d) số phận của con người tùy thuộc vào sự đáp ứng của con người đối với sự mặc-khải của thượng đế.


Mục tiêu: Mô-tả những bổn-phận chính yếu của người Hồi-giáo .


Những bổn-phận chính yếu của người Hồi-Giáo.

(Hume: 236-238)

Các bổn-phận của người Hồi-giáo được trình-bày qua kiến-trúc của các đền thờ Hồi-giáo. Cả Hume và Anderson đều nhận định rằng các bổn-phận chính yếu của người Hồi-giáo được gọi là 5 cột trụ của Hồi-giáo . Chúng ta có thể nói rằng các niềm tin của người Hồi-giáo là nền-tảng triết-lý của người Hồi-giáo và các bổn-phận của Hồi-giáo là các nền-tảng thực hành của Hồi-giáo.

17. Năm cột trụ của Hồi-giáo bao gồm tất cả những điều sau ngoại trừ:

a) việc nhắc lại bài tín-điều.

b) Cầu-nguyện mỗi ngày.

c) Cúng dường.

d) Giữ ngày Sa-bát.

e) Hành hương đến Mecca.

Các tác-giả liệt kê các bổn-phận của người Hồi-giáo theo thứ tự khác nhau. Hume liệt kê việc nhắc lại bản tín-điều đầu tiên. Anderson cho rằng tín-điều Hồi-giáo là “bài tín-điều ngắn nhất trên thế giới”. Dầu vậy bài tín điều nầy không hề được thấy nguyện văn trong Kinh Koran.

Chú thích: Hãy học thuộc bản tín-điều Hồi-giáo và làm sao để có thể viết lại bài tín-điều đó trong bài thi nếu bạn được yêu cầu.

18. Việc lặp lại bản tín-điều của Hồi-giáo có ý nghĩa gì đối với người Hồi-giáo?

...............................................................................................................................

Cầu-nguyện là bổn-phận chính yếu thứ nhì của Hồi-giáo. Anderson nhận xét rằng việc cầu-nguyện này có đặc tính nghi thức cả về hình thức phát biểu bằng tiếng Ả-rập và cả về tư thế cầu-nguyện. Miller ghi nhận rằng một số người Hồi-giáo đến đền thờ để cầu-nguyện nhưng đa số những người khác cầu-nguyện ở những nơi chốn khác.

19. Việc cầu-nguyện của người Hồi-giáo có tính chất:

a) lặp đi lặp lại 5 lần mỗi ngày

b) hướng về Thiên-đàng

c) Được tuyên-bố nhân danh của đấng tiên-tri.

d) Tất cả những điều trên.

Việc cúng dường là nhiệm-vụ kế tiếp của người Hồi-giáo. Cả Anderson lẫn Miller đều nhấn mạnh bản-chất tốt đẹp của nhiệm-vụ này nhưng cũng cho rằng việc nầy khuyến-khích việc khất thực là điều không được hoan nghênh.

20. Trong những câu dưới đây câu nào mô-tả đúng khía cạnh của “Zakat.”

a) Một phần mười lợi tức được dâng cho thầy tế-lễ.

b) Một khoảng thuế được trả cho chính phủ Hồi-giáo.

c) Một phần dâng hiến cho đền thờ.

d) Một phần dâng hiến cho các người trong gia đình và người nghèo.

Kiêng ăn trong tháng Ramađan là bổn-phận thứ tư của người Hồi-giáo. Ramađan là tháng thứ chín trong lịch Hồi-giáo. Mọi người Hồi-giáo ngoại trừ người bịnh, người lữ hành, đàn bà mang thai hoặc cho con bú và trẻ em đều phải kiêng ăn từ sáng đến chiều tối trong tháng Ramađan. Trong thời kỳ kiêng ăn người Hồi-giáo chỉ ăn vào ban đêm. Việc kiêng ăn bao gồm tránh dùng tất cả các loại lương thực, nước uống, hút thuốc và cả việc quan-hệ vợ chồng.


Ghi chú: Miller cho biết rằng vì lịch Hồi-giáo căn cứ vào mặt trăng nên tháng Ramađan mỗi năm đều khác nhau so với lịch tây phương.

21. Tất cả các kỳ kiêng ăn khác trong Hồi-giáo đều giống nhau ở một điểm quan-trọng và là điểm khác với kỳ kiêng ăn trong tháng Ramađan. Đó là điểm nào?

Hành hương tới Mecca được Hume nhắc đến sau cùng trong các bổn-phận cột trụ của Hồi-giáo. Có vẻ như bởi vì những phong trào chính trị và tôn-giáo trong Hồi-giáo thường coi đây là một địa điểm tập trung để bày-tỏ sự chống đối chủ nghĩa thực dân Tây phương nên càng ngày càng có nhiều quan chức của các quốc gia Hồi-giáo đến hành hương ở đây. Hume ghi nhận rằng: “trong năm vừa qua, có hai trăm người đã đến hành hương ở Mecca”.

22. Trong những câu dưới đây liên-quan đến việc hành hương Mecca câu nào không đúng với nhận định của Hume?

a) Những người hành hương phải đi bộ chung quanh đền thờ Hồi-giáo.

b) Người hành hương phải bưng bức tượng Kaaba.

c) Những người Hồi-giáo không thể đến được Mecca có thể hưởng lợi ích qua việc giúp đỡ người khác hành hương đến Mecca.

d) Những người không đến đến được Mecca có thể đến viếng một ngôi đền Hồi-giáo ở gần đó.

Ngoài 5 bổn-phận kể trên còn một bổn-phận tôn-giáo nữa của người Hồi-giáo được gọi là Jihad hay còn gọi là thánh chiến. Mọi người Hồi-giáo nam giới đến tuổi trưởng thành đều phải hưởng ứng lời kêu-gọi thánh chiến chống lại những người không theo Hồi-giáo. Người tử trận trong cuộc thánh chiến được kể là người tuận-đạo và chắc chắn vào thiên-đàng. Người Hồi giáo chủ trương dùng thanh gươm để bắt-phục những người thờ-lạy hình-tượng và theo đa thần giáo. Nhưng các Cơ-đốc nhân và người Do-thái tức là những người được gọi là “dân-tộc thuộc về sách Kinh thánh” Được cho phép lựa chọn giữa việc theo Hồi-giáo hoặc dâng tiền để tỏ-lòng quy phục.


Lịch-sử của Hồi-Giáo

(Hume 238-243)

Trong bài 2 chúng ta đã nói đến lịch-sử thời ban đầu của Hồi-giáo cùng với lịch-sử của Mohammed. Hume bắt đầu lịch-sử của Hồi-giáo bằng cách bình luận ngắn gọn về thời đại 28 năm (632-660 sau công nguyên) trong lịch-sử Hồi-giáo giữa việc qua đời của Mohammed với cái chết của Alli, vị thủ lãnh thứ tư và là người kế-vị của Mohammed.

23. Ghép tên của các vị lãnh đạo kế vị Mohammed với những câu phát biểu về lãnh tụ đó hoặc về triều đại cai-trị của người đó.

...a. Abu bekr.

...b. Omar.

...c. Othman.

...d. Ali.

1) Ra lịnh thu thập những lời phán dạy của Mohammed.

2) Thời đại cai-trị của ông dẫn đến việc chia rẽ vĩnh viễn trong Hồi-giáo.

3) Chiến thắng Syria và Persia

4) Ra lịnh nhuận chánh lại Kinh Koran.


Mục tiêu: Ghi nhận những nguyên nhân và biến-cố dẫn đến việc chia-rẽ chính trị trong Hồi-giáo .


Các bè phái chính trị.

(Hume 239)

Cộng đồng mà Mohammed thiết lập cũng giống như nhà nước Do-Thái, đó là nhà nước theo chế độ thần-quyền. Chế độ thần-quyền có nghĩa là chế độ cai-trị bởi Đức Chúa Trời hoặc cũng có nghĩa “cai-trị bởi luật-pháp do Đức Chúa Trời mặc-khải”. Chẳng bao lâu sau khi Mohammed qua đời, Hồi-giáo đã chia ra thành những giáo-phái khác nhau vì thiếu sự việc hướng dẫn rõ ràng liên-quan đến sự kế thừa quyền hành. Các lãnh tụ Hồi-giáo nổi lên xưng vương và gây chiến với nhau. Vấn-đề quyền cai-trị đã là nguyên nhân chính gây nên chia rẽ và đổ máu hơn bất cứ vấn-đề nào khác trong Hồi-giáo.

24. Biến-cố nào đã đánh dấu việc bắt đầu có những phe phái chính trị trong Hồi-giáo?

.............................................................


Mục tiêu: Ghi nhận những biến-cố dẫn đến việc hình thành các giáo-phái trong Hồi-giáo


Các giáo-phái trong Hồi-giáo

(Hume 239-243)

Trong thời kỳ lãnh đạo của Ali đã xảy ra một cuộc cách mạng chính trị tổ chức bởi hai người bạn của ông là Talha và Zubayr. Hai người này được sự ủng hộ của vợ góa của Mohammed là Aisha. Mười ngàn người Hồi-giáo đã bỏ mạng trong cuộc chiến Camel. Biến cố này đã đánh dấu việc khởi đầu của sự chia-rẽ dẫn đến việc hình thành 2 giáo-phái Hồi-giáo là Sunny và Shia.

25. Trong những câu sau đây liên quan đến giáo-phái Sunny, câu nào không đúng?

a) Sunny nhấn mạnh đến “ Đạo”.

b) Sunny là những người có khuynh hướng giữ các truyền-thống.

c) Sunny là những người đi theo Ali

d) Những người Hồi-giáo ở Thổ nhĩ kỳ phần lớn thuộc phái Sunny

e) Giáo-phái Sunny là giáo phái lớn và chính thống của Hồi-giáo.

Từ ngữ “Imam được những người Shia dùng để gọi vị lãnh tụ của cộng đồng Hồi-giáo. Họ cho rằng Iman là người được Đức Chúa Trời tấn-phong. Văn phòng của Imman được gọi là “Imamate.”. Imamate cũng tương tự như Caliphate, tức là văn phòng của Caliph. Người điều khiển chương trình thờ-phượng ngày thứ sáu tại đền thờ Hồi-giáo còn gọi là “Imamante“

Imamante”: Người này cũng thi hành những chức-vụ tư tế khác như cử hành lễ thành-hôn, lễ cắt-bì và lễ an táng.

26. Trong những câu dưới đây liên-quan đến Hồi-giáo Shia câu nào không đúng? Hồi-giáo Shia:

a) có huynh hướng tự-do.

b) chịu ảnh hưởng nhiều của phật-giáo.

c) là những người theo lãnh tụ Ali, người kế thừa thứ tư của Mohamme.

d) đa số sinh sống ở Persia và Phi châu.

e) Là những người tôn kính Hasan và Husein.

Những người Hồi-giáo Shia tin rằng vị Imamam thứ 12 đã biến mất nhưng sẽ trở lại một lần nữa. Việc trông đợi nầy đã dẫn đến 2 phong trào nổi tiến đương thời đó là phong trào Bahai và phong trào Ahmadiyya. Cả hai đều chứa đựng một mức độ hòa đồng tôn-giáo nhất định.

27. Trả lời những câu hỏi sau đây liên-quan đến phong trào Bahai.

a. Người nào khởi xướng phong trào được biết đến như phong trào Bahai?

...............................................................................................................................

b. Sự dạy dỗ của hai người nào đã tạo nên nền-tảng kinh điển của Phong trào bahai?

...............................................................................................................................

Phong trào Ba hai được thành lập tại Persia (hiện nay là Iran) vào khoảng giữa thế kỷ thứ XIX. Mặc dầu phong trào này xuất hiện như một nhánh của Hồi-giáo nhưng hiện nay nó được thiết lập tại các quốc gia phương tây và tự xem như là một tôn-giáo mới của thế giới. Phong trào Ba hai tin vào bản-chất tốt đẹp của mọi tôn-giáo, dạy dỗ về sự bình-đẳng chủng-tộc và việc nam nữ bình-quyền.

28. Căn cứ vào sự trình-bày về đạo Ba hai trong sách giáo khoa, những điều nào mà bạn nghĩ rằng một người giảng đạo Bà hai sẽ tránh né khi người đó giảng tại một đại học phương tây?

a) Trưng dẫn Kinh thánh.

b) Phản đối giáo-hội

c) từ chối thần-tánh của Đấng Christ.

d) Phản đối thuyết Krishnaism (sự thờ-phượng theo Ấn-độ giáo).

e) Trưng dẫn Kinh Koran và Kinh Vedas.

Phong trào Ahmadiyya xuất phát từ miền tây Bắc Ấn-độ trong nửa sau của thế kỷ thứ XIX Đấng Mê-si-a của phong trào này tự nhận rằng không những là lãnh tụ Imam của giáo-phái Hồi-giáo Shia nhưng còn là những lãnh đạo mà các tôn-giáo khác trên thế giới đang trông mong.

29. Trong bài học một chúng ta đã nói đến khía cạnh truyền-giáo của Hồi-giáo nhận định rằng Hồi-giáo là một trong 3 tôn-giáo có mục đích truyền-giáo khắp thế giới. Sách giáo khoa của bạn so sánh như thế nào giữa chương trình truyền-giáo của phong trào Ahmadiyya và của các nhóm Hồi-giáo khác?

...............................................................................................................................

...............................................................................................................................

Khuynh hướng huyền-bí trong Hồi-giáo được gọi là “Sufism”. Một người theo khuynh hướng huyền-bí thường cố gắng để có được những từng-trải thuộc-linh sâu xa bằng cách áp-dụng một nếp sống khép mình vào kỷ luật. Một số người sống trong rừng hoặc trong những hang đá cô tịnh. Khuynh hướng huyền-bí có thể mặc lấy hình thức của chủ nghĩa khắc kỷ (khổ hạnh) và xa lánh trần tục.

Những người Hồi-giáo theo khuynh hướng huyền-bí được gọi là là “Sufsism” do y-phục mà họ mặc. “Sufism” là từ ngữ Ả-rập là để chỉ một loại vải len thô mà những người theo chủ trương huyền-bí đã mặc như là một dấu hiệu của sự ép xác.

30. Trong những điều dưới đây điều nào không phải là đặc-tính của người Susi?

a) Phần lớn họ sống ở Phi châu.

b) Đôi khi họ là những người khắc kỷ khổ hạnh

c) Họ ưa thích văn chương huyền bí.

d) Họ mong ước có được mối liên-hệ mật thiết với Thượng-Đế.

e) Họ cảm nhận rằng họ là sở hữu của Thượng-Đế.

31. Hume so sánh như thế nào giữa văn chương huyền bí của người Sofis với văn chương huyền-bí của các tôn-giáo khác?

32. Bạn có thể kể tên một người theo khuynh hướng huyền-bí trong tôn-giáo của bạn không? ............................................................................................................


Mục tiêu: Xác định vấn-đề quan-trọng nhất mà Hồi-giáo phải đối diện trong thế giới hiện nay .


Những khuynh hướng hiện tại của Hồi-Giáo.

(Hume 243)

Hume cho rằng: “Hồi-giáo cũng không tránh được số-phận chung của các tôn-giáo trong thời đại khoa-học tân tiến” Mọi tôn-giáo đã, đang hoặc sẽ bị thách đố trong việc duy trì tính-cách nhất-quán của đạo đức:

1. Trong việc thích nghi với tiêu-chuẩn sống vật chất tạo nên bởi khoa học kỷ thuật đương thời và 2. trong việc trả lời những câu hỏi liên-quan đến sự mặc-khải và thẩm-quyền của các Kinh điển do các nhà phê bình đương thời nêu lên.

Ghi chú: Một thách đố cụ thể đối với Hồi-giáo được nhấn mạnh qua việc so sánh giữa những khó khăn mà một đầu óc lý-luận đương thời phải đối diện khi chấp nhận toàn bộ Kinh Koran như là ngôn ngữ chính xác của Thượng-đế và với sự khó khăn mà một người có lương tâm đạo đức thức tỉnh phải đối diện khi chấp nhận cuộc đời của Mohammed như là một cuộc đời gương mẫu cho lối sống của con người (Anderson trang 130).

33. Vấn-đề quan-trọng mà Hồi-giáo phải đối diện hiện nay liên quan đến:

a) Việc hình thành nước Pakisban như là cộng đồng Hồi giáo lớn nhất trên thế giới.

b) Việc thiếu những nguồn lực kinh tế và thiếu nhiệt tình truyền-giáo.

c) Thẩm-quyền và sự khải-thị của Kinh Koran.

d) Vấn-đề tị-nạn ở vùng Trung đông.

e) Những nổ lực của Ai-cập nhằm thống nhất thế giới Hồi-giáo.


Mục tiêu: Đánh giá Hồi giáo dựa trên sự thích hợp đối với thời đại hiện nay, tính-chất phổ quát và tính-chất hợp lý .


Đánh giá.

(Hume 243-244)

Mohammed rất đúng trong sự hiểu biết của ông về Đức Chúa Trời như là Đấng tối-cao và tuyệt đối, là Đấng cai-trị cả thế giới và kiểm soát mọi sự việc. Một vũ-trụ vận hành trong sự hòa hợp thì không thể có nhiều hơn một vị Thượng-Đế được. Một vài truyền-thuyết nói đến sự hiện diện của nhiều vị thần đã cho thấy sự hỗn loạn và vô trật tự. Mohammed đã nhận ra rằng chính niềm tin vào nhiều vị thần-linh đã tạo nên sự mất trật tự và tranh cãi trong xã hội Ả-rập.

34. Hãy giải thích sự không nhất quán của việc người Hồi-giáo thờ-lạy Kaaba khi đối chiếu với giáo-lý độc thần của họ.

Mohammed tỏ ra đúng khi nhìn nhận rằng Thượng-Đế là Đấng có thân-vị. Sự hiện hữu của những con người có thân-vị chứng-tỏ rằng chỉ có một Thượng-Đế có thân-vị mới có thể dựng nên những con người như vậy. Nếu các tạo vật có thân-vị thì Đấng tạo hóa không thể nào không có thân-vị, ngoài ra Mohammed cũng tỏ ra đúng khi ông cho rằng một Thượng-Đế có thân vị phải là một Thượng-Đế của sự mặc-khải. Việc mặc khải và tương giao là những đặc tính căn-bản của một thân-vị. Thân-vị không nhất thiết luôn luôn gắn liền với hình dạng con người và với những giới hạn của nó. Thân-vị có thể có tính chất vĩnh cửu và có thể là một bản-tính của Thượng-Đế.

Mohammed đã sai lầm khi ông cho rằng Thượng-Đế đã khải-thị cho một con người (chính là Mohammed) sự khải-thị cuối cùng và trọn-vẹn qua các giấc chiêm bao, sự hiện thấy và những từng-trải huyền-bí. Thượng-Đế không phải là Thượng-Đế của một người, trong một thời điểm lịch-sử ở tại một phần trong cả thế giới rộng lớn này. Mặc dầu Mohammed nhìn nhận rằng Thượng-Đế đã mặc-khải chính Ngài cho Áp-ra-ham, Môi-se và Chúa Jêsus nhưng ông cho rằng tất cả các Kinh điển khác phải hòa hợp với sự khải-thị của ông. Sự mặc-khải của một Thượng-Đế duy nhất phải có sự nhất quán. Nếu Mohammed đã chấp nhận sự nhất quán quan-trọng sự mặc-khải của Thượng-Đế thì ông đã không nói ngược lại với điều Chúa Jêsus tuyên-bố: “Ta là đường, lẽ thật và sự sống: không ai đến được với Cha mà không nhờ Ta” (GiGa 14:6).

Sự khải-thị của Kinh thánh: xác định rằng trong những thời đại xa xưa Đức Chúa Trời đã phán với tổ-phụ chúng ta bởi các tiên-tri và trong những ngày sau rốt này Ngài đã phán với chúng ta qua con của Ngài (HêbDt 1:1-2). Thượng-Đế là Thượng-Đế của lịch-sử và của xã hội. Ngài không giới hạn chứng-cớ về Ngài trong một con người duy nhất. Khi Thượng-Đế bày-tỏ về Ngài cho Môi-se trên núi Si-nai, cả dân-tộc Y-sơ-ra-ên đều đã thấy vinh-quang của Ngài. Sứ-đồ Giăng viết rằng: “Chúng ta đã nhìn ngắm vinh quang” (GiGa 1:14).

Đấng Christ sống lại đã không hiện ra cho một môn-đồ nhưng cho cả 12 môn-đồ khi họ nhóm lại với nhau và cũng có hơn 500 anh em được nhìn thấy Chúa sống lại trong một lúc (ICôr1Cr 15:5-6). Lời làm-chứng của một cá nhân thường chủ quan và thiếu những yếu-tố khách quan cần thiết mà lời-chứng của nhiều người thường có.

35. Bạn hãy xác định xem những yếu-tố dưới đây yếu tố nào là ưu-điểm, yếu-tố nào là khuyết-điểm của Hồi-giáo.

....a. Sự tể-trị cao cả của Thượng-Đế.

....b. Chủ nghĩa độc thần.

....c. Kismet.

....d. Việc thực hành những sinh hoạt tôn-giáo mỗi ngày.

....e. Không nhìn nhận ý chí tự-do của con người.

....f. Giáo-lý về thiên-đàng.

....g. chủ thuyết cho rằng mọi vật đều có linh-hồn.

....h. Giáo-lý về ngày phán-xét sau cùng.

....i. Nếp sống đạo đức của người sáng lập.

....j. Thái-độ đối với Chúa Jêsus.

36. Nếp sống đạo đức của Mohammed có đi đôi với lời tuyên-bố rằng ông là vị tiên-tri vĩ đại nhất của Thượng-đế không?


Bài làm: Để kết thúc việc nghiên-cứu của bạn về phần nầy, hãy viết một bài ngắn nhận định về cách ông Hume đánh giá Hồi-giáo. Nếu suy nghĩ của bạn khác với suy nghĩ của Hume, bạn có thể đề-cập thêm những ưu và khuyết điểm của Hồi-giáo.

Nếu bạn là một tín-đồ của Hồi-giáo, bạn có thể cảm-tạ Thượng-Đế vì bạn đã có sự khải-thị về một Thượng-Đế có thân-vị và hãy cầu-xin Thượng-Đế mở mắt bạn để thấy tất cả chiều dài, rộng, cao, sâu của sự khải-thị của Đức Chúa Trời. Nếu bạn không phải là một người Hồi-giáo, hãy cầu-xin Đức Chúa Trời giúp bạn nhận biết Ngài một cách riêng tư. Ngài muốn tương-giao với bạn như Ngài đã tương-giao với những người khác. Hãy cầu-nguyện cho các anh em Hồi-giáo của bạn.



HỘI THÁNH TIN LÀNH TRƯỞNG NHIỆM GARDEN GROVE
Quận Cam-vùng nam California
​11832 South Euclid St, Garden Grove,
CA. 92840
Orange County​-Southern California
​Tel: 714-638-4422    

Email: vpcgg.ca@gmail.com

SUBSCRIBE FOR EMAILS

Thanks for submitting!

Copyright Ⓒ 2023-2025 vpcgg (PC-USA). All rights reserved. 

bottom of page